1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông của sở giáo dục đào tạo tỉnh quảng ninh

122 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 749,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.2. Chi Ngân sách Nhà n−ớc 18 (22)
  • 1.2. ý nghĩa công tác quản lý chi NSNN với hoạt động giáo dục Trung học phổ thông 26 (30)
    • 1.2.1. Các vấn đề cơ bản về giáo dục Trung học phổ thông 26 (30)
    • 1.2.2. Chi NSNN cho giáo dục THPT 45 (49)
    • 1.2.3. Thu sự nghiệp và có tính chất sự nghiệp của giáo dục THPT 48 1.2.4. ý nghĩa công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục THPT 49 (52)
  • 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xA hội của tỉnh Quảng Ninh 54 (0)
    • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân số 54 (58)
    • 2.1.2. Điều kiện kinh tế – xA hội 55 (59)
    • 2.1.3. ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, KT - XH đến giáo dục THPT 2.2. Thực trạng quản lý chi ngân sách sự nghiệp giáo dục THPT Tỉnh Quảng (60)
  • Ninh 58 (0)
    • 2.2.1. Thực trạng về đảm bảo giáo dục THPT 58 (62)
    • 2.2.2. Việc sử dụng đội ngũ cán bộ, giáo viên THPT 61 (65)
    • 2.2.3. Tình hình hiện trạng cơ sở vật chất 64 (68)
    • 2.2.4. Các thành tựu đA đạt đ−ợc của giáo dục THPT 66 (0)
    • 2.2.5. Thực trạng công tác quản lý chi NS sự nghiệp cho giáo dục THPT 2.2.6. Công tác xA hội hoá giáo dục THPT 82 (74)
    • 2.2.7. Thực hiện giao quyền tự chủ tài chính 83 (87)
    • 2.2.8. Hệ thống thông tin quản lý chi NSNN và công khai tài chính 84 2.3. Chi NSSN cho hoạt động giáo dục THPT ở một số địa phương và bài học (88)
    • 3.1.1. Mục tiêu, ph−ơng h−ớng phát triển giáo dục THPT của tỉnh Quảng (0)
  • Ninh 92 (0)
    • 3.1.3. Xác định chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả và định hướng mục tiêu quản lý chi ngân sách giáo dục THPT 95 (99)
    • 3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả chi NSSN cho hoạt động giáo dục (0)
      • 3.2.1. Tăng tỷ trọng chi NSNN cho giáo dục THPT 98 (102)
      • 3.2.2. Thay đổi cơ cấu các mục chi 99 (103)
      • 3.2.3. Các giải pháp về nội vụ 100 (104)
      • 3.2.4. Nâng cao quyền tự chủ tài chính của các đơn vị cơ sở 112 (116)
      • 3.2.5. Đổi mới hoạt động giáo dục THPT 113 (117)
    • 3.3. Kiến nghị các giải pháp KÕt luËnKÕt luËnKÕt luËn KÕt luËn 115 (118)

Nội dung

Chi Ngân sách Nhà n−ớc 18

Chi NSNN là sự kết hợp giữa phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước, nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước theo nguyên tắc và điều kiện nhất định Theo Điều 4 khoản 2 Luật Ngân sách, các nguyên tắc chi được quy định rõ ràng, trong khi Điều 5 khoản 2 nêu rõ các điều kiện cần thiết để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch trong việc chi tiêu ngân sách.

+ ĐA có trong dự toán ngân sách được giao, trừ trường hợp quy định tại Điều 52 và Điều 59 của Luật này;

+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;

+ ĐA được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền quyết định chi

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, chi ngân sách nhà nước (NSNN) không chỉ là những định hướng chung mà còn được phân bổ cụ thể cho từng mục tiêu và hoạt động của Nhà nước Điều này nhằm đảm bảo các hoạt động quản lý, duy trì an ninh trật tự xã hội và toàn vẹn đất nước Đồng thời, NSNN cũng can thiệp vào các hoạt động kinh tế để ổn định môi trường kinh tế vĩ mô và bảo vệ lợi ích chung của xã hội Từ góc độ pháp lý, chi NSNN là hoạt động của các cơ quan công quyền thực hiện chức năng được giao phó, trong khi từ góc độ kinh tế - xã hội, nó thể hiện quyền lực và ảnh hưởng của Nhà nước đối với các lĩnh vực này.

- Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ tr−ớc khi đ−a vào sử dụng

- Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN không trải qua hình thành các loại quỹ

1.1.2.2 Đặc điểm của chi NSNN

Chi ngân sách nhà nước (NSNN) luôn liên quan chặt chẽ đến bộ máy Nhà nước và các nhiệm vụ mà Nhà nước thực hiện trong từng giai đoạn Các khoản chi NSNN được các cơ quan Nhà nước quản lý theo phân công, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ quản lý, phát triển kinh tế - xã hội Quyền hạn và vai trò của các cơ quan này trong việc hình thành thu chi NSNN được quy định tại Điều 15 của Luật Ngân sách Nhà nước.

Chi ngân sách nhà nước (NSNN) gắn liền với quyền lực của Nhà nước, trong đó Quốc hội giữ vai trò cao nhất trong việc quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN và phân bổ ngân sách cho các mục tiêu quan trọng Quốc hội là cơ quan quyết định các nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của quốc gia, trong khi Chính phủ, với vai trò là cơ quan hành pháp, chịu trách nhiệm quản lý và điều hành các khoản chi NSNN.

Chi ngân sách nhà nước (NSNN) mang tính cộng đồng, chú trọng đến lợi ích xã hội và không hoàn trả trực tiếp Các khoản cấp phát từ NSNN cho các lĩnh vực như giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng không yêu cầu hoàn lại Điều này phân biệt chi NSNN với các khoản tín dụng Tuy nhiên, NSNN cũng có những khoản chi cho các chương trình mục tiêu, thực chất là cho vay với điều kiện hoàn trả gốc và lãi suất thấp hoặc không có lãi, như chi cho giải quyết công ăn việc làm và xoá đói giảm nghèo.

Hiệu quả chi ngân sách nhà nước (NSNN) khác biệt với hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, vì nó được đánh giá từ góc độ vĩ mô và liên quan đến hiệu quả kinh tế - xã hội mà các khoản chi NSNN mang lại.

Chi NSNN là yếu tố quan trọng trong luồng vận động tiền tệ, liên quan chặt chẽ đến các yếu tố giá trị khác như giá cả, tiền lương, tín dụng và tỷ giá hối đoái.

Chi ngân sách nhà nước (NSNN) là yếu tố quan trọng trong mọi hoạt động của Nhà nước, có tác động mạnh mẽ đến kinh tế vĩ mô Khi ngân sách được cân đối hợp lý, sẽ góp phần ổn định nền kinh tế - xã hội.

Luật ngân sách Nhà nước quy định chi tiết về nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương tại Điều 31 và ngân sách địa phương tại Điều 33.

Theo loại hình và ph−ơng thức quản lý NSNN, nội dung chi NSNN th−ờng đ−ợc phân thành 2 nhóm chính nh− sau:

* Nhóm chi th−ờng xuyên:

Chi thường xuyên là khoản chi tiêu phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong hoạt động của nhà nước, với quy mô nhỏ hơn tổng thu từ thuế và phí của ngân sách nhà nước Một phần thu từ thuế và phí cần được dành cho đầu tư phát triển Những đặc trưng cơ bản của chi thường xuyên bao gồm việc đáp ứng các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước.

Chi thường xuyên mang tính ổn định là yếu tố quan trọng trong bộ máy Nhà nước, yêu cầu nguồn lực tài chính đảm bảo để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ Sự ổn định này còn phụ thuộc vào hoạt động cụ thể của các bộ phận trong Nhà nước, giúp duy trì hiệu quả và tính liên tục trong quản lý.

Chi thường xuyên là các khoản chi tiêu quan trọng nhằm duy trì hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước, đảm bảo an ninh, quốc phòng và hỗ trợ các hoạt động sự nghiệp cũng như các hoạt động xã hội khác do Nhà nước thực hiện.

Phạm vi và mức độ chi thường xuyên của Nhà nước gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy và sự lựa chọn trong việc tổ chức các hoạt động thực hiện chức năng của Nhà nước Các khoản chi thường xuyên cần thiết để đảm bảo hoạt động bình thường của Nhà nước; do đó, nếu bộ máy Nhà nước được tổ chức gọn nhẹ và hoạt động hiệu quả, số chi này sẽ giảm Quyết định về phạm vi và mức độ thực hiện chức năng của Nhà nước cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến chi thường xuyên.

