1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu áp dụng cho trung tâm viễn thám quốc gia bộ tài nguyên và môi trường

107 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 881,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế độ tài chính áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp là các văn bản pháp quy dưới hình thức luật, nghị định, thông tư do nhà nước ban hành quy định về quản lý nguồn kinh phí từ ngân sách nh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐẶNG HUY THÁI

Hà Nội - 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2010

Tác giả luận văn

Vũ Vân Anh

Trang 4

Mở đầu……… 1

Chương 1 Tổng quan lý thuyết và thực tiễn hoạt động quản lý tài chính

trong đơn vị sự nghiệp có thu 4

1.1 Tổng quan lý thuyết về quản lý tài chính trong các tổ chức nói chung và các

đơn vị sự nghiệp có thu nói riêng………… 4

1.1.1 Những khái niệm chung về đơn vị sự nghiệp có thu và quản lý tài

chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu 4

1.1.2 Nội dung của quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu 5

1.1.3 Vai trò và tác dụng của quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp

có thu 15

1.1.4 Lập kế hoạch hoạt động tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu. 17

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của các đơn vị sự

1.1.6 Kiểm tra trong quản lý hoạt động quản lý tài chính ở các đơn vị sự

nghiệp có thu

22

1.2 Tổng quan thực tiễn quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu 23

1.2.1 Những đặc điểm của đơn vị sự nghiệp có thu liên quan đến công tác

quản lý tài chính 23

1.2.2 Quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu ở nước ta trong

giai đoạn gần đây 23

1.3 Quy chế chi tiêu nội bộ - một trong các công cụ chủ yếu của công tác quản

Trang 5

lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu…… 28

1.3.1 Khái niệm quy chế 28

1.3.2 Ban hành và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ trong các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường 30

1.4 Quản lý tài chính trong ngành Trắc địa bản đồ… … 33

1.4.1 Những đặc điểm kinh tế của ngành Trắc địa - Bản đồ ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính trong đơn vị 33

1.4.2 Quản lý tài chính trong hoạt động quyết toán các dự án, công trình trắc địa - bản đồ 34

Chương 2 Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường và Trung tâm Viễn thám quốc gia……… 37

2.1 Thực trạng quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường ……… ………… 37

2.1.1 Thực trạng quản lý thu, chi 37

2.1.2 Thực trạng quản lý các quỹ tài chính 44

2.1.3 Thực trạng cơ chế giao quyền tự chủ tài chính 46

2.1.4 Thực trạng lập, chấp hành và quyết toán ngân sách 49

2.1.5 Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra tài chính 50

2.2 Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm Viễn thám quốc gia 51

2.2.1 Tổng quan về Trung tâm Viễn thám quốc gia 51

2.2.2 Công tác kế hoạch hoá hoạt động tài chính ở Trung tâm Viễn thám quốc gia 54

2.2.3 Cơ chế quản lý tài chính hiện nay tại Trung tâm Viễn thám quốc gia 55 2.2.4 Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị 64

2.2.5 Quá trình thực hiện, những ưu nhược điểm và hiệu quả của hoạt động quản lý tài chính tại Trung tâm Viễn thám quốc gia 66

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong các

Trang 6

đơn vị sự nghiệp có thu áp dụng cho Trung tâm Viễn thám quốc gia……… 69

3.1 Những phương hướng chung hoàn thiện quản lý tài chính trong các đơn vị

sự nghiệp có thu 69 3.2 Những giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường, áp dụng cho Trung tâm Viễn thám quốc gia 72 3.2.1 Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ cho Trung tâm Viễn thám quốc gia

theo Thông tư số 71/2006/TT-BTC 72 3.2.2 Đa dạng hóa các nguồn tài chính của Trung tâm 87 3.2.3 Nâng cao năng lực và vai trò của công tác tài chính kế toán 88 3.2.4 Hiệu quả của các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý tài chính

trong đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên & môi trường,

áp dụng cho Trung tâm Viễn thám quốc gia 90

Kết luận và kiến nghị 93 Tài liệu tham khảo 96

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH VẼ

1 Sơ đồ 1: Quy trình lập kế hoạch hoạt động tài chính

2 Sơ đồ 2: Tiền lực cán bộ khoa học kỹ thuật

3 Biểu đồ 1.1: Tình hình triển khai Nghị định 10 ở một số địa phương

4 Bảng 1.1: Một số địa phương triển khai tốt Nghị định 10

5 Bảng 2.1: Nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên

và môi trường

6 Bảng 2.2: So sánh thu ngoài ngân sách nhà nước trên tổng thu của các đơn

vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường

7 Bảng 2.3: Tổng thu của các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên

và môi trường

8 Bảng 2.4: Tổng hợp chi sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc

Bộ Tài nguyên và môi trường

9 Bảng 2.5: Tổng hợp thu, chi của các đơn vị sự nghiệp có thu

10 Bảng 2.6: Nguồn tài chính của Trung tâm Viễn thám quốc gia từ năm

14 Bảng 3.1: Mức chi khen thưởng hàng năm

15 Bảng 3.2: Mức chi phúc lợi hàng năm

Trang 10

MỞ ĐẦU

Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, X của Đảng; Chính phủ đã có quyết định phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 với bốn nội dung lớn: Cải cách thể chế, cải cách bộ máy, đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, cải cách tài chính công; trong đó cải cách cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp là bước đột phá

Để triển khai chương trình này, ngày 16/01/2002 Thủ tướng Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về việc đổi mới cơ chế tài chính, trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu Sau đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công

về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính

Mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp là trao quyền tự chủ thật sự cho cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức công việc, sử dụng lao động, tăng cường huy động và quản lý thống nhất các nguồn thu, đồng thời sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài chính nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng công tác quản lý hành chính, hoạt động

sự nghiệp, khuyến khích tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp đảm bảo trang trải kinh phí hoạt động và nâng cao thu nhập của cán bộ công chức Việc trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP đã góp phần làm thay đổi phương thức quản lý từ các yếu tố "đầu vào" sang quản lý theo kết quả “đầu ra” Các đơn vị sự nghiệp

có thu được quyền tự chủ trong quản lý và sử dụng nguồn tài chính, do vậy chỉ sau hơn 1 năm thu sự nghiệp của 5.900/16.000 đơn vị sự nghiệp có thu trong cả nước thực hiện tự chủ về tài chính đã tăng bình quân 20%, tiết kiệm chi phí từ 3-5%, thu nhập bình quân của người lao động tăng từ 10-15%

Trang 11

Những kết quả đã đạt được khi thực hiện Nghị định 10/2002/NĐ-CP đã khẳng định việc trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu là một hướng đi đúng Tuy nhiên, cũng nhận thấy rằng phạm vi trao quyền tự chủ của Nghị định 10/2002/NĐ-CP mới chỉ ở lĩnh vực tài chính, các đơn vị sự nghiệp có thu chưa được trao quyền tự chủ về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế Thực quyền của các đơn vị sự nghiệp có thu bị hạn chế, đơn vị gặp khó khăn khi muốn mở rộng quy mô và cần tuyển dụng thêm lao động

Xuất phát từ những hạn chế của Nghị định 10/2002/NĐ-CP, Nghị định 43/2006/NĐ-CP ra đời nhằm khắc phục những quy định đang gò bó các đơn

vị sự nghiệp trong thời gian qua Theo Nghị định 43, các đơn vị sự nghiệp có thu được tự chủ hơn trong tổ chức bộ máy, tổ chức hoạt động dịch vụ, liên kết, liên doanh cũng như khi ra quyết định mua sắm, sử dụng tài sản, máy móc thiết bị Tuy nhiên công tác quản lý, tổ chức hạch toán, phân phối, sử dụng vẫn còn nhiều vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện cần phải tiếp tục sửa đổi bổ sung để có thể đạt được những mục tiêu đề ra

