1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LA mối quan hệ giữa chiến lược sản xuất và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất chế tạo ở việt nam

220 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa chiến lược sản xuất và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất chế tạo ở Việt Nam
Tác giả Hoàng Trọng Hòa
Người hướng dẫn PGS. TS Lê Thái Phong, PGS. TS Phan Chí Anh
Trường học Đại Học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ TẠO (21)
    • 1.1. Các nghiên cứu trong nước (21)
      • 1.1.1. Mối quan hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động (21)
      • 1.1.2. Doanh nghiệp sản xuất chế tạo ở Việt Nam (24)
    • 1.2. Các nghiên cứu ngoài nước (27)
      • 1.2.1. Chiến lược sản xuất (27)
      • 1.2.2. Mối quan hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động (34)
    • 1.3. Khoảng trống nghiên cứu (40)
    • 1.4. Kết luận Chương (42)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIẾN LƢỢC SẢN XUẤT VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ TẠO (43)
    • 2.1. Các định nghĩa chính (43)
      • 2.1.1. Chiến lược sản xuất (43)
      • 2.1.2. Kết quả hoạt động (52)
      • 2.1.3. Doanh nghiệp sản xuất chế tạo (53)
      • 2.1.4. Mối quan hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động của (56)
    • 2.2. Khung phân tích (61)
    • 2.3. Giả thuyết nghiên cứu (64)
    • 2.4. Kết luận Chương (67)
    • 3.1. Một số định hướng chính (68)
      • 3.1.1. Bài học kinh nghiệm từ các nghiên cứu có trước (68)
      • 3.1.2. Các vấn đề về đạo đức nghiên cứu (70)
    • 3.2. Nghiên cứu định lượng (71)
      • 3.2.1. Các thang đo (72)
      • 3.2.3. Mẫu nghiên cứu và cách thức khảo sát (79)
      • 3.2.4. Phân tích các giả thuyết nghiên cứu (80)
    • 3.3. Nghiên cứu định tính (84)
      • 3.3.1. Nghiên cứu điển hình ở các doanh nghiệp tình huống (85)
      • 3.3.2. Phỏng vấn, thảo luận cùng chuyên gia (87)
    • 3.4. Các bước nghiên cứu và tiến trình khảo sát, thu thập dữ liệu (88)
    • 3.5. Kết luận Chương (93)
  • CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ TẠO VIỆT NAM (94)
    • 4.1. Khái quát chung về các doanh nghiệp sản xuất chế tạo và việc triển khai nghiên cứu về Chiến lược sản xuất tại Việt Nam (94)
      • 4.1.1. Khái quát về các doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Việt Nam (94)
      • 4.1.2. Tổng hợp kết quả phỏng vấn sơ bộ về nghiên cứu Chiến lược sản xuất ở các doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam (96)
    • 4.2. Phân tích định lượng về thực tiễn Chiến lược sản xuất và mối quan hệ đối với Kết quả hoạt động (0)
      • 4.2.1. Phân tích thống kê dữ liệu trong nước (99)
      • 4.2.2. Tổng hợp các phát hiện và kiểm nghiệm giả thuyết (113)
      • 4.2.3. Kinh nghiệm quốc tế (117)
    • 4.3. Nghiên cứu điển hình tại các doanh nghiệp tình huống (125)
      • 4.3.1. Doanh nghiệp là công ty tư nhân (127)
      • 4.3.2. Doanh nghiệp thuộc tập đoàn nhà nước (132)
      • 4.3.3. Tổng hợp các phát hiện từ nghiên cứu điển hình (139)
    • 4.4. Phỏng vấn chuyên gia về thực tiễn Chiến lược sản xuất và mối quan hệ với Kết quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam (0)
      • 4.4.1. Thông tin chuyên gia (145)
      • 4.4.2. Công tác xây dựng và triển khai Chiến lược sản xuất nói chung 138 4.4.3. Việc định hướng các Ưu tiên cạnh tranh (147)
      • 4.4.4. Các hoạt động liên quan đến Lựa chọn công nghệ (155)
    • 4.5. Kết luận Chương (159)
  • CHƯƠNG 5: TỔNG HỢP KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ (161)
    • 5.1. Các phát hiện đáng chú ý về Chiến lược sản xuất và mối quan hệ với Kết quả hoạt động ở các doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam (0)
    • 5.2. Một số đề xuất, kiến nghị đối với các doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt (166)
    • 5.3. Định hướng phát triển đối với các doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt (170)
    • 5.4. Kết luận Chương (173)
  • KẾT LUẬN (174)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (181)
  • PHỤ LỤC (203)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ TẠO

Các nghiên cứu trong nước

1.1.1 Mối quan hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động

1.1.1.1 Các nghiên cứu về Chiến lược

Trong nghiên cứu học thuật Việt Nam, khái niệm Chiến lược được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, chủ yếu liên quan đến chiến lược công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế Các nghiên cứu đã mở rộng ra nhiều chủ đề, bao gồm chiến lược thu hút đầu tư, chiến lược xuất khẩu, và chiến lược phát triển dựa trên ODA Ngoài ra, còn có các chiến lược liên quan đến tài chính quốc gia, tăng trưởng công bằng, quản lý chi tiêu công, phát triển khu công nghiệp, marketing địa phương, và phát triển các ngành kinh tế.

Nghiên cứu về chiến lược kinh doanh tại Việt Nam không chỉ dừng lại ở góc độ vĩ mô mà còn mở rộng đến các ngành cụ thể như chế biến và xuất khẩu thủy sản, ngành in, lắp ráp ô tô, thương mại dịch vụ, và dệt may Các tác giả như Phạm Văn Nam và Nguyễn Ngọc Điện đã nghiên cứu thực trạng xây dựng chiến lược kinh doanh, trong khi Hoàng Lâm Tịnh và Nguyễn Thị Thanh Thanh tìm hiểu tác động của chiến lược đến giá trị khách hàng và lợi nhuận Nhiều nghiên cứu cũng tập trung vào marketing, chiến lược nhân lực, và quản lý chiến lược, với những đóng góp từ các tác giả như Nguyễn Cao Nhơn và Đào Duy Huân Theo Trương Đức Lực, hệ thống nghiên cứu này đã trở thành một cây đại thụ, trong đó lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter chỉ là một nhánh trong bức tranh tổng thể.

Các tác giả đã nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết chiến lược vào các doanh nghiệp cụ thể, như Đậu Quang Lành (2001) đề xuất giải pháp phát triển cho công ty 28 Bộ Quốc phòng, Nguyễn Lê Hoàn (2004) phân tích chiến lược cho doanh nghiệp báo chí tại TP.HCM, Bùi Văn Trịnh và Phan Thị Tuyết Nhung (2010) phát triển chiến lược cho các công ty viễn thông, Nguyễn Thị Nguyệt Anh và Đoàn Xuân Hậu (2012) bàn về chiến lược kinh doanh nội dung số trong truyền thông, Nguyễn Thị Trâm Anh & cộng sự (2016) phân tích chiến lược xuất khẩu cá tra, và Nguyễn Trung Đông & cộng sự (2017) nghiên cứu chiến lược marketing cho doanh nghiệp chế biến đồ gỗ cao su.

1.1.1.2 Các nghiên cứu về Chiến lược sản xuất và mối quan hệ của Chiến lược sản xuất với Kết quả hoạt động

Chiến lược sản xuất là khái niệm quan trọng đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam Theo Nguyễn Như Phong (2013), chiến lược này bao gồm các giải pháp nhằm sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng, với các yếu tố chi phí, chất lượng và thời gian Mặc dù có sự tương đồng với các nghiên cứu quốc tế, linh hoạt cũng được xem là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược sản xuất tại Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa được thống nhất trong các nghiên cứu trong nước Chẳng hạn, Nguyễn Thị Hạnh (2018) đã đưa ra những yếu tố như chuỗi cung ứng và quản trị nguồn lực, cho thấy sự khác biệt trong cách tiếp cận Điều này chỉ ra rằng cần có một khung định nghĩa chung về chiến lược sản xuất trong nghiên cứu Việt Nam.

Một nghiên cứu đáng chú ý khác của Phan Chí Anh và Nguyễn Thu Hà

Năm 2017, các tác giả đã đề cập đến Chiến lược sản xuất và mối quan hệ với Kết quả hoạt động thông qua một loạt yếu tố quan trọng Họ giới thiệu mô hình Quản trị sản xuất hiệu suất cao (High Performance Manufacturing) nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đạt được kết quả tối ưu dựa trên các Ưu tiên cạnh tranh của Chiến lược sản xuất, bao gồm Chi phí, Chất lượng, Giao hàng và Linh hoạt Cách tiếp cận này tương đồng với định nghĩa Chiến lược sản xuất trong hệ thống nghiên cứu quốc tế, nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp sản xuất cần chú trọng đến các nhóm yếu tố này.

1) Tổ chức và phát triển nguồn nhân lực: Đây là nhóm yếu tố mang tính hạ tầng, được xây dựng trước nhất để làm nền tảng cho các nhóm yếu tố còn lại Một số hoạt động có thể kể đến như thiết kế tổ chức dạng phẳng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực linh động và đa năng, các nỗ lực phát triển văn hóa doanh nghiệp, hệ thống lương thưởng,…

2) Quản trị chất lượng, JIT, TPM, Quản trị chuỗi cung ứng, Hệ thống thông tin: Là nhóm yếu tố mang tính “mềm”, nhắm tới cải tiến và nâng cao hiệu quả các hoạt động đồng bộ của doanh nghiệp bằng cách ứng dụng các chương trình, hoạt động cải tiến chất lượng thường xuất phát từ Nhật Bản như kiểm soát quá trình, quan hệ với nhà cung ứng,…

3) Phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm mới, Chiến lược sản xuất: Nhóm yếu tố này thể hiện khía cạnh đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, hướng tới các phát triển đột phá hơn là cải tiến từng bước Có thể thấy Chiến lược sản xuất và công nghệ là những yếu tố quan trọng để các doanh nghiệp sản xuất tạo ra sự khác biệt Điều này phần nào minh chứng cho những mục tiêu nghiên cứu mà người viết đề ra

4) Năng lực cạnh tranh hướng tới phát triển bền vững: Với nền tảng tổ chức, nhân lực tốt, cộng thêm khả năng vận hành hiệu quả cũng như đổi mới sáng tạo để bứt phá, các doanh nghiệp sản xuất sẽ đạt được lợi thế cạnh tranh mong muốn, đồng thời hướng tới phát triển bền vững cả về kinh tế, môi trường và xã hội

Mô hình bốn nhóm yếu tố này bổ sung cho các nghiên cứu trước về năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh, như đã được Phan Chí Anh và Nguyễn Thu Hà (2016) tổng hợp Ngoài các nguồn lực như định hướng kinh doanh, năng lực tổ chức, phương thức cạnh tranh, nguồn nhân lực và năng lực marketing, doanh nghiệp sản xuất cần chú ý đến các yếu tố nâng cao hiệu suất và hiệu quả, đổi mới sáng tạo, công nghệ, chiến lược, cũng như phát triển bền vững.

1.1.2 Doanh nghiệp sản xuất chế tạo ở Việt Nam

Trong nghiên cứu về doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam, sự quan tâm đã gia tăng đáng kể trong những năm gần đây Nghiên cứu “Hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam” của Phạm Lê Thông và Lý Phương Thùy (2016) chỉ ra rằng các doanh nghiệp vẫn còn nhiều tiềm năng để cải thiện doanh thu thông qua hiệu quả kỹ thuật Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật bao gồm thời gian hoạt động, tỷ lệ nợ, quy mô, hình thức sở hữu, ngành nghề kinh doanh và trình độ chuyên môn của chủ doanh nghiệp Đồng thời, nghiên cứu của Trần Hoài Nam (2016) về “Công nghệ thông tin trong chia sẻ và phổ biến tri thức” cho thấy ứng dụng công nghệ thông tin có thể giúp doanh nghiệp sản xuất tối ưu hóa quy trình sản xuất, tiết kiệm chi phí và nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Nghiên cứu của Trần Khánh Hưng và Nguyễn Ngọc Quang (2014) mang tên “Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất trong nước và một số nước trong khu vực sau khủng hoảng tài chính” đã cung cấp những bài học quý giá cho doanh nghiệp sản xuất Việt Nam Nghiên cứu này ghi nhận các kinh nghiệm thành công trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động sau khủng hoảng tài chính, từ đó đưa ra những tham khảo thiết thực cho các doanh nghiệp trong nước Điều này cũng thể hiện sự tương đồng với nghiên cứu của tác giả, khi tập trung vào việc tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế từ các nước phát triển và thực trạng chiến lược sản xuất tại Việt Nam.

Danh sách các tác giả nghiên cứu về doanh nghiệp sản xuất rất phong phú, với nhiều chủ đề đa dạng Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc giải quyết các vấn đề cụ thể trong các lĩnh vực nhất định của doanh nghiệp sản xuất.

Hoàng Nam và Nguyễn Thanh Liêm (2014) nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn con người và vốn xã hội trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ Phạm Minh Tuấn (2015) đã nghiên cứu việc áp dụng quản trị tinh gọn tại các doanh nghiệp sản xuất, trong khi Phạm Văn Dược (2010) phân tích thực trạng quản trị tại các doanh nghiệp này Trình Thùy Anh và Vũ Hoàng Chương cũng có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này.

Nghiên cứu năm 2016 đã chỉ ra tác động tích cực của việc trao quyền đối với kết quả làm việc của nhân viên trong các doanh nghiệp sản xuất Đồng thời, Đỗ Phú Trần Tình và Vũ Lê Thùy Linh (2010) đã phân tích chuỗi cung ứng trong ngành sản xuất hàng gỗ Các nghiên cứu của Nguyễn Đăng Minh cùng các cộng sự (2013) và Nguyễn Đăng Minh với Nguyễn Thị Linh Chi cũng đã góp phần làm sáng tỏ các vấn đề liên quan trong lĩnh vực này.

Các nghiên cứu ngoài nước

Năm 1969, Skinner giới thiệu khái niệm Chiến lược sản xuất, nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp chủ yếu chỉ tập trung vào cắt giảm chi phí và tăng hiệu suất Thời điểm đó, các nhà quản trị thường ủy quyền cho kỹ sư và giám đốc kỹ thuật, dẫn đến việc xây dựng chiến lược tách rời khỏi hoạt động sản xuất Skinner nhận thấy cần thiết phải kết nối chiến lược tập đoàn với hoạt động sản xuất để biến sản xuất thành lợi thế cạnh tranh Ông cho rằng khi các chính sách, cách tổ chức và lựa chọn trong sản xuất được bố trí để phục vụ cho chiến lược tổng thể, công ty sẽ có Chiến lược sản xuất hiệu quả.

Kể từ khi Skinner (1969) giới thiệu khái niệm Chiến lược sản xuất, lĩnh vực nghiên cứu này đã phát triển mạnh mẽ với nhiều công trình lý thuyết và thực tiễn Những nghiên cứu ban đầu chủ yếu tập trung vào việc làm rõ định nghĩa và mối liên hệ của chiến lược sản xuất với kết quả hoạt động Ngoài Skinner, nhiều tác giả nổi bật như Hayes và Wheelwright (1984), Fine và Hax (1985), Hill (1993), Swamidass và Newell (1987), McGrath và Bequillard (1989), cùng Hayes và Pisano đã đóng góp những góc nhìn đa dạng về định nghĩa của Chiến lược sản xuất.

Nghiên cứu của các tác giả như Swink và Way (1995), Keong và Ward (1995), Berry & cộng sự (1999), Cox và Blackstone (1998), cùng Brown (1998) đã chỉ ra ba đặc điểm chính của khái niệm Chiến lược sản xuất mà hầu hết các tác giả đều nhấn mạnh.

(1)- Chiến lược sản xuất là một phần quan trọng trong hệ thống chiến lược toàn diện và bao hàm của một công ty

(2)- Chiến lược sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đối với Kết quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất

Chiến lược sản xuất là tập hợp các quyết định quan trọng liên quan đến sản xuất tại nhà máy, được định hình dựa trên các ưu tiên cạnh tranh như chi phí, chất lượng, giao hàng và khả năng linh hoạt.

Nghiên cứu của Ward và Duray (2000) chỉ ra rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa Chiến lược cạnh tranh và Chiến lược sản xuất của công ty Chiến lược cạnh tranh, với hai ưu tiên chính là Chi phí và Khác biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến các Ưu tiên cạnh tranh trong Chiến lược sản xuất như Chi phí, Chất lượng, Giao hàng và Linh hoạt Khi công ty định hướng Chiến lược cạnh tranh theo Chi phí, họ cần đồng thời ưu tiên Chi phí trong Chiến lược sản xuất; ngược lại, nếu muốn nhắm đến Khác biệt, họ có thể tập trung vào chất lượng cao, giao hàng đúng hạn và khả năng sản xuất linh hoạt Chiến lược cạnh tranh không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến Chiến lược sản xuất mà còn là yếu tố trung gian cho các điều kiện ngoại cảnh tác động đến chiến lược này (Ehie & Muogboh, 2016) Điều này làm tăng vai trò của Chiến lược cạnh tranh trong việc định hình Chiến lược sản xuất, và ngược lại, Chiến lược sản xuất cũng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh thông qua việc hiện thực hóa Chiến lược cạnh tranh Mối quan hệ này được khẳng định bởi các nghiên cứu của Swink và Way (1995) cùng Vickery & cộng sự (1993), cho thấy doanh nghiệp thiếu liên kết giữa Chiến lược cạnh tranh và Chiến lược sản xuất thường có kết quả hoạt động kém hơn.

Khái niệm Chiến lược sản xuất đã hình thành và phát triển với nhiều điểm tương đồng với khái niệm Chiến lược Hayes và Pisano (1994) chỉ ra rằng nhiều doanh nghiệp nhầm lẫn Chiến lược sản xuất với việc áp dụng các chương trình cải thiện hiệu quả, năng suất trong sản xuất Theo Michael Porter (1996), mấu chốt của Chiến lược sản xuất là tìm ra những năng lực khác biệt, khó mua và khó sao chép bởi đối thủ cạnh tranh, một quan điểm cũng được Schroeder và cộng sự (2002) đồng tình Hơn nữa, Hayes và Pisano nhấn mạnh rằng trong bối cảnh cạnh tranh và công nghệ biến động, các công ty cần phát triển Chiến lược sản xuất phù hợp với các đặc thù quốc gia khác nhau (Grant và cộng sự).

Năm 2013, việc trang bị khả năng thích ứng và học tập để phát triển năng lực mới là rất quan trọng Quan điểm này được củng cố bởi nghiên cứu của Lin và cộng sự (2012) về các doanh nghiệp sản xuất tại Trung Quốc trong bối cảnh môi trường thay đổi Ngoài ra, Dombrowski và cộng sự (2016) cũng đã đề xuất phương pháp tìm kiếm năng lực mới, trong khi Paiva và cộng sự (2012) gợi ý xây dựng chiến lược sản xuất dựa trên nguồn lực tri thức cho các doanh nghiệp tại Brazil và Tây Ban Nha.

Trong nỗ lực hệ thống hóa các cách tiếp cận về Chiến lược sản xuất, Voss (2005) xác định ba hệ thống chính được nghiên cứu bởi Morita và Flynn (1997) Hệ thống đầu tiên, “Cạnh tranh bằng chiến lược sản xuất”, coi chiến lược sản xuất là công cụ hỗ trợ cho chiến lược cạnh tranh của công ty, giúp đạt vị trí cạnh tranh trên thị trường Hệ thống thứ hai, “Lựa chọn chiến lược cho Chiến lược sản xuất”, đề cập đến các khía cạnh mà công ty có thể cấu hình để hình thành chiến lược sản xuất, như nghiên cứu của Swamidass và Baines (2001) về doanh nghiệp tại Vương quốc Anh Cuối cùng, hệ thống thứ ba, “Các thực tiễn tối ưu”, yêu cầu các công ty tìm kiếm các chương trình cải thiện chất lượng và hiệu suất nhằm đạt tiêu chuẩn sản xuất đẳng cấp thế giới, như đã được nhiều tác giả như Flynn và Flynn (1996) đề cập.

(1999), Harrison (1998), Forza và Salvador (2000), Brown & cộng sự (2007), Eid

Hayes và Pisano (1994) đã xem hệ thống thứ ba như một ứng dụng cấp độ thấp của Chiến lược sản xuất, dẫn đến việc các doanh nghiệp hướng tới một mô hình chung Việc đồng bộ hóa và áp dụng các thực tiễn tối ưu giữa các doanh nghiệp sản xuất tạo ra sự “mặc đồng phục”, làm giảm đi sự khác biệt độc đáo và khó sao chép của từng doanh nghiệp, điều này là một trong những yếu tố quan trọng trong chiến lược cạnh tranh.

Việc xây dựng và triển khai Chiến lược sản xuất là rất quan trọng, nhưng do tính chất phức tạp của khái niệm này, các nhà quản lý thường gặp khó khăn trong việc thực hiện Beer và Eisenstat (2000) chỉ ra rằng có sáu yếu tố có thể cản trở hoạt động của Chiến lược sản xuất, và các yếu tố này được phân chia thành ba nhóm.

Nhóm 1: Ba yếu tố (1) đội ngũ quản lý, (2) phong cách quản lý, (3) Chiến lược và Ưu tiên sẽ quyết định chất lượng về chủ trương, định hướng của công ty – thể hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối với các hoạt động chiến lược Hill (1986) cũng đã từng đưa ra những đề xuất giúp lãnh đạo các công ty sử dụng các ngôn ngữ về chiến lược để giao tiếp tốt hơn các khái niệm trừu tượng này đến với nhân viên

Nhóm 2: Cả khi công ty đã đi đúng hướng, yếu tố (4) hiệu quả truyền tải thông tin sẽ có thể ngăn cản khả năng tiếp thu từ trên xuống nếu không được triển khai đúng cách, gây ảnh hưởng đến kết quả hiện thực hóa chiến lược của công ty Mirzaei (2015) đã phát hiện thực tế là các nhân sự cấp quản lý và giám sát vận hành ở các công ty thường có nhận thức về Chiến lược sản xuất rất khác nhau và sự thiếu nhất quán này có tác động tiêu cực tới việc hiện thực hóa Chiến lược Ngoài ra, Alcaide-Muủoz & cộng sự (2018) cũng cho rằng việc thụng tin, thụng bỏo, truyền đạt ý tưởng, tin tức hiệu quả chính là phương tiện rất quan trọng để kết nối công tác xây dựng với công tác triển khai Chiến lược sản xuất

Nhóm 3: Ở cấp dưới của công ty, những người tham gia triển khai Chiến lược sản xuất với các công việc chuyên môn cụ thể, thì hai yếu tố (5) phối hợp giữa các phòng ban và (6) năng lực lãnh đạo các hoạt động chuyên môn là mấu chốt để triển khai Chiến lược sản xuất Theo Thun (2008), việc triển khai hiệu quả ở cấp độ tác nghiệp là điểm then chốt để Chiến lược sản xuất có thể giúp Kết quả hoạt động tốt hơn vì đây chính là mắt xích cuối cùng

Chiến lược sản xuất đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các công ty, được công nhận từ những ngày đầu hình thành khái niệm Tuy nhiên, sự quan tâm đến lĩnh vực này còn hạn chế, với nhiều nghiên cứu ban đầu chỉ tập trung vào các khía cạnh hẹp của khái niệm mà chưa mở rộng ra các lĩnh vực liên quan khác Sự bùng nổ hoạt động sản xuất toàn cầu từ những năm 1990, nhờ vào xu hướng mở cửa thương mại và hội nhập, đã thúc đẩy sự gia tăng các nghiên cứu về Chiến lược sản xuất Hình 1.1 minh họa sự phát triển về số lượng nghiên cứu quốc tế trong lĩnh vực này.

Hình 1.1 Số lượng nghiên cứu khoa học về Chiến lược sản xuất tính đến năm 2015

Nguồn: Dangayach và Deshmukh (2001), Chatha và Butt (2015)

Năm 2001, Dangayach và Deshmukh đã tổng kết 260 nghiên cứu khoa học về Chiến lược sản xuất từ 30 tạp chí và diễn đàn quốc tế uy tín, trong đó chỉ có 45 nghiên cứu được thực hiện từ 1969 đến 1990, còn lại 215 nghiên cứu được công bố sau 1990, cho thấy sự gia tăng đáng kể về số lượng nghiên cứu do nhu cầu cao về hoạch định Chiến lược sản xuất trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu Đến năm 2015, Chatha và Butt đã thực hiện một nghiên cứu tổng hợp lớn hơn, ghi nhận 506 nghiên cứu và mở rộng các nhánh đề tài liên quan, trong đó họ đã xác định 11 nhóm chủ đề chính về Chiến lược sản xuất, chủ yếu đến từ khu vực Châu Âu.

1969 1990 2001 2015 và Bắc Mỹ Hình 1.2 đưa ra một tổng kết bao quát về số lượng các nghiên cứu dựa theo các nhóm chủ đề và vị trí địa lý

Hình 1.2 Số lượng ấn phẩm Chiến lược sản xuất theo mảng đề tài và vị trí địa lý

Khoảng trống nghiên cứu

Mặc dù có nhiều nghiên cứu quốc tế về Chiến lược sản xuất, nhưng vẫn thiếu hụt nghiên cứu ở các khu vực ngoài Bắc Mỹ và Châu Âu, đặc biệt là về Lựa chọn Chiến lược Hệ thống nghiên cứu về doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Việt Nam đã được mở rộng, nhưng chủ đề Chiến lược sản xuất vẫn chưa được khai thác nhiều Điều này chỉ ra rằng còn nhiều khoảng trống nghiên cứu trong hệ thống học thuật cả trong và ngoài nước.

Nghiên cứu về không gian vẫn còn thiếu ở các nước đang phát triển như Việt Nam, mặc dù các nền kinh tế mới nổi này đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống sản xuất và giao thương toàn cầu.

Khoảng trống trong khung lý thuyết về Chiến lược sản xuất vẫn chưa được khai thác đầy đủ, khi các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào Ưu tiên cạnh tranh hoặc Lựa chọn chiến lược mà thiếu sự kết hợp giữa hai yếu tố này Đặc biệt, Lựa chọn chiến lược bao gồm nhiều "hệ con", trong đó Lựa chọn công nghệ là một yếu tố quan trọng nhưng chưa được chú ý đúng mức Điều này là đáng lưu ý trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà những tiến bộ công nghệ đang hứa hẹn mang lại những thay đổi lớn cho ngành sản xuất toàn cầu.

Khoảng trống trong phương pháp nghiên cứu hiện tại cho thấy rằng các nghiên cứu về mối quan hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động chủ yếu sử dụng riêng lẻ phương pháp định tính hoặc định lượng Điều này dẫn đến việc thiếu các nghiên cứu kết hợp hai phương pháp này, đặc biệt là sau khi triển khai nghiên cứu định lượng, để phân tích sâu và giải thích rõ hơn về các kết quả Việc bổ sung phương pháp nghiên cứu định tính sẽ làm phong phú thêm hiểu biết về các phát hiện, cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, và đây chính là một khoảng trống nghiên cứu cần được chú ý.

Khoảng trống trong việc so sánh thực tiễn giữa các nhóm dữ liệu ở các quốc gia khác nhau là một vấn đề đáng chú ý Nhiều nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào bộ dữ liệu của một quốc gia, hạn chế khả năng đối chiếu kết quả nghiên cứu giữa các nước Chỉ một số ít nghiên cứu, như dự án Sản xuất hiệu suất cao (High Performance Manufacturing - HPM), mới cho phép so sánh kết quả giữa các quốc gia có nền sản xuất phát triển và đang phát triển, như nghiên cứu của Ang & cộng sự (2015) Do đó, cần có thêm các đối chiếu bổ sung để làm rõ hơn các khác biệt giữa các quốc gia.

Nghiên cứu về Chiến lược sản xuất và mối quan hệ với Kết quả hoạt động tại các doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam sẽ đóng góp quan trọng cho hệ thống nghiên cứu trong và ngoài nước Bài viết này tìm hiểu mối liên hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động, đồng thời xây dựng các cấu phần của Chiến lược sản xuất, bao gồm Ưu tiên cạnh tranh và Lựa chọn công nghệ, phù hợp với Cách mạng công nghiệp 4.0 Nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính và định lượng, phân tích dữ liệu trong nước và tham khảo kinh nghiệm quốc tế từ các quốc gia có ngành sản xuất phát triển, nhằm so sánh và rút ra bài học cho Việt Nam.

Kết luận Chương

Bài viết tổng quan 184 tài liệu nghiên cứu về Chiến lược sản xuất và mối quan hệ với Kết quả hoạt động trong Doanh nghiệp sản xuất chế tạo, bao gồm 81 nghiên cứu trong nước và 103 nghiên cứu quốc tế Hệ thống nghiên cứu này đã phát triển mạnh mẽ từ khi khái niệm được giới thiệu vào năm 1969, với nhiều nhánh lý thú Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số khoảng trống nghiên cứu về không gian, khung lý thuyết, phương pháp và so sánh quốc tế Đề tài “Mối quan hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động của các Doanh nghiệp sản xuất chế tạo ở Việt Nam” nhằm khám phá những lĩnh vực chưa được quan tâm nhiều trong nghiên cứu trong nước và quốc tế.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIẾN LƢỢC SẢN XUẤT VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ TẠO

Các định nghĩa chính

Chiến lược sản xuất có thể được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau như quản lý chất lượng, quản trị sản xuất, quản lý nguồn nhân lực, tài chính và marketing Mỗi góc độ sẽ cung cấp một cách hiểu riêng, ví dụ, trong marketing, chiến lược sản xuất cần đáp ứng nhu cầu cụ thể của khách hàng; trong tài chính, nó hướng tới cắt giảm chi phí và tăng doanh thu; trong quản lý nguồn nhân lực, mục tiêu là tối ưu hóa lao động Nghiên cứu này sẽ tiếp cận khái niệm chiến lược sản xuất từ góc độ quản lý chất lượng và quản trị sản xuất, tập trung vào các hoạt động sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm cùng với các công tác nghiệp vụ liên quan, giúp khái niệm này gần gũi hơn với các định nghĩa trong hệ thống học thuật quốc tế.

Khái niệm Chiến lược sản xuất, bắt nguồn từ Skinner (1969), đã được nhiều tác giả phát triển, trong đó Platts và cộng sự (1998) định nghĩa rằng Chiến lược sản xuất là tập hợp các quyết định về hệ thống tổ chức và cơ sở hạ tầng nhằm định hướng năng lực sản xuất và cách thức hoạt động, phục vụ cho việc đạt được các mục tiêu sản xuất phù hợp với phương hướng hoạt động chung của doanh nghiệp Việc lựa chọn Chiến lược sản xuất đúng đắn là yếu tố cốt lõi trong việc định hình chiến lược tổng thể của công ty, với Chiến lược sản xuất đóng vai trò là một nhánh trong chiến lược cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp.

Chiến lược sản xuất là một phần quan trọng trong chiến lược cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp, phản ánh các định hướng cạnh tranh Theo Porter (1980), chiến lược cạnh tranh dựa trên hai định hướng chính là Chi phí và Khác biệt Trong khi đó, Christiansen và cộng sự (2003) xác định bốn mục tiêu ưu tiên cho chiến lược sản xuất: tiết kiệm chi phí, chất lượng cao, khả năng giao hàng đúng hạn và tính linh hoạt Trong đó, chất lượng cao, giao hàng đúng hạn và tính linh hoạt là những yếu tố thể hiện sự "khác biệt" trong cạnh tranh sản xuất.

Để xây dựng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, nhà máy cần tổ chức, hạ tầng, công nghệ và nhân sự dựa trên bốn mục tiêu ưu tiên Chiến lược sản xuất bao gồm hai phần chính: Ưu tiên cạnh tranh và Lựa chọn chiến lược, là cách tiếp cận phổ biến được nhiều tác giả nhắc đến Dựa trên các nghiên cứu trước đó, tác giả đề xuất định nghĩa mới về Chiến lược sản xuất cho luận án này.

Chiến lược sản xuất bao gồm các ưu tiên cạnh tranh được thực hiện thông qua những lựa chọn chiến lược liên quan đến thiết kế, tổ chức, nhân sự, quy trình, quản lý, công nghệ và phát triển nguồn lực sản xuất, nhằm giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu sản xuất hiệu quả.

Chiến lược sản xuất trong luận án này được xác định bao gồm hai thành phần chính: Ưu tiên cạnh tranh và Lựa chọn chiến lược, như được minh họa trong Hình 2.1.

Hình 2.1 Cấu trúc của Chiến lược sản xuất

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Cấu phần thứ nhất của Chiến lược sản xuất là Ưu tiên cạnh tranh, bao gồm

Doanh nghiệp cần xác định bốn yếu tố ưu tiên: Chất lượng, Chi phí, Giao hàng và Linh hoạt, để xây dựng các Lựa chọn chiến lược phù hợp với mục tiêu cạnh tranh Những ưu tiên này ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành các Lựa chọn chiến lược, từ đó giúp doanh nghiệp có một Chiến lược sản xuất rõ ràng Khi có bộ mục tiêu ưu tiên cạnh tranh cụ thể và các Lựa chọn chiến lược được sắp xếp hợp lý, doanh nghiệp có khả năng thực thi hiệu quả, mang lại kết quả tích cực trong sản xuất và kinh doanh.

Theo nghiên cứu của Dombrowski & cộng sự (2016), nhiều doanh nghiệp sản xuất chưa chú trọng đúng mức đến việc phát triển và thực thi Chiến lược sản xuất toàn diện Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa một Chiến lược sản xuất được thiết lập tốt và kết quả hoạt động cao Cụ thể, các công ty có Chiến lược sản xuất rõ ràng thường hoạt động hiệu quả hơn so với những công ty không có chiến lược rõ ràng Hơn nữa, những doanh nghiệp đạt kết quả hoạt động tốt thường sở hữu Chiến lược sản xuất được thiết kế và triển khai hiệu quả (Rho & cộng sự).

Nghiên cứu mối quan hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi phải làm rõ các khái niệm liên quan Điều này giúp xác định cách mà các yếu tố trong Chiến lược sản xuất tương tác với Kết quả hoạt động Các phần tiếp theo sẽ cung cấp thông tin chi tiết về các thành phần cấu thành Chiến lược sản xuất.

Các Ưu tiên cạnh tranh

Các Lựa chọn chiến lược

2.1.1.1 Ưu tiên cạnh tranh Ưu tiên cạnh tranh chính là yếu tố trung tâm trong các cấu phần của Chiến lược sản xuất (Ward & cộng sự, 1998); và khái niệm này chỉ được đưa ra đến năm

Vào năm 1984, Hayes và Wheelwright đã khẳng định vai trò quan trọng của Ưu tiên cạnh tranh trong Chiến lược sản xuất, bao gồm các yếu tố Chi phí, Chất lượng, Giao hàng và Linh hoạt Mười lăm năm sau, sự đồng thuận về các yếu tố này được củng cố bởi các nghiên cứu của Leong, Snyder và Ward, khi họ bổ sung yếu tố Đổi mới sáng tạo vào danh mục Ưu tiên cạnh tranh Miller và Roth (1994) cũng mở rộng khái niệm này bằng cách đưa ra các biến số về dịch vụ Dù có những bổ sung, các nghiên cứu vẫn nhấn mạnh bốn yếu tố nguyên bản, vì chúng đại diện cho năng lực cơ bản của các nhà máy sản xuất và giữ vai trò quan trọng trong nghiên cứu quốc tế qua nhiều năm Ward và cộng sự (1998) đã cung cấp một mô tả tổng quát về các yếu tố này, làm rõ hơn nội hàm của chúng trong Chiến lược sản xuất.

Chất lượng là một khái niệm rộng, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào bối cảnh Trong sản xuất, chất lượng chủ yếu tập trung vào sản phẩm, bao gồm công năng, độ bền và độ tin cậy Ngoài ra, chất lượng dịch vụ đi kèm và độ chính xác của các chi tiết kỹ thuật so với yêu cầu thiết kế cũng rất quan trọng Đảm bảo các yếu tố này là cách thể hiện ưu tiên cạnh tranh về chất lượng của doanh nghiệp.

Chi phí sản xuất không chỉ bao gồm chi phí sản phẩm mà còn liên quan đến hiệu suất, tận dụng năng lực và hàng tồn kho Theo Ward & cộng sự (1998), sự quan tâm của doanh nghiệp trong việc cải thiện những yếu tố này phản ánh ưu tiên cạnh tranh của họ thông qua chi phí.

Giao hàng đúng hạn là yếu tố quan trọng trong việc quản lý vòng quay hàng tồn của các công ty Doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh qua chi phí thấp hay chất lượng sản phẩm, mà còn thông qua độ tin cậy trong việc giao hàng, bất kể thời gian gấp gáp hay kế hoạch xa Tốc độ ra sản phẩm trở thành yếu tố then chốt trong chiến lược kinh doanh.

Linh hoạt là yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt khi khách hàng có nhu cầu không cố định Doanh nghiệp cần nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi về số lượng, kích thước đơn hàng, cũng như điều chỉnh cấu trúc, thông số kỹ thuật và thiết kế sản phẩm Tổ chức bộ máy nhằm đáp ứng những yêu cầu này cho thấy doanh nghiệp đang đặt ưu tiên vào khả năng cạnh tranh thông qua tính linh hoạt.

Khung phân tích

Khung phân tích của luận án này nhằm hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết đã trình bày, giúp hình thành giả thuyết nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu Mục tiêu là phân tích và trả lời các câu hỏi nghiên cứu, cụ thể là mối quan hệ giữa chiến lược sản xuất và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, cùng với các tương tác nội tại giữa các cấu phần của chiến lược sản xuất như ưu tiên cạnh tranh và lựa chọn công nghệ Đồng thời, cần làm rõ cấu tạo cụ thể của ưu tiên cạnh tranh và lựa chọn công nghệ dựa trên các cơ sở lý thuyết đã nêu, nhằm tìm hiểu sâu hơn về thực tiễn chiến lược sản xuất tại các doanh nghiệp và các mối quan hệ tương tác liên quan.

Dựa trên các kết luận của William & cộng sự (1995), Ward & cộng sự (1998), Chatha và Butt (2015) về các yếu tố của Ưu tiên cạnh tranh, cũng như các nghiên cứu của Sonntag (2003), Tuominen & cộng sự (2004), Tracey & cộng sự, bài viết này tổng hợp những lý thuyết và cơ sở lý thuyết liên quan, nhằm làm rõ vai trò của các cấu phần trong việc xác định ưu tiên cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay.

(1999), và Kotha và Swamidass (1999) về Lựa chọn công nghệ, khung phân tích dự kiến của nghiên cứu này được xây dựng và trình bày tại Hình 2.3

Hình 2.3 Khung phân tích của nghiên cứu

Ưu tiên cạnh tranh và Lựa chọn công nghệ là hai yếu tố quan trọng trong Chiến lược sản xuất Theo Sonntag (2003), Lựa chọn công nghệ đóng vai trò cụ thể hóa các Ưu tiên cạnh tranh trong hoạt động sản xuất Trong bối cảnh này, Ưu tiên cạnh tranh thường được thể hiện qua bốn yếu tố chủ yếu trong lý thuyết về Chiến lược.

Kết quả hoạt động Ưu tiên cạnh tranh

Thích nghi, Theo đuổi, Độc quyền sản xuất là:

Xây dựng hệ thống sản xuất công nghệ cao và kỹ thuật tiên tiến là chìa khóa để đảm bảo sản phẩm đầu ra đạt chất lượng tốt nhất Chất lượng được xem là giá trị cốt lõi trong chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp.

Chi phí: Tập trung vào cắt giảm chi phí sản xuất, lấy giá thành rẻ làm lợi thế cạnh tranh;

Giao hàng đúng hạn là yếu tố quan trọng trong việc thiết lập hệ thống sản xuất, vận chuyển và phân phối, giúp đáp ứng mọi đơn hàng, bất kể quy mô Việc tạo dựng uy tín về thời gian giao hàng không chỉ nâng cao sự hài lòng của khách hàng mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh rõ rệt trên thị trường.

Phát triển khả năng linh hoạt trong hệ thống sản xuất là điều cần thiết để nhanh chóng đáp ứng các đơn hàng đa dạng và phức tạp.

Lựa chọn công nghệ là một yếu tố quan trọng trong chiến lược sản xuất, ảnh hưởng lớn đến thành công của doanh nghiệp Ba yếu tố chính trong lựa chọn công nghệ cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo hiệu quả và tính cạnh tranh trong ngành sản xuất.

Thích nghi công nghệ là khả năng sẵn sàng tiếp nhận và áp dụng các công nghệ mới vào hệ thống sản xuất và hoạt động của doanh nghiệp.

Theo đuổi công nghệ: Thể hiện mức độ tiến bộ trong ứng dụng và theo đuổi các công nghệ sản xuất tiên tiến của nhà máy;

Thiết bị độc quyền thể hiện sự đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển, nhằm hoàn thiện các thiết bị chỉ phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

Hình 2.3 minh họa sự tương tác giữa các yếu tố nội tại của Chiến lược sản xuất, bao gồm Ưu tiên cạnh tranh và Lựa chọn công nghệ Lựa chọn công nghệ không chỉ là yếu tố hệ quả thực hiện hóa Ưu tiên cạnh tranh mà còn ảnh hưởng đến Chiến lược sản xuất Hai yếu tố này tác động lẫn nhau, trong đó Lựa chọn công nghệ có vai trò quan trọng trong việc cải thiện Kết quả hoạt động và thúc đẩy Ưu tiên cạnh tranh, tạo ra tác động tích cực đến hiệu suất chung của doanh nghiệp.

Giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào bốn nhóm quan hệ giữa Chiến lược sản xuất, Ưu tiên cạnh tranh, Lựa chọn công nghệ và Kết quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Việt Nam Đầu tiên, nó tìm hiểu mối liên hệ tổng quát giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động, tương tự như các nghiên cứu trước đây của Amoako-Gyampah & Acquaah (2007), Ang & cộng sự (2015), và Singh & Mahmood (2013) Tiếp theo, nghiên cứu xem xét các tương tác giữa các cấu phần của Chiến lược sản xuất, đặc biệt là Lựa chọn công nghệ, và ảnh hưởng của chúng đến Kết quả hoạt động Các cấu phần của Chiến lược sản xuất đã được hệ thống hóa để đảm bảo tính đầy đủ và làm nổi bật yếu tố công nghệ, dựa trên kinh nghiệm từ các nghiên cứu trước như của Sonntag (2003) và Tuominen & cộng sự (2004).

Trong bối cảnh Việt Nam, khái niệm Chiến lược sản xuất vẫn chưa phổ biến, vì vậy việc hình thành các giả thuyết nghiên cứu cần được thể hiện một cách trực quan và đơn giản Điều này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình kiểm nghiệm Dưới đây là nội dung chi tiết về việc xây dựng từng giả thuyết.

Nghiên cứu quốc tế đã xác nhận rằng chiến lược sản xuất có ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp, như được chỉ ra bởi các tác giả Amoako-Gyampah & Acquaah (2007), Ang và cộng sự (2015), cùng với Singh.

Mặc dù có một số nghiên cứu quốc tế về mối quan hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động của doanh nghiệp, nhưng tại Việt Nam, lĩnh vực này vẫn chưa được quan tâm nhiều Tallaki và Bracci (2017) chỉ ra rằng các thực tiễn sản xuất có sự khác biệt rõ rệt giữa các quốc gia và môi trường khác nhau Do đó, nghiên cứu cần bắt đầu từ việc xác định mối tương quan chung giữa hai yếu tố này thay vì tìm hiểu ngay tác động thống kê cụ thể Từ đó, giả thuyết H1 được hình thành, cho rằng có mối tương quan thống kê có ý nghĩa giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Chiến lược sản xuất thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa Ưu tiên cạnh tranh và Lựa chọn chiến lược (Skinner, 1969; Hayes và Wheelwright, 1985; Hill, 1993) Lựa chọn chiến lược bao gồm nhiều hệ con, liên quan đến các khía cạnh của hoạt động sản xuất như năng lực sản xuất, kế hoạch, giám sát, tổ chức và nhân sự (Hill, 1993) Trong số đó, Lựa chọn công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình hiệu quả sản xuất.

Nghiên cứu này tập trung vào mối liên hệ giữa Lựa chọn công nghệ và Lựa chọn chiến lược trong khái niệm Chiến lược sản xuất Mục tiêu của luận án là kiểm nghiệm xem liệu các quyết định về Lựa chọn công nghệ có bị ảnh hưởng bởi các Ưu tiên cạnh tranh hay không Từ đó, giả thuyết H2 được hình thành, khẳng định rằng các Ưu tiên cạnh tranh có tác động đến Lựa chọn công nghệ của doanh nghiệp.

Cấu phần đầu tiên của Chiến lược sản xuất, Ưu tiên cạnh tranh, đã được nhiều nghiên cứu chỉ ra là có ảnh hưởng gián tiếp đến Kết quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất chế tạo (Christiansen & cộng sự, 2003; Kroes và Ghosh, 2009; Lagace và Bourgault, 2002; Heizer, 2013) Việc tập trung vào các yếu tố như chất lượng cao, chi phí thấp, giao hàng nhanh và linh hoạt với nhu cầu khách hàng có thể giúp doanh nghiệp cải thiện kết quả hoạt động Nhiều tác giả như Youndt và cộng sự (1996), Amoako-Gyampah và Acquaah (2007), Lin và cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng bốn Ưu tiên cạnh tranh có tác động tích cực đến Kết quả hoạt động của doanh nghiệp Do đó, nghiên cứu này nhằm kiểm chứng vai trò của Ưu tiên cạnh tranh trong bối cảnh Việt Nam, từ đó hình thành giả thuyết H3 rằng các Ưu tiên cạnh tranh ảnh hưởng tới Kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Lựa chọn công nghệ là một yếu tố mới trong chiến lược sản xuất, được nghiên cứu dựa trên lý thuyết của nhiều tác giả như Sonntag (2003) và Tuominen & cộng sự (2004) Tuy nhiên, yếu tố này vẫn chưa được khai thác nhiều trong các nghiên cứu về mối quan hệ giữa chiến lược sản xuất và kết quả hoạt động doanh nghiệp Chatha và Butt (2015) chỉ ra rằng Lựa chọn công nghệ là một trong những "hệ con" ít được nghiên cứu ở ngoài Châu Âu và Bắc Mỹ Do đó, việc tìm hiểu ảnh hưởng của Lựa chọn công nghệ đối với kết quả hoạt động doanh nghiệp là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp sản xuất Việt Nam đang bị bỏ lại trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 Từ đó, hình thành giả thuyết H4: Lựa chọn công nghệ có ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Lựa chọn công nghệ đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh, được xem như một hệ con của Lựa chọn chiến lược (Chatha & Butt, 2015) Điều này đã được chứng minh là yếu tố trung gian ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các Ưu tiên cạnh tranh và Kết quả hoạt động (Hayes).

Các Ưu tiên cạnh tranh ảnh hưởng đến các Lựa chọn chiến lược và công nghệ, từ đó tác động đến Kết quả hoạt động của doanh nghiệp Trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ, Lựa chọn công nghệ không chỉ là yếu tố trung gian mà còn là xúc tác quan trọng cho ảnh hưởng của Ưu tiên cạnh tranh đến Kết quả hoạt động Việc tập trung vào một Ưu tiên cạnh tranh cụ thể, kết hợp với ứng dụng công nghệ tiên tiến, sẽ mang lại tác động tích cực hơn đến hiệu suất của doanh nghiệp Người viết tập trung kiểm nghiệm vai trò độc đáo của Lựa chọn công nghệ trong quá trình này.

Giả thuyết H5 được hình thành từ việc lựa chọn công nghệ, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Ưu tiên cạnh tranh và Kết quả hoạt động của doanh nghiệp Năm giả thuyết nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho các bước triển khai nghiên cứu tiếp theo.

Kết luận Chương

Chương Cơ sở lý thuyết làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến Chiến lược sản xuất, bao gồm Ưu tiên cạnh tranh và Lựa chọn công nghệ, với định nghĩa riêng cho luận án Hệ thống nhóm ngành sản xuất chế tạo của Việt Nam được nghiên cứu và xác định phạm vi cụ thể Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên mô hình thể hiện các tương tác giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động, cũng như giữa các yếu tố nội tại của Chiến lược sản xuất Tác giả cũng đề xuất 05 giả thuyết nghiên cứu để kiểm nghiệm các mối quan hệ này, dựa trên các lý thuyết liên quan trước đó.

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIẾN LƢỢC SẢN XUẤT VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ TẠO Ở VIỆT NAM

Một số định hướng chính

3.1.1 Bài học kinh nghiệm từ các nghiên cứu có trước

Theo Bảng 1.1, tổng hợp các nghiên cứu về mối quan hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động của doanh nghiệp cho thấy rằng chiến lược sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động Các doanh nghiệp áp dụng chiến lược sản xuất hợp lý thường đạt được kết quả tốt hơn về mặt tài chính và hiệu suất Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự phù hợp giữa chiến lược sản xuất và mục tiêu kinh doanh là yếu tố quyết định đến thành công của doanh nghiệp.

Thứ nhất, trong số 12 nghiên cứu trong Bảng, phần lớn các nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu số học để phân tích mối quan hệ giữa chiến lược sản xuất và kết quả hoạt động, trong khi phương pháp định tính chỉ được áp dụng ở hai công trình với nghiên cứu điển hình tại các doanh nghiệp cụ thể Việc áp dụng nghiên cứu định tính giúp hiểu sâu sắc các điển hình, không nhằm đưa ra kết luận khái quát, mà tập trung vào việc giải thích chi tiết các tình huống cụ thể, từ đó cung cấp tài liệu tham khảo và kinh nghiệm cho các doanh nghiệp khác.

Dữ liệu định lượng trong nghiên cứu có thể được thu thập từ hai nguồn: sơ cấp, tức là trực tiếp từ mẫu nghiên cứu, và thứ cấp, từ các bộ dữ liệu có sẵn từ các dự án khoa học uy tín như High Performance Manufacturing (HPM) Nghiên cứu có thể sử dụng dữ liệu từ một quốc gia hoặc nhiều quốc gia, giúp tăng tính so sánh và làm phong phú thêm hiểu biết từ phân tích Kích thước mẫu nghiên cứu thường lớn, với quy mô từ 35 đến 50 doanh nghiệp tham gia khảo sát là khả thi Phân tích dữ liệu định lượng thường áp dụng phương pháp thống kê hồi quy tuyến tính.

Chiến lược sản xuất thường được xác định qua bốn ưu tiên cạnh tranh chính: Chất lượng, Chi phí, Giao hàng và Linh hoạt Tuy nhiên, một số tác giả như Ang & cộng sự (2015), Singh & Mahmood (2013) và Schroeder & cộng sự (2002) lại tập trung vào các quyết định cụ thể để triển khai chiến lược sản xuất, gọi là các Lựa chọn Chiến lược, nhằm hiện thực hóa các ưu tiên cạnh tranh này.

Khung phân tích trong Hình 2.3 làm rõ mối quan hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động, nhấn mạnh các yếu tố quan trọng như Ưu tiên cạnh tranh và Lựa chọn công nghệ Nghiên cứu này nhằm khám phá mối liên hệ giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 Để đạt được kết quả đa chiều, tác giả đã đề xuất một số định hướng phương pháp nghiên cứu.

Nghiên cứu sẽ áp dụng cả hai phương pháp định tính và định lượng để kiểm nghiệm thống kê các giả thuyết nghiên cứu và làm phong phú thêm hiểu biết về các mối quan hệ trong khung phân tích Việc kết hợp này đảm bảo quy mô mẫu nghiên cứu định lượng cân bằng với số lượng đối tượng khảo sát ở nghiên cứu định tính, tạo sự hỗ trợ lẫn nhau Như Onwuegbuzie và Leech (2005) đã chỉ ra, nhà nghiên cứu hiện đại trong lĩnh vực khoa học xã hội cần có cái nhìn thực tế về việc sử dụng hài hòa giữa hai phương pháp này Nghiên cứu tổng quan của Bryman (2006) cũng khẳng định rằng hai phương pháp này bổ trợ rất tốt cho nhau Do đó, nghiên cứu này sẽ áp dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp để đảm bảo tìm hiểu đầy đủ về lĩnh vực chiến lược sản xuất cả về chiều sâu và chiều rộng.

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp từ Việt Nam và quốc tế để làm sâu sắc hơn kết quả Tác giả tiến hành nghiên cứu điển hình và phỏng vấn doanh nghiệp cùng chuyên gia trong lĩnh vực Chiến lược sản xuất, nhằm thu thập những kiến nghị giá trị cho nhà quản lý sản xuất Thang đo cho các biến như Chiến lược sản xuất, Ưu tiên cạnh tranh, Lựa chọn công nghệ và Kết quả hoạt động sẽ được phát triển dựa trên các phương pháp đã được các nghiên cứu lớn trên thế giới áp dụng.

3.1.2 Các vấn đề về đạo đức nghiên cứu

Đạo đức nghiên cứu, theo Theo Resnik (2011), được định nghĩa là các thông lệ chỉ ra ranh giới giữa hành vi chấp nhận được và không chấp nhận được, đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu khoa học xã hội Đạo đức nghiên cứu không chỉ nâng cao tính khách quan và khoa học mà còn giảm thiểu sai sót kỹ thuật, hỗ trợ người nghiên cứu trong quá trình hợp tác với cộng đồng và đóng góp cho các vấn đề xã hội Các vấn đề đạo đức cần chú ý bao gồm: thu thập, phân tích và báo cáo dữ liệu một cách chính xác và thành thật; đảm bảo tính khách quan bằng cách giảm thiểu định kiến tư duy; tôn trọng quyền tác giả với việc công bố nguồn gốc và trích dẫn đúng; và bảo mật thông tin nhạy cảm của các công ty để xây dựng lòng tin Việc tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức này sẽ giúp nâng cao giá trị của kết quả nghiên cứu về cả mặt học thuật và ứng dụng thực tiễn.

Nghiên cứu định lượng

Để kiểm nghiệm các giả thuyết nghiên cứu, tác giả thu thập dữ liệu về Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam, phù hợp với thực tiễn trong nước và tiêu chuẩn quốc tế Tác giả xây dựng bảng hỏi dựa trên khảo sát của dự án “Sản xuất hiệu suất cao” (High Performance Manufacturing - HPM), do Shroeder và Flynn khởi xướng, nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa thực tiễn sản xuất và Kết quả hoạt động doanh nghiệp Dự án HPM, đang được triển khai tại Việt Nam, dựa trên nhiều tiêu chuẩn và lý thuyết quốc tế Người viết không chỉ tham gia thu thập dữ liệu cho dự án mà còn phục vụ cho điều tra luận án, giúp cải thiện hiệu quả truyền tải và giải thích thông tin về Chiến lược sản xuất cho các doanh nghiệp khảo sát.

Dự án HPM, khởi đầu từ năm 1989, nhằm khảo sát các doanh nghiệp sản xuất tại Mỹ để cải thiện hiệu quả hoạt động, đạt được tiêu chuẩn tương đương với các doanh nghiệp Nhật Bản Với phương pháp toàn diện, dự án nhanh chóng thu hút sự quan tâm của nhiều học giả toàn cầu (Shroeder và Flynn, 2002) Đến nay, dự án đã trải qua bốn vòng khảo sát, từ 45 doanh nghiệp ở Vòng Một đến hơn 500 doanh nghiệp tại 18 quốc gia ở Vòng Bốn Mỗi vòng khảo sát chọn lọc doanh nghiệp để trả lời bảng câu hỏi về nhiều lĩnh vực, với sự tham gia của các thành viên ở nhiều vị trí khác nhau Các thang đo và bảng câu hỏi của dự án HPM đã được phát triển và thử nghiệm rộng rãi, đảm bảo độ tin cậy cao Người viết đã lựa chọn và nhóm các câu hỏi liên quan đến Ưu tiên cạnh tranh, Lựa chọn công nghệ và Kết quả hoạt động, sau khi dịch sang tiếng Việt, nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu và so sánh với thực tiễn quốc tế Việc sử dụng các câu hỏi từ dự án HPM không chỉ giúp điều chỉnh phương pháp nghiên cứu mà còn làm rõ mối tương quan giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam so với quốc tế.

Nghiên cứu này yêu cầu bốn thang đo cho Ưu tiên cạnh tranh, ba thang đo cho Lựa chọn công nghệ, và một thang đo cho Kết quả hoạt động Các thang đo và bảng hỏi trong luận án được xây dựng dựa trên bộ bảng hỏi của dự án HPM, như được tóm tắt trong Bảng 3.1.

Bảng 3.1 Các thang đo sử dụng trong nghiên cứu

Trong khảo sát, các yếu tố được thang đo bao gồm ưu tiên cạnh tranh, chất lượng, chi phí, giao hàng và linh hoạt, với đối tượng khảo sát là cán bộ quản lý Số câu hỏi tương ứng cho từng yếu tố là: ưu tiên cạnh tranh (1 câu), ưu tiên chất lượng (1 câu), ưu tiên giao hàng (3 câu) và ưu tiên linh hoạt (4 câu).

Theo đuổi công nghệ cao Kỹ sư quy trình 4 Thích ứng công nghệ mới Kỹ sư quy trình 5

Thiết bị độc quyền Kỹ sư quy trình 8

Kết quả hoạt động Kết quả hoạt động Cán bộ quản lý 27

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Đối tượng khảo sát bao gồm cán bộ quản lý nhà máy và kỹ sư phụ trách quy trình, sử dụng bộ câu hỏi với 8 thang đo và 53 phát biểu Người tham gia sẽ lựa chọn mức độ tán thành theo thang đo Likert từ 1 đến 5, từ hoàn toàn không tán thành đến hoàn toàn tán thành Các thang đo và nội dung câu hỏi được tham khảo từ các tác giả nghiên cứu về Ưu tiên cạnh tranh như Zhao & cộng sự (2002), Boyer (2002), và Kathuria & cộng sự (2010), nhằm đảm bảo đo đạc chính xác các yếu tố cần thiết.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá bốn ưu tiên cạnh tranh trong sản xuất: Ưu tiên Chất lượng, Ưu tiên Chi phí, Ưu tiên Giao hàng và Ưu tiên Linh hoạt Đầu tiên, ưu tiên Chất lượng tập trung vào việc đảm bảo sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu kỹ thuật của khách hàng, chứ không chỉ là chất lượng cao nhất Tiếp theo, ưu tiên Chi phí đề cập đến việc cắt giảm chi phí sản xuất, với mục tiêu cuối cùng là giảm chi phí trên đầu sản phẩm, điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá bán Ưu tiên Giao hàng bao gồm khả năng sản xuất nhanh, giao hàng đúng hạn và phản ứng kịp thời với đơn hàng, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu chiến lược về giao hàng Cuối cùng, ưu tiên Linh hoạt liên quan đến khả năng sản xuất các đơn hàng tùy chọn, đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau của khách hàng Những ưu tiên này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và sự hài lòng của khách hàng trong quá trình sản xuất.

Công nghệ cao là yếu tố quan trọng trong sản xuất, được đánh giá qua bốn câu hỏi Thang đo này phản ánh mức độ theo đuổi, cập nhật và ứng dụng các hệ thống sản xuất tiên tiến nhất Các công ty thường xuyên cập nhật và bắt kịp xu hướng công nghệ mới sẽ đạt điểm cao hơn trong thang đo này.

Thích ứng với công nghệ mới là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp sản xuất tồn tại và phát triển trong môi trường công nghệ ngày càng biến đổi Thang đo này sử dụng năm câu hỏi để đánh giá nhận thức về công nghệ sản xuất của công ty, cũng như khả năng chuyển hóa và thích ứng với các công nghệ mới khi cần thiết.

Thang đo độc quyền sử dụng 8 câu hỏi nhằm khảo sát mức độ đầu tư của doanh nghiệp vào phát triển thiết bị độc quyền cho sản xuất Các hoạt động như nghiên cứu, thiết kế, chế tác và đăng ký bản quyền cho thiết bị này phản ánh sự quan tâm của công ty đối với yếu tố độc quyền trong quy trình sản xuất.

Kết quả hoạt động được đo lường qua 27 câu hỏi liên quan đến các kết quả cụ thể của công ty, với điểm đặc biệt là cấp quản lý tự đánh giá các tiêu chí này Phương pháp này khác biệt so với nhiều nghiên cứu trước đây thường sử dụng số liệu kế toán và chỉ số tài chính Các doanh nghiệp sản xuất được khảo sát hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, với quy mô và tính chất đa dạng, cũng như nằm ở các môi trường địa phương khác nhau, điều này ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hoạt động Do đó, việc sử dụng dữ liệu tự đánh giá về các kết quả nội tại của công ty sẽ mang lại sự đồng nhất hơn, tránh được sự nhiễu loạn từ dữ liệu kế toán có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau.

Các thang đo được thiết kế nhằm đạt nhiều mục tiêu quan trọng, bao gồm việc bám sát khung phân tích của luận án và hỗ trợ phân tích các giả thuyết nghiên cứu Chúng cũng tương đồng với hệ thống thang đo và bảng câu hỏi của dự án HPM tại các quốc gia có nền sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho việc so sánh giữa thực tiễn trong nước và quốc tế, đồng thời rút ra bài học giá trị cho doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam Đặc biệt, các thang đo này được hiệu chỉnh dựa trên ý kiến của các chuyên gia, đảm bảo phù hợp với yêu cầu nghiên cứu khoa học và thực tiễn của doanh nghiệp, nhất là khi khái niệm Chiến lược sản xuất còn mới mẻ Nội dung phỏng vấn sơ bộ các chuyên gia về xây dựng thang đo sẽ được trình bày chi tiết hơn tại Mục 4.1.2.

3.2.2 Bảng câu hỏi khảo sát

Dưới đây là các câu hỏi khảo sát chi tiết cho từng thang đo thuộc ba nhóm yếu tố: Ưu tiên cạnh tranh, Lựa chọn công nghệ và Kết quả hoạt động.

3.2.2.1 Ưu tiên cạnh tranh Đối với các câu hỏi cho từng Ưu tiên cạnh tranh, người được hỏi chỉ ra mức độ quan trọng của mỗi mục tiêu ưu tiên đối với công ty của họ trong thị trường hoạt động chính với thang Likert cụ thể: 1- Hoàn toàn không quan trọng, 2- Không quá quan trọng, 3- Bình thường, 4- Quan trọng, 5- Đặc biệt quan trọng Cụ thể các mục tiêu ưu tiên như sau:

Thang đo Ưu tiên Chất lượng:

- Bám sát tối đa các yêu cầu thông số kỹ thuật của sản phẩm

Thang đo Ưu tiên Chi phí:

- Chi phí sản xuất trên đầu sản phẩm thấp nhất

Thang đo Ưu tiên Giao hàng:

- Vòng thời gian từ nguyên liệu thô, sản xuất tới giao hàng là ngắn nhất

- Ra mắt sản phẩm đúng thời hạn

- Khả năng phản ứng nhanh

Thang đo Ưu tiên Linh hoạt:

- Khả năng đáp ứng nhanh cho thay đổi về thông số sản phẩm ngay khi có thông báo từ khách hàng

- Khả năng đáp ứng nhanh cho thay đổi về kích thước đơn hàng ngay khi có thông báo từ khách hàng

- Nhanh chóng triển khai các chiến dịch sản phẩm mới

- Khả năng tùy biến nhanh theo yêu cầu của đơn hàng

3.2.2.2 Lựa chọn công nghệ Đối với yếu tố Lựa chọn công nghệ, ba thang đo là Theo đuổi công nghệ cao, Thích ứng công nghệ mới và Thiết bị độc quyền được đo đạc bằng mức độ đồng ý của người trả lời đối với các phát biểu tương ứng với từng thang đo: 1- Hoàn toàn không đồng ý, 2- Phần nào không đồng ý, 3- Không có ý kiến, 4- Phần nào đồng ý, 5- Hoàn toàn đồng ý Cụ thể các phát biểu như sau:

Thang đo Theo đuổi công nghệ cao

- Doanh nghiệp theo đuổi các chương trình dài hạn nhằm nâng cấp năng lực sản xuất để lường trước các yêu cầu mới

- Doanh nghiệp đầu tư công sức để dự báo tiềm năng của các phương thức sản xuất và công nghệ sản xuất mới

- Nhà máy của Doanh nghiệp đạt tiến bộ công nghệ dẫn đầu so với các đối thủ trong cùng ngành công nghiệp

- Doanh nghiệp thường xuyên tính đến các thế hệ công nghệ sản xuất tiếp theo

Thang đo Thích ứng công nghệ mới

- Doanh nghiệp có những hiểu biết tốt về vị trí của công nghệ sản xuất hiện tại của mình trong vòng đời công nghệ nói chung

- Khi có các công nghệ sản xuất mới, Doanh nghiệp chú ý điều chỉnh công nghệ sản xuất của mình

- Công nghệ sản xuất hiện tại của Doanh nghiệp được bảo vệ tác quyền

- Những công nghệ đã được thiết lập và có uy tín chính là nền tảng cho công nghệ sản xuất hiện tại của Doanh nghiệp

- Không có các công nghệ thay thế đối với công nghệ sản xuất của Doanh nghiệp

Thang đo Thiết bị độc quyền

- Doanh nghiệp chủ động phát triển các thiết bị độc quyền

- Doanh nghiệp có các thiết bị được bảo vệ bản quyền

- Các thiết bị độc quyền giúp Doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh

- Doanh nghiệp thường xuyên chỉnh sửa thiết bị cho phù hợp với nhu cầu sản xuất cụ thể của công ty

- Doanh nghiệp chủ yếu dựa vào những nhà cung cấp bên ngoài để phát triển thiết bị độc quyền

- Doanh nghiệp tự chế tạo phần lớn các thiết bị

Việc tự phát triển thiết bị giúp doanh nghiệp nắm rõ hơn các vấn đề quan trọng trong kinh doanh so với việc phụ thuộc vào các nhà cung cấp.

- Doanh nghiệp tự phát triển một số thiết bị độc quyền của riêng mình đến mức độ hoàn thiện cao nhất

Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính trong luận án này nhằm làm rõ hơn cho nghiên cứu định lượng, thông qua việc thực hiện các cuộc phỏng vấn sơ bộ với các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực chiến lược và quản trị sản xuất Các cuộc phỏng vấn này không chỉ thu thập ý kiến từ các nhà khoa học mà còn từ những nhà quản lý thực tiễn tại các doanh nghiệp sản xuất chế tạo và công nghệ cao, nhằm mang lại góc nhìn thực tế Các chuyên gia sẽ đánh giá về các chủ đề như chiến lược sản xuất, ưu tiên cạnh tranh, lựa chọn công nghệ tại Việt Nam, cũng như tính hợp lý của thiết kế nghiên cứu và các yếu tố cần lưu ý trong quá trình thu thập và phân tích dữ liệu Mục tiêu là đưa khái niệm chiến lược sản xuất - còn mới mẻ tại Việt Nam - gần gũi hơn với bối cảnh trong nước, từ đó nâng cao hiệu quả triển khai nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Sau khi hoàn thành nghiên cứu định lượng để kiểm nghiệm giả thuyết, chúng tôi sẽ tiến hành các bước nghiên cứu định tính bổ sung Kết quả phân tích định lượng chỉ cung cấp mô tả thống kê về các công ty khảo sát, nhưng để có cái nhìn sâu sắc hơn, cần tìm hiểu về chiến lược sản xuất, lựa chọn công nghệ và kết quả hoạt động của các công ty Việc này sẽ giúp đưa ra giải pháp và kiến nghị hiệu quả, phục vụ cả giới học thuật và các nhà quản lý Do đó, nghiên cứu điển hình tại các doanh nghiệp sản xuất cùng với thảo luận và phỏng vấn sâu các chuyên gia sẽ là bước quan trọng tiếp theo Các phần sau sẽ trình bày cụ thể về quy trình nghiên cứu định tính.

3.3.1 Nghiên cứu điển hình ở các doanh nghiệp tình huống

Nghiên cứu điển hình trong luận án này được thực hiện nhằm xác nhận hoặc phủ nhận các tương tác giữa Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động, đồng thời làm rõ đặc điểm và thực tiễn về Chiến lược sản xuất và yếu tố công nghệ tại các doanh nghiệp Dựa trên những hiểu biết ban đầu, nghiên cứu sẽ tiếp tục khám phá các thực tiễn cụ thể liên quan đến Chiến lược sản xuất, như cách thức hiện thực hóa các Ưu tiên cạnh tranh qua tổ chức quản lý, chính sách nhân sự và quy trình phối hợp Nghiên cứu cũng sẽ xem xét vai trò của công nghệ trong Chiến lược sản xuất và lợi ích của việc sử dụng hệ thống công nghệ sản xuất tiên tiến để theo đuổi các Ưu tiên cạnh tranh Kết quả nghiên cứu sẽ làm phong phú thêm các đóng góp về mặt học thuật và quản lý, giúp các nhà nghiên cứu và quản trị hình dung rõ hơn về Chiến lược sản xuất, cách thức áp dụng vào thực tiễn và các bài học kinh nghiệm trong bối cảnh khái niệm này chưa phổ biến trong cộng đồng sản xuất trong nước.

Tác giả tiến hành nghiên cứu điển hình tại hai doanh nghiệp với nhiều điểm khác biệt về loại hình, hoạt động, thị trường và sản phẩm để khám phá vai trò của Chiến lược sản xuất Nghiên cứu sẽ tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, sản phẩm đơn giản và phức tạp, cùng với tệp khách hàng giới hạn và lớn Sự phân loại này giúp làm nổi bật sự khác biệt trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam Hai doanh nghiệp được lựa chọn sẽ càng khác biệt, càng thể hiện rõ nét các thực tiễn về Chiến lược sản xuất trong bối cảnh Việt Nam.

Tác giả đã tiến hành phỏng vấn lãnh đạo doanh nghiệp và cán bộ quản lý sản xuất, kinh doanh tại hai doanh nghiệp để tìm hiểu về Chiến lược sản xuất ở nhiều cấp độ khác nhau Các doanh nghiệp có thể có Chiến lược sản xuất chính thức hoặc không, nhưng trong quá trình phối hợp, những khái niệm chung về Chiến lược sản xuất sẽ được trình bày để nhận diện các thực tiễn hiện có mà chưa được gọi tên Dữ liệu được thu thập thông qua quan sát, thảo luận, phỏng vấn và làm việc với các lãnh đạo, quản lý tại nhà máy Ngoài ra, các số liệu tài chính và thông số kỹ thuật cũng được sử dụng để phân tích tổng thể Cuộc điều tra sẽ tập trung vào các nhóm chủ đề cụ thể như đã trình bày trong Bảng 3.2.

Bảng 3.2 Các nhóm chủ đề dự định tìm hiểu ở các công ty tình huống

TT Chủ đề Thông tin cần tìm hiểu

1 Thông tin chung về doanh nghiệp

Lĩnh vực hoạt động; Cơ cấu quản lý; Mức độ cạnh tranh của thị trường; Những ưu thế của doanh nghiệp; Viễn cảnh chung tương lai

2 Chiến lược sản xuất nói chung

- Nhận thức của doanh nghiệp về Chiến lược sản xuất

- Những hoạt động cụ thể về xây dựng và triển khai Chiến lược sản xuất tại doanh nghiệp

- Các thuận lợi, khó khăn trong triển khai Chiến lược sản xuất

TT Chủ đề Thông tin cần tìm hiểu

- Nguyên nhân cho các quyết định cụ thể về Ưu tiên cạnh tranh

Các thực tiễn về ưu tiên cạnh tranh bao gồm việc tổ chức quản lý hiệu quả, xây dựng chính sách nhân sự hợp lý, thiết lập quy trình làm việc rõ ràng và tăng cường sự phối hợp đồng nhất giữa các phòng chuyên môn.

- Nguyên nhân cho các quyết định cụ thể về Lựa chọn công nghệ

- Các thực tiễn về Lựa chọn công nghệ thông qua việc thích nghi công nghệ mới, theo đuổi công nghệ cao, việc sở hữu thiết bị độc quyền,…

- Các mặt thể hiện kết quả hoạt động của công ty bao gồm các dữ liệu tài chính và các thông tin đánh giá chủ quan khác

- Các kết quả hoạt động của công ty trong danh mục khảo sát so với mặt bằng chung; nguyên nhân cho sự vượt trội hoặc yếu kém?

Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động

- Chiến lược sản xuất có ảnh hưởng tới Kết quả hoạt động không

- Chiến lược sản xuất ảnh hưởng tới Kết quả hoạt động như thế nào, bằng những hình thức nào, mức độ ra sao

7 Ưu tiên cạnh tranh và Lựa chọn công nghệ

- Ưu tiên cạnh tranh có ảnh hưởng tới Lựa chọn công nghệ không

- Ưu tiên cạnh tranh ảnh hưởng tới Lựa chọn công nghệ như thế nào, bằng những hình thức nào, mức độ ra sao

8 Ưu tiên cạnh tranh và Kết quả hoạt động

- Ưu tiên cạnh tranh có ảnh hưởng trực tiếp tới Kết quả hoạt động hay không

- Ưu tiên cạnh tranh có ảnh hưởng trực tiếp tới Kết quả hoạt động như thế nào, bằng những hình thức nào, mức độ ra sao

Lựa chọn công nghệ và Kết quả hoạt động

- Lựa chọn công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp tới Kết quả hoạt động hay không

- Lựa chọn công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp tới Kết quả hoạt động như thế nào, bằng những hình thức nào, mức độ ra sao

- Lựa chọn công nghệ của doanh nghiệp có giúp các Ưu tiên cạnh tranh tác động tới Kết quả hoạt động tốt hơn hay không

Nguồn: Tác giả tổng hợp 3.3.2 Phỏng vấn, thảo luận cùng chuyên gia

Chiến lược sản xuất là một chủ đề còn mới mẻ và trừu tượng tại Việt Nam, khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xác định vị trí của mình trên bản đồ chiến lược Sự hạn chế về hiểu biết của doanh nghiệp về đề tài này đã ảnh hưởng đến khả năng phân tích thực trạng và đưa ra lý giải chính xác Do đó, việc phỏng vấn và thảo luận với các chuyên gia là cần thiết để hệ thống hóa tri thức từ kết quả nghiên cứu một cách hiệu quả và rõ ràng hơn.

Việc phỏng vấn và thảo luận với các chuyên gia diễn ra ở những thời điểm quan trọng của nghiên cứu, cụ thể là trước và sau khi thu thập và phân tích dữ liệu Trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng, các chuyên gia như nhà khoa học và nhà quản trị có kinh nghiệm sẽ được phỏng vấn để đưa ra ý kiến về các chủ đề liên quan đến chiến lược sản xuất, ưu tiên cạnh tranh và lựa chọn công nghệ tại Việt Nam, cũng như tính hợp lý của thiết kế nghiên cứu và các yếu tố liên quan đến thang đo, bảng hỏi và quá trình thu thập dữ liệu Sau khi hoàn thành nghiên cứu định lượng, người viết sẽ tiếp tục thu thập ý kiến từ các chuyên gia để giải thích các thực tiễn và kết quả tìm thấy, đánh giá sâu sắc về các kết quả, chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và gợi ý bài học cho các nhà quản lý tại Việt Nam.

Các chuyên gia được tham khảo ý kiến trong bài viết đến từ các lĩnh vực tư vấn chiến lược, đầu tư, quản trị, sản xuất và nghiên cứu học thuật, với kiến thức sâu rộng về chiến lược và sản xuất tại doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế, đặc biệt trong ngành sản xuất công nghệ cao ứng dụng công nghệ 4.0 Việc sắp xếp các chuyên gia với những góc nhìn đa dạng giúp tạo ra cái nhìn phong phú và cân bằng giữa tính học thuật và ứng dụng thực tiễn Điều này không chỉ đưa nghiên cứu gần hơn với thực tiễn hoạt động sản xuất của Việt Nam mà còn nâng cao giá trị kết quả nghiên cứu cho các cấp quản lý.

Các bước nghiên cứu và tiến trình khảo sát, thu thập dữ liệu

Luận án này được tổ chức thành các bước nghiên cứu riêng biệt nhưng có sự liên kết chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau Hình 3.1 minh họa rõ ràng các bước triển khai trong toàn bộ quá trình nghiên cứu đã được thực hiện.

Hình 3.1 Các bước nghiên cứu của luận án

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Bước đầu tiên trong nghiên cứu là tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, cùng với việc xây dựng cơ sở lý thuyết, nhằm hiểu rõ chiến lược sản xuất và mối quan hệ của nó với kết quả hoạt động trong hệ thống học thuật Qua đó, người viết có thể xác định và khoanh vùng các lý thuyết liên quan, từ đó áp dụng cho nghiên cứu về đề tài này tại Việt Nam Tiếp theo, tác giả tiến hành xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và bảng câu hỏi dựa trên bộ dữ liệu đã thu thập.

Tổng quan & cơ sở lý thuyết

Xây dựng giả thuyết, bảng hỏi Điều tra bảng hỏi; thu thập dữ liệu quốc tế

Kết hợp phân tích dữ liệu định tính, định lƣợng

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu

Để xây dựng đề xuất và kiến nghị về Sản xuất hiệu suất cao (HPM), cần sự hỗ trợ và tham gia ý kiến từ các chuyên gia ngay từ đầu trong quá trình khảo sát doanh nghiệp sản xuất chế tạo Dữ liệu thứ cấp quốc tế từ dự án HPM sẽ được thu thập và nghiên cứu điển hình tại hai doanh nghiệp cụ thể Sau khi thu thập, dữ liệu sẽ được tổng hợp và phân tích bằng các công cụ định tính và định lượng để rút ra các kết quả nổi bật Quy trình nghiên cứu cho thấy các hoạt động thu thập và phân tích dữ liệu được thực hiện một cách liên tục và đồng thời, đảm bảo tính chính xác từ nhiều góc độ Khác với các nghiên cứu thuần túy, nghiên cứu này áp dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng, cho phép thực hiện nhiều vòng thu thập dữ liệu liên tục Chi tiết về tiến trình khảo sát và thu thập dữ liệu được trình bày trong Bảng 3.3.

Bảng 3.3 Tiến trình khảo sát và thu thập dữ liệu

Q1 Q2 Q3 Q4 Q1 Q2 Q3 Q4 Q1 Q2 Q3 Q4 Khảo sát các doanh nghiệp bằng bảng hỏi

Thu thập dữ liệu quốc tế từ dự án HPM

Phỏng vấn, thảo luận cùng chuyên gia

Nghiên cứu điển hình tại doanh nghiệp

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Vào năm 2017, việc khảo sát các doanh nghiệp được thực hiện thông qua bảng hỏi trong khuôn khổ dự án Sản xuất hiệu suất cao (HPM) tại Việt Nam, nơi người viết đóng vai trò trợ lý nghiên cứu và thu thập dữ liệu về Quản lý chất lượng, Chiến lược sản xuất và Kết quả hoạt động Người viết đã xây dựng bảng câu hỏi bằng cách dịch và tổng hợp nội dung phù hợp với nghiên cứu luận án từ bộ câu hỏi khảo sát của dự án HPM Sau khi phối hợp với đầu mối chủ trì dự án, 40 doanh nghiệp sản xuất đạt chứng chỉ ISO 9000 và ISO 14000 trong giai đoạn 2010 – 2015 được chọn ngẫu nhiên để tham gia khảo sát Người viết đã liên hệ trực tiếp với lãnh đạo các công ty để mời họ tham gia, đề xuất một nhà máy từ mỗi doanh nghiệp và gửi bảng hỏi đến những nhân sự quản lý, quản lý quy trình và kỹ sư quy trình để thu thập thông tin cần thiết.

Để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của các câu trả lời trong khảo sát, nhân sự có thể cùng nhau thảo luận và thống nhất các câu trả lời Người viết sẽ gặp mặt trực tiếp hoặc liên hệ qua điện thoại với các nhân sự được đề xuất nhằm giải thích và làm rõ các khái niệm cần thiết, giúp họ hoàn thiện câu trả lời cho bảng hỏi.

Do chỉ nhận được phản hồi từ 25 trên 40 doanh nghiệp mời tham gia khảo sát dự án HPM, tác giả đã tiến hành khảo sát bổ sung 9 doanh nghiệp trong lĩnh vực điện tử và chế tạo máy, nâng tổng số doanh nghiệp có phản hồi lên 34 Các doanh nghiệp bổ sung được lựa chọn đảm bảo đáp ứng yêu cầu về năng lực và quy mô hoạt động tương tự như 25 doanh nghiệp đã phản hồi trước đó Dữ liệu sau đó được hiệu chỉnh và xử lý sơ bộ với sự phối hợp của từng doanh nghiệp để đảm bảo chất lượng câu trả lời Cuối cùng, tác giả cũng thu thập dữ liệu thứ cấp quốc tế từ dự án HPM để so sánh và đối chiếu với kết quả phân tích tại Việt Nam.

Giai đoạn tìm hiểu và thảo luận với các chuyên gia bắt đầu từ năm 2017, khi tác giả phỏng vấn 04 chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và quản trị doanh nghiệp để hoàn thiện phương pháp nghiên cứu luận án Sau khi thu thập dữ liệu từ nghiên cứu định lượng và nghiên cứu điển hình tại hai doanh nghiệp, tác giả tiếp tục phỏng vấn sâu 12 chuyên gia thuộc ba nhóm lĩnh vực: nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản trị doanh nghiệp và nhà tư vấn chiến lược Việc tìm kiếm các chuyên gia có kinh nghiệm trong tư vấn chiến lược, đầu tư, và sản xuất công nghệ cao tại Việt Nam là một thách thức lớn, đòi hỏi nhiều thời gian Tác giả đã lập danh sách các doanh nghiệp, công ty tư vấn và tổ chức nghiên cứu uy tín có chuyên môn liên quan đến chiến lược sản xuất Sau khi lựa chọn được các chuyên gia phù hợp, tác giả đã sử dụng nhiều kênh liên lạc để sắp xếp các cuộc gặp nhằm chia sẻ về những kết quả tiềm năng mà luận án có thể mang lại cho hiểu biết về chiến lược sản xuất trong các doanh nghiệp chế tạo tại Việt Nam.

Mười hai chuyên gia đã tham gia hỗ trợ nghiên cứu luận án, giúp tác giả xây dựng lịch trình cho các cuộc trao đổi ngắn gọn, tập trung vào các đề tài cụ thể trong từng giai đoạn Các chuyên gia có chuyên môn đa dạng trong lĩnh vực tư vấn chiến lược, đầu tư, quản trị, sản xuất và nghiên cứu học thuật, không chỉ định hình phương pháp nghiên cứu và khung khái niệm mà còn giải thích các phát hiện, đồng thời cung cấp gợi ý giá trị cho doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Việt Nam.

Giai đoạn cuối cùng từ giữa năm 2018 đến hết năm 2019 tập trung vào nghiên cứu điển hình tại các doanh nghiệp uy tín có kết quả hoạt động tốt Tuy nhiên, việc tiếp cận và sắp xếp trao đổi với các doanh nghiệp này thường mất nhiều thời gian và họ thường e dè trong việc chia sẻ thông tin sâu sắc về chiến lược và kết quả hoạt động Để thực hiện nghiên cứu điển hình tại hai doanh nghiệp, tác giả đã trực tiếp phỏng vấn lãnh đạo doanh nghiệp và tham gia vào các buổi phỏng vấn với cán bộ quản lý sản xuất, kinh doanh để tìm hiểu Chiến lược sản xuất ở nhiều cấp độ khác nhau Cách tiếp cận này phù hợp với mô hình chiến lược của Beer và Eisenstat.

Tác giả nghiên cứu các báo cáo tài chính, báo cáo năm, mô hình kinh doanh, và các công cụ quản lý chất lượng, quy trình, nhân sự, cùng hệ thống công nghệ thông tin của doanh nghiệp Mục tiêu là hiểu rõ hơn về những yếu tố này như những lựa chọn thực tiễn nhằm hỗ trợ việc hiện thực hóa Chiến lược sản xuất.

Kết luận Chương

Chương Phương pháp nghiên cứu đã trình bày các bước triển khai nghiên cứu định lượng và định tính nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả Tác giả đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu định lượng với việc xác định bộ thang đo, câu hỏi khảo sát và quy mô mẫu, đồng thời chia nhỏ các giả thuyết nghiên cứu để thuận lợi cho kiểm nghiệm Nghiên cứu định tính cũng được làm rõ thông qua phỏng vấn chuyên gia và nghiên cứu điển hình tại doanh nghiệp Tác giả đã xây dựng tiến trình khảo sát, thu thập và phân tích dữ liệu với thời gian cụ thể, làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng về Chiến lược sản xuất và mối quan hệ với Kết quả hoạt động tại doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam, từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị có giá trị.

THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ TẠO VIỆT NAM

TỔNG HỢP KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 30/05/2021, 07:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị chiến lược trong các doanh nghiệp VN. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 264, Tháng 10/2012, Trang 09-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
2. Nguyễn Thị Nguyệt Anh và Đoàn Xuân Hậu (2012) Chiến lược kinh doanh nội dung số trong giai đoạn tăng trưởng của các công ty cổ phần truyền thông tại Việt Nam. Tạp Chí Kinh tế và Phát triển, Số 181 (II), tháng 7 năm 2012, trang 78-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Kinh tế và Phát triển
3. Nguyễn Thị Trâm Anh, Huỳnh Thị Ngọc Diệp, Trần Thùy Chi (2016) Phân tích hành vi chiến lược của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam trên thị trường quốc tế. Tạp Chí Kinh tế và Phát triển, Số Đặc biệt, tháng 09 năm 2016, tr. 104-112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Kinh tế và Phát triển
4. Phan Chí Anh và Nguyễn Thu Hà (2016) Nghiên cứu các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương. Số 479 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
5. Phan Chí Anh và Nguyễn Thu Hà (2017) Một số nghiên cứu quốc tế và gợi ý cho Việt Nam về hệ thống sản xuất hiệu suất cao tại các doanh nghiệp sản xuất chế tạo. Tạp chí Công thương. Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Công thương
6. Trình Thùy Anh và Vũ Hoàng Chương (2016) Trao quyền và kết quả làm việc của nhân viên tại các doanh nghiệp sản xuất ở TP. Hồ Chí Minh. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 27, Số 1, Tháng 1/2016, Trang 84-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
7. Nguyễn Quốc Bình (2001) Một vài ý kiến đóng góp vào định hướng chiến lược phát triển ngành lắp ráp, sản xuất ô tô ước ta đến năm 2010. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 125, Tháng 3/2001 8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019) Sách Trắng về Doanh nghiệp Việt Nam. Nhàxuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á". Năm thứ 125, Tháng 3/2001 8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019) Sách Trắng về Doanh nghiệp Việt Nam. "Nhà
9. Trần Đình Bút (1999) Quyền tự chủ tài chính doanh nghiệp trong chiến lược tài chính quốc gia 2001 - 2010. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 110, Tháng 12/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
10. Lâm Minh Châu (1999) Một vài suy nghĩ về xây dựng chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản miền Trung. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 107, Tháng 9/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
11. Phạm Văn Dược (2010) Thực trạng nhận thức về báo cáo trách nhiệm của nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 238, Tháng 8/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
12. Nguyễn Ngọc Điện (2009) Thực trạng hoạch định chiến lược trong doanh nghiệp Việt Nam. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 228, Tháng 10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
13. Trung Đông, Võ Minh Quốc, Nguyễn Thị Thanh Huyền (2017) Nghiên cứu mối quan hệ giữa chiến lược marketing và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ cao su tại khu vực miền Đông Nam Bộ.Tạp Chí Kinh tế và Phát triển, số 236(II), tháng 02 năm 2017, tr. 21-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Kinh tế và Phát triển
14. Vũ Hữu Đức và Trình Quốc Việt (2008) Tìm kiếm một chiến lược cho quá trình hội nhập quốc tế ề kế toán tại Việt Nam. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 218, Tháng 12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
15. Đoàn Thanh Hà (2005) Chiến lược cho các ngân hàng thương mại VN trong tiến trình hội nhập quốc tế. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 176, Tháng 6/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
16. Huỳnh Thị Cẩm Hà, Nguyễn Thị Uyên Uyên và Lê Thị Hồng Minh (2017) Chiến lược tái cấu trúc theo chu kì sống của các công ty Việt Nam dưới tác động của kiệt quệ tài chính. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 28, Số 7, Tháng 7/2017, Trang 34-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
17. Chu Thị Hà, Đinh Thị Ngọc Hà (2019), Quản trị doanh nghiệp trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 4/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính
Tác giả: Chu Thị Hà, Đinh Thị Ngọc Hà
Năm: 2019
18. Trương Thu Hà (2008) Một số vấn đề thường gặp khi xây dựng và thực thi chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 24 (2008) 74-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn
20. Nguyễn Mạnh Hiền và Lê Thu Hoa (2014) Áp dụng kế toán chi phí theo dòng vật liệu (MFCA) trong doanh nghiệp sản xuất gang thép. Tạp Chí Kinh tế và Phát triển, số 201 (II) tháng 03 năm 2014, tr. 85-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Kinh tế và Phát triển
21. Đinh Việt Hòa (2009) Phát triển nguồn vốn nhân lực - Chiến lược tối ưu của nhà lãnh đạo. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 25 (2009) 150-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh
22. Nguyễn Ngọc Hòa (2003) Chiến lược sản phẩm trong kinh doanh siêu thị. Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á. Năm thứ 153, Tháng 7/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w