Với một môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh cao như vậy, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải xác định đúng các yếu tố môi trường và yếu tố nội tại bên trong doa
Trang 1-***** -
TRẦN ĐẠO
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦACÔNG TY TNHH 1 THÀNH VIÊN HOA TIÊU HÀNG HẢI-TKV GIAI ĐOẠN 2009 – 2020 KHI CHÍNH PHỦ CẮT
GIẢM SẢN LƯỢNG THAN XUẤT KHẨU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2008
Trang 2-***** -
TRẦN ĐẠO
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH 1 THÀNH VIÊN HOA TIÊU HÀNG HẢI-TKV GIAI ĐOẠN 2009 – 2020 KHI CHÍNH PHỦ CẮT
GIẢM SẢN LƯỢNG THAN XUẤT KHẨU
Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệp
Mã số: 60.31.09
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Nhâm Văn Toán
HÀ NỘI, 2008
Trang 3T«i xin cam đoan đ©y là c«ng tr×nh nghiªn cứu của riªng t«i C¸c số liệu, kết quả nªu trong luận văn là trung thực và chưa được ai c«ng bố trong bất k ỳ c«ng tr×nh nµo kh¸c
Người viết luận văn
TRẦN ĐẠO
Trang 5Mục lục Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các hình vẽ
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các chữ viết tắt
Chương 1-Tổng quan cơ sở lý thuyết và thực tế về xây
1.1 Chiến lược và quản trị chiến lược kinh doanh 11
1.2 Yêu cầu khi xây dựng chiến lược kinh doanh 19
1.3 Xác định nhiệm vụ và hệ thống mục tiêu chiến lược 20 1.4 Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp 21
1.6 Phân tích môi trường ngành (môi trường tác nghiệp) 25 1.7 Phân tích môi trường nội bộ doanh nghiệp 29 1.8 Phân tích môi trường quốc tế của doanh nghiệp 32
Trang 62.3 Ph©n tÝch c¸c nh©n tè vµ lùa chän chiÕn l−îc cña C«ng ty TNHH
mét thµnh viªn hoa tiªu hµng h¶i-TKV, giai ®o¹n 2008-2020 64 2.4 Tæng hîp kÕt qu¶ ph©n tÝch nh©n tè vµ c¸c m« h×nh chiÕn l−îc
Ch−¬ng 3-X©y dùng chiÕn l−îc kinh doanh cña C«ng ty
tnhh mét thµnh viªn Hoa tiªu hµng h¶i-TKV giai ®o¹n
2008-2020, khi ChÝnh phñ c¾t gi¶m s¶n l−îng than xuÊt
3.3 C¸c chiÕn l−îc kinh doanh bé phËn chøc n¨ng 95
Trang 76 H×nh 1.6 C¬ së lùa chän chiÕn l−îc kinh doanh 49
7 H×nh 1.7 Quy tr×nh lùa chän chiÕn l−îc 50
8 H×nh 1.8 Quy tr×nh 8 b−íc x©y dùng chiÕn l−îc 52
Trang 8DANH MụC CáC bảng biểu
2 Bảng 2.1 Sản l−ợng dẫn tàu của công ty năm 2006 và năm 2007 63
3 Bảng 2.2 Doanh thu của công ty thực hiện năm 2006 và năm 2007 63
4 Bảng 2.3 Kết quả hoạt động SXKD của công ty năm 2006 và
4 Bảng 2.4 Cơ cấu lực l−ợng lao động của công ty năm 2007 69
5 Bảng 3.1.Dự kiến chủng loại than cung cấp cho các hộ đến
6 Bảng 3.2 Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực 92
7 Bảng 3.3 Dự báo tình hình hoa tiêu dẫn tàu từ năm 2008 – 2020 109
8 Bảng 3.4 Dự báo kết quả hoạt động Sản xuất kinh doanh qua các
Trang 10DANH MụC CáC chữ viết tắt
1 Diễn đàn hợp tác Châu á Thái bình dương APEC
14 Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats SWOT
Trang 11mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, đất nước ta đm có những bước phát triển vượt bậc, kinh tế luôn tăng trưởng với tốc độ cao Bên cạnh đó trong bối cảnh hiện nay khi mà xu hướng quốc tế hóa đang ngày càng gia tăng, sự khan hiếm các nguồn nhân lực ngày càng gia tăng, nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của xm hội luôn luôn biến đổi làm cho môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro Với một môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh cao như vậy, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải xác định đúng các yếu tố môi trường và yếu tố nội tại bên trong doanh nghiệp để từ đó phân tích, nắm bắt xu hướng biến động và xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm tận dụng triệt để các cơ hội để giảm thiểu những nguy cơ đảm bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững cho doanh nghiệp mình
Trong thực tế đm cho thấy rằng: Những doanh nghiệp nào có Chiến lược kinh doanh phù hợp thì doanh nghiệp đó sẽ thành công Ngược lại những doanh nghiệp hoạt động không có chiến lược hoặc hoạch định chiến lược không đúng thì hoạt động thụ động, dò dẫm từng bước trước những biến đổi của môi trường kinh doanh mà không thể phát triển được thậm chí còn phải trả giá đắt cho những quyết định kinh doanh sai lầm đó Qua đó chúng ta thấy
được tầm quan trọng của chiến lược kinh doanh đối hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Công ty TNHH một thành viên Hoa tiêu hàng hải-TKV hiện là đơn vị hoa tiêu kinh doanh có điều kiện cung cấp các dịch vụ hoa tiêu, phạm vi hoạt động
bị bó hẹp trên tuyến luồng Cảng Cẩm phả, sản xuất không mở mang được,
Trang 12không tạo thêm được nhiều công ăn việc làm cho người lao động Nhất là khi Chính phủ cắt giảm sản lượng than xuất khẩu kể từ năm 2009 trở đi sẽ dẫn đến doanh thu và lợi nhuận giảm Do đó nghiên cứu Xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh của Công ty đóng một vai trò vô cùng quan trọng Khi doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh định hướng cho hoạt động của mình thì sẽ phải mày mò, thử nghiệm và thậm chí phải trả giá đắt cho những sai lầm của mình Vì vậy để tiếp tục đứng vững trên thị trường và thích ứng được với những biến đổi không ngừng diễn ra trong môi trường kinh doanh đòi hỏi công ty phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp
Từ thực tế đó, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên hoa tiêu hàng hải-TKV giai đoạn
2009 – 2020, khi chính phủ cắt giảm sản lượng than xuất khẩu”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích đưa lý thuyết về xây dựng chiến lược kinh doanh áp dụng vào tình hình thực tế của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoa tiêu
hàng hải-TKV
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các hoạt động kinh doanh dịch vụ hoa tiêu nói chung và các hoạt động có liên quan kinh doanh dịch vụ hoa tiêu của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoa tiêu hàng hải-TKV giai
đoạn 2009 – 2020 nói riêng
Phạm vị nghiên cứu của luận văn là các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên hoa tiêu hàng hải-TKV và tình hình biến