Hiện nay, đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường nói chung và Trung tâm Viễn thám quốc gia nói riêng đang thực hiện quản lý tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP Tuy nhiên, đơn vị còn nhiều lúng túng và gặp phải một số hạn chế nhất định khi áp dụng cơ chế quản lý này như: chưa có quy chế chi tiêu nội bộ đúng tiêu chuẩn, nhiều cán bộ chưa nhận thức được rõ về quyền tự chủ tài chính

Từ những lý do trên, việc lựa chọn đề tài: "Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu - áp dụng cho Trung tâm Viễn thám quốc gia - Bộ Tài nguyên và môi trường" là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay về cả lý luận và thực tiễn

Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng những giải pháp có căn cứ khoa học góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường nói chung và cụ thể cho Trung tâm Viễn thám quốc gia

Trang 12

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị

sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường, cụ thể đối với Trung tâm Viễn thám quốc gia trên các khía cạnh mô hình, phương pháp, cơ chế, nội dung và hiệu quả quản lý

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài lấy phạm vi nghiên cứu chủ yếu là công tác quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu tại Bộ Tài nguyên và môi trường nói chung và Trung tâm Viễn thám quốc gia nói riêng với khoảng thời gian nghiên cứu là từ quá trình thực hiện Nghị định 10/2002/NĐ-CP nay thay thế bằng Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ, đồng thời cũng sẽ là nội dung thực hiện dưới đây:

1- Nghiên cứu cơ sở lý luận của cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị

sự nghiệp có thu gắn với các chế độ chính sách quản lý của Nhà nước trong giai đoạn gần đây, đặc biệt là từ khi có Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập cho đến nay

2- Phân tích đánh giá thực trạng quản lý tài chính đối với hoạt động sự nghiệp có thu tại Trung tâm Viễn thám quốc gia nói riêng và Bộ Tài nguyên và môi trường nói chung nhằm rút ra ưu, nhược điểm, nguyên nhân để làm cơ sở đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính của đơn vị

3- Từ nghiên cứu lý luận, thực tiễn và phân tích thực trạng, tiến hành xây dựng các giải pháp có căn cứ lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và áp dụng cho Trung tâm Viễn thám quốc gia - Bộ Tài nguyên và môi trường

Trang 13

CHƯƠNG I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU

1.1 Tổng quan lý thuyết về quản lý tài chính trong các tổ chức nói chung

và các đơn vị sự nghiệp có thu nói riêng

1.1.1 Những khái niệm chung về đơn vị sự nghiệp có thu và quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu

a, Khái niệm chung về đơn vị sự nghiệp có thu

Theo Nghị định số 43/2006/NĐ - CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập có thu (sau đây gọi tắt là đơn vị sự nghiệp có thu) được xác định bởi các tiêu thức sau:

Là các đơn vị do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, hoạt động cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục, môi trường, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm

Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao

Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí, được tiến hành hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức

Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy

kế toán theo quy định của Luật kế toán

b, Quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu

Quản lý tài chính là một nội dung cụ thể của khoa học quản lý nói chung Quản lý tài chính là sự tác động có mục đích thông qua các tổ chức, công cụ và phương pháp nhất định nhằm điều chỉnh quá trình tạo lập và sử dụng của các nguồn lực tài chính

Trang 14

Quản lý tài chính được thực hiện thông qua một cơ chế - đó là cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định

Nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm:

cơ chế quản lý tài sản, cơ chế huy động vốn, cơ chế quản lý doanh thu, chi phí

và lợi nhuận, cơ chế kiểm soát tài chính của doanh nghiệp

Quản lý tài chính phải tuân thủ theo đúng các chế độ tài chính Chế độ tài chính áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp là các văn bản pháp quy dưới hình thức luật, nghị định, thông tư do nhà nước ban hành quy định về quản lý nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp, các nguồn thu được tạo ra trong quá trình hoạt động sự nghiệp

1.1.2 Nội dung của quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu

Quản lý tài chính là một trong những hoạt động quản lý quan trọng của bất kỳ một tổ chức nào trong điều kiện kinh tế thị trường Bởi vì, tài chính biểu hiện tổng hợp và bao quát hoạt động của đơn vị Nội dung của quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm:

- Cơ sở quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu

- Quản lý các khoản thu, chi của các đơn vị sự nghiệp có thu

- Quản lý các quỹ tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu

- Cơ chế giao quyền tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu

- Lập, chấp hành, quyết toán ngân sách của đơn vị sự nghiệp có thu a) Cơ sở quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu

Mọi hoạt động tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu đều phải tuân theo Luật ngân sách nhà nước, luật kế toán, các văn bản hướng dẫn của nhà nước

có liên quan

Để từ đó có thể quản lý, sử dụng nguồn thu một cách chặt chẽ và hiệu quả, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao và thực hiện tốt vai trò của các đơn vị sự nghiệp có thu đối với đời sống xã hội

Trang 15

b) Quản lý các khoản thu, chi của các đơn vị sự nghiệp có thu

* Quản lý các khoản thu

Thu từ nguồn ngân sách nhà nước cấp: Đối với đơn vị sự nghiệp có thu

là đơn vị dự toán cấp I được ngân sách nhà nước cấp kinh phí thực hiện các

đề tài nghiên cứu khoa học, kinh phí nhà nước thanh toán cho đơn vị theo chế

độ đặt hàng, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho hoạt động sự nghiệp,…Riêng đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí, ngân sách nhà nước cấp một phần kinh phí hoạt động thường xuyên

Thu từ nguồn thu sự nghiệp của đơn vị: Tiền thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước, thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, các khoản thu

sự nghiệp khác, các khoản thu của đơn vị phải được thực hiện đúng và đủ theo định mức, tiêu chuẩn nhà nước, phải phù hợp với mức thu và nội dung thu đã được cơ quan tài chính có thẩm quyền phê duyệt

* Quản lý các khoản chi

Chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ được giao và chi cho các hoạt động có thu sự nghiệp: Chi cho cán bộ công chức viên chức; chi quản lý hành chính; chi hoạt động chuyên môn nghiệp vụ; chi hoạt động tổ chức thu phí, lệ phí, chi hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, chi mua sắm tài sản, sửa chữa thường xuyên cơ sở vật chất và các khoản chi khác, chi thực hiện các đề tài khoa học cấp nhà nước, chi thực hiện nhiệm vụ đặt hàng của Nhà nước, chi đầu tư phát triển, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng, sửa chữa chống xuống cấp tài sản…, chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao, chi các khoản chi khác

Phải thực hiện theo dõi và quyết toán các khoản chi theo đúng biểu mẫu

và nhóm chi theo chương loại khoản mục của mục lục ngân sách nhà nước, cụ thể:

+ Nhóm 1: Chi thanh toán cho cá nhân (100, 101, 102, 103, 105,106, 108) + Nhóm 2: Chi nghiệp vụ chuyên môn (109, 110, 111, 113, 114, 117, 119) + Nhóm 3: Chi mua sắm, sửa chữa tài sản (118, 145)

+ Nhóm 4: Các khoản chi khác (134)

Trang 16

Đơn vị phải thực hiện công khai quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước

và các nguồn thu, chi sự nghiệp khác trong vòng 30 ngày kể từ khi quyết toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt

c) Quản lý các quỹ tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu

Hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, sau khi trang trải các khoản chi phí và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, chênh lệch thu, chi trong năm được xác định như sau:

ΔTC = TSN - CSN (1.1)

Trong đó:

ΔTC: Chênh lệch thu, chi

nước đặt hàng

CSN: Chi hoạt động thường xuyên và nhà nước đặt hàng

Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm lớn hơn một lần tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, khi đã thống nhất với tổ chức công đoàn thủ trưởng đơn vị quyết định trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi như sau:

Thu sự nghiệp và NSNN cấp chi hoạt động thường xuyên

và chi nhà nước đặt hàng Chi hoạt động thường xuyên và

Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

Thu nhập tăng thêm cho người lao động

Quỹ dự phòng

ổn định thu nhập

Quỹ khen thưởng

Quỹ phúc lợi

* Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp,

Trang 17

bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, trợ giúp thêm đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán bộ công chức viên chức đơn vị; được sử dụng góp vốn liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và khả năng của đơn vị theo qui định của pháp luật

* Thu nhập tăng thêm cho người lao động: Sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, đối với đơn vị tự đảm bảo chi phí hoạt động được quyết định trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo quy chế chi tiêu nội bộ, đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thì căn

cứ vào quỹ tiền lương thực tế của đơn vị, việc trả lương cho từng người có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi với hệ

số điều chỉnh tăng thêm cho cá nhân không quá 3 lần tiền lương cấp bậc, chức

vụ trong năm do nhà nước quy định được xác định như sau:

TCN = LTT x (1+HĐC) x (H1 + H2+ H3) (1.2)

Trong đó:

TCN: Tiền lương cá nhân

LTT: Lương tối thiểu chung/người_tháng do nhà nước quy định

HĐC: Hệ số điều chỉnh tăng thêm cho cá nhân

H1: hệ số lương cấp bậc theo bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước

H2: hệ số phụ cấp chức vụ theo bổ nhiệm của cấp có thẩm quyền (nếu có)

H3: hệ số phụ cấp thâm niên vượt khung theo bảng lương ngạch bậc (nếu có)

+ Việc chi trả thu nhập tăng thêm cho từng lao động trong đơn vị chỉ áp dụng đối với lao động trong biên chế và lao động hợp đồng từ 1 năm trở lên, không áp dụng với đối tượng lao động hợp đồng theo vụ việc

+ Căn cứ kết quả hoạt động tài chính quý, năm của đơn vị, nhằm động viên kịp thời người lao động phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao, Thủ

Trang 18

trưởng đơn vị sự nghiệp có thể tạm chi trước thu nhập tăng thêm cho người lao động trong đơn vị Mức tạm chi trước thu nhập tăng thêm hàng quý tối đa không quá 40% số chênh lệch thu lớn hơn chi đơn vị xác định được theo quý

+ Sau khi quyết toán năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt và xác định được chính xác số chênh lệch thu lớn hơn chi, thủ trưởng đơn vị thực hiện chi trả tiếp thu nhập tăng thêm theo chế độ quy định cho người lao động theo quy chế chi tiêu nội của đơn vị Trường hợp đơn vị đã tạm chi vượt quá

số chênh lệch thu lớn hơn chi dành để chi thu nhập tăng thêm theo quy chế chi tiêu nội bộ; số chi vượt phải trừ vào số chi thu nhập tăng thêm của năm sau

* Quỹ dự phòng ổn định thu nhập: Dùng để đảm bảo thu nhập cho người lao động trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút

* Quỹ khen thưởng: Dùng để khen thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể

cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị

* Quỹ phúc lợi: Dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả những trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; Chi thêm cho cán bộ công chức viên chức trong biên chế thực hiện tinh giản biên chế

Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, trích 4 quỹ:

Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong đó, đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

d) Cơ chế giao quyền tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp có thu tự chủ tài chính, chủ động bố trí kinh phí để

Trang 19

thực hiện nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên theo định

kỳ 3 năm, hàng năm được tăng thêm theo tỷ lệ do thủ tướng Chính phủ quyết định, được vay tín dụng để mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo qui định của pháp luật, được giữ lại khấu hao cơ bản và tiền thu thanh lý tài sản để tăng cường cơ sở vật chất cho đơn vị, được chủ động số biên chế được cấp có thẩm quyền giao, thực hiện chế độ hợp đồng lao động theo Bộ luật lao động Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi quản lý, chi nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi

Hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, đơn vị được trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

e) Lập, chấp hành, quyết toán ngân sách của đơn vị sự nghiệp có thu

Ngân sách của các đơn vị sự nghiệp có thu là toàn bộ các khoản thu, chi của đơn vị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và các khoản thu do đơn vị tự khai thác được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của đơn vị

Việc lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước các đơn vị sự nghiệp thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, Luật kế toán, các văn bản hướng dẫn Luật

* Lập dự toán ngân sách của đơn vị sự nghiệp có thu

- Nội dung của lập dự toán ngân sách:

+ Lập dự toán năm đầu thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sự nghiệp: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, nhiệm

Trang 20

vụ của năm kế hoạch, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành, kết quả hoạt động

sự nghiệp, tình hình thu chi tài chính của năm trước liền kề (có loại trừ các yếu tố đột xuất, không thường xuyên), đơn vị lập dự toán thu, chi năm kế hoạch; số kinh phí đề nghị ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động thường xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động);

cụ thể:

Dự toán thu, chi thường xuyên:

· Dự toán thu:

Đối với các khoản thu phí, lệ phí: Căn cứ vào đối tượng thu, mức thu

và tỷ lệ được để lại chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Đối với các khoản thu sự nghiệp: Căn cứ vào kế hoạch hoạt động dịch

vụ và mức thu do đơn vị quyết định hoặc theo hợp đồng kinh tế đơn vị đã ký kết

· Dự toán chi:

Đơn vị lập dự toán chi tiết cho từng loại nhiệm vụ như: chi thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao; chi phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí; chi hoạt động dịch vụ theo các quy định hiện hành và quy định tại Thông tư này

Dự toán chi không thường xuyên: đơn vị lập dự toán của từng nhiệm vụ

chi theo quy định hiện hành của Nhà nước

Dự toán thu, chi của đơn vị phải có thuyết minh cơ sở tính toán, chi tiết theo từng nội dung thu, chi gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để xem xét tổng hợp gửi Bộ, ngành chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp trung ương), gửi

cơ quan chủ quản địa phương (đối với các đơn vị sự nghiệp địa phương) theo quy định hiện hành

+ Lập dự toán 2 năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định:

Đối với dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên: Căn cứ quy định của nhà nước đơn vị sự nghiệp lập dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên của năm kế hoạch Trong đó kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động

Trang 21

thường xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động) theo mức kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động thường xuyên của năm trước liên kề, cộng (+) hoặc trừ (-) kinh phí của nhiệm vụ tăng hoặc giảm của năm kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền quyết định

Dự toán chi không thường xuyên, đơn vị lập dự toán của từng nhiệm vụ chi theo quy định hiện hành của Nhà nước

Dự toán thu, chi đơn vị sự nghiệp gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp

để xem xét, tổng hợp gửi Bộ, ngành chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp trung ương), gửi cơ quan chủ quản địa phương (đối với các đơn vị sự nghiệp địa phương) theo quy định hiện hành

Lập dự toán là khâu mở đầu rất quan trọng trong mỗi chu kỳ quản lý ngân sách nhà nước Các đơn vị sự nghiệp có thu cho dù là đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí cho hoạt động thường xuyên hay tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, đều là đơn vị dự toán ngân sách

Vì vậy, việc tuân thủ đầy đủ các yêu cầu, các nguyên tắc trong quản lý ngân sách theo quy định là bắt buộc đối với các đơn vị sự nghiệp có thu phải thực hiện

Dự toán ngân sách hàng năm của các đơn vị phải phản ánh đầy đủ các khoản thu, chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành, kể cả các khoản thu, chi từ nguồn thu được tạo ra trong quá trình hoạt động sự nghiệp Cùng với việc lập dự toán thu, chi, trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của nhà nước, đơn

vị chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ để đảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị và tăng cường công tác quản lý, sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả

* Chấp hành dự toán ngân sách của đơn vị sự nghiệp có thu

Chấp hành ngân sách nhà nước được coi là khâu có ý nghĩa quyết định tới chất lượng của mỗi chu trình quản lý ngân sách nhà nước Tại đây, những mong muốn, những dự đoán về thu, chi ngân sách có trở thành hiện thực hay

Trang 22

không là tùy thuộc vào khả năng điều hành và quản lý tài chính của đơn vị

Trong quá trình chi tiêu, các đơn vị sự nghiệp có thu phải tổ chức quản

lý chặt chẽ, tôn trọng dự toán được duyệt, các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu do nhà nước quy định về vật tư, lao động, tiền vốn Sử dụng có hiệu quả, thực hiện đúng tiến độ công việc theo kế hoạch

Về căn cứ chấp hành dự toán: Tất cả các khoản thu của đơn vị phải dựa trên dự toán đã được phê duyệt phù hợp với định mức thu sự nghiệp do nhà nước quy định

Nội dung của chấp hành dự toán ngân sách:

+ Căn cứ vào dự toán thu, chi ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền giao, Bộ chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp trung ương), cơ quan chủ quản địa phương (đối với đơn vị sự nghiệp địa phương) lập phương án phân

bổ gửi cơ quan tài chính cùng cấp thẩm tra; sau khi có ý kiến thống nhất của

cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan chủ quản giao dự toán cho đơn vị thực hiện

Đối với hoạt động dịch vụ, cơ quan chủ quản không giao dự toán thu, chi; đơn vị sự nghiệp xây dựng dự toán thu, chi để điều hành trong năm

Đối với dự toán chi không thường xuyên: Cơ quan chủ quản giao dự toán cho đơn vị thực hiện theo quy định hiện hành

Dự toán chi không thường xuyên được giao và phân bổ vào 4 nhóm mục chi của mục lục ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành

+ Thực hiện dự toán thu, chi:

Đối với dự toán chi thường xuyên được cấp có thẩm quyền giao, đơn vị

sự nghiệp được điều chỉnh nội dung chi cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, đồng thời gửi cơ quan cấp trên và Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để theo dõi quản lý, thanh toán và quyết toán Cuối năm ngân sách dự toán chi hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp chưa sử dụng hết đơn vị được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng

Đối với các khoản chi không thường xuyên, việc điều chỉnh nội dung chi, nhóm mục chi; kinh phí cuối năm chưa sử dụng, hoặc sử dụng không hết

Trang 23

thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính

+ Về công tác kiểm soát thu, chi đối với nguồn thu sự nghiệp: Căn cứ quyết định giao chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch năm của đơn vị dự toán cấp I, các đơn vị dự toán cấp II trực thuộc lập dự toán thu, chi nguồn sự nghiệp theo hàng quý, hàng tháng và báo cáo số liệu cho đơn vị dự toán cấp I chi tiết các khoản thực thu, thực chi để làm cơ sở kiểm tra và gửi cơ quan tài chính để ghi thu ngân sách nhà nước và ghi chi cho đơn vị

+ Về công tác kiểm soát thu, chi đối với nguồn ngân sách nhà nước: Trên cơ sở dự toán năm, quý đã được duyệt và nhiệm vụ phải thực hiện trong quý, các đơn vị sự nghiệp có thu lập kế hoạch sử dụng kinh phí chi tiết theo các mục chi của mục lục ngân sách gửi Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản để được cấp phát và sử dụng kinh phí Sau khi kết thúc quý, đơn vị phải làm giấy đề nghị thanh toán tạm ứng gửi Kho bạc nhà nước để được Kho bạc quyết toán phần kinh phí đã tạm ứng và tiếp tục cấp phát kinh phí cho quý tiếp theo

+ Về điều chỉnh dự toán: trong quá trình thực hiện, đơn vị được điều chỉnh dự toán thu, chi hoạt động sự nghiệp, kinh phí thường xuyên đã được giao cho phù hợp với tình hình thực tế gửi cơ quan chủ quản và kho bạc nhà nước để theo dõi, quản lý

Cuối năm ngân sách, các khoản kinh phí chưa sử dụng hết đơn vị được chuyển sang năm sau để hoạt động, bao gồm kinh phí ngân sách nhà nước cấp đảm bảo hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp

- Quyết toán ngân sách của đơn vị sự nghiệp có thu

Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của chu trình quản lý kinh phí trong mỗi đơn vị sự nghiệp nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại toàn bộ số liệu

đã được kế toán đơn vị phản ánh sau một kỳ hoạt động cho chính xác Đồng thời tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của quá trình chấp hành ngân sách để phục vụ cho việc thuyết minh quyết toán

Các đơn vị sự nghiệp có thu phải tổ chức công tác kế toán, thống kê và

Trang 24

báo cáo tài chính theo các quy định của pháp luật về chế độ kế toán thống kê

áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp

Cuối quý, cuối năm, đơn vị sự nghiệp lập báo cáo kế toán, báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước gửi cơ quan quản lý cấp trên xét duyệt theo quy định hiện hành

Hệ thống chỉ tiêu báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải phù hợp, thống nhất với chỉ tiêu dự toán năm tài chính và Mục lục ngân sách nhà nước, đảm bảo có thể so sánh được giữa số thực hiện với số dự toán và giữa các kỳ kế toán với nhau

Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách dùng để tổng hợp tình hình về tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách của nhà nước

Tình hình thu, chi và kết quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu trong kỳ kế toán, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị, là căn cứ quan trọng giúp cơ quan nhà nước, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động của đơn vị

Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải lập đúng, phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu theo mẫu, phải lập đúng kỳ hạn, nộp đúng thời hạn tới

cơ quan tài chính và cơ quan thống kê, Kho bạc nhà nước nơi giao dịch để phối hợp kiểm tra, đối chiếu, điều chỉnh số liệu kế toán liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị

1.1.3 Vai trò và tác dụng của quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp

có thu

Trong thời gian qua, cơ chế chính sách đối với lĩnh vực sự nghiệp đã có nhiều chuyển biến, từng bước tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động

Quản lý tài chính có một vị trí đặc biệt quan trọng có tác dụng chi phối đến hiệu quả của các loại hình quản lý khác Thông qua quản lý tài chính để phát huy các chức năng vốn có của tài chính: kiểm tra, giám đốc tài chính của đơn vị nhằm phục vụ cho hoạt động của đơn vị Cụ thể:

- Định hướng đúng cho toàn bộ hệ thống và cũng cho từng người thừa

Trang 25

hành bằng chiến lược phát triển, kế hoạch, triển vọng, các cơ hội…nhằm đảm bảo đơn vị hoạt động đúng hướng và ngày càng phát triển

- Giúp cho các công việc bộ phận và toàn bộ hoạt động chung diễn ra liên tục, nhịp nhàng vì được đảm bảo các điều kiện nhân - tài - vật lực - trí lực cần thiết, hướng dẫn phương pháp hoạt động, đôn đốc kịp thời…

- Giảm thiểu các trục trặc, ngừng trệ do hoạt động được chuẩn bị trước,

do có các biện pháp kiểm tra phát hiện và xử lý kịp thời các sai lầm, lệch lạc

- Bằng sự ràng buộc thông minh, tế nhị giữa quyền lợi với nghĩa vụ và giám sát khôn khéo từ nhiều phía… quản lý làm cho mọi người gắn bó với tổ chức, tích cực sáng tạo khi thực hiện công việc được giao

