1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phương pháp thành lập tập bản đồ hành chính thăng long hà nội

103 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, tác giả của luận văn có ý định nêu sự biến động của thủ đô chủ yếu về mặt hành chính qua 1000 năm trong luận văn: “ Nghiên cứu phương pháp thành lập tập bản đồ hành chính Thăng L

Trang 1

TRƯờNG ĐạI HọC Mỏ - ĐịA CHấT

trần thị tuyết vinh

Nghiên cứu phương pháp thμnh lập

“tập bản đồ hμnh chính thăng long – hμ nội”

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

Trang 2

Bộ GIáO DụC Vμ ĐμO TạO TRƯờNG ĐạI HọC Mỏ - ĐịA CHấT

trần thị tuyết vinh

Nghiên cứu phương pháp thμnh lập

“tập bản đồ hμnh chính thăng long – hμ nội”

Chuyên ngành : Bản đồ, viễn thám và hệ thống thông tin địa lý

Trang 3

lêi cam ®oan

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu riªng cña t«i, kÕt qu¶ trong luËn v¨n lµ trung thùc vµ ch−a ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c

T¸c gi¶ luËn v¨n

KS TrÇn ThÞ TuyÕt Vinh

Trang 4

Mục Lục

Lời cam