động trong tương lai khi Chính phủ cắt giảm sản lượng than xuất khẩu
4 Nội dung nghiên cứu
Trang 13Nghiên cứu lý luận và phương pháp luận về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên hoa tiêu hàng hải-TKV qua các năm 2006, năm 2007, dự kiến thực hiện năm 2008 và đưa ra các luận cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh cho Công
ty TNHH một thành viên hoa tiêu hàng hải-TKV giai đoạn 2009 – 2020 khi Chính phủ cắt giảm sản lượng than xuất khẩu
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa vào phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp với những cơ sở lý luận và chiến lược kinh doanh để đánh giá toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên hoa tiêu hàng hải-TKV Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: thống kê, phân tích, mô hình hóa, dự báo để phân tích đánh giá và đưa ra các chiến lược kinh doanh của công ty
6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
ý nghĩa khoa học: Đề xuất phương pháp xây dựng chiến lược phát triển
kinh doanh doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản và thực hành triển khai Kết quả nghiên cứu có những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu hoàn thiện phương pháp luận xây xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh doanh nghiệp và tính thực tiễn cao
ý nghĩa thực tiễn: Công ty TNHH một thành viên hoa tiêu hàng
hải-TKV là nơi người viết luận văn đang công tác, do vậy, ngoài ý nghĩa luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu để Công ty TNHH một thành viên hoa tiêu hàng hải-TKV tham khảo áp dụng, các cá nhân và doanh nghiệp khác tham khảo trong nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp mình
7 Kết cấu của luận văn
Trang 14Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn vµ danh môc tµi liÖu tham kh¶o, néi dung chÝnh cña luËn v¨n gåm 3 ch−¬ng:
kinh doanh
Ch−¬ng 2 Ph©n tÝch c¸c nh©n tè chiÕn l−îc cña C«ng ty TNHH mét thµnh viªn hoa tiªu hµng h¶i-TKV giai ®o¹n 2009-2020
thµnh viªn hoa tiªu hµng h¶i-TKV giai ®o¹n 2009-2020 khi ChÝnh phñ c¾t gi¶m s¶n l−îng than xuÊt khÈu
Trang 15Chương 1 Tổng quan cơ sở lý thuyết và thực tế
về xây dựng chiến lược kinh doanh
1.1 Chiến lược và quản trị chiến lược kinh doanh
1.1.1 Khái niệm về chiến lược [1],[2],[6]
Thuật ngữ chiến lược (strategy) xuất phát từ lĩnh vực quân sự, có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp, ghép giữa hai từ “stratos” (quân đội, bầy, đoàn) và “agos” (lmnh đạo, điều khiển” Chiến lược được sử dụng đầu tiên trong quân sựu để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc được cái gì đối phương có thể không làm Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử khoa học quân sự đm chỉ ra rằng, vai trò của chiến lược nổi nên rõ rệt khi mục tiêu cuối cùng không
đạt đạt được bằng những chiến dịch đơn lẻ, mà cần phải trải qua một số giai
đoạn trên con đường hành động Cần phải kết hợp các chiến dịch, sao cho các mục tiêu cục bộ đạt được trong từng chiến dịch hợp thành một con đường ngắn nhất đạt tới mục tiêu cuối cùng
Từ thập kỷ 60 (thế kỷ XX) chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh Cũng có thể hiểu chiến lược là phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được và duy trì những thành công Cụ thể hơn có quan niệm cho rằng chiến lược là một chương trình hành động tổng quát, dài hạn hướng hoạt động của toàn doanh nghiệp với việc đạt được các mục tiêu đm xác định
Khác với các quan niệm trên, chiến lược được các nhà kinh tế học đưa ra với quan điểm khác nhau:
Trang 16William Jglueck trong giáo trình “Business Policy & Strategic Management” quan niệm “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”
Mintzberg thì cho rằng: “Chiến lược là một hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động”
Có rất nhiều quan điểm về chiến lược được nhiều học giả trong và ngoài nước đưa ra, tuy nhiên Tác giả của luận văn này thì đồng quan điểm “Chiến lược là bản phác thảo tương lai bao gồm các mục tiêu mà doanh nghiệp phải
đạt được cũng như các phương tiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó” của Đồng chủ biên PGS.TS Nguyễn Thành Đô và TS Nguyễn Ngọc Huyền trong giáo trình “Chiến lược kinh doanh và phát triển”
1.1.2 Chiến lược kinh doanh và vai trò của chiến lược kinh doanh
1.1.2.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh
Cho đến nay chưa có định nghĩa thống nhất về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Tuỳ theo từng góc độ xem xét mà có nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược kinh doanh Song trên quan điểm tổng thể có thể hiểu chiến lược kinh doanh là phương thức theo đó một doanh nghiệp cố gắng thực
sự để có được một sự khác biệt rõ ràng hơn hẳn đối thủ cạnh tranh, để tận dụng những sức mạnh tổng hợp của mình nhằm thoả mmn một cách tốt hơn, đa dạng hơn, đúng với thị hiếu của khách hàng
Tuy nhiên hầu hết các tác giả đều thống nhất có thể định nghĩa chiến lược kinh doanh như sau: Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp căn cứ vào các điều kiện khách quan, chủ quan, nội lực mà doanh nghiệp có thể có, để
định ra mưu lược, con đường, biện pháp để giúp doanh nghiệp đi trên con
đường đm đặt ra
Trang 17Tuy cắch nói về chiến lược là không hoàn toàn giống nhau, nhưng nhìn chung, hầu hết các tác giả đều thống nhất rằng, nội dung chiến lược bao gồm:
- Định rõ mục tiêu cần đạt
- Chỉ rõ con đường cần đi
- Định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn
Xét theo cấp độ chiến lược thì có 3 loại: Chiến lược công ty; chiến lược
kinh doanh; chiến lược chức năng
+ Chiến lược công ty: Xác định xem công ty cần phải tham gia vào một loại hình kinh doanh hay những loại hình kinh doanh nào và làm thế nào để những loại hình kinh doanh đó hoà hợp với nhau
+ Chiến lược kinh doanh: Xác định cách thức cho mỗi doanh nghiệp thực hiện được nhiệm vụ đm đặt ra cho mình trong phạm vi lĩnh vực hoạt động đm chọn
+ Chiến lược chức năng: Làm thế nào để các bộ phận chức năng (tài chính, kế toán, sản xuất…) có thể hỗ trợ được toàn bộ công việc kinh doanh
và chiến lược của công ty
Xét theo tính chất, chiến lược kinh doanh có thể phân thành chiến lược
tổng hợp và chiến lược bộ phận
+ Chiển lược tổng hợp phản ánh phương thức chung và nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp phải thực hiện Nó thể hiện ý chí lâu dài của doanh nghiệp và Ban Quản trị cấp cao quyết định
+ Chiến lược bộ phận là căn cứ vào các chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận để có phương thức cụ thể cho từng bộ phận mình, hướng vào thực hiện tốt chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Loại này mang tính chiến thuật là chủ yếu và do Ban Quản trị cấp thấp quyết định
Trang 18Còn theo Michael Porter-giáo sư chiến lược hàng đầu Havard thì: “Chiến lược kinh doanh để đương đầu với cạnh tranh là sự kết hợp giữa những mục tiêu cần đạt tới và những phương tiện mà doanh nghiệp cần tìm để đạt tới mục tiêu”
Theo quan điểm của tác giả tựu chung lại: Chiến lược là tập hợp các hành động, các quyết định có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm giúp cho tổ chức đạt được những mục tiêu đH đề ra, và nó cần xây dựng sao cho tận dụng
được những điểm mạnh cơ bản bao gồm các nguồn lực và năng lực của tổ chức cũng như phải xét tới những cơ hội, thách thức của môi trường
Chiến lược kinh doanh được nhìn nhận như một nguyên tắc, một tôn chỉ trong kinh doanh Chính vì vậy doanh nghiệp muốn thành công trong kinh doanh, thì phải có chiến lược kinh doanh và phải tổ chức thực hiện tốt chiến lược đm đề ra
1.1.2.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh
Kinh tế thị trường luôn biến động, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng với sự biến động đó Quản trị kinh doanh hiện
đại cho rằng không thể chống đỡ được với những thay đổi thị trường nếu doanh nghiệp không có một chiến lược kinh doanh và phát triển thể hiện tính chất động và tấn công Trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới phát hiện được những thời cơ cần tận dụng hoặc những đe dọa có thể xảy ra để có đối sách thích hợp Thiếu một chiến lược kinh doanh đúng đắn thể hiện tính chủ động và tấn công, thiếu sự chăm lo xây dựng và phát triển chiến lược doanh nghiệp không thể hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế được và thậm chí trong nhiều trường hợp còn dẫn đến sự phá sản
Chiến lược kinh doanh giúp cho các doanh nghiệp định hướng được mục tiêu vươn tới tương lai bằng sự nỗ lực của chính mình; giúp doanh nghiệp xác
định rõ những mục tiêu cơ bản cần phải đạt được trong từng thời kỳ, ở mọi
Trang 19cấp, mọi lĩnh vực hoạt động trong doanh nghiệp hoặc cơ quan, nhằm khai thác
và sử dụng tối ưu các nguồn lực, phát huy những lợi thế và nắm bắt những cơ hội để giành ưu thế trong cạnh tranh
Quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh trên cơ sở theo dõi một cách liên tục những sự kiện xảy ra cả bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp, nắm bắt được xu hướng biến đổi của thị trường; cùng với việc triển khai thực hiện chiến lược kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp thích ứng với thị trường, và thậm chí còn làm thay đổi cả môi trường hoạt động để chiếm lĩnh vị trí cạnh tranh, đạt được doanh thu và lợi nhuận cao, tăng năng suất lao động, cải thiện môi trường, cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường
1.1.3 Quản trị chiến lược kinh doanh
Quản trị chiến lược gồm có ba giai đoạn: Thiết lập chiến lược, thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược Giai đoạn thiết lập chiến lược bao gồm việc phát triển nhiệm vụ kinh doanh, xác định các cơ hội, nguy cơ đến với tổ chức
từ bên ngoài, chỉ rõ các điểm mạnh, điểm yếu bên trong, thiết lập các mục tiêu dài hạn, tạo ra các chiến lược thay thế và chọn ra các chiến lược đặc thù để theo đuổi
Vai trò của quản trị chiến lược kinh doanh trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn biến động như hiện nay, thường tạo ra những cơ hội và nguy cơ bất ngờ, quá trình quản trị chiến lược giúp chúng ta nhận biết được cơ hội
và nguy cơ trong tương lai, các doanh nghiệp xác định rõ hướng đi, vượt qua những thử thách trong thương trường, vươn tới tương lai bằng nỗ lực của chính mình Việc nhận thức kết quả mong muốn và mục đích trong tương lai giúp cho nhà quản trị cũng như nhân viên nắm vững được việc gì cần làm để đạt
được thành công Như vậy sẽ khuyến khích cả hai nhóm đối tượng nói trên đạt
được những thành tích ngắn hạn, nhằm cải thiện tốt hơn phúc lợi lâu dài của doanh nghiệp
Trang 20Quá trình quản trị chiến lược giúp cho doanh nghiệp gắn kết được kế hoạch đề ra và môi trường bên ngoài, sự biến động càng lớn doanh nghiệp càng phải cố gắng chủ động Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình hệ thống quản trị chiến lược có tính thích ứng, thay
đổi cùng với sự biến động của thị trường Do vậy quản trị chiến lược đi theo hướng hành động hướng tới tương lai, không chấp nhận việc đi theo thị trường,
mà nó có tác động thay đổi môi trường kinh doanh
Nhờ việc vận dụng quá trình quản trị chiến lược đm đem lại cho công ty thành công hơn, do đoán được xu hướng vận động của thị trường, doanh nghiệp sẽ gắn liền các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan Thành quả thu được là những con số về doanh thu, lợi nhuận và mức độ gia tăng cổ phiếu trên thị trường… Do sự biến động và tính phức tạp trong môi trường ngày càng tăng, các doanh nghiệp cần phải cố gắng chiếm được vị thế chủ động, tăng thêm khả năng ngăn chặn những nguy cơ của tổ chức, tối thiểu hóa rủi ro
Tóm lại: Quản trị chiến lược là một sản phẩm của khoa học quản lý hiện
đại dựa trên cơ sở thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm của rất nhiều công ty Tuy vậy mức độ thành công của mỗi doanh nghiệp lại phụ thuộc vào năng lực triển khai, thực hiện, kiểm soát của hệ thống bên trong và được xem như là nghệ thuật trong quản trị kinh doanh
Mô hình quản trị chiến lược xem hình 1.1 trang sau
Trang 21Hình 1.1 Mô hình quản trị chiến lược tổng quát
1.1.4 Quá trình quản trị chiến lược kinh doanh
Trong quá trình quản trị chiến lược, người quản trị thực hiện một loạt các hoạt động như sau:
1.1.4.1 Phân tích tình hình
Trước khi quyết định về định hướng hay phản ứng chiến lược phù hợp cần phải phân tích tình hình hiện tại Phân tích tình hình đòi hỏi phải xem xét bối cảnh của tổ chức, các khía cạnh môi trường bên ngoài và bên trong của tổ chức:
- Bản thân các yếu tố nội bộ bên trong của doanh nghiệp: mạnh hay yếu
- Các yếu tố môi trường ngoài doanh nghiệp: cơ hội hay nguy cơ đối với doanh nghiệp
Quyết định chiến lược
Phõn phối nguồn lực
Kiểm tra, đỏnh giỏ và điều chỉnh
Phõn tớch và dự bỏo mụi trường bờn ngoài
Phõn tớch và dự bỏo mụi trường bờn trong
Hỡnh thành chiến lược
Đỏnh giỏ
và điều chỉnh chiến lược
Tổ chức thực hiện chiến lược
Trang 22- Mong muốn của lmnh đạo: giá trị doanh nghiệp, uy tín và ưu thế cạnh tranh
Xây dựng chiến lược bao gồm việc thiết kế và lựa chọn những chiến lược phù hợp cho tổ chức Để thực hiện việc này cần phải xem xét từ nhiều cấp tổ chức khác nhau và đề ra các kiểu chiến lược:
- Chiến lược Công ty: Quan tâm đến những vấn đề lớn và dài hạn như: hoạt động như thế nào, tham gia vào lĩnh vực kinh doanh nào, làm gì trong lĩnh vực kinh doanh ấy Bất kỳ sự thay đổi nào trong cơ cấu các ngành kinh doanh của tổ chức đều có thể làm thay đổi chiến lược Công ty
- Chiến lược chức năng: Là những quyết định và hành động hướng mục tiêu được xây dựng ngắn hạn của các bộ phận chức năng khác nhau trong một
tổ chức như: bộ phận sản xuất (chế tạo), tiếp thị, nghiên cứu và phát triển, nhân sự, tài chính kế toán, công nghệ thông tin…
- Chiến lược cạnh tranh: Những chiến lược cạnh tranh nghiên cứu những lợi thế cạnh tranh mà tổ chức đang hoặc muốn có, đồng thời xem xét đến việc
tổ chức đó tiến hành cạnh tranh như thế nào trong một lĩnh vực kinh doanh hay ngành cụ thể
Hình thành hoặc xây dựng chiến lược là chưa đủ đối với các nhân viên của tổ chức mà cần phải thực hiện chiến lược Thực hiện chiến lược là quá trình đưa những chiến lược khác nhau của tổ chức vào thực thi Các biện pháp thực hiện những cấp khác nhau của chiến lược được gắn chặt với việc xây dựng chiến lược
1.1.4.4 Đánh giá chiến lược
Trang 23Giai đoạn cuối của quản lý chiến lược là đánh giá chiến lược Tất cả chiến lược tùy thuộc vào thay đổi tương lai vì các yếu tố bên trong và bên ngoài thay đổi đều đặn Ba hoạt động chính yếu của giai đoạn này là: (1) Xem xét lại các yếu tố là cơ sở cho các chiến lược hiện tại, (2) Đo lường các thành tích và (3) Thực hiện các hoạt động điều chỉnh Giai đoạn đánh giá chiến lược
là cần thiết vì thành công hiện tại không đảm bảo cho thành công tương lai Sự thành công luôn tạo ra các vấn đề mới khác, các tổ chức có tư tưởng thỏa mmn phải trả giá cho sự tàn lụi
1.2 Yêu cầu khi xây dựng chiến lược kinh doanh [1],[2],[6]
Trong xây dựng chiến lược kinh doanh cần phải chú ý các điểm sau:
- Chiến lược kinh doanh phải gắn với thị trường:
+ Các doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh trên cơ sở điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị trường và khai thác tối đa các thời cơ, các thuận lợi, các nguồn lực để sản xuất ra các sản phẩm với số lượng, chất lượng, chủng loại và thời hạn thích hợp Có thể coi “chiến lược phải thể hiện tính làm chủ thị trường của doanh nghiệp” là phương châm, là nguyên tắc quản trị chiến lược của doanh nghiệp
+ Việc xây dựng chiến lược kinh doanh phải làm tăng được thế mạnh của doanh nghiệp, giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường
+ Chiến lược phải thể hiện tính linh hoạt cao và vì thế xây dựng chiến lược chỉ đề cập những vấn đề khái quát, không cụ thể
- Khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải tính đến vùng an toàn trong kinh doanh, hạn chế rủi ro đến mức tối thiểu
- Trong chiến lược kinh doanh cần xác định mục tiêu then chốt, vùng kinh doanh chiến lược và những điều kiện cơ bản để đạt được mục tiêu đó
Trang 24- Chiến lược kinh doanh phải thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hai loại chiến lược: chiến lược kinh doanh chung bao gồm những vấn đề tổng quát bao trùm, có tính chất quyết định nhất và chiến lược kinh doanh bộ phận bao gồm những vấn đề mang tính chất bộ phận như chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược tiếp thị, chiến lược khuyếch trương
- Chiến lược kinh doanh không phải là bản thuyết trình chung chung mà phải thể hiện bằng những mục tiêu cụ thể, có tính khả thi với mục đích đạt hiệu quả tối đa trong sản xuất kinh doanh
Một vấn đề hết sức quan trọng là nếu doanh nghiệp chỉ xây dựng chiến lược thì chưa đủ vì dù cho chiến lược kinh doanh có được xây dựng hoàn hảo
đến đâu nhưng nếu không triển khai tốt, không biến nó thành các chương trình, chính sách kinh doanh phù hợp với từng giai đoạn phát triển thì cũng trở thành vô ích, hoàn toàn không có giá trị làm tăng hiệu quả kinh doanh trong khi vẫn phải chịu chi phí cho công tác này
1.3 Xác định nhiệm vụ và Hệ thống mục tiêu chiến lược:[1],[2],[6]
1.3.1 Nhiệm vụ chiến lược
Đó là một tuyên bố cố định có tính chất lâu dài về mục đích của doanh nghiệp, nó phân biệt doanh nghiệp với doanh nghiệp khác Các tuyên bố này
có thể là nguyên tắc kinh doanh, mục đích, triết lý kinh doanh từ đó xác định các lĩnh vực kinh doanh sản phẩm dịch vụ, nhu cầu thị trường
Nội dung của nhiệm vụ chiến lược chỉ ra những vấn đề tổng quát, từ đó xác định phạm vi hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực sản phẩm và thị trường Khi đề ra nhiệm vụ chiến lược cần chú ý đến những yếu tố: lịch sử hình thành, mong muốn của ban lmnh đạo, các điều kiện môi trường kinh doanh, nguồn lực hiện có và các khả năng sở trường của doanh nghiệp Nhiệm
vụ chiến lược giúp lmnh đạo xác định mục tiêu dễ dàng hơn, cụ thể hơn, nó xác
Trang 25định mức độ ưu tiên của doanh nghiệp nhằm đánh giá tiềm năng của từng đơn
vị kinh doanh và vạch ra hướng đi tương lai của doanh nghiệp
+ Mục tiêu chiến lược: là để chỉ đích cụ thể mà doanh nghiệp muốn đạt
được, được suy ra trực tiếp từ chức năng nhiệm vụ nhưng cụ thể và rõ ràng hơn, được lượng hóa thành những con số: mức tăng trưởng, mức lợi nhuận, doanh số, thị phần… Thường có hai loại mục tiêu: ngắn hạn và dài hạn
+ Mục tiêu dài hạn: là toàn bộ kết quả mong muốn cuối cùng mà doanh nghiệp muốn đạt được trong khoảng thời gian dài hơn một năm, với các nội dung cụ thể: mức lợi nhận, năng suất, vị thế cạnh tranh, phát triển việc làm, quan hệ cộng đồng, vị trí công nghệ, trách nhiệm xm hội
+ Mục tiêu ngắn hạn: là các kết quả cụ thể doanh nghiệp kỳ vọng đạt
được trong một chu kỳ, được lượng hóa thành con số
- Phải rõ ràng trong từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp;
- Có tính liên kết, tương hỗ lẫn nhau, mục tiêu này không cản trở mục tiêu khác;
- Phải xác định được mục tiêu ưu tiên, thể hiện thứ bậc của mục tiêu, nhiệm vụ đề ra đối với doanh nghiệp trong từng giai đoạn
1.4 Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp [2],[4],[6] Mục đích của việc phân tích môi trường kinh doanh là để xác định các cơ hội và nguy cơ đối với doanh nghiệp, bao gồm môi trường vĩ mô và vi mô
Đó là quá trình xem xét các nhân tố môi trường khác nhau và xác định mức độ
ảnh hưởng của cơ hội hoặc nguy cơ đối với doanh nghiệp Phán đoán môi trường (diagnostic) dựa trên cơ sở những phân tích, nhận định về môi trường
Trang 26để từ đó tận dụng cơ hội hoặc làm chủ được những nguy cơ ảnh hưởng đến doanh nghiệp Việc phân tích môi trường bao gồm: phân tích môi trường vĩ mô và phân tích môi trường vi mô (hay còn gọi là môi trường ngành)
1.5 Phân tích môi trường vĩ mô [1],[2],[5],[6]
1.5.1 Môi trường kinh tế
Thực trạng nền kinh tế và xu hướng tương lai là ảnh hưởng đến thành công và chiến lược của doanh nghiệp, các nhân tố chủ yếu là: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lmi suất, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá hối đoái Các biến động của những yếu tố này đều ảnh hưởng đến doanh nghiệp
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Kinh tế phát triển với tốc độ cao phản ánh
tốc độ phát triển của thị trường do đó sẽ góp phần làm giảm áp lực cạnh tranh Sức mua của tổng thể thị trường cao tạo điều kiện cho phát triển kinh doanh của doanh nghiệp
- LHi suất: lmi suất là một trong những yếu tố thuộc chính sách tiền tệ
Lmi suất cao hay thấp đều ảnh hưởng trực tiếp tới kinh doanh và nhu cầu thị trường Lmi suất tiền gửi cao sẽ khuyến khích dân cư và doanh nghiệp gửi tiền dẫn tới khả năng thanh toán của thị trường bị co lại sức mua giảm sút là nguy cơ đối với doanh nghiệp
- Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng lớn tới những doanh
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu
- Tỷ lệ lạm phát tăng lên thì việc kiểm soát giá cả, tiền công lao động
cũng không làm chủ được, mối đe dọa với doanh nghiệp cũng tăng thêm
Nhân tố công nghệ có ảnh hưởng lớn đối với chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như các ngành công nghiệp Thời điểm hiện nay là thời điểm công nghiệp phát triển nên việc phán đoán xu hướng công nghiệp là
Trang 27vấn đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Sự thay đổi
về công nghệ ảnh hưởng lớn đến những chu kỳ sống của sản phẩm và dịch vụ Những chiều hướng/ biến cố trong công nghệ có thể là cơ hội cho những doanh nghiệp có khả năng huy động vốn dầu tư, nhưng cũng có thể là mối đe dọa cho những doanh nghiệp bị gắn chặt vào công nghệ cũ
Trong sự phát triển của xm hội, chắc chắn là rất cần phải chuyển sang công nghệ mới Tuy nhiên không phải vì thế mà bỗng nhiên các doanh nghiệp
đang sử dụng công nghệ cũ bị thua lỗ
Do vậy, doanh nghiệp cần phải có những nhận định đúng đắn về công nghệ, nhằm tạo ra những cơ hội cho doanh nghiệp trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ
1.5.3 Môi trường văn hóa - x< hội
Đối với quản trị chiến lược, yếu tố văn hóa-xm hội là nhạy cảm, hay thay
đổi nhất Lối sống của dân cư tự thay đổi nhanh chóng theo xu hướng du nhập những lối sống mới, dẫn đến thái độ tiêu dùng thay đổi Trình độ dân trí cao hơn, do vậy nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng, phong phú về chủng loại sản phẩm sẽ cao hơn Đây là một thách thức với các nhà sản xuất
Mỗi doanh nghiệp kinh doanh đều hoạt động trong môi trường văn hóa –
xm hội nhất định Doanh nghiệp và môi trường văn hóa – xm hội đều có mối liên hệ chặt chẽ, có sự tác động qua lại lẫn nhau Xm hội cung cấp những nguồn lực mà doanh nghiệp cần, tiêu thụ những sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra Môi trường văn hóa – xm hội có thể ảnh hưởng đến các quyết định mang tính chiến lược như: lựa chọn lĩnh vực và mặt hàng, lựa chọn nhmn hiệu, màu sắc, kiểu dáng, thay đổi kênh phân phối
Trang 28Quan niệm về giá trị cuộc sống và giá trị tiêu dùng: Quan niệm về giá trị cuộc sống sẽ làm nảy sinh quan niệm về giá trị tiêu dùng và ảnh hưởng tới quyết định mua sắm hàng hóa này và từ chối hay giảm việc mua sắm hàng hóa khác làm xuất hiện cơ hội hay đe dọa đối với doanh nghiệp
1.5.4 Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố địa lý, khí hậu, môi trường sinh thái Đe dọa từ những sự thay đổi của khí hậu làm ảnh hưởng lớn đối với các doanh nghiệp Do vậy việc dự đoán trước những yếu tố thay đổi của khí hậu thời tiết làm cho doanh nghiệp chủ động hơn trong việc đưa ra những quyết
định về sản phẩm của mình
Môi trường tự nhiên xấu đi đang là thách thức đối với hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau; đó là nguồn cung cấp nguyên liệu, năng lượng cạn kiệt, mức độ ô nhiễm gia tăng, thời tiết diễn biến phức tạp, lũ lụt hạn hán gây ra những tổn thất lớn Những điều đó làm cho chi phí kinh doanh tăng lên do phải tốn thêm chi phí, trang bị thêm các thiết bị xử lý chất thải, đóng thuế nhiều hơn do yêu cầu bảo vệ môi trường
1.5.6 Môi trường, pháp luật, chính trị
Các nhân tố luật pháp, chính trị ảnh hưởng đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp theo những hướng khác nhau Chúng có thể là cơ hội đối với doanh nghiệp này những lại là nguy cơ đối với doanh nghiệp khác Chính sách
mở rộng khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh doanh sản xuất là nguy cơ đối với các doanh nghiệp nhà nước nhưng lại là cơ hội đối với các nhà sản xuất kinh doanh tư nhân được tham gia thị trường
Có thể nhận thấy sự ảnh hưởng của các chính sách của chính phủ đối với sản xuất kinh doanh nhu thế nào Ví dụ như chính sách thuế: thuế cao sẽ bất lợi cho kinh doanh, thuế thấp sẽ khuyến khích kinh doanh Trong điều kiện của Việt Nam các doanh nghiệp ngoài việc quan tâm tới thuế suất còn quan
Trang 29tâm tới tính ổn định của thuế suất Thuế suất không ổn định dễ gây khó khăn cho các dự kiến chiến lược kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp Sự ổn định
về chính trị, hoàn chỉnh về hệ thống luật pháp luôn là sự quan tâm lớn của các nhà sản xuất kinh doanh
1.6 Phân tích môi trường ngành (môi trường tác nghiệp)
Môi trường tác nghiệp bao gồm tất cả các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của doanh nghiệp trong một ngành Một ngành sản xuất bao gồm nhiều doanh nghiệp đưa ra những sản phẩm, dịch vụ như nhau hoặc có thể thay thế được cho nhau; vấn đề là phải phân tích, phán đoán các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành để xác định cơ hội và đe dọa đối với doanh nghiệp của mình Sau đây là một mô hình rất phổ biến của Michael Porter với
5 lực lượng cạnh tranh, xem hình 1.2
Hình 1.2 Mô hình 5 lực lượng của M.Porter
Lực lượng thứ nhất trong mô hình của M.Porter là quy mô cạnh tranh trong số các doanh nghiệp có cơ hội tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành sản xuất thường tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:
Khách hàng Nhà cung cấp
Các đối thủ mới tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Sản phẩm, dịch vụ thay thế
Trang 30- Tính chất cạnh tranh: giữa các sản phẩm thay thế cho nhau để cùng
thỏa mmn một mong muốn, tức là cạnh tranh về mức độ ưu tiên khi mua sắm giữa các sản phẩm có công dụng khác nhau đặt trong mối quan hệ với thu nhập; cạnh tranh trong cùng loại sản phẩm; cạnh tranh giữa các nhmn hiệu
- áp lực cạnh tranh trong một ngành: Cơ cấu ngành cạnh tranh đó là số
lượng và tầm cỡ các công ty cạnh tranh trong cùng ngành kinh doanh Nếu các doanh nghiệp là nhỏ lẻ, không có doanh nghiệp thống lĩnh thì cơ cấu cạnh tranh sẽ phân tán Nếu nhu cầu thị trường lớn thì áp lực cạnh tranh sẽ giảm, ngược lại nếu nhu cầu thị trường nhỏ thì cạnh tranh trở nên gay gắt
- Hàng rào lối ra khỏi ngành: Khi các điều kiện kinh doanh trong ngành
xấu đi, kinh doanh khó khăn buộc các doanh nghiệp phải tính đến chuyện rút khỏi ngành; Chi phí khi rút khỏi ngành làm cho các doanh nghiệp bị tổn thất
và mất mát, thậm chí bị phá sản bao gồm:
+ Chi phí đầu tư: nhà xưởng, thiết bị, công nghệ…
+ Chi phí trực tiếp chuẩn bị đầu tư, các thủ tục hành chính…
+ Chi phí xm hội: đào tạo công nhân, sa thải công nhân…
1.6.2 Phân tích các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp có khả năng nhập ngành trong tương lai, đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại đang sản xuất Các doanh nghiệp hiện tại thường cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn tham gia nhập ngành, vì thị trường cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn, thị trường và lợi nhuận sẽ bị chia sẻ, thậm chí vị trí của doanh nghiệp có thể thay đổi Mức
độ lợi nhuận của các đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc chủ yếu vào chi phí gia nhập ngành cao hay thấp (rào chắn công nghiệp), bao gồm:
- Vốn đầu tư ban đầu cao thì khả năng gia nhập ngành của các đối thủ
mới sẽ ít hơn Khi bắt đầu tham gia một ngành kinh doanh, nhà đầu tư phải bỏ
Trang 31một lượng tiền nhất định để mua sắm các yếu tố đầu vào như máy móc thiết
bị, nguyên vật liệu… để tạo ra những sản phẩm đầu ra Như vậy nếu đầu tư ban đầu càng lớn thì sự mạo hiểm rủi ro càng lớn, các nhà kinh doanh muốn nhập ngành phải cân nhắc nhiều hơn khi ra quyết định đầu tư
- Lợi thế về giá thành: Khi doanh nghiệp nắm giữ công nghệ cao cho
phép sản xuất cung ứng những sản phẩm có giá thành hạ sẽ có lợi thế trong cạnh tranh Muốn giữ được lợi thế này, doanh nghiệp phải luôn dẫn đầu về công nghệ, phải chú trọng công tác quản trị kinh doanh, để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Lợi thế về nhHn hiệu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ: Khi khách hàng đm
quen với nhmn hiệu sản phẩm thường dùng hiện tại, chi phí cho việc xây dựng một nhmn hiệu hàng hóa mới thường phải mất nhiều thời gian và tốn kém chi phí
- Lợi thế do quy mô sản xuất: Khi quy mô sản xuất lớn thì chi phí cố định
trung bình cho một đơn vị sản phẩm giảm xuống, doanh nghiệp có quy mô lớn thì có lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ mới càng nhiều
- Rào cản về mặt pháp lý: là những quy định của Nhà nước về các điều
kiện được tham gia kinh doanh như điều kiện về vốn, về trang thiết bị, về trình
độ lực lượng lao động các quy định càng khắt khe sẽ cản trở các doanh nghiệp ra nhập ngành và ngược lại
1.6.3 áp lực của nhà cung cấp
Các nhà cung ứng có khả năng là một áp lực đe dọa đối với ngành sản xuất khi họ tăng giá bán, hạn chế số lượng, chất lượng không đảm bảo Doanh nghiệp cần chú ý tới những tác động tiêu cực từ phía nhà cung cấp Tuy nhiên nhà cung cấp chỉ có thể gây sức ép được đối với doanh nghiệp trong trường hợp sau:
Trang 32- Có ít nhà cung cấp cho ngành sản xuất
- Có ít sản phẩm dịch vụ thay thế
- Có ưu thế chuyên biệt hóa về sản phẩm và dịch vụ
- Có khả năng hội nhập dọc thuận chiều, khép kín sản phẩm
- Họ là khách hàng mua với quy mô lớn
- Có nhiều nhà cung cấp cùng một loại sản phẩm, có nhiều lựa chọn
- Có khả năng hội nhập ngược để sở hữu toàn bộ hay một phần việc sản xuất ra sản phẩm
Khi khách hàng có ưu thế hơn người bán, tất yếu phải giảm giá và tăng chất lượng sản phẩm, dịch vụ, có nghĩa là lợi nhuận sẽ giảm
1.6.5 Các sản phẩm thay thế
Trang 33Sản phẩm thay thế không cạnh tranh gay gắt nhưng nó có thể ảnh hưởng
đến khả năng sinh lợi của thị trường là mối đe dọa cho doanh nghiệp Cần đặc biệt quan tâm đến những sản phẩm thay thế có khả năng dễ cải tiến, chuyển
đổi do những tiến bộ về công nghệ mang lại
Phần lớn sản phẩm thay thế mới là kết quả của cuộc bùng nổ về công nghệ Muốn đạt được thành công trong công việc kinh doanh của mình các doanh nghiệp cần phải dành các nguồn lực cần thiết để phát triển công nghệ mới vào chiến lược phát triển
1.7 Phân tích môi trường nội bộ doanh nghiệp [1],[2],[6]
Môi trường nội bộ doanh nghiệp là tất cả những gì thuộc về bản thân doanh nghiệp, liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết được những điểm mạnh cũng như điểm yếu của doanh nghiệp đó tạo cơ sở cho việc hoạch định chiến lược và thực thi chiến lược kinh doanh Đối tượng được xem xét đến là những nhân tố chính xảy ra ở bên trong của doanh nghiệp, trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp Những nhân tố chính đó là: nguồn nhân lực, tài chính, kế toán, marketing, hệ thống thông tin, hệ thống tổ chức …
1.7.1 Yếu tố nguồn nhân lực và tổ chức
Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp Con người cung cấp dữ liệu đầu vào để hoạch định mục tiêu, phân tích bối cảnh môi trường, lựa chọn thực hiện và kiểm tra các chiến lược của doanh nghiệp Chỉ có những con người làm việc có hiệu quả mới tạo nên hiệu quả cho doanh nghiệp, yếu tố của nguồn nhân lực bao gồm:
- Bộ máy lmnh đạo, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm lmnh đạo
- Cơ cấu tổ chức và quản lý phù hợp
Trang 34- Trình độ tay nghề, tư cách đạo đức của cán bộ công nhân viên, các chính sách cán bộ linh hoạt và hiệu quả
Công tác tổ chức có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó có tác động tích cực hoặc cản trở đối với việc thực hiện các chương trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Yếu tố tổ chức liên quan đến trình độ năng lực
và kinh nghiệm của cán bộ lmnh đạo các cấp, làm cho doanh nghiệp trở nên năng động, thích ứng với sự biến đổi của thị trường Việc xây dựng được một nền nếp tổ chức hợp lý, linh hoạt và có khả năng khuyến khích các nhân viên hoạt động với năng suất cao nhất, có sự gắn bó với doanh nghiệp, xây dựng
được văn hóa doanh nghiệp lành mạnh…
1.7.2 Yếu tố nghiên cứu phát triển (R&D)
Công tác nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp giữ vững vị trí dẫn đầu trong ngành hoặc ngược lại Yếu tố về nghiên cứu phát triển sản xuất bao gồm: Kinh nghiệm, năng lực khoa học, khả năng thu nhận, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và sản xuất để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thị trường
Bộ phận nghiên cứu phát triển phải thường xuyên theo dõi các điều kiện môi trường kinh doanh, các thông tin về đổi mới công nghệ, quản lý… giúp hệ thống được cập nhật, bổ sung những luồng thông tin mới nhất nhằm có chiến lược đổi mới kịp thời về công nghệ
1.7.3 Yếu tố Tài chính kế toán
Chức năng của bộ phận tài chính kế toán bao gồm các việc phân tích, lập kế hoạch và kiểm tra thực hiện các công tác tài chính chung của công ty, lập các báo cáo tài chính và phản ảnh tình hình tài chính chung của công ty một cách kịp thời Bộ phận tài chính kế toán có liên quan tác động trực tiếp tới tất cả các lĩnh vực hoạt động khác, có trách nhiệm chính liên quan đến nguồn lực về tài chính, khả năng huy động vốn ngắn hạn, dài hạn cho các chương
Trang 35trình đầu tư phát triển của công ty, kiểm soát chế độ chi tiêu tài chính, chi phí vốn, khả năng kiểm soát giá thành, lập kế hoạch giá thành, chi phí tài chính và lợi nhuận
1.7.4 Yếu tố Sản xuất, kỹ thuật
Hoạt động sản xuất gắn liền với việc tạo ra sản phẩm, nó ảnh hưởng đến
sự thành công của doanh nghiệp, nó bao gồm các vấn đề liên quan đến kỹ thuật sản xuất, công nghệ sản xuất, năng suất, khả năng kiểm soát chi phí sản xuất, hàng tồn kho, cung ứng nguyên vật liệu… Các yếu tố sản xuất, kỹ thuật cho thấy khả năng đáp ứng được nhu cầu về chất lượng và số lượng theo yêu cầu của thị trường, việc kiểm soát được chi phí sản xuất rất quan trọng, nó liên quan đến chính sách giá cả của hàng hóa sản phẩm
1.7.5 Các yếu tố Marketing, tiêu thụ sản phẩm
Bộ phận marketing của doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
tổ chức tiêu thụ hàng hóa, nó nghiên cứu những nhu cầu của thị trường để đề
ra những chính sách về sản phẩm, giá cả, kênh phân phối, cải tiến sản phẩm mới đưa ra thị trường, cung cấp hàng theo quy mô lớn, thu thập thông tin thị trường nhằm đưa ra chính sách phù hợp cho doanh nghiệp…
Nghiên cứu chính sách tiêu thụ và chiến lược marketing người ta thường chú ý tới những khía cạnh sau:
- Đa dạng hóa sản phẩm, cơ cấu sản phẩm, chất lượng, chu kỳ sống của sản phẩm…
- Tổ chức hoạt động của kênh phân phối, khả năng cung ứng với quy mô lớn
- Chính sách giá cả, giao tiếp khuyếch trương, xúc tiên bán hàng, nhmn mác sản phẩm
- Dịch vụ sau bán hàng, chăm sóc khách hàng…
Trang 361.8 Phân tích môi trường quốc tế của doanh nghiệp [6],[7],[8],[9]
Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, nhất là đối với những ngành liên quan đến xuất nhập khẩu Sự thay đổi của môi trường quốc tế thường phức tạp hơn, tính cạnh tranh cao hơn, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nhận biết, phân tích được để từ
đó tạo ra những cơ hội cho mình hoặc giảm thiểu những rủi ro do việc toàn cầu hóa, khu vực hóa mang lại
Việc Việt Nam gia nhập ASIAN, APEC và WTO tạo ra nhiều cơ hội cho các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, nhưng bên cạnh đó là những thách thức
đối với các doanh nghiệp Việt Nam có thể mở rộng thị trường xuất khẩu ra nhiều nước, nhưng những thách thhức trong cạnh tranh sẽ lớn hơn rất nhiều
Tự do hóa thương mại cũng là một đe dọa với các nhà sản xuất kinh doanh của Việt Nam
Các doanh nghiệp không giao dịch trực tiếp với nước ngoài vẫn cần phải tính khả năng ảnh hưởng của môi trường quốc tế vì nó ảnh hưởng gián tiếp
đến doanh nghiệp thông qua môi trường vĩ mô và vi mô
- ảnh hưởng tới môi trường kinh tế: mỗi sự biến động của nền kinh tế thế
giới đều có ảnh hưởng nhất định tới nền kinh tế của các quốc gia ở những mức
độ khác nhau Sự phát triển kinh tế của quốc gia này ảnh hưởng tới sự phát triển của quốc gia khác và có liên quan đến nền kinh tế thế giới
- ảnh hưởng tới môi trường chính trị pháp luật: Trên cơ sở mối quan hệ
ngoại giao giữa các chính phủ sẽ hình thành quan hệ giao lưu buôn bán trên thị trường quốc tế Bất kỳ sự thay đổi nào trong mối quan hệ ngoại giao đều có thể dẫn tới sự điều chỉnh trong chính sách kinh tế đối ngoại và sự điều chỉnh
đó có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới doanh nghiệp
Trang 37- ảnh hưởng tới môi trường công nghệ: Tiến bộ khoa học công nghệ thế
giới tạo ra công cụ lao động mới hay sản phẩm mới đều tác động tới môi trường công nghệ trong nước
- Các yếu tố xH hội, tự nhiên ở nước ngoài đều có thể ảnh hưởng tới
doanh nghiệp cho dù doanh nghiệp không trực tiếp hoạt động trên thị trường quốc tế, chẳng hạn khi khai thác dầu mỏ khó khăn, giá dầu trên thế giới tăng lên làm cho chi phí kinh doanh trong nước tăng theo Khách hàng nước ngoài luôn là bộ phận khách hàng tiềm ẩn đầy tiềm năng mà khi có cơ hội tăng trưởng thì doanh nghiệp phải tính đến Doanh nghiệp cũng cần phải coi nhà cung ứng nước ngoài là bạn hàng tiềm ẩn, nhất là khi có lợi về giá Bất kỳ doanh nghiệp nước ngoài nào đều có thể tung ra các sản phẩm thay thế; do vậy cần theo dõi bước phát triển sản phẩm và khả năng chiến lược của các công ty nước ngoài hoạt động cùng lĩnh vực
1.9 Ma trận cơ hội và nguy cơ [3],[5]
Phương pháp xây dựng ma trận giúp cho nhà quản trị nhận biết được những cơ hội tốt nhất và những nguy cơ xấu nhất, đồng thời cân đối được giữa các yếu tố mạnh, yếu, cơ hội và nguy cơ sao cho có lợi nhất Phương pháp này dựa trên nguyên tắc nguồn lực có hạn của mỗi doanh nghiệp, do vậy phải phân
định các yếu tố theo thứ tự ưu tiên Các mô hình này dựa trên giá trị kỳ vọng,
được tính bằng giá trị của kết quả kỳ vọng nhân với xác suất có thể xảy ra
- Ma trận cơ hội
Đánh giá tác động của cơ hội tùy theo mức độ quan trọng của cơ hội và xác suất mà doanh nghiệp có thể tận dụng được cơ hội đó Nếu cơ hội ở khu vực góc trên bên trái thì được ưu tiên cao, nếu ở góc dưới bên phải thì miền ưu tiên là thấp, còn ở 3 ô chéo bảng thì mức ưu tiên là trung bình
Trang 38Hình1.3 Ma trận của cơ hội
Ma trận nguy cơ: Ma trận đánh giá tác động của các nguy cơ và xác suất mà doanh nghiệp gặp phải những nguy cơ đó là cao hay thấp, Mức độ nguy cơ ảnh hưởng đối với doanh nghiệp từ hiểm nghèo tới nhẹ
Hình 1.4 Ma trận của nguy cơ
1.10 Phân biệt các loại hình chiến lược kinh doanh
Có thể phân chia các loại chiến lược kinh doanh thành hai loại: chiến lược tổng quát và chiến lược bộ phận Chiến lược tổng quát là các chiến lược
Hiểm nghèo Nguy kịch Nghiêm t Nhẹ Sự tác động của nguy cơ
Cao
Tr.bình Thấp
Cao
Tr.bình
Thấp
Ưu tiên trung bình
Tác động của cơ hội
Cao Tr.bình Thấp
Trang 39thực hiện ở cấp doanh nghiệp, nhằm xây dựng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên cơ sở thỏa mmn các yêu cầu của nhà lmnh đạo cao cấp nhất của doanh nghiệp Chiến lược bộ phận là chiến lược được thực hiện ở cấp các phòng ban chức năng của doanh nghiệp nhằm thực hiện được mục tiêu của chiến lược tổng quát
1.10.1 Các chiến lược kinh doanh tổng quát [1],[2],[3],[4],[6],[8],[10]
1.10.1.1 Chiến lược tăng trưởng tập trung
a, Chiến lược xâm nhập thị trường
Là tìm cách tăng trưởng trong thị trường hiện tại với các sản phẩm hiện
đang sản xuất có thể được thực hiện theo các hướng sau:
- Tăng sức mua sản phẩm: biểu thị mối liên hệ giữa những tần suất mua
và khối lượng hàng mua mỗi lượt Vì vậy để tăng sức mua hàng có thể thuyết phục khách hàng sử dụng sản phẩm một cách thường xuyên hơn hoặc sử dụng mỗi lần với số lượng nhiều hơn
- Lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh: bằng chiến lược Marketing
với các chính sách về sản phẩm, giá, nơi tiêu thụ và khuyến mmi, dịch vụ sau bán hàng…
- Mua lại, sát nhập đối thủ cạnh tranh: Nếu các cơ hội tăng thị phần
khác không hấp dẫn thì hmng có thể xem xét mua đứt hoặc tìm cách sát nhập với một trong các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của mình
- Tăng quy mô của tổng thể thị trường bằng cách làm cho những người từ
trước đến nay không tiêu dùng sản phẩm mà hmng đang kinh doanh (thị trường không tiêu dùng tương đối) bắt đầu tìm đến những sản phẩm đó bằng các biện pháp marketing, biện pháp kích cầu…
b, Chiến lược phát triển thị trường
Trang 40Việc tìm kiếm các thị trường mới để tiêu thụ các sản phẩm mà hmng đang sản xuất là rất quan trọng nhằm mở rộng khả năng tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm:
- Tìm thị trường trên các thị trường mới, bao gồm việc tìm nhà phân phối mới, mở rộng lực lượng bán hàng hoặc mở thêm mạng lưới tiêu thụ mới; hoặc hội nhập ngang với một hmng đang cần thị trường đích khác
- Tìm các thị trường mục tiêu mới: tìm kiếm các nhóm đối tượng khách hàng mục tiêu hoàn toàn mới trong thị trường hiện tại Ngoài ra, thực hiện phát triển các kênh tiêu thụ mới hoặc sử dụng phương tiện quảng cáo mới
- Tìm ra các giá trị sử dụng mới của sản phẩm: sản phẩm có nhiều công dụng mà hmng có thể khai thác Mỗi công dụng mới của sản phẩm có thể tạo
ra một thị trường hoàn toàn mới, trong trường hợp này chiến lược thị trường tạo ra chu kỳ sống mới của sản phẩm
c, Chiến lược phát triển sản phẩm
Chiến lược phát triển sản phẩm bao gồm phát triển các loại sản phẩm mới
để tiêu thụ trên thị trường hiện tại hoặc bán cho khách hàng hiện tại Chiến lược này có thể nhằm vào các sản phẩm riêng biệt hoặc toàn bộ mặt hàng của doanh nghiệp
- Phát triển sản phẩm riêng biệt:
+ Cải tiến tính năng của sản phẩm bằng cách hoán cải bổ sung thêm hoặc bố trí lại các tính năng, nội dung của sản phẩm cũ
+ Cải tiến về chất lượng làm tăng độ tin cậy, tốc độ, độ bền, khẩu vị hoặc các tính năng khác của sản phẩm
+ Cải tiến kiểu dáng, mẫu mm, kích cỡ: cải tiến hình thức thẩm mỹ bằng cách thay đổi màu sắc, thiết kế bao bì, kết cấu sản phẩm