- Chuẩn bị được các tiền đề, điều kiện cho các cá nhân và cho toàn bộ

tổ chức phát triển trong tương lai

Ngoài ra, do hoạt động của các đơn vị sự nghiệp rất đa dạng, tham gia trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và theo đuổi không chỉ mục tiêu riêng, mà còn phục vụ mục tiêu chung của toàn xã hội, nên quản lý tài chính khá phức tạp, thường được quy định cụ thể cho từng ngành Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu về chất lượng dịch vụ công và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là những vấn đề còn mang tính phức tạp hơn nữa do bên cạnh các khoản chi của ngân sách nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị này còn có nguồn thu nhập từ chi trả của dân cư, các nguồn do đơn vị tự tìm kiếm khai thác Quản lý tốt tài chính của đơn vị sự nghiệp không những góp phần làm giảm bớt các khoản chi sự nghiệp của ngân sách nhà nước, mà còn khuyến khích cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho xã hội với chi phí tiết kiệm

Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các đơn vị sự nghiệp liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế - xã hội và chi tiêu đóng góp của nhân dân Do

đó, nếu tài chính của các đơn vị sự nghiệp được quản lý, giám sát, kiểm tra tốt,

sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính công, đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính của đất nước

Trang 26

Ngoài ra, quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp còn cung cấp thông tin

để tái cơ cấu hoạt động cung cấp dịch vụ văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao… trong tương quan với sự cạnh tranh của khu vực tư nhân

1.1.4 Lập kế hoạch hoạt động tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu

a) Bản chất và tác dụng của lập kế hoạch hoạt động tài chính

Kế hoạch tài chính là một bộ phận trong kế hoạch tổng thể, nó thể hiện các mục tiêu và cách thực thực hiện các mục tiêu trên giác độ các chỉ tiêu tài chính

Để có cơ sở, căn cứ cần thiết cho việc lập kế hoạch hoạt động tài chính cần phân tích tình hình hoạt động tài chính các năm trước, kế hoạch tài chính của cơ quan chủ quản, tình hình thực tế tại đơn vị và tổng quan chung của toàn ngành

Thường bản kế hoạch tài chính được sử dụng cho nhiều công việc quan trọng sau:

- Là cơ sở, căn cứ cho việc chuẩn bị trước, đầy đủ, đồng bộ các điều kiện, nguồn lực để triển khai thành công các hoạt động của đơn vị

- Là căn cứ để ban lãnh đạo đưa ra các quyết định về tài chính của đơn

Trang 27

Sơ đồ 1: Quy trình lập kế hoạch hoạt động tài chính

Bước 1: Tập hợp, kiểm định các cơ sở, căn cứ liên quan

Bước 2: Xác định các phương án kế hoạch tài chính

Bước 3: Lựa chọn, chính thức quyết định phương án kế hoạch hoạt động tài chính

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu

Tất cả các hoạt động quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu đều chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố, đó là:

a) Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý cho việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động của đơn vị Nó được xây dựng dựa trên quan điểm định hướng về chính sách quản lý đơn vị sự nghiệp có thu trong từng giai đoạn cụ thể của Nhà nước nhằm cụ thể hoá các chính sách đó Cơ chế này sẽ vạch ra các khung pháp lý về mô hình quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp, từ việc xây dựng các tiêu chuẩn, định mức, các quy định về lập dự toán, điều chỉnh dự toán, cấp phát kinh phí, kiểm tra, kiểm soát,… nhằm phát huy tối đa hiệu quả quản lý vĩ mô gắn với tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị Do đó, nếu cơ chế tài chính phù hợp sẽ tạo điều kiện tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động và hữu hiệu của các nguồn lực tài chính, giúp cho đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao

án, kế hoạch tài chính

Cân nhắc, chính thức lựa chọn kế hoạch hoạt động tài chính

Trang 28

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp có thu

có tác động đến chương trình chi tiêu ngân sách quốc gia, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia về hoạt động sự nghiệp Vì vậy, cơ chế tài chính đó nếu được thiết lập phù hợp, hiệu quả sẽ đảm bảo cung ứng đủ nguồn kinh phí cho hoạt động chuyên môn, tránh được thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính, đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả, tiền đề vật chất cho việc thực hiện tốt các chương trình quốc gia về hoạt động sự nghiệp

Thêm vào đó, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước còn có vai trò như một cán cân công lý, đảm bảo sự công bằng, hợp lý trong việc tạo lập và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp khác nhau cũng như giữa các đơn vị sự nghiệp trong cùng một lĩnh vực Nhờ

đó, các đơn vị sự nghiệp dù hoạt động ở đâu, lĩnh vực nào cũng được quan tâm, tạo môi trường bình đẳng, tạo điều kiện phát triển tương xứng với yêu cầu của xã hội đối với lĩnh vực đó và tiềm lực kinh tế của quốc gia

Bên cạnh đó, cơ chế quản lý tài chính cũng có những tác động tiêu cực đối với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu:

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước vạch ra hành lang pháp lý cho đơn vị sự nghiệp nhưng nếu các cơ chế này không phù hợp sẽ trở thành hàng rào trói buộc, cản trở đến quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính của các đơn vị sự nghiệp, ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động chuyên môn của đơn vị Nếu cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước sơ hở, lỏng lẻo có thể làm hao tổn ngân sách Nhà nước, gây ra thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính khác mà không đạt được các mục tiêu chính trị, xã hội đã định

Mặt khác, hiện nay Nhà nước chưa có văn bản pháp quy về mô hình và

cơ chế tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp trong doanh nghiệp Vì vậy, các doanh nghiệp chủ quản phải chủ động vận dụng theo các văn bản pháp quy áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp hưởng nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước để đề ra các quy chế quản lý tài chính cho các đơn vị sự nghiệp nằm trong doanh nghiệp mình

b) Cơ chế quản lý tài chính của Bộ, ngành, doanh nghiệp chủ quản

Trang 29

Các đơn vị sự nghiệp nằm trong doanh nghiệp sẽ phải tuân thủ theo cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp chủ quản Do đó, ngoài cơ chế quản lý của Nhà nước, các đơn vị này còn có một cơ chế quản lý tài chính riêng cho những đặc thù của ngành với các quy định cụ thể, rõ ràng, tránh được những vướng mắc về cơ chế chung không phù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn

vị sự nghiệp

Mặt khác, các doanh nghiệp quản lý các đơn vị sự nghiệp thường là những doanh nghiệp lớn, có tiềm lực kinh tế mạnh nên nguồn kinh phí do doanh nghiệp chủ quản đài thọ cho đơn vị sự nghiệp thường nới rộng hơn so với nguồn kinh phí cấp phát từ ngân sách Nhà nước, điều kiện cấp phát kinh phí cũng được nới lỏng hơn nên các đơn vị sự nghiệp có điều kiện về nguồn kinh phí để trang trải cho hoạt động sự nghiệp của mình hơn so với các đơn vị

sự nghiệp không nằm trong doanh nghiệp

Tuy nhiên, các đơn vị sự nghiệp nằm trong doanh nghiệp thường là các đơn vị hạch toán phụ thuộc nên cơ chế tài chính của đơn vị chủ quản áp dụng cho các đơn vị này thường chặt chẽ hơn, ít được quyền tự chủ hơn về tài chính Các đơn vị này bắt buộc phải tuân thủ cơ chế tài chính của doanh nghiệp chủ quản.Vì vậy, nếu trong điều kiện cơ chế, chính sách Nhà nước có nhiều biến động mà cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp chủ quản không cập nhật, sửa đổi kịp thời sẽ cản trở đến công tác quản lý tài chính và hoạt động chuyên môn của các đơn vị sự nghiệp

c) Hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị

Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm soát do một đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật

và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của đơn vị

Hệ thống kiểm soát nội bộ của một đơn vị bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát

Trong đó, môi trường kiểm soát là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và hoạt động của lãnh đạo đơn vị đối với hệ thống kiểm soát nội bộ

Trang 30

trong đơn vị Hệ thống kế toán là các quy định về kế toán và các thủ tục kế toán mà đơn vị áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính Thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị

Trong một đơn vị sự nghiệp có hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ, hữu hiệu sẽ giúp cho công tác quản lý tài chính được thuận lợi rất nhiều Nó đảm bảo cho công tác tài chính được đặt đúng vị trí, được quan tâm đúng mức, hệ thống kế toán được vận hành có hiệu quả, đúng chế độ quy định, các thủ tục kiểm tra, kiểm soát được thiết lập đầy đủ, đồng bộ, chặt chẽ, giúp đơn vị phát hiện kịp thời mọi sai sót, ngăn chặn hữu hiệu hành vi gian lận trong công tác tài chính

Hệ thống kiểm soát nội bộ không thể đảm bảo phát huy được toàn diện tác dụng của nó vì một hệ thống kiểm soát nội bộ dù hữu hiệu tới đâu vẫn có những hạn chế tiềm tàng

d) Trình độ cán bộ quản lý

Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra quyết định quản lý Trình độ cán bộ quản lý là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời, chính xác của các quyết định quản lý, do đó, nó có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý, quyết định sự thành bại của công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài chính nói riêng

Đối với cơ quan quản lý cấp trên, đội ngũ cán bộ quản lý có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có phẩm chất tốt, sẽ có những chiến lược quản lý tài chính tốt, hệ thống biện pháp quản lý tài chính hữu hiệu, xử lý thông tin nhanh nhạy, kịp thời, linh hoạt, hiệu quả…

Đối với các đơn vị cơ sở, đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính kế toán cũng đòi hỏi phải có năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, có kinh nghiệm công tác để đưa công tác quản lý tài chính kế toán của đơn vị cơ sở ngày càng đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính, kế toán của Nhà nước, góp phần vào hiệu quả hoạt động của đơn vị

Trang 31

Ngược lại, đội ngũ cán bộ quản lý thiếu kinh nghiệm quản lý, hạn chế

về chuyên môn sẽ dẫn đến công tác quản lý tài chính láng lẻo, dễ thất thoát, lãng phí, làm cản trở đến các hoạt động khác của đơn vị

1.1.6 Kiểm tra trong quản lý hoạt động quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có thu

a) Bản chất, nội dung, tác dụng của kiểm tra trong quản lý hoạt động quản lý tài chính

Kiểm tra là quá trình tìm hiểu, đối chiếu nhằm phát hiện những sai lệch

so với những gì đã hoạch định, đã thiết kế để kịp thời xử lý, điều chỉnh Cụ thể:

Bước 1: Chính thức lựa chọn các đối tượng, chuẩn mốc, cách thức tiến hành kiểm tra

Bước 2: Tiến hành kiểm tra, tìm kiếm, phát hiện sai lệch so với những

gì đã được hoạch định, đã quyết định

Bước 3: Tìm kiếm, thẩm định, khẳng định nguyên nhân những sai lệch Bước 4: Xử lý các trường hợp theo thẩm quyền

b) Các loại hình kiểm tra

Trong thực tế các cơ quan thường chủ yếu kiểm tra trước, trong và sau quá trình hoạt động Trong hoạt động con người thường mắc sai lầm, con người thường sợ bị phát hiện và bị xử lý khi sai phạm Chính vì thế kiểm tra thường xuyên, đúng đắn có tác dụng lớn nhất là ngăn ngừa sai phạm, góp phần làm cho hoạt động có sự tham gia của nhiều người đạt hiệu quả cao hơn, làm cuộc sống đạt chất lượng cao hơn

Mặt trái của kiểm tra nhiều, kiểm tra vô tội vạ sẽ làm cho trí tuệ đình đốn, thui chột sáng kiến, sáng tạo, đặc biệt là trong cơ chế thị trường đầy cạnh tranh và thách thức, hãy tránh kiểm tra như thời bao cấp nhà nước bỏ tiền ra, chứ không phải lao động sáng tạo ra của cải vật chất của thời kinh tế tri thức

Tóm lại: Hoạch định hoạt động là thực hiện tốt đồng bộ 4 loại công việc quản lý: Hoạch định kế hoạch hoạt động + đảm bảo tổ chức cho hoạt động + điều phối hoạt động + kiểm tra hoạt động

Trang 32

1.2 Tổng quan thực tiễn quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu

1.2.1 Những đặc điểm của đơn vị sự nghiệp có thu liên quan đến công tác quản lý tài chính .

Đơn vị sự nghiệp có thu là các đơn vị sự nghiệp, do vậy đặc điểm hoạt động trước hết giống với các đơn vị sự nghiệp nói chung đồng thời cũng có những đặc điểm riêng của một đơn vị hoạt động có thu, ảnh hưởng quyết định đến cơ chế quản lý tài chính của đơn vị Các đặc điểm đó là:

- Hoạt động theo nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao, không vì mục đích sinh lợi

- Do khả năng hạn hẹp của ngân sách nhà nước, không thể bảo đảm tất

cả các khoản chi cho hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội Nhà nước cho phép các đơn vị sự nghiệp có thu được thu một số loại phí, lệ phí từ cá nhân, tập thể sử dụng các dịch vụ do đơn vị cung cấp

- Các đơn vị sự nghiệp có thu được tổ chức sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động chuyên môn của mình

Do vậy, nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu không chỉ có kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp mà còn có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp khác

- Đơn vị sự nghiệp có thu chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan chủ quản (Bộ, Ngành, Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Thành phố) Đồng thời chịu sự quản

lý về mặt chuyên môn của các Bộ, ngành chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực hoạt động sự nghiệp và chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng trụ sở và hoạt động Như vậy, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu chịu sự quản

lý của nhiều cấp quản lý với mối quan hệ đan xen, phức tạp ảnh hưởng đến cơ chế quản lý của đơn vị

1.2.2 Quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu ở nước ta trong giai đoạn gần đây

Những năm gần đây, nhà nước đã có nhiều cải thiện đáng kể trong việc thực hiện chủ trương công khai tài chính, tăng cường tính minh bạch của các

Trang 33

báo cáo và thông tin tài chính công, tăng cường dân chủ cơ sở … góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các khoản ngân sách nhà nước

Tuy nhiên, công tác quản lý tài chính công của nước ta hiện nay còn một số tồn tại:

- Tính bền vững của ngân sách nhà nước

Hiện nay, trung bình thu Ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 86% nhu cầu chi tiêu của Chính phủ (Nguồn: Nghị quyết số 22/2008/QH12 ngày

10 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội), phần còn lại phải cân đối bằng cách huy động từ các nguồn vốn vay Trong tương lai tính bền vững của ngân sách

có thể bị đe dọa bởi thu ngân sách nhà nước có khả năng bị suy giảm do ảnh hưởng của các hoạt động dầu khí và việc cắt giảm thuế nhập khẩu cho phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế, các hàng rào thuế quan đối với hàng nhập khẩu sẽ bị cắt giảm tới mức tối đa, khi đó sẽ tác động đến thu ngân sách nhà nước

Trong khi nhu cầu chi tiêu ngày càng gia tăng, các nhu cầu chi cho phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, xóa đói giảm nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống, đảm bảo phúc lợi và công bằng xã hội…ngày càng lớn, tổng chi cho con người không đáp ứng đủ nhu cầu về lương và thu nhập cho người hưởng lương từ ngân sách nhà nước

- Tính hiệu quả trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước:

Thời gian qua, quản lý và sử dụng ngân sách đã có nhiều đổi mới, nhưng chưa quan tâm thích đáng đến kết quả đầu ra, chưa gắn bó giữa việc cung cấp tài chính với kết quả thực hiện các nhiệm vụ chính trị giao, chưa xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn để làm cơ sở thiết lập và tổ chức thực hiện ngân sách hàng năm

Do vậy, hiệu quả quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước còn hạn chế, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản nhiều Sự bất cập của hệ thống thông tin, hoạch toán và báo cáo thông tin quản lý tài chính công

Trang 34

Trong cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu còn bộc

lộ nhiều hạn chế:

+ Cơ chế quản lý tài chính chưa phân biệt được 2 loại hình hoạt động khác nhau là cơ quan hành chính trong bộ máy quản lý nhà nước và các đơn

vị sự nghiệp hoạt động cung cấp dịch vụ Do vậy, các đơn vị sự nghiệp bị gò

bó hạn chế khai thác tiềm năng của mình để phát triển theo hướng đa dạng hoá các loại hình hoạt động, nguồn tài chính trong nền kinh tế thị trường

+ Quyền chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp chưa được đảm bảo Cơ chế tài chính đã được xây dựng trên cơ sở trách nhiệm và lợi ích toàn dân, của nhà nước, đơn

vị và cán bộ công chức, viên chức, người lao động hợp đồng, nhưng nhiều cơ chế quy định quản lý chi tiết các yếu tố "đầu vào" hơn quản lý kết quả "đầu ra", chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước

+ Chế độ khuyến khích vật chất và tinh thần còn yếu Các cơ chế hiện hành về khai thác nhằm tăng các nguồn thu sự nghiệp, tiết kiệm chi, tăng thu nhập, tăng tiền lương, được trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…chưa đủ liều lượng để trở thành động lực thúc đẩy các nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý tài chính kế toán và những người lao động trong đơn vị sự nghiệp hoạt động sáng tạo, toàn tân, toàn ý hiến tài năng trí tuệ cho đơn vị, cho đất nước

+ Công tác quản lý, biên chế còn bất cập, định mức biên chế chưa được điều chỉnh phù hợp với tình hình kinh tế phát triển, với công tác quản lý nhà nước theo hướng hiện đại nền hành chính quốc gia và hoạt động sự nghiệp phong phú cả về nội dung, cơ cấu, loại hình

Đó là những lý do chính đòi hỏi phải hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu là trao quyền tự chủ thực sự cho đơn vị trong việc tổ chức công việc, sử dụng biên chế lao động, tăng cường huy động và quản lý thống nhất các nguồn thu, đồng thời sử dụng tiết kiệm và

có hiệu quả các nguồn tài chính nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng công tác quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, khuyến khích và tạo điều kiện

Trang 35

cho các đơn vị sự nghiệp đảm bảo trang trải chi phí hoạt động, nâng cao thu nhập và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, viên chức

- Thực hiện cơ chế quản lý tài chính mới có ý nghĩa về nhiều mặt: + Tạo thêm nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động của đơn vị dịch vụ công, thực hiện xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp phục vụ nhu cầu ngày càng cao của người lao động và thực hiện tốt hơn công bằng xã hội, quản lý thống nhất các nguồn thu, xóa bá các khoản thu không chính thức

+ Thúc đẩy thực hành tiết kiệm, công khai tài chính, tạo điều kiện tăng thu nhập hợp pháp cho cán bộ, công chức, viên chức Thực hiện phân phối công bằng trong nội bộ đơn vị, tạo thêm nguồn lực cải cách tiền lương trong khu vực hành chính sự nghiệp

+ Tạo quyền chủ động cho các đơn vị sự nghiệp, thúc đẩy cải cách hành chính từ cơ sở, thay đổi cơ sở, thay đổi cơ chế phương thức quản lý nhà nước và hoạt động sự nghiệp từ Trung ương đến địa phương

Mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính áp dụng áp dụng cho đơn vị

sự nghiệp có thu theo quy định tại Nghị định số 10/2002/NĐ-CPNgày 16/01/2002 Chính phủ là: Trao quyền tự chủ tài chính cho thủ trưởng đơn vị

để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát triển và mở rộng cung ứng các hoạt động dịch vụ; phân định rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, làm thay đổi phương thức quản lý đối với đơn vị sự nghiệp, tạo điều kiện tăng thu nhập cho người lao động Qua 3 năm triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu, theo đánh giá của các Bộ, các địa phương, các đơn vị triển khai thực hiện về cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra

Theo báo cáo của các Bộ, các địa phương (Nguồn: Website của Bộ Tài chính: www.mof.gov.vn) đến đầu năm 2005 đã có 37/43 Bộ, cơ quan ở Trung ương và 52/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thực hiện giao quyền

tự chủ về tài chính theo quy định tại Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ cho trên 5.900 đơn vị sự nghiệp có thu, đạt tỷ lệ trên 37% tổng số đơn vị sự nghiệp có thu Kết quả đạt được trên một số mục

Trang 36

tiêu chủ yếu như sau:

+ Kết quả thu sự nghiệp nhìn chung năm sau tăng cao hơn so với năm trước Đối với các đơn vị sự nghiệp do Trung ương quản lý, triển khai thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, số thu sự nghiệp năm 2002 tăng khoảng 73% so với năm 2001 Năm 2003 tăng khoảng 23% so với năm 2002 Đối với các đơn vị sự nghiệp do địa phương quản lý: số thu năm 2002 của 1.266 đơn

vị tăng khoảng trên 20% so với năm 2001; năm 2003 số thu tăng khoảng 30%

bổ sung thêm khoảng 7% nhu cầu tiền lương tăng thêm

Việc thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính, thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu với các mục tiêu nêu trên, trong đó có mục tiêu tăng quyền chủ động cho thủ trưởng đơn vị trong việc sử dụng số kinh phí ngân sách cấp bảo đảm có hiệu quả, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ được giao Việc giao khoán kinh phí được ổn định 3 năm, do vậy đối với đơn vị thực hiện khoán ngân sách nhà nước vẫn cấp bảo đảm ổn định số đã giao, không đặt vấn đề cắt giảm

Có nhiều Bộ, Ngành và địa phương được Bộ Tài chính biểu dương việc triển khai thực hiện giao quyền tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp có thu một cách tích cực như Bộ Công thương, Bộ Xây dựng, Tổng cục Du lịch, Đại học Quốc gia TP.HCM; Các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nội, TP.HCM…

Tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn nhiều Bộ, Ngành và địa phương thực hiện nhiệm vụ này không mấy triệt để như Bộ Công an, Ngân hàng nhà nước, Kiểm toán nhà nước; Các tỉnh Hà Nam, Long An, Nghệ An, Cao Bằng, Cà Mau, Tây Ninh, Bình Định…

Trang 37

Bảng 1.1: Một số địa phương triển khai tốt Nghị định 10

STT Địa phương Tổng số đơn

vị SNCT

Số đã thực hiện NĐ 10 Tỷ lệ (%)

Thanh Hóa

Nam Định

Ninh Bình

Bến Tre

1.3.1 Khái niệm quy chế

Thuật ngữ quy chế được sử dụng trong các lĩnh vực hành chính, tư pháp, lập pháp, trong một cộng đồng nhỏ như làng xã, hợp tác xã, trong cộng

Trang 38

đồng lớn như quốc gia, nhiều quốc gia

Quy chế là một văn bản hay toàn thể các văn bản xác định những đảm bảo cơ bản đối với một tập thể, một ngạch Đó là những quy định đã thành chế độ để mọi người tuân theo Là tổng thể nói chung của những điều quy định thành chế độ để mọi người thực hiện, trong những hoạt động nhất định nào đó

Thuật ngữ quy chế cơ bản bàn đến dưới đây chỉ giới hạn trong phạm vi hành chính với sự tạo lập các mối liên hệ và các mối quan hệ giữa các bộ phận, các chức danh trong nội bộ cơ quan, phát sinh trong khi thực hiện các quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan nào đó