Các khoản chi th−ờng xuyên đ−ợc tập hợp theo từng lĩnh vực và nội dung chi, bao gồm 5 khoản chi cơ bản sau:

Việc thành lập các đơn vị sự nghiệp kinh tế là cần thiết để hỗ trợ hoạt động của từng ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nhà nước thực hiện các hoạt động sự nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, mà không chú trọng đến nguồn thu và lợi nhuận.

Chi cho sự nghiệp văn hóa xã hội bao gồm các khoản đầu tư vào giáo dục, đào tạo, y tế, sức khỏe và phúc lợi xã hội Quy mô chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này phụ thuộc vào khả năng tài chính và các chính sách của Nhà nước liên quan.

ý nghĩa công tác quản lý chi NSNN với hoạt động giáo dục Trung học phổ thông 26

Các vấn đề cơ bản về giáo dục Trung học phổ thông 26

1.2.1.1 Một số khái niệm về giáo dục

Giáo dục là quá trình mà Nhà nước và xã hội thực hiện để tác động có hệ thống đến con người, nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã được xác định rõ ràng.

Mục tiêu giáo dục theo Điều 2 Luật Giáo dục Việt Nam là đào tạo con người phát triển toàn diện, bao gồm đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp Điều này nhằm hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đồng thời trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Phát triển giáo dục và đào tạo được xác định là động lực quan trọng cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đồng thời là điều kiện cần thiết để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cốt lõi cho sự phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững.

Nền giáo dục Việt Nam mang tính văn hoá truyền thống và bản sắc dân tộc, được xác định trong Điều 3 khoản 1 Luật giáo dục là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện đại, với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.

Nguyên lý giáo dục nhấn mạnh rằng hoạt động giáo dục cần phải gắn liền với thực tiễn, bao gồm việc học đi đôi với hành, kết hợp giáo dục với lao động sản xuất Đồng thời, lý luận phải liên kết chặt chẽ với thực tiễn, và giáo dục trong nhà trường cần phối hợp với giáo dục gia đình cũng như giáo dục xã hội.

Phổ cập giáo dục là quá trình đảm bảo mọi công dân có cơ hội học tập và đạt trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của Nhà nước Hiện nay, giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là hai cấp học cần được phổ cập để nâng cao trình độ dân trí.

Chương trình giáo dục xác định mục tiêu giáo dục và quy định các chuẩn kiến thức, kỹ năng, cũng như cấu trúc nội dung và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục Nó cần đảm bảo tính hiện đại, ổn định và thống nhất giữa các cấp học, tạo điều kiện cho sự phân luồng và chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo Nội dung kiến thức và kỹ năng trong chương trình phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa ở giáo dục phổ thông, giáo trình và tài liệu giảng dạy cho giáo dục nghề nghiệp, đại học và thường xuyên, đồng thời đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục.

Hướng nghiệp trong giáo dục là những biện pháp được thực hiện cả trong và ngoài nhà trường nhằm trang bị cho học sinh kiến thức về các nghề nghiệp Qua đó, học sinh có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp dựa trên sự kết hợp giữa nguyện vọng, sở thích cá nhân và nhu cầu lao động của xã hội.

Phân luồng trong giáo dục là một biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục nhằm thực hiện hướng nghiệp, giúp học sinh tốt nghiệp THCS và THPT có cơ hội tiếp tục học lên các cấp độ cao hơn, học trung cấp, học nghề, hoặc tham gia lao động phù hợp với năng lực và điều kiện cá nhân Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu của học sinh mà còn góp phần điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao động, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.

Liên thông trong giáo dục là phương thức cho phép người học sử dụng kết quả học tập trước đó để tiếp tục học ở các cấp độ cao hơn, phù hợp với ngành nghề hoặc chuyển sang hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác Biện pháp này đáp ứng yêu cầu nội dung tương ứng, giúp tối ưu hóa quá trình học tập và phát triển nghề nghiệp.

Chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục là mức tối thiểu mà người học cần đạt được sau khi hoàn thành chương trình Đây cũng là căn cứ quan trọng để biên soạn sách giáo khoa, giáo trình và đánh giá kết quả học tập của học sinh.

Văn bằng giáo dục là chứng nhận được cấp cho học viên sau khi hoàn thành chương trình học hoặc đạt trình độ đào tạo theo quy định của Luật giáo dục.

Chứng chỉ giáo dục là tài liệu do hệ thống giáo dục quốc dân cấp phát, nhằm xác nhận kết quả học tập của người học sau khi hoàn thành chương trình đào tạo hoặc bồi dưỡng để nâng cao trình độ học vấn và nghề nghiệp.

Cơ sở giáo dục, bao gồm nhà trường và các cơ sở giáo dục khác trong hệ thống giáo dục quốc dân, được hình thành và hoạt động theo quy định của Luật giáo dục.

- Ng−ời học: Là ng−ời đang học tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dôc quèc d©n

Phát triển giáo dục là yếu tố then chốt để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời phải gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tiến bộ khoa học, công nghệ Cần thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa giáo dục, đảm bảo cân đối về cơ cấu trình độ, ngành nghề và vùng miền Mở rộng quy mô giáo dục cần dựa trên chất lượng và hiệu quả, đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng nhân lực.

Chi NSNN cho giáo dục THPT 45

1.2.2.1 Chi NSNN cho giáo dục

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc phục vụ nhu cầu của cộng đồng và đảm bảo sự phát triển xã hội Theo Luật giáo dục, hoạt động xã hội hoá giáo dục có thể do các tổ chức và cá nhân thực hiện, nhưng nếu quá phụ thuộc vào xã hội, vai trò của Nhà nước sẽ bị suy giảm, dẫn đến bất bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục Nhiều người có năng lực nhưng không đủ tài chính để học, gây tổn thất lớn cho xã hội khi không phát huy được trí tuệ của tầng lớp nghèo Nền kinh tế thị trường thường tạo ra sự bất bình đẳng trong cung cấp giáo dục Do đó, để đảm bảo sự phát triển xã hội và công bằng trong giáo dục, Nhà nước cần có trách nhiệm thực hiện các hoạt động giáo dục đáp ứng nhu cầu cộng đồng, sử dụng ngân sách công để đảm bảo chức năng giáo dục của mình.

Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục là đầu tư vào con người, mang lại hiệu quả lâu dài và giá trị cao, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay Đầu tư cho giáo dục không chỉ nâng cao sức cạnh tranh mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội Mức chi này phụ thuộc vào khả năng kinh tế, chính sách của Nhà nước và sự quan tâm của xã hội đối với giáo dục Trong quá trình đổi mới tư duy giáo dục, cần nhận thức rằng giáo dục là dịch vụ công, phục vụ cho xã hội và là phương tiện chuẩn bị cho tương lai của người học Do đó, ngoài ngân sách nhà nước, các thành phần khác trong xã hội cũng cần đóng góp nguồn lực để đáp ứng nhu cầu giáo dục Tuy nhiên, ngân sách nhà nước vẫn là nguồn lực chủ đạo, giữ vai trò điều phối hệ thống giáo dục, đảm bảo hoạt động giáo dục phù hợp với định hướng và mục tiêu phát triển xã hội.

1.2.2.2 Chi NSNN cho giáo dục THPT

Các cơ sở giáo dục cấp THPT tổ chức hoạt động giáo dục chủ yếu dựa vào nguồn lực từ ngân sách nhà nước (NSNN) và các nguồn lực ngoài NSNN như học phí, xã hội hóa, viện trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước, cùng với các dịch vụ khác Tuy nhiên, nguồn lực từ NSNN vẫn đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo hoạt động giáo dục THPT.

Chi NSNN cho giáo dục THPT tương tự như chi cho các cấp học khác, chủ yếu tập trung vào các nội dung chi thường xuyên như: đảm bảo cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cải thiện chương trình học và hỗ trợ các hoạt động ngoại khóa.

Nhóm chi cho con người bao gồm các khoản chi tiền lương, tiền công làm thêm giờ, phụ cấp, học bổng cho học sinh, và các khoản thanh toán khác cho cá nhân.

Nhóm chi nghiệp vụ chuyên môn bao gồm các khoản chi cho thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin liên lạc, hội họp, công tác phí, đào tạo bồi dưỡng và các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ khác.

- Nhóm chi mua sắm, sửa chữa: Chi mua sắm tài sản cố định, sửa chữa lớn TSCĐ, đầu t− trang bị cơ sở vật chất khác

- Nhóm chi khác: Các nội dung chi khác phục vụ cho hoạt động thường xuyên của đơn vị

Chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho giáo dục cấp THPT có những điểm khác biệt so với các cấp học khác trong phân hệ giáo dục phổ thông (GDPT) do đặc điểm riêng của từng cấp học Trong khi chi NSNN cho giáo dục tiểu học và trung học cơ sở (THCS) phải đảm bảo tỷ lệ lớn hơn do số lượng học sinh đông, giáo dục THPT lại có sự tham gia và đóng góp lớn hơn từ cộng đồng, nhờ vào lợi ích cá nhân cao hơn như cơ hội tham gia hoạt động trường học, tiếp thu kiến thức hữu ích và khả năng tìm kiếm việc làm với thu nhập cao Mặc dù vậy, nguồn lực NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo, cần định hướng chi tiêu cho giáo dục THPT nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục.

Chi ngân sách nhà nước cho hoạt động giáo dục THPT chủ yếu dành cho lương và các khoản liên quan đến lương, do tính chất nhân lực cao hơn so với tiểu học và THCS Ở cấp THPT, ngoài việc giảng dạy kiến thức phổ thông, còn chú trọng đến giáo dục đạo đức, phát triển khả năng cá nhân và giáo dục hướng nghiệp, dẫn đến tỷ lệ chi cho các hoạt động chuyên môn như thi cử và văn phòng cao hơn Mặc dù quy mô chi ngân sách cho giáo dục THPT thường nhỏ hơn so với các cấp học dưới do số lượng học sinh ít hơn, nhưng chi ngân sách bình quân trên đầu học sinh ở cấp THPT lại cao hơn.

Do đặc điểm và điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam, Nhà nước khuyến khích người dân học tập nâng cao trình độ văn hóa Hiện tại, chỉ có Luật phổ cập giáo dục cấp tiểu học, vì vậy sau khi tốt nghiệp THCS, học sinh có thể theo học đào tạo trung học nghề mà không cần tiếp tục lên THPT Do đó, khi tính toán chi phí xã hội cho giáo dục THPT, cần xem xét cả chi phí giảm do quy mô trường lớp hạn chế và thu nhập sớm hơn của lực lượng lao động tốt nghiệp nghề mà không qua THPT Hướng nghiệp sớm sau giáo dục THCS nếu được thực hiện tốt sẽ giảm lãng phí nguồn lực xã hội, tiết kiệm ngân sách nhà nước cho giáo dục THPT và tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội.

Thu sự nghiệp và có tính chất sự nghiệp của giáo dục THPT 48 1.2.4 ý nghĩa công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục THPT 49

Thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục, hệ thống giáo dục hình thành các khoản thu và đóng góp từ tổ chức, gia đình và học sinh, sinh viên để hỗ trợ hoạt động giáo dục Mức thu và chính sách miễn, giảm phụ thuộc vào nhu cầu phát triển giáo dục và mức sống của người dân tại từng địa phương Các khoản thu này chủ yếu nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo.

Thu học phí nhằm mục đích nâng cao cơ sở vật chất cho giảng dạy và học tập, đồng thời bổ sung kinh phí cho các hoạt động giáo dục và đào tạo, bao gồm cả việc tổ chức thi tốt nghiệp Khoản thu này cũng hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy trực tiếp và công tác quản lý trong ngành giáo dục địa phương Hàng năm, khoản thu này phải được đưa vào dự toán thu, chi ngân sách của đơn vị.

Thu xây dựng cơ sở vật chất trường học được sử dụng để xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị cho các trường học và cơ sở giáo dục Khoản thu này không chỉ áp dụng tại cơ sở có thu mà còn phải được đưa vào dự toán thu, chi ngân sách hàng năm của đơn vị dự toán.

Các khoản thu từ sự nghiệp tại cơ sở giáo dục phải được sử dụng đúng mục đích theo quy định địa phương Cơ sở giáo dục cần lập dự toán và quyết toán thu - chi với cơ quan quản lý cấp trên, cũng như với tổ chức và cá nhân tham gia đóng góp cho công tác xã hội hóa giáo dục đào tạo.

- Thu học phí bán trú;

- Thu tiền dạy tin học, ngoại ngữ;

- Thu tiền vệ sinh chung;

- Thu tiền bảo vệ ngoài biên chế;

- Thu tiền điện, n−ớc sinh hoạt cho học sinh; trông giữ xe học sinh;

- Thu đóng góp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân;…

1.2.4 ý nghĩa công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục THPT

Khi đánh giá chi tiêu ngân sách nhà nước cho giáo dục THPT, cần xem xét cả hiệu quả phát triển lẫn sự ổn định của khoản chi này Chi tiêu cho giáo dục THPT thuộc nhóm chi thường xuyên, không chỉ đảm bảo hoạt động ổn định mà còn thúc đẩy sự phát triển Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả chi ngân sách cho giáo dục thường gặp khó khăn khi áp dụng các chỉ tiêu định lượng toán học, do đó cần phân tích bằng các chỉ tiêu định tính vĩ mô Hiệu quả quản lý chi ngân sách cho giáo dục THPT có thể được xem xét qua hai giai đoạn chính trong chu trình ngân sách: tạo lập và thực hiện.

1.2.4.1 Hiệu quả trong lập dự toán và phân bổ NSNN cho giáo dục THPT

Việc phân bổ ngân sách nhà nước cho các cơ sở giáo dục THPT dựa trên dự toán thu, chi hàng năm, phản ánh nhu cầu chi thường xuyên và nhiệm vụ phát triển mà nhà nước giao Để đảm bảo sự ổn định và phát triển của các đơn vị, việc lập dự toán ngân sách cần chính xác và sát thực, xem xét các yếu tố biến động chủ quan và khách quan, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân bổ ngân sách hiệu quả từ các cấp ngân sách.

Việc lựa chọn phương án phân bổ ngân sách để tối đa hóa lợi ích xã hội là một thách thức lớn trong lập ngân sách nhà nước Lý thuyết cho thấy mức hiệu quả đạt được tại giao điểm của đường bàng quan xã hội và đường ngân sách, nơi tổng lợi ích xã hội là cao nhất trong khả năng ngân sách Tuy nhiên, thực tế không có phân phối tối ưu duy nhất do việc ước lượng lợi ích xã hội mang tính tương đối Mỗi địa phương có những ưu tiên chi tiêu ngân sách khác nhau dựa trên đặc điểm kinh tế - xã hội, nhưng vẫn phải tuân thủ luật pháp Đánh giá hiệu quả thông qua phân tích chi phí - lợi ích cận biên có thể giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định chi tiêu ngân sách tốt hơn.

1.2.4.2 Hiệu quả trong chi tiêu NSNN ở hệ giáo dục THPT

Để đảm bảo hiệu quả chi tiêu ngân sách nhà nước (NSNN) cho giáo dục THPT, cần đạt được mức chi tiêu tối ưu, vừa đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) về cả số lượng lẫn chất lượng Việc chi NSNN phải được thực hiện ở mức thấp nhất có thể, đồng thời quy mô giáo dục phải tương xứng với nhu cầu xã hội Nếu chi NSNN ở mức tối thiểu nhưng quy mô giáo dục không phù hợp, sẽ dẫn đến sự không hiệu quả Chính sách chi NSNN cần đảm bảo điều kiện cho hoạt động giáo dục đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu của cộng đồng và thúc đẩy tăng trưởng KT - XH Hiện nay, giáo dục THPT ở Việt Nam cần phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng, điều này tạo ra mâu thuẫn giữa số lượng và chất lượng, phản ánh sự cần thiết trong quá trình phát triển giáo dục.

Ngân sách nhà nước (NS) cần phải đáp ứng cả việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục THPT trong bối cảnh hạn chế Để giải quyết mâu thuẫn này, bên cạnh việc huy động tối đa các nguồn lực cho giáo dục, việc nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách nhà nước càng trở nên cấp thiết.

Phát triển quy mô giáo dục trung học phổ thông (THPT) đòi hỏi chú ý đến chi phí cận biên, vì việc mở rộng quy mô ngân sách nhà nước cho giáo dục THPT nhằm phục vụ một số lượng học sinh tăng thêm sẽ tốn kém hơn nhiều so với các cấp học dưới Điều này xuất phát từ chi phí thường xuyên bình quân tính trên đầu học sinh ở cấp THPT cao hơn.

Giáo dục THPT yêu cầu đầu tư lớn hơn so với các cấp học dưới, bao gồm chi phí cho cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy và đội ngũ giáo viên Để đảm bảo chất lượng đầu ra, nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) cần đáp ứng các tiêu chí nhất định về chất lượng giáo viên và điều kiện tổ chức Hiệu quả sử dụng NSNN phụ thuộc vào tỷ lệ giáo viên/học sinh, chi phí đầu vào và quản lý hoạt động giáo dục Để nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, cần kiểm soát chi phí đầu vào và thiết lập cơ chế phân bổ ngân sách hợp lý, ưu tiên các nội dung cần thiết, nhằm đạt được chất lượng giáo dục cao nhất trong điều kiện ngân sách hạn chế.

Sơ đồ 1.3: Hiệu quả chi NSNN cho giáo dục THPT

Mục tiêu kinh tế - xã hội

Hiệu quả sử dông NSNN

Mức trụ lại tr−êng

Tỷ lệ học sinh/giáo viên

Tổng hợp chi phí đầu vào nh/giáo viên Sắp xếp, quản lý

Chất l−ợng và khuyÕn khÝch cho giáo viên

Lợi ích từ giáo dôc THPT

Chi NSNN cho Giáo dục

THPT Đầu vào Đầu ra

Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xA hội của tỉnh Quảng Ninh 54

Ngày đăng: 30/05/2021, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Ngân sách Nhà n−ớc Cộng hoà x_ hội chủ nghĩa Việt Nam đ−ợc Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ hai (từ ngày 12/11 đến ngày 16/12/2002) thông qua Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân sách Nhà n−ớc Cộng hoà x_ hội chủ nghĩa Việt Nam
2. Luật Giáo dục n−ớc Cộng hoà x_ hội chủ nghĩa Việt Nam đ−ợc Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ bảy (từ ngày 05/5 đến ngày 14/6/2005) thông qua Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục n−ớc Cộng hoà x_ hội chủ nghĩa Việt Nam
3. Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ
4. Nghị định số 75/2005/NĐ-CP ngày 2/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 75/2005/NĐ-CP ngày 2/8/2006 của Chính phủ
5. Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ
6. Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ
7. Nghị quyết số 07/2006/NQ-HĐND ngày 14/7/2006 Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh thông qua Quyết định số 1702/2006/QĐ-UBND ngày 19/6/2006 của UBND tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 07/2006/NQ-HĐND ngày 14/7/2006 Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh
8. Quyết định số 27/2001-QĐ-BGD&ĐT ngày 05/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế công nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia (giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 27/2001-QĐ-BGD&ĐT ngày 05/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
9. Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng chính phủ về việc thu và sử dụng học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng chính phủ
10. Quyết định số 1702/2006/QĐ-UBND ngày 19/6/2006 của UBND tỉnh Quảng Ninh “Về việc phê duyệt đề án xây dựng, nâng cao chất l−ợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1702/2006/QĐ-UBND ngày 19/6/2006 của UBND tỉnh Quảng Ninh" “Về việc phê duyệt đề án xây dựng, nâng cao chất l−ợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010
11. Quyết định số 3137/2001/QĐ-UBND ngày 8/8/2001 của UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành Quy chế phối hợp hoạt động quản lý sự nghiệp GD - ĐT trên địa bàn tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3137/2001/QĐ-UBND ngày 8/8/2001 của UBND tỉnh Quảng Ninh
12. Thông t− số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông t− số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính" hướng dẫn thực hiện "Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ
13. Thông t− liên tịch số 54/1998/TTLT. Bộ GD&ĐT-TC ngày 31/8/1998 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo – Tài chính h−ớng dẫn thực hiện thu, chi và quản lý học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông t− liên tịch số 54/1998/TTLT. Bộ GD&ĐT-TC ngày 31/8/1998 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo – Tài chính

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm