1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự biến động tài nguyên đất do quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá khu vực thị xã từ sơn tỉnh bắc ninh phục vụ phát triển bền vững

101 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sự biến động tài nguyên đất do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa khu vực thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh phục vụ phát triển bền vững
Tác giả Lê Hùng Sơn
Người hướng dẫn TS. Vương Trọng Kha
Trường học Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Chuyên ngành Kỹ thuật trắc địa
Thể loại Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 5,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng sử dụng đất vào mục đích quy hoạch mở rộng đô thị; xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất đã và đang là nguyên nhân gây ra sự chiếm dụng và suy thoái tài nguyên đất đai, có th

Trang 1

Mẫu Bỏo cỏo (bỡa mềm)

Lấ HÙNG SƠN

do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa

khu vực THị Xã từ sơn tỉnh bắc ninh

phục vụ phát triển bền vững

LUậN VĂN THạC Sĩ Kỹ THUậT

Hà nội - 2010

Trang 2

Mẫu Bỏo cỏo (bỡa mềm)

Lấ HÙNG SƠN

do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa

khu vực thị xã từ sơn tỉnh bắc ninh

phục vụ phát triển bền vững

Chuyờn ngành: Kỹ thuật trắc địa

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan

…… đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi

… K ết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

và ch ưa từng được ai công bố

trong b ất kỳ luận văn nào khác

Tác giả luận văn

Lê Hùng Sơn

Trang 4

Lời cảm ơn

Hà N ội, ngày 15 tháng 12 năm 2010

Lê Hùng Sơn

Trang 5

STT TÊN BẢNG BIỂU TRANG

1 Bảng 1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc từ năm

8 Bảng 3.2 Diện tích các loại đất xác định trên bản đồ hiện trạng 80

9 Bảng 3.3 Ma trận biến động mục đích sử dụng đất năm 2003

10 Bảng 3.4 Ma trận biến động mục đích sử dụng đất năm 2008

Trang 6

STT TÊN HÌNH VẼ TRANG

1 Hình 1.1 Sơ đồ xu hướng chuyển dịch dân cư trong quá trình đô thị hoá 12

3 Hình 1.3 Thực trạng sử dụng đất (Nguồn: “Land use classification ”) 23

4 Hình 1.4 Quy hoạch sử dụng đất (Nguồn: “Đất Việt Nam”) 24

5 Hình 1.5 Phát triển bền vững: Mối tổng hòa của phát triển kinh tế,

6 Hình 2.1 Sự tương tác giữa hiện trạng sử dụng đất, lớp phủ bề mặt và

21 Hình 2.16 Ứng dụng thuật toán logic trong tìm kiếm không gian 59

22 Hình 3.1 Ảnh vệ tinh SPOT khu vực thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Trang 7

24 Hình 3.3 Kết quả nắn chỉnh hình học trên hai ảnh 67

25 Hình 3.4 Khu vực ranh giới được xác định theo đường địa giới màu xanh 68

27 Hình 3.6 Quy trình thành lập bản đồ hiện trạng từ ảnh phân loại 73

28 Hình 3.7 Phương pháp hiện chỉnh trực tiếp ngoài thực địa 73

29 Hình 3.8 Mối quan hệ giữa độ phân giải không gian và chi tiết phân loại 74

30 Hình 3.9 Sơ đồ tuyến khảo sát thực địa và vi trí các điểm quan trắc 76

31 Hình 3.10 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2003 thị xã Từ Sơn

34 Hình 3.13 Biểu đồ thể hiện các loại đất khu vực thị xã Từ Sơn 81

36 Hình 3.15 Bản đồ biến động sử dụng đất giai đoạn 2003-2008

37 Hình 3.16 Bản đồ biến động sử dụng đất giai đoạn 2008-2010

38 Hình 3.17 Biểu đồ thể hiện các loại đất thị xã Từ Sơn 86

39 Hình 3.18 Biểu đồ xu thế biến động các lọai đất thị xã Từ Sơn

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang chứng kiến một quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa với tốc độ cao chưa từng có Toàn quốc hiện có trên 700 trung tâm đô thị lớn nhỏ, trong đó có 93 thành phố cấp tỉnh, thành Một trong những điểm nóng của sự phát triển đô thị hóa là khu vực ven đô thị, nơi đang chịu những áp lực nặng nề giữa hai xu hướng phát triển và bảo tồn, giữa lợi ích phát triển kinh tế

và nhu cầu bảo vệ môi trường, bảo vệ các giá trị văn hóa và bảo đảm phát triển bền vững cho cả thành phố Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa xẩy ra mạnh mẽ, ồ ạt, thiếu kiểm soát, chạy theo các lợi ích trước mắt đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến các thành phần tài nguyên-môi trường mà đối tượng bị ảnh hưởng rõ nét nhất, nhạy cảm nhất là tài nguyên đất đai Tình trạng sử dụng đất vào mục đích quy hoạch mở rộng đô thị; xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất đã và đang là nguyên nhân gây ra sự chiếm dụng và suy thoái tài nguyên đất đai, có thể dẫn đến nguy cơ và ảnh hưởng đến "an ninh lương thực", nhiều thành phần môi trường bị biến động, suy thoái và ô nhiễm nhất là ở các đô thị lớn Trước thực tế đó, cần phải có những chiến lược phát triển bền vững, phải bảo đảm mục tiêu phát triển đô thị, phát triển công nghiệp với sự bảo vệ tài nguyên đất đai, bảo vệ các thành phần tài nguyên và môi trường Các dữ liệu và thông tin về thực trạng sự biến động tài nguyên đất đai do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở các thành phố lớn sẽ làm thức tỉnh những người có quyền ra quyết định về sự phát triển công nghiệp và

đô thị; sẽ là những tư liệu quan trọng phục vụ quá trình xây dựng và điều chỉnh quy hoạch tổng thể về quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa hướng tới sự phát triển bền vững trong khu vực

Việc lựa chọn đề tài luận văn: “Nghiên cứu sự biến động tài nguyên đất do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa khu vực thị xã Từ Sơn

Trang 9

tỉnh Bắc Ninh phục vụ phát triển bền vững” là một định hướng đúng đắn

phù hợp với yêu cầu thực tế hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Quan trắc xác định sự biến động tài nguyên đất do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh theo không gian và thời gian Dự báo về tương lai để có định hướng phát triển quỹ đất một cách tiết kiệm và bền vững

- Minh chứng và khẳng định tính ưu việt của việc tích hợp tư liệu viễn thám và GIS trong nghiên cứu biến động tài nguyên đất

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên đất thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh qua các năm 2003, 2008 và 2010

Đánh giá sự biến động tài nguyên đất của thị xã do quá trình đô thị hóa

và công nghiệp hóa giai đoạn 2003 - 2008, 2008 - 2010

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của luận văn được giới hạn trong phạm vi như sau:

- Về không gian: Khu vực thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

- Về thời gian: Đối tượng được nghiên cứu trong giai đoạn 2003-2010

- Về đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn

là đánh giá biến động tài nguyên đất do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa phục vụ quản lý và phát triển bền vững

- Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng công nghệ viễn thám kết hợp với khả năng phân tích dữ liệu không gian của hệ thống thông tin địa

lý đồng thời tiến hành kiểm chứng ngoài thực địa

5 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu của đề tài, luận văn phải giải quyết các nội dung chính như sau:

Trang 10

- Tổng quan về tài nguyên đất và nguyên nhân gây biến động tài nguyên đất

- Khả năng ứng dụng của các tư liệu trắc địa - bản đồ trong nghiên cứu biến động tài nguyên đất

- Xử lý các tài liệu đa thời gian

- Xử lý tư liệu viễn thám

- Thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất của thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh từ ảnh vệ tinh qua các năm 2003, 2008

- Sử dụng phương pháp phân tích không gian nghiên cứu sự biến động tài nguyên đất khu vực thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

- Đánh giá chung về sự biến động tài nguyên đất khu vực thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

- Đánh giá sự biến động tài nguyên đất phục vụ quy hoạch phát triển bền vững

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp, xử lý các thông tin và tài liệu liên quan

Phương pháp phân tích: Sử dụng các phương tiện và các công cụ tiện ích, phân tích các tư liệu, đánh giá khách quan các yếu tố để đưa ra kết luận chính xác làm cơ sở giải quyết các vấn đề đặt ra

Phương pháp so sánh: Tổng hợp các kết quả, so sánh, đánh giá, đưa ra các kết luận chính xác về vấn đề nêu ra

Phương pháp chuyên gia: Thu thập, tổng hợp và phân tích các ý kiến chuyên gia làm cơ sở đưa ra các kết luận khoa học

Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm để chứng minh cho các luận chứng khoa học đã đưa ra

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 11

- Về mặt khoa học: Nghiên cứu góp phần minh chứng khả năng và hiệu quả của công nghệ viễn thám và GIS trong nghiên cứu biến động tài nguyên đất

Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luân văn sẽ là tài liệu tham khảo cho công tác quy hoạch và định hướng phát triển khu vực thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tiếp theo

8 Cơ sở dữ liệu và trang thiết bị

Đề tài sử dụng các nguồn tư liệu sau đây:

- Bản đồ hành chính thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005, 2010

- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, số liệu thống kê kinh tế - xã hội, khu vực thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 2010

- Tư liệu thu thập trực tiếp từ thực địa

- Bản đồ quy hoạch thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 2010

- Ảnh vệ tinh:

+ Ảnh SPOT năm 2003 độ phân giải 10m

+ Ảnh SPOT năm 2008 độ phân giải 20m

- Một số tài liệu nghiên cứu khác có liên quan

b Trang thiết bị sử dụng:

Phần cứng: Máy tính tốc độ 2x2.0GHz; bộ nhớ RAM 2GB; Ổ cứng 160GB Phần mềm: Phần mềm viễn thám ENVI 4.7; Mapinfor 8.5, ArGIS 9.1; Microsoft Office 2003

Các thiết bị ngoại vi: Máy quét, máy in đen trắng, máy in mầu

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN ĐẤT 1.1 Khái niệm tài nguyên đất

Tài nguyên đất được xem là một vật thể sống, nó tuân theo quy luật của

sự sống: phát sinh, phát triển, thoái hoá và già cỗi Ðất có hai nghĩa: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản xuất nông, lâm nghiệp

Ðất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian

Đất đai (land) là một vùng lãnh thổ có ranh giới, vị trí cụ thể, có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên - kinh tế - xã hội Bao gồm cả điều kiện thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, địa chất, thực vật và động vật sống ở trên đó

Tài nguyên đất được đánh giá vừa theo số lượng, vừa theo chất lượng

Về số lượng đó là diện tích mặt bằng có được của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ và có thể thống kê theo nguồn gốc phát sinh học (tức là theo từng loại đất) hoặc thống kê theo mục đích sử dụng Về chất lượng thì thường đánh giá theo độ phì nhiêu của đất Ở những hệ thống đánh giá khái quát người ta dùng khái niệm loại sử dụng đất

Tài nguyên đất được phân hạng khái quát theo loại sử dụng đất chủ yếu sau:

- Đất dùng trực tiếp cho sản xuất như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi cá, đất làm bãi chăn thả, đất trồng cỏ phục vụ chăn nuôi, đất mỏ, đất làm muối, đất phục vụ cho các hồ chứa nước, ao, hồ

- Đất thổ cư, đất dùng cho kiến trúc, xây dựng như xây dựng nhà cửa, trường học, cơ quan, công xưởng, kho tàng, công viên, nơi vui chơi giải trí, từ

Trang 13

đường, giáo đường, thành luỹ, pháo đài, doanh trại quân đội, bãi thuyền, bến cảng, căn cứ quân sự, sân bay, nghĩa trang, đình, chùa,

- Đất dùng cho giao thông, thuỷ lợi như đường sá, kênh mương, hồ đập chứa nước, cảng, bờ biển, đê điều,

- Các loại đất khác như đất núi, mương lạch, sông suối,

1.2 Tài nguyên đất trên thế giới và ở Việt Nam

Tổng diện tích đất trên thế giới 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng Theo con số thống kê của FAO trong tổng diện tích 13.251 triệu ha có 11 % diện tích dùng cho sản xuất nông nghiệp, 24% diện tích là đồng cỏ và bãi chăn thả gia súc, 32% diện tích

là rừng và đất rừng; còn 33% diện tích được sử dụng cho mục đích khác Tỷ

lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%; ở các nước đang phát triển là 36% Trong đó, những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất rừng nâu chỉ chiếm 12,6%; những loại đất quá xấu như đất vùng tuyết, băng, hoang mạc, đất núi, đất đài nguyên chiếm đến 40,5%; còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng, vv

Hàng năm, trên thế giới diện tích đất canh tác bị thu hẹp, kinh tế nông nghiệp trở nên khó khăn hơn Hoang mạc hoá hiện đang đe doạ 1/3 diện tích Trái đất, ảnh hưởng đời sống ít nhất 850 triệu người Một diện tích lớn đất canh tác bị nhiễm mặn không canh tác được một phần cũng do tác động gián tiếp của sự gia tăng dân số

Theo thống kê, diện tích đất tự nhiên của Việt Nam vào khoảng 33121.2 nghìn ha, cơ cấu diện tích đất các khu vực như sau:

- Đồng bằng sông Hồng: 1486.2 nghìn ha

Trang 14

- Đồng bằng Sông Cửu Long: 4060.4 nghìn ha

Với diện tích tự nhiên như vậy, Việt Nam xếp thứ 59 trong 217 nước trên thế giới Bình quân đất tự nhiên theo đầu người trên toàn thế giới là 0,4

ha Theo mục đích sử dụng năm 2000, đất nông nghiệp 9,35 triệu ha, lâm nghiệp 11,58 triệu ha, đất chưa sử dụng 10 triệu ha (30,45%), đất chuyên dùng 1,5 triệu ha Đất tiềm năng nông nghiệp hiện còn khoảng 4 triệu ha Bình quân đất tự nhiên ở Việt Nam là 0,6 ha/người Bình quân đất nông nghiệp theo đầu người thấp và giảm rất nhanh theo thời gian, năm 1940 có 0,2

ha, năm 1995 là 0,095 ha Đây là một hạn chế rất lớn cho phát triển Đầu tư

và hiệu quả khai thác tài nguyên đất ở Việt Nam chưa cao, thể hiện ở tỷ lệ đất thuỷ lợi hoá thấp, hiệu quả dùng đất thấp, chỉ đạt 1,6vụ/năm, năng suất cây trồng thấp, riêng năng suất lúa, cà phê và ngô đã đạt mức trung bình thế giới

Suy thoái tài nguyên đất Việt Nam bao gồm nhiều vấn đề và do nhiều quá trình tự nhiên xã hội khác nhau đồng thời tác động Những quá trình thoái hoá đất nghiêm trọng ở Việt Nam là:

1- Xói mòn rửa trôi bạc màu do mất rừng, mưa lớn, canh tác không hợp

lý, chăn thả quá mức Theo Trần Văn Ý – Nguyễn Quang Mỹ (1999) >60% lãnh thổ Việt Nam chịu ảnh hưởng của xói mòn tiềm năng ở mức

>50tấn/ha/năm;

2- Chua hoá, mặn hoá, phèn hoá, hoang mạc hoá, cát bay, đá lộ đầu, mất cân bằng dinh dưỡng, Tỷ lệ bón phân N : P2O5 : K2O trung bình trên

Trang 15

thế giới là 100 : 33 : 17, còn ở Việt Nam là 100 : 29 : 7, thiếu lân và kali nghiêm trọng Việt Nam phấn đấu đến 2010 đất nông nghiệp sẽ đạt 10 triệu

ha, trong đó có 4,2 - 4,3 triệu ha lúa, 2,8 - 3 triệu ha cây lâu năm, 0,7 triệu ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đảm bảo cung ứng 48 - 55 triệu tấn lương thực (cả màu); Đất lâm nghiệp đạt 18,6 triệu ha (50% độ che phủ), trong đó có 6 triệu ha rừng phòng hộ, 3 triệu ha rừng đặc dụng, 9,7 triệu ha rừng sản xuất; Cảnh quan tự nhiên (chủ yếu là sông, suối, núi đá, ) còn 1,7 triệu ha

Đất có vai trò quan trọng trong nhiều quá trình tự nhiên như:

1- Môi trường cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, đảm bảo an ninh sinh thái và an ninh lương thực;

2- Nơi chứa đựng và phân huỷ chất thải;

3- Nơi cư trú của động vật đất;

4- Lọc và cung cấp nước,

5- Địa bàn cho các công trình xây dựng

Đất là tài nguyên vô giá, là vật mang và nuôi dưỡng toàn bộ các hệ sinh thái trên đất, trong đó có hệ sinh thái nông nghiệp hiện đang nuôi sống toàn nhân loại

Tập quán khai thác tài nguyên đất phân hoá theo cộng đồng, phụ thuộc vào điều kiện địa lý, khí hậu, đặc trưng tập đoàn cây trồng, đặc thù văn hoá, trình độ khoa học công nghệ, mục tiêu kinh tế

1.3 Biến động tài nguyên đất

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến biến động tài nguyên đất Trong phạm vi giới hạn của đề tài chỉ đi vào hai nguyên nhân chính: quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá

Trang 16

1.3.1.1 Quá trình công nghiệp hóa

Công nghiệp hoá bắt đầu được biết đến từ cuối kỷ thứ 18 khi mà cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra Hiện nay, chúng ta đang trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 Theo K Thurow, thì “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba được đánh dấu bằng sự quá độ từ các hệ thống kinh tế quốc gia sang nền kinh tế toàn cầu”

Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phận nguồn lực quốc gia ngày càng lớn được huy động để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại chế tạo ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảm một nhịp độ tăng trưởng cao của toàn bộ nền kinh tế và bảo đảm sự tiến bộ kinh tế, xã hội Với quan niệm về công nghiệp hoá phản ánh một quá trình phát triển kinh tế - xã hội có những nội dung chủ yếu sau:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng đa dạng hoá (so với nền kinh tế nông nghiệp)

- Đổi mới kỹ thuật và công nghệ theo hướng hiện đại

- Nâng cao trình độ hiểu biết và tay nghề của người lao động

- Mở rộng quá trình đô thị hoá

- Nâng cao nhịp độ tăng trưởng và tính hiệu quả của nền kinh tế gắn với tiến bộ xã hội

Ở những nước công nghiệp mức thu nhập bình quân đầu người và chỉ

số phát triển con người thường cao hơn rất nhiều so với những nước nông nghiệp Điều đó là động lực thúc đẩy của quá trình công nghiệp hoá ở các nước nông nghiệp, tức là việc phát triển công nghiệp và dịch vụ có tỷ trọng cao hơn so với các ngành khác Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần

kỳ về kinh tế của Hàn Quốc như là “Huyền thoại sông Hàn” với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người mỗi năm 5% Tốc độ tăng trưởng GDP từ

Trang 17

năm 1995 – 2005 Năm 2005, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Hàn Quốc chỉ chiếm 3.7% GDP; trong khi đó công nghiệp là 40.1% và dịch vụ là 56.3% Riêng lĩnh vực công nghiệp, tốc độ tăng trưởng là 7.3%

Trung Quốc có diện tích lớn thứ 3 thế giới và là nước đông dân nhất thế giới Sau cải cách mở cửa, kinh tế Trung Quốc bước vào giai đoạn công nghiệp hoá toàn diện và đã thu được những thành tựu lớn lao Theo niên giám thống kê Trung Quốc, tổng giá trị sản phẩm trong nước và cơ cấu ngành từ năm 1978 đến năm 1992 thì cơ cấu ngành nông nghiệp giảm 11.1%; công nghiệp tăng lên 12.3%; dịch vụ tăng 2.8% Tới năm 1997, tiềm lực kinh tế của Trung Quốc đứng vị trí thứ 7 sau Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Anh, và Italia Tốc

độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc từ 1995 – 2005 được thể hiện Hiện nay, kinh tế của Trung Quốc chỉ đứng sau Mỹ và Nhật Bản

B ảng 1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc từ năm 1995 đến năm 2005

(Triệu USD)

Tốc độ tăng GDP (%)

Ngu ồn: Niên giám thống kê Trung Quốc

Quá trình công nghiệp hoá tác động đến những vấn đề về xã hội và môi trường hầu hết các thành phố, các nước trên toàn cầu, điển hình là các đang phát triển trong đó có Việt Nam Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối Đổi mới định hướng cho việc chuyển từ chủ trương thực hiện công nghiệp hoá

Trang 18

theo kiểu cũ sang xây dựng mô hình công nghiệp hoá theo kiểu mới phù hợp với yêu cầu của thời đại

Từ năm 1991 đến 1995, tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 8.2%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ với việc hình thành các vùng trọng điểm, các khu công nghiệp tập trung và các khu chế xuất Kinh tế Việt Nam vào những năm 2001 đến 2005 tăng trưởng khá cao, tỷ lệ tăng trưởng GDP cho năm 2005 là 8.4%, nếu năm 1995 mới đạt 282.1USD thì năm 2005 GDP đầu người đã lên tới 638 USD Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch quan trọng: nhóm ngành nông, lâm nghiệp giảm từ 40.2% (1985) xuống 20.9% (2005); nhóm ngành công nghiệp

- xây dựng tăng từ 27.4% lên 41%; dịch vụ tăng từ 32.5% lên 38.1%

B ảng 1.2 Cơ cấu lao động xã hội theo ngành kinh tế từ năm 1990 đến năm 2005

Ngành nông, lâm và ngư nghiệp 73.00 71.10 68.20 56.80

Ngu ồn: Niên giám thống kê Việt Nam

1.3.1.1.1 Quá trình đô thị hoá

Một trong những nét đặc trưng nhất của thời đại này là hiện tượng đô thị hoá đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới với quy mô lớn và nhịp độ nhanh chưa từng thấy

Đô thị hóa có 2 loại:

- Loại có kế hoạch phát triển

- Loại tự phát

Cùng với công nghiệp hoá, đô thị hoá được xem như một khía cạnh quan trọng trong sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hóa là quá trình nâng cao vai trò, chức năng của thành phố trong sự phát triển xã hội và đó là một

Trang 19

hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp diễn ra trên một không gian rộng lớn Đặc trưng của quá trình đô thị hoá được biểu thị thông qua các yếu tố sau:

- Sự tăng nhanh của tỷ lệ số dân đô thị trong tổng số dân

- Sự tăng lên của số lượng các đô thị đồng thời với sự mở rộng của không gian đô thị

- Sự chuyển hoá của lao động từ giản đơn sang phức tạp

- Sự chuyển hoá về lối sống từ mật độ thấp sang mật độ cao, từ điều kiện hạ tầng kỹ thuật giản đơn sang điều kiện hạ tầng kỹ thuật phức tạp

Hiện nay, tốc độ phát triển dân số đô thị ngày càng tăng là yếu tố đặc thù của quá trình đô thị hoá

Vào năm 1900, toàn thế giới chỉ có 10% dân số sống ở đô thị Đến năm

1950, con số này là gần 30% Vào 2007, theo thống kê của Liên hợp quốc, khoảng 3.3 tỷ người sống ở thành thị trong tổng số hơn 5.4 tỷ người, số người sống ở đô thị đã nhiều hơn so với ở nông thôn Xu thế này sẽ còn gia tăng trong những năm tới, đặc biệt là tại châu Phi và châu Á, hai khu vực mà dự kiến vào năm 2025 sẽ tập trung đa số các đô thị lớn của thế giới Cũng theo số liệu của Liên hiệp quốc thì vào năm 1890, chỉ có mỗi thành phố London có số dân trên 5 triệu người, vào năm 1950 có 8 thành phố và đến năm 2000 đã có

Các vùng nông thôn xa

Đô thị lớn

Đô thị vừa

và nhỏ Nông thôn phụ cận

Ngoại thành

Trang 20

45 thành phố Số thành phố với số dân trên 10 triệu người cũng ngày một tăng Năm 1950, mới chỉ có New York, London và Thượng Hải, nhưng đến năm 2000, số thành phố có dân số trên 10 triệu người đã tăng lên 24 Ước tính vào năm 2050, toàn thế giới sẽ xuất hiện 27 “siêu thành phố”, tăng gần gấp đôi so với con số 19 hiện nay

Việt Nam những năm 90, cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên tới 649 và năm

2003 là 656 đô thị Tổng kết đến 2007, cả nước có 673 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, trên 30 thành phố trực thuộc tỉnh, 60 thị xã

và trên 500 thị trấn, 26% dân số sống ở khu vực này Tốc độ gia tăng dân số

đô thị ở Việt Nam từ năm 1990-2005

B ảng 1.3 Tốc độ gia tăng dân số đô thị ở Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2005

(nghìn người)

Dân số ở đô thị (nghìn người)

Tỷ trọng so với tổng dân số cả nước (%)

Ngu ồn: Niên giám thống kê Việt Nam

Quá trình đô thị hoá của chúng ta diễn ra đang thiên vị cho tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa theo kiểu tự phát, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ và không được quy hoạch hợp lý đã có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường gây ô nhiêm không khí, đất, nước Nhất là nguồn tài nguyên đất dành cho phát triển đô thị đang bị khai thác kém bền vững, làm giảm diện tích cây xanh, mặt nước, gây úng ngập, cạn kiệt và suy thoái

Trang 21

Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ tất yếu

sẽ dẫn đến sự mở rộng của không gian đô thị Mức độ đô thị hoá song hành cùng tốc độ phát triển kinh tế và tốc độ công nghiệp hoá Theo Đàm Trung Phường, quá trình công nghiệp hoá nước ta qua 3 giai đoạn: giai đoạn sơ khai, giai đoạn công nghiệp hoá trung bình và giai đoạn công nghiệp hoá mạnh, từ

đó đưa ra sơ đồ dự báo phát triển không gian đô thị hoá phát triển theo tốc độ công nghiệp hoá

Quá trình công nghiệp hoá, đô thị đã làm đất nông nghiệp giảm đi đáng

kể nhất là ở các thành phố, đô thị lớn, theo thống kê trên thế giới hàng năm mất khoảng 6- 8 triệu ha đất nông nghiệp

Công nghiệp hoá và đô thị hóa làm diện tích đất nông nghiệp bị giảm nhiều nhất là ở Philippines, mất đến 50% Sau một thời gian thúc đẩy mạnh

mẽ đô thị hóa và xây dựng các khu công nghiệp, diện tích đất nông nghiệp trồng lúa của nước này đã giảm xuống rất thấp, chỉ 2.3 triệu ha so với 9.9 triệu ở Thái Lan và 7.5 triệu ở Việt Nam Philippines vào những năm 1970 là nước xuất khẩu gạo nhưng sau hai thập niên đô thị hóa và công nghiệp hóa, nước này trở thành nhà nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới với con số 2 triệu tấn mỗi năm và năm 2007 con số này lên đến 2.7 triệu tấn

Diện tích đất nông nghiệp ở nước Mỹ cũng đang ngày càng ít đi Theo nghiên cứu của Tổ chức Sự thật về đất nông nghiệp ở Mỹ, cứ mỗi phút nước này mất đi 2 mẫu Anh (1.6 ha) đất trồng trọt Nơi mất nhiều nhất là các khu vườn ở ngoại thành, nơi những vườn cây cho các loại trái cây ngon nhất đất nước đã bị thay thế bằng những khu dân cư mới, đường cao tốc và trung tâm mua sắm

Sự phát triển là tất yếu, nhưng điều đáng nói là sự phát triển thiếu quy hoạch đã làm nhiều thành phố lớn ở Mỹ rơi vào tình trạng mất đất đai dành

Trang 22

cho trồng trọt Theo nghiên cứu, người Mỹ hiện nay sử dụng đất nhiều hơn bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử nước này và sử dụng rất hoang phí Các bang Arkansas, New York, Illinois, Alabama và Mississippi đứng đầu danh sách những bang có diện tích đất nông nghiệp bị đô thị hóa nhiều nhất

Trung Quốc cũng không nằm ngoài quy luật với việc đẩy nhanh tốc đô thị hoá, công nghiệp hoá khiến đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Hiện tượng này làm cho nông dân Trung Quốc chao đảo Trong 10 năm qua, đất đai của 60 triệu nông dân bị trưng dụng và 3 triệu nông dân hàng năm

sẽ bị mất đất trong vòng 5 năm tới Chỉ riêng giữa năm 1999 - 2003, có tới hơn 7.6 triệu ha đất đai trồng trọt bị chiếm dụng

Như vậy, việc đảm bảo lương thực, thực phẩm cho số dân lên tới con số

8 tỷ người trên toàn thế giới vào năm 2025 thì việc khai khẩn đất nông nghiệp

và sử dụng hợp lý quỹ đất là điều cực kì quan trọng

Nước ta những năm gần đây đang xảy ra tình trạng thu hồi đất ồ ạt để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị, các công trình giao thông, thuỷ lợi

Theo kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tình trạng đất nông nghiệp bị thu hồi giai đoạn từ 2001- 2005, tổng diện tích đất bị thu hồi cả nước đã lên tới trên 366 nghìn ha (chiếm gần 3.9% quỹ đất nông nghiệp); tức mỗi năm thu hồi hơn 73.2 nghìn ha Trong đó, hai vùng kinh tế trọng điểm bị thu hồi nhiều nhất là phía Nam và phía Bắc, tại hai vùng kinh tế này có nhiều địa phương bị thu hồi với diện tích rất lớn như: Tiền Giang (hơn 20 000 ha), Đồng Nai (19 700 ha), Bình Dương (16 600 ha), Hà Nội (7 776 ha), Vĩnh Phúc (5 573 ha),

Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long từ năm 2000 đến nay đã xây dựng khoảng 40 khu công nghiệp với tổng diện tích lên đến 10 500ha Trong

ba năm tới, còn có kế hoạch sử dụng thêm 40000ha đất nông nghiệp cho các

dự án công nghiệp

Trang 23

Theo quy hoạch sử dụng đất năm 2010, một diện tích đất lớn được chuyển thành đất chuyên dụng:

- Đất giao thông: mở rộng các trục đường giao thông lớn xuyên quốc gia (quốc lộ1A, đường Hồ Chí Minh, ), các đường liên tỉnh, liên huyện sẽ chiếm dụng khoảng 636 089ha

- Đất xây dựng: Mở rộng các khu công nghiệp, khu chế xuất, cảng sẽ chiếm dụng gần 227 280ha

- Đất thuỷ lợi: Nhu cầu xây dựng mới và nâng cấp các công trình dự kiến chiếm dụng gần 385 149ha

- Đất đô thị: quá trình đô thị hoá, phát triển mở rộng các thành phố sẽ chiếm dụng khoảng 1 035 376ha

Đồng thời với việc chuyển đổi từ đất sản xuất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá thì điều đáng báo động là tình trạng suy giảm tài nguyên đất do xói mòn, sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, chua hóa và do ô nhiễm, Trên thế giới, hiện có 2 000 triệu ha đất

đã và đang bị thoái hóa, trong đó 1260 triệu ha tập trung ở châu Á, Thái Bình Dương Việt Nam hiện có 16.7 triệu ha bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua nhiều,

9 triệu ha đất có tầng mỏng và độ phì thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn

và sa mạc hóa, 1.9 triệu ha đất bị phèn hóa, mặn hóa mạnh Suy thoái chất lượng đất dẫn tới việc hoang hoá lãng phí tài nguyên đất Chỉ tính riêng ở 68 nông trường quốc doanh, 33 vùng kinh tế mới và chuyên canh trước đây đã có trên 30 000 ha sau khi khai hoang lại bị bỏ hóa trở lại

Tình trạng ô nhiễm do phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất, dịch vụ và chất độc hóa học để lại sau chiến tranh cũng đáng báo động Hoạt động canh tác và đời sống còn bị đe dọa bởi tình trạng ngập úng, ngập lũ, lũ quét, đất trượt, sạt lở đất, thoái hóa lý, hóa học đất

Trang 24

Dân số nước ta đông và gần 80% dân cư chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp nên tài nguyên đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp có một ý nghĩa hết sức quan trọng không những đối với việc phát triển kinh tế mà còn đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội

1.4 Biến động tài nguyên đất thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

Ngày 24 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ có Nghị định số 01/QĐ-CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn, với 7 phường và 5 xã Thị xã Từ Sơn được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích của huyện Từ Sơn, với 12 đơn

vị hành chính bao gồm các phường: Đồng Kỵ, Trang Hạ, Đồng Nguyên, Đình Bảng, Tân Hồng, Châu Khê, Đông Ngàn và các xã: Tam Sơn, Tương Giang, Hương Mạc, Phù Khê, Phù Chẩn

Thị xã Từ Sơn có vị trí địa lý từ 210 4’ 17” đến 210 10’ 06” vĩ độ Bắc,

1050 54’ 39” đến 1060 00’ 15” kinh độ Đông; phía Bắc tiếp giáp với các huyện Yên Phong (Bắc Ninh), phía Đông Bắc và Đông tiếp giáp với huyện Tiên Du (Bắc Ninh), phía Nam và Tây Nam tiếp giáp với huyện Gia Lâm (Hà Nội), phía Tây giáp với huyện Đông Anh (Hà Nội) Từ Sơn là thị xã nằm giữa

Hà Nội và thành phố Bắc Ninh và cũng là một trong hai trung tâm của trấn Kinh Bắc xưa

Thị xã Từ Sơn là cửa ngõ của tỉnh Bắc Ninh, là đô thị vệ tinh của Thủ

đô Hà Nội và là một trong hai trung tâm kinh tế - văn hóa - giáo dục của tỉnh Bắc Ninh Thị xã Từ Sơn là một đô thị công nghiệp với nhiều khu công nghiệp, nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng như làm đồ gỗ mỹ nghệ ở Đồng Kỵ, Phù Khê, Hương Mạc; sắt thép ở Châu Khê, Đình Bảng; sơn mài ở Đồng Nguyên, Đình Bảng, Tân Hồng; xây dựng ở Đồng Nguyên, Tương Giang và có nhiều trường cao đẳng, đại học: Đại học thể dục thể thao TW1

Trang 25

(nay là ĐH thể dục thể thao Bắc Ninh), trường CĐ Công nghệ Bắc Hà, trường

CĐ thủy sản, trường CĐ quản lý kinh tế công nghiệp

Trang 26

B ảng 1.4 Thống kê diện tích tự nhiên và dân số thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh

STT Tên đơn vị hành chính Diện tích (ha) Dân số (người)

nguồn tài nguyên đất

Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nằm ở vị trí địa lý rất thuận lợi: Cách không xa các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là khu tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, có 2 tuyến Quốc lộ 1A, 1B và

Trang 27

tuyến đường sắt quốc tế Hà Nội - Lạng Sơn - Trung Quốc chạy qua Đó là lợi thế cho Từ Sơn trong quá trình sản xuất và phát triển Cùng với sự phát triển chung của tỉnh Bắc Ninh, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của thị xã phát triển mạnh mẽ Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 21,05%

Tốc độ công nghiệp hóa hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa trên địa bàn thị xã Từ Sơn diễn ra rất mạnh mẽ nhất là từ năm 2003 đến nay Diện tích đất nông nghiệp bị chuyển sang phi nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp (KCN), khu đô thị mới, kiến thiết cơ sở hạ tầng Việc chuyển đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đã góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thị xã Tuy nhiên nó cũng gây tác động không nhỏ đến những vấn đề xã hội và môi trường như:

- Ảnh hưởng đến đời sống người dân có đất bị thu hồi

- Ảnh hưởng đến vấn đề an toàn lương thực

- Ảnh hưởng đến môi trường sống và tính bền vững trong quá trình phát triển

Hiện trạng sử dụng đất là trạng thái lớp phủ bề mặt trái đất ở một thời điểm nào đó mà việc phân chia quỹ đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng của con người Theo Luật Đất đai năm 1993, đất đai được phân thành 6 nhóm, trong đó có nhóm đất đô thị Thế nhưng Luật Đất đai năm 2003 lại phân chia thành 3 nhóm chính và mỗi nhóm gồm nhiều loại đất chi tiết Và đồng thời có

sự khác nhau giữa hệ thống phân loại đất theo quy định của pháp luật về đất đai trước năm 2003, hệ thống được sử dụng để xây dựng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và hệ thống theo pháp luật hiện hành

Trang 28

B ảng 1.5 Phân tích sự khác nhau của các hệ thống phân loại đất

Nội dung loại đất STT Loại đất Theo hệ thống phân loại đất của pháp luật về đất

đai trước năm 2003

Theo hệ thống phân loại đất sử dụng trong quy hoạch sử dụng đất đến năm

2010

Theo hệ thống phân loại đất của pháp luật hiện hành về đất đai

1 Đất nông

nghiệp

Đất sản xuất nông nghiệp Đất sản xuất nông nghiệp; đất lâm nghiệp;

đất làm muối; đất nông nghiệp khác

Đất sản xuất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác

1.1 Đất sản xuất

nông nghiệp

Đất trồng cây hàng năm (không gồm đất nương rẫy canh tác không thường xuyên); đất trồng cây lâu năm; đất nuôi trồng thuỷ sản

Đất trồng cây hàng năm (không gồm đất nương rẫy canh tác không thường xuyên); đất trồng cây lâu năm; đất nuôi trồng thuỷ sản

Đất trồng cây hàng năm (gồm cả đất nương rẫy canh tác không thường xuyên); đất trồng cây lâu năm

1.2 Đất lâm nghiệp Đất rừng sản xuất; đất

rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất ươm cây giống

Đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng (đất ươm cây giống được chia đều ra từng loại rừng)

Đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng (không gồm đất ươm cây giống vì đất này thuộc đất nông nghiệp khác)

2 Đất phi nông

nghiệp

Không phân loại mà đất không phải nông nghiệp được phân theo đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng

Đất ở; đất chuyên dùng;

đất sông suối Đất ở; đất chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngưỡng;

đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng; đất phi nông nghiệp khác

2.1 Đất ở Đất ở tại đô thị thuộc đất

đô thị; Đất ở tại nông thôn thuộc đất khu dân

cư nông thôn

Đất ở gồm đất ở tại đô thị và đất ở tại nông thôn

Đất ở gồm đất ở tại đô thị và đất ở tại nông thôn

2.2 Đất chuyên dùng Đất trụ sở cơ quan, công

trình sự nghiệp; đất sản xuất, kinh doanh; đất công cộng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất mặt nước đang sử dụng vào mục đích chuyên dùng

Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp; đất sản xuất, kinh doanh; đất công cộng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất mặt nước đang sử dụng vào mục đích chuyên dùng;

đất phi nông nghiệp khác

Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp; đất quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh; đất công cộng

3 Đất chưa sử

dụng

Đất chưa đưa vào sử dụng, núi đá không có rừng cây, đất nương rẫy canh tác không thường xuyên, đất sông suối, đất mặt nước chưa sử dụng

Đất chưa đưa vào sử dụng, núi đá không có rừng cây, đất nương rẫy canh tác không thường xuyên, đất mặt nước chưa sử dụng

Đất chưa đưa vào sử dụng, núi đá không có rừng cây

(Ngu ồn: “ Báo cáo của chính phủ về kế hoạch sử dụng đất năm 2005 và 2010”)

Trang 29

Theo hệ thống phân loại đất của pháp luật hiện hành về đất đai và qua khảo sát cho thấy, thị xã Từ Sơn có mục đích sử dụng đất chủ yếu tại bảng sau:

B ảng 1.6 Mục đích sử dụng đất chính tại thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 2010

1.1.1.3.1 Đất bằng trồng cây hàng năm khác BHK

2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN

1.5 Sử dụng bền vững tài nguyên đất

Đất có thể tự hình thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh Hệ sinh thái đất khi phát triển có những đặc thù riêng, chịu ảnh hưởng của sự tác động qua lại giữa những yếu tố hữu sinh và vô sinh Hệ sinh thái đất hoàn toàn có khả năng tự lập lại sự cân bằng giữa các quần thể sinh vật đất, giữa vòng tuần

Trang 30

hoàn vật chất và dòng năng lượng Hệ sinh thái đất có khả năng tự điều chỉnh

để giữ được sự ổn định

Con người có tác động 2 mặt đến hệ sinh thái đất:

- Mặt tích cực góp phần tạo dựng nên sự cần bằng

- Mặt tiêu cực làm mất đi sự cân bằng

Nếu sự tác động tiêu cực của con người ảnh hưởng đến tài nguyên đất vượt quá giới hạn thì khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái đất cũng bị mất

đi Và lúc này đất mất sự cân bằng, mất khả năng tự điều chỉnh

Những hiện tượng mất diện tích đất nông nghiệp do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, xói mòn, ô nhiễm là nguyên nhân của việc sử dụng tài nguyên đất kém bền vững Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất càng lớn

Sử dụng đất là kết quả của sự tương tác giữa các tham số kinh tế xã hội, tham số về tự nhiên và sự tác động của con người được thể hiện dưới hình 1.3

Trong quá khứ, kể cả những nước phát triển và các nước đang phát triển, việc sử dụng đất thay đổi thường xuyên là kết quả của các quyết định mang tính cá nhân của mỗi người sử dụng Việc sử dụng đất không có hoạch định đã ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên đất Hiện nay, việc sử dụng nguồn tài nguyên đất đã có kế hoạch và có quy hoạch cụ thể Việc lập kế

Trang 31

hoạch phải dựa vào sự hiểu biết về môi trường tự nhiên và các loại sử dụng đất kết hợp với so sánh phân tích kinh tế - xã hội

Có hai phương pháp: Phương pháp hai bước và phương pháp song hành

Tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên đất nói riêng không phải là vô tận Sự phát triển của kinh tế, xã hội cộng với việc khai thác tài nguyên quá mức, bừa bãi đã, đang và sẽ gây thảm hoạ cho môi trường và đặc biệt là cho tài nguyên đất Vì vậy, việc sử dụng và quy hoạch sử dụng tài

Những tham khảo ban đầu

Khảo sát cơ bản Khảo sát cơ bản

Phương pháp hai bước Phương pháp song hành

Phân loại đất

đai định tính

Phân tích kinh tế - xã hội

Phân loại đất

đai định lượng

Quyết định quy hoạch

Phân loại đất đai định tính

và định lượng

Phân tích kinh tế và

xã hội Bước 1

Bước 2

Trang 32

nguyên đất tiết kiệm, hiệu quả là nhu cầu cấp bách của nước ta cũng như nhiều quốc gia trên thế giới vì chiến lược phát triển bền vững

Thuật ngữ "phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh

tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường

Khái niệm phát triển bền vững được nhiều nhà khoa học trên thế giới

và trong nước nêu ra hướng vào mục tiêu tổng hoà của sự tham gia của 3 yếu tố: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

xã h ội và bảo vệ môi trường

* Về mặt kinh tế:

- Giảm mức sử dụng, tái sử dụng tài nguyên và năng lượng

- Xoá đói, giảm nghèo

KINH TẾ MÔI TRƯỜNG

XÃ HỘI

PTBV

Trang 33

- Tăng cường sử dụng công nghệ sạch và công nghệ tái chế

- Sử dụng sản phẩm sinh hoạt không gây tác hại đến môi trường

* Về mặt xã hội:

- Ổn định tăng trưởng kinh tế

- Phát triển cuộc sống nông thôn, giảm sức ép cho đô thị

- Nâng cao dân trí

- Bảo vệ bản sắc và tính đa dạng văn hoá

- Bình đẳng giới

- Tăng cường sự tham gia của quần chúng vào các quá trình quyết định

* Về mặt môi trường - tự nhiên:

- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo

- Bảo vệ tính đa dạng sinh học

- Giảm hiệu ứng khí nhà kính

- Giảm và kiểm soát sự phát thải khí nhà kính

- Giảm thiểu sự ô nhiễm các thành tố khác của môi trường

Đối với một nước đang phát triển như nước ta, theo các chuyên gia thì phải điều hòa giữa áp lực tăng dân số, tăng trưởng về kinh tế và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng đất bền vững Quản lý hệ thống nông nghiệp nhằm đảm bảo có sản phẩm tối đa về lâu dài, đồng thời duy trì độ phì nhiêu đất, dành đất tốt cho nông nghiệp Bảo đảm phát triển tài nguyên rừng nhằm thỏa mãn nhu cầu về thương mại, chất đốt, xây dựng và dân dụng mà không làm mất nguồn nước và thoái hóa đất Sử dụng đất trên cơ sở quy hoạch bảo đảm lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của người sử dụng đất và cộng đồng Khi phân bố sử dụng đất cho các ngành kinh tế quốc dân cần sử dụng bản đồ, tài liệu đất và đánh giá phân hạng đất đai mới xây dựng, nâng cao chất lượng quy hoạch và dự báo sử dụng lâu dài

Trang 34

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách quản lý và bảo tồn tài nguyên đất Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao tiến

bộ khoa học - kỹ thuật, giao đất, giao rừng, cho dân vay vốn phát triển sản xuất, thâm canh nhằm xóa đói, giảm nghèo và bảo đảm an toàn lương thực Phát động quần chúng làm công tác bảo vệ đất Đẩy mạnh hợp tác giữa các tổ chức trong nước, khu vực và quốc tế trong việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án và kế hoạch hành động bảo vệ và sử dụng đất tiết kiệm,

có hiệu quả và bền vững

Trang 35

Chương 2

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

BIẾN ĐỘNG TÀI NGUYÊN ĐẤT 2.1 Quan điểm nghiên cứu biến động bằng tư liệu viễn thám và GIS

2.1.1 Phân loại lớp phủ bề mặt

Lập bản đồ hiện trạng lớp phủ bề mặt (land cover) là một trong những

ứng dụng quan trọng nhất và tiêu biểu nhất của viễn thám Lớp phủ bề mặt phản ánh các điều kiện và trạng thái tự nhiên trên bề mặt trái đất, ví dụ đất

rừng, trảng cỏ, xa mạc Trong khi đó sử dụng đất (land use) phản ảnh các

hoạt động của con người trong việc sử dụng đất như các vùng công nghiệp, đất thổ cư, các loại hoa màu canh tác

Nói chung lớp phủ bề mặt không phải trùng khớp hoàn toàn với sử dụng đất Một đối tượng trong chú giải hiện trạng sử dụng đất có thể bao gồm một hoặc nhiều đối tượng trong chú giải bản đồ lớp phủ

Trước tiên hệ thống phân loại lớp phủ phải được thành lập Hệ thống này được phản ảnh thông qua chú giải và mô tả chi tiết của nó và các mục đích sử dụng, độ phân giải phổ cũng như không gian của tư liệu viễn thám cũng cần thiết phải được tính đến

Trình tự xử lý có thể áp dụng trong phân loại lớp phủ bề mặt bao gồm các bước chính sau:

- Hiệu chỉnh hình học

- Thu thập các số liệu vùng mẫu

- Phân loại theo phương pháp xác suất cực đại

2.1.2 Phát hiện biến động lớp phủ bề mặt

Phát hiện các biến động của lớp phủ bề mặt là một việc làm cần thiết trong việc hiện chỉnh bản đồ lớp phủ bề mặt và trợ giúp cho việc theo dõi, quản lý tài nguyên Sự biến động thông thường được phát hiện trên cơ sở so

Trang 36

sánh tư liệu viễn thám đa thời gian hoặc giữa bản đồ cũ và bản đồ mới được hiện chỉnh theo tư liệu viễn thám

- So sánh hai bản đồ lớp phủ bề mặt được thành lập độc lập với nhau

- Nhấn mạnh các biến động trên cơ sở áp dụng dụng phương pháp tổ hợp màu hoặc phương pháp phân tích thành phần chính

- Biến động theo mùa

- Biến động hàng năm

Thông thường biến động theo mùa và biến động năm pha trộn với nhau rất phức tạp trong khuôn khổ một bức ảnh, do vậy người giải đoán cần sử dụng các tự liệu cùng thời gian, cùng mùa trong năm để có thể phát hiện được những biến động thực sự

Lớp phủ bề mặt, tài nguyên đất và quy hoạch sử dụng đất luôn tương tác

qua lại (hình 2.1) Hoạt động sử dụng đất của con người tác động tới sự bền

vững của tài nguyên đất thông qua lớp phủ bề mặt Quy hoạch sử dụng đất hợp

lý, khoa học chính là công cụ hữu hiệu để bảo vệ nguồn tài nguyên đất

Trang 37

Sử dụng phương pháp viễn thám để chiết xuất thông tin lớp phủ bề mặt khu vực nghiên cứu, kết hợp với việc đi khảo sát thực địa và các tài liệu khác xác định hiện trạng sử dụng đất Sử dụng hệ thống thông tin địa lý nhằm phân tích, đánh giá biến động tài nguyên đất

Dữ liệu viễn thám mang thông tin phong phú về hiện trạng lớp phủ bề mặt và có nhiều cách tiếp cận khác nhau để chiết xuất các thông tin về hiện trạng lớp phủ bề mặt từ viễn thám Quá trình chiết xuất thông tin từ ảnh viễn thám là một quá trình chuyển đổi thông tin ảnh thành các thông tin có ý nghĩa đối với người sử dụng Việc chiết xuất thông tin được tiếp cận theo cả hai hướng: không gian và thời gian

- Tiếp cận theo không gian cho phép chiết xuất thông tin từ ảnh ở nhiều quy mô (cấp độ): pixel (phương pháp phân loại)

- Tiếp cận theo thời gian đánh giá biến động bề mặt lớp phủ từ các ảnh viễn thám chụp qua các giai đoạn

GIS Viễn thám

Chiết xuất thông tin

Lớp phủ

Quy hoạch sử dụng đất

Hiện trạng sử dụng đất

Phân tích không gian

Trang 38

Viễn thám cung cấp thông tin nhanh, cập nhật kịp thời, có chu kỳ lặp cao và chính là dữ liệu đầu vào quan trọng của GIS Ứng dụng của công nghệ viễn thám trong giám sát tài nguyên môi trường được bắt đầu bằng việc theo dõi lớp phủ thực vật thông qua các bản đồ lớp phủ thực vật Việc ứng dụng viễn thám ngày càng phát triển và trở thành một công cụ không thể thiếu, nhưng trong nhiều trường hợp mức độ chi tiết của thông tin đòi hỏi cao hơn nhiều so với các thông tin viễn thám có thể cung cấp Do vâỵ, việc kết hợp giữa thông tin viễn thám và thông tin điều tra, khảo sát từ thực địa là rất quan trọng nhằm nâng cao độ chính xác, mức độ chi tiết và mức độ tin cậy cho các kết quả nghiên cứu

GIS với khả năng phân tích không gian, được sử dụng để mô hình hoá quá trình biến đổi sử dụng đất Ngoài ra, GIS còn được sử dụng để phân tích biến động lớp phủ bề mặt hoặc biến động sử dụng đất nhờ việc chồng xếp bản

đồ hiện trạng lớp phủ hoặc bản đồ hiện trạng sử dụng đất qua các thời gian khác nhau

2.3 Tổng quan về viễn thám và GIS trong nghiên cứu tài nguyên đất

Hệ thống thông tin địa lí là một công cụ trong công nghệ địa tin học được hình thành từ những năm 1960 và được phát triển rộng rãi trong 10 năm trở lại đây Có thể nói hệ thống thông tin địa lí được hình thành dựa trên nền tảng hệ thống địa lí (hệ thống các bản đồ có hiển thị thông tin và thuộc tính của các đối tượng) trước đó trong lịch sử

Hệ thống địa lí được sử dụng sớm nhất vào năm 1854 bởi một người Anh tên là John Snow Ông đã mô tả sự lây lan của bệnh dịch tả ở Luân Đôn bằng cách đánh dấu các điểm dịch lên bản đồ, và cách làm của ông đã mang lại hiệu quả trong việc xác định hướng lây lan của dịch bệnh và kịp thời ngăn chặn

Năm 1962, hệ thống thông tin địa lí đầu tiên hoạt động thực sự trên thế giới được ra đời tại Canada, được phát triển bởi cục phát triển nông lâm

Trang 39

nghiệp Canada Hệ thống thông tin địa lý GIS (Geographic Information

thế giới, được ứng dụng ở đa dạng lĩnh vực, ngành nghề và phần nào đã trở thành một công cụ trợ giúp quyết định trong nhiều hoạt động kinh tế xã hội, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới Sau khi vệ tinh quan sát Trái đất Landsat đầu tiên được phóng lên quỹ đạo vào năm 1972, các dữ liệu viễn thám được xem là nguồn thông tin đầu vào quan trọng của GIS nhờ những tiến bộ về kỹ thuật của nó Thông qua chức năng thu thập, quản lý, truy vấn phân tích và tích hợp các thông tin được gắn liền với một nền hình học bản đồ nhất quán, GIS thậm chí còn được coi là một công cụ trợ giúp quyết định cực

kỳ hiệu quả cho các cơ quan chính phủ, các nhà quản lý và hoạch định chính

sách, các doanh nghiệp và cả từng cá nhân

Tại Việt Nam, GIS lần đầu tiên được sử dụng vào những năm 70 của thế kỷ 20, nhưng mãi phải đến sau năm 2000, tức sau khi có được những kết quả đầu tiên về việc tổng kết chương trình GIS quốc gia ở Việt Nam, GIS mới thực sự được chú ý đến và bước đầu phát triển Hàng loạt chương trình GIS với sự tham gia của các trường đại học (Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, TPHCM, Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội, Đại học Bách Khoa TPHCM, Đại học Huế…), các viện nghiên cứu, các chuyên gia trong và ngoài nước đã được triển khai

Một trong những ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả của việc tích hợp công nghệ viễn thám và GIS đó là nghiên cứu hiện trạng bề mặt lớp phủ, hiện trạng

sử dụng đất và biến động tài nguyên đất

* Trên thế giới

Alexander Bouvet báo cáo về "Ứng dụng viễn thám để theo dõi và quản lý lúa ở Jiansu, Trung Quốc", góp phần giúp nền nông nghiệp của nước này có thể cân bằng được sức cung và cầu về sản lượng lúa trong nước

Trang 40

GS- Armando A Apan báo cáo về "Ứng dụng viễn thám để theo dõi mùa vụ cây trồng và tài nguyên rừng ở các vùng nông nghiệp" Là một chuyên gia về viễn thám trên thế giới, nghiên cứu của ông có thể phát hiện ra các bệnh hoặc sâu hại trên cây Ôliu, trên đối tượng là cây lúa hoặc các loại cây trồng khác…

Shigenobu Tachizuka và các cộng sự đã nghiên cứu sự mở rộng đô thị

ở Băng Cốc (Thái Lan), đây là đất nước có quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa rất nhanh Nghiên cứu tính toán chỉ số tổng hợp của đất, nước và thực vật để đưa ra bảng đánh giá biến động sử dụng đất tại nước này

Manishika Jain với ứng dụng viễn thám và GIS để nghiên cứu sự mở rộng đô thị khu vực Udaipur Ấn Độ Dựa trên so sánh phân loại ảnh viễn thám đa thời gian và phân tích chồng xếp dữ liệu

* Ở Việt Nam

Tác giả Pham Minh Hải và Yasushi Yamaguchi dùng các dữ liệu viễn thám bao gồm: Landsat MSS 1975 độ phân giải 80m, Landsat MSS 1984 độ phân giải 80, Landsat TM 1992 độ phân giải 30, ASTER 2001 độ phân giải 15m và Landsat ETM+ 2003 với độ phân giải 30m Với phương pháp phân loại dùng thuật toán xác suất cực đại dựa vào việc lấy mẫu: đất đô thị, nước, thực vật thưa, thực vật dày, nước đục, đường, đất ẩm, đất trống, cát và áp dụng chỉ số tổng hợp thực vật, đất, nước theo dõi biến động lớp phủ bề mặt ở

Hà Nội dưới tác động của đô thị hoá

Với mục đích nghiên cứu biến động sử dụng đất và xác định thông số nhằm đánh giá tác động của việc mở rộng đô thị đến môi trường khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận Ở trong nghiên cứu của mình, Trần Hùng đã sử dụng phương pháp phân loại xác suất cực đại

Tác giả Nguyễn Đình Dương với “Nghiên cứu sự phát triển của đô thị

Hà Nội bằng tư liệu viễn thám đa phổ và đa thời gian” Bằng phương pháp xử

Ngày đăng: 30/05/2021, 07:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Cự, Ứng dụng Hệ thông tin địa lý và Viễn thám trong quản lý môi trường và tài nguyên ở Việt Nam. Thực trạng, thuận lợi và thách thức, Trung tâm Viễn thám và Geomatics VTGEO, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ng d"ụ"ng H"ệ" thông tin "đị"a lý và Vi"ễ"n thám trong qu"ả"n lý môi tr"ườ"ng và tài nguyên "ở" Vi"ệ"t Nam. Th"ự"c tr"ạ"ng, thu"ậ"n l"ợ"i và thách th"ứ"c
2. Lê Văn Khoa(2004), Giáo trình Đất và Môi trường, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình "Đấ"t và Môi tr"ườ"ng
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
3. Võ Chí Mỹ (2005), Kỹ thuật môi trường, Giáo trình sau đại học, Trường đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: K"ỹ" thu"ậ"t môi tr"ườ"ng
Tác giả: Võ Chí Mỹ
Năm: 2005
4. Võ Chí Mỹ (2009), Geomatics Engineering for Environmental and Natural Resources research, Lecturenote for post graduate course, Hanoi University of Mining and Geology, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Geomatics Engineering for Environmental and Natural Resources research, Lecturenote for post graduate course
Tác giả: Võ Chí Mỹ
Năm: 2009
5. Phùng Hữu Phú (2010), Bàn về Đô thị hóa ở Việt Nam – từ góc nhìn nông nghiệp, nông thôn, nông dân, Tạp chí ban tuyên giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ
Tác giả: Phùng Hữu Phú
Năm: 2010
6. Nguyễn Thế Thận, Trần Công Yên (2000), Tổ chức hệ thống thông tin địa lý GIS và phần mềm Mapinfo 4.0, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ổ" ch"ứ"c h"ệ" th"ố"ng thông tin "đị"a lý GIS và ph"ầ"n m"ề"m Mapinfo 4.0
Tác giả: Nguyễn Thế Thận, Trần Công Yên
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2000
7. Trịnh Huy Thục (2003), Phát triển nhà ở đô thị theo dự án là giải pháp cơ bản và quyết định để phát triển đô thị bền vững, văn minh, Tài liệu hội nghị quản lý kiến trúc, quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị của Bộ Xây dựng diễn ra tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát tri"ể"n nhà "ở đ"ô th"ị" theo d"ự" án là gi"ả"i pháp c"ơ" b"ả"n và quy"ế"t "đị"nh "để" phát tri"ể"n "đ"ô th"ị" b"ề"n v"ữ"ng, v"ă"n minh
Tác giả: Trịnh Huy Thục
Năm: 2003
8. Nguyễn Trường Xuân (2004), Công nghệ viễn thám, Bài giảng cao học, Trường đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ngh"ệ" vi"ễ"n thám
Tác giả: Nguyễn Trường Xuân
Năm: 2004
9. Trung tâm công nghệ thông tin (1996), Tập bài giảng Một số khái niệm cơ bản về GIS, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ộ"t s"ố" khái ni"ệ"m c"ơ" b"ả"n v"ề" GIS
Tác giả: Trung tâm công nghệ thông tin
Năm: 1996
15. Lex Comber et al. (2005). "What is land cover?". Environment and Planning B: Planning and Design (32): 199–209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is land cover
Tác giả: Lex Comber et al
Năm: 2005
16. Pete Fisher et al. (2005). "Land use and Land cover: Contradiction or Complement". in Peter Fisher, David Unwin. Re-Presenting GIS. Chichester:Wiley. pp. 85–98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land use and Land cover: Contradiction or Complement
Tác giả: Pete Fisher et al
Năm: 2005
11. Niên gián thống kê (2002 – 2008), NXB thống kê 12. http://tuyengiao.vn/Home/diendan/2009/3/7053.aspx13. http://tusach.thuvienkhoahoc.com/14. http://tailieu.vn/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w