Quy chế là loại văn bản thuộc các văn bản quy phạm pháp luật, nếu cơ quan ban hành là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, còn nếu không phải là

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì quy chế đó chỉ là văn bản có tính chất quy định nội bộ

Trong lĩnh vực hành chính nhà nước, việc ban hành quy chế là nhằm cụ thể hóa đồng thời nó còn có giá trị như một văn bản hướng dẫn những quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan ban hành, chứ không phải tự quy định ra những quyền hạn, nhiệm vụ mới Nghĩa là, phải bao gồm những quy định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nói trên và nêu rõ cả những quy tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức đó Bởi vậy nếu trong bản quy chế của một cơ quan mà quy định thêm những quyền hạn, nhiệm vụ mới hoặc bớt

đi một chức năng, nhiệm vụ nào đó thì bản quy chế đó bị coi là vi phạm luật pháp

Các quy định trong một bản quy chế phải đảm bảo yêu cầu về tính rõ ràng, dễ hiểu, tránh đa nghĩa; phải cụ thể hóa để làm rõ những điều trong các văn bản quy phạm, tránh việc coi quy chế chỉ là " bản sao" của văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy chế phải quy định rõ những quy tắc làm việc trong nội bộ một cơ quan, giữa các thành viên của cơ quan hành chính nhà nước, chẳng hạn, đối với vấn đề đảm bảo tính liên tục của hành chính

Trang 39

Từ những phân tích nêu trên, có thể đi đến một cách hiểu chung về quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị sự nghiệp có thu như sau:

Một hay những văn bản về quy tắc xử sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc tuy không ban hành nhưng thừa nhận tính hợp pháp của quy chế đó, có hiệu lực bắt buộc mọi người liên quan trong một cộng đồng (một cơ quan, một tổ chức, tại một địa điểm, một vùng) phải tuân theo

1.3.2 Ban hành và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ trong các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường

Để chủ động sử dụng kinh phí hoạt động thường xuyên được giao đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, đơn vị sự nghiệp thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính có trách nhiệm xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ để cán bộ, viên chức thực hiện và Kho bạc nhà nước thực hiện kiểm soát chi

Hiện nay tất cả các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường khi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ đều phải thực hiện đúng theo các nguyên tắc, nội dung và phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ như sau:

a) Quy chế chi tiêu nội bộ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp ban hành sau khi tổ chức thảo luận rộng rãi dân chủ, công khai trong đơn vị và có ý kiến thống nhất của tổ chức công đoàn đơn vị

b) Quy chế chi tiêu nội bộ phải gửi cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính cùng cấp để theo dõi, giám sát thực hiện; gửi Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để làm căn cứ kiểm soát chi Trường hợp có các quy định không phù hợp với quy định của Nhà nước thì trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan quản lý cấp trên có ý kiến yêu cầu đơn vị phải điều chỉnh lại cho phù hợp; đồng gửi cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch

c) Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức, mức chi thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh

Trang 40

phí tiết kiệm có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý

d) Đối với nội dung chi thuộc phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ (chi quản lý, chi nghiệp vụ thường xuyên) đã có chế độ tiêu chuẩn, định mức

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định (trừ một số tiêu chuẩn, định mức và nội dung chi quy định tại mục e dưới đây), Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp được:

- Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi quản lý và chi nghiệp vụ cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

- Đối với đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: Thủ trưởng đơn vị quyết định mức chi không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

đ) Đối với những nội dung chi, mức chi cần thiết cho hoạt động của đơn vị, trong phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa ban hành, thì Thủ trưởng đơn vị có thể xây dựng mức chi cho từng nhiệm vụ, nội dung công việc trong phạm vi nguồn tài chính của đơn vị

e) Đối với một số tiêu chuẩn, định mức và mức chi đơn vị sự nghiệp phải thực hiện đúng các quy định của nhà nước:

- Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô;

- Tiêu chuẩn, định mức về nhà làm việc;

- Tiêu chuẩn, định mức trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động;

- Chế độ công tác phí nước ngoài;

- Chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam;

- Chế độ quản lý, sử dụng kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia;

- Chế độ sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

- Chế độ chính sách thực hiện tinh giản biên chế (nếu có);

Ngày đăng: 30/05/2021, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đinh Thế Hiển (2007), Quản trị tài chính công ty lý thuyết và ứng dụng, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính công ty lý thuyết và ứng dụng
Tác giả: Đinh Thế Hiển
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2007
[2]. Vương Huy Hùng (2000), Tâm lý học trong quản trị kinh doanh, Bài giảng cho các lớp Cao học chuyên ngành kinh tế công nghiệp, trường Đại học Mỏ địa chất Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trong quản trị kinh doanh
Tác giả: Vương Huy Hùng
Năm: 2000
[3]. Huỳnh Trung Lương,Trương Tôn Hiền Đức (2002), Phương pháp định lượng trong quản lý và vận hành, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp định lượng trong quản lý và vận hành
Tác giả: Huỳnh Trung Lương,Trương Tôn Hiền Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
Năm: 2002
[4]. Đỗ Văn Phức (2004), Quản lý đại cương, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đại cương
Tác giả: Đỗ Văn Phức
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
[5]. Vũ Thị Bích Quỳnh (2008), Lý thuyết quản trị tài chính, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết quản trị tài chính
Tác giả: Vũ Thị Bích Quỳnh
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2008
[6]. Nguyễn Đức Thành (2000), Quản trị nhân lực, Bài giảng cho các lớp Cao học chuyên ngành kinh tế công nghiệp, Trường Đại học Mỏ địa chất Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân lực
Tác giả: Nguyễn Đức Thành
Năm: 2000
[7]. Đỗ Hữu Tùng, Quản trị tài chính, Trường Đại học Mỏ địa chất Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính
[8]. Trần Đình Ty (2003), Quản lý tài chính công, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính công
Tác giả: Trần Đình Ty
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
[9]. Trần Đình Ty (2004), Giáo trình QLNN về tài chính, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình QLNN về tài chính
Tác giả: Trần Đình Ty
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2004
[10]. Đặng Huy Thái (2005), Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, Trường Đại học Mỏ địa chất Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
Tác giả: Đặng Huy Thái
Năm: 2005
[11]. Gene siciliano, Hương Giang dịch, Tài chính dành cho nhà quản lý, Nhà xuất bản lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính dành cho nhà quản lý
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động xã hội
[16]. Bộ Tài chính (2009), Quy định mới nhất về lập dự toán ngân sách 2009, quyết toán thu, chi ngân sách 2008, luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, hệ thống mục lục ngân sách nhà nước, Nhà xuất bản Lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định mới nhất về lập dự toán ngân sách 2009, quyết toán thu, chi ngân sách 2008, luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, hệ thống mục lục ngân sách nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động - xã hội
Năm: 2009
[17]. ThS. Đinh Thị Xuân (2003), Luận văn thạc sỹ kinh tế “Nghiên cứu chuyển đổi cơ chế hoạt động tài chính của Trường đại học Mỏ-địa chất từ đơn vị sự nghiệp theo ngân sách sang đơn vị sự nghiệp có thu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sỹ kinh tế “Nghiên cứu chuyển đổi cơ chế hoạt động tài chính của Trường đại học Mỏ-địa chất từ đơn vị sự nghiệp theo ngân sách sang đơn vị sự nghiệp có thu
Tác giả: ThS. Đinh Thị Xuân
Năm: 2003
[12]. Nghị định của chính phủ số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Khác
[13]. Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về việc đổi mới cơ chế tài chính, trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu Khác
[14]. Luật của quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 về ngân sách nhà nước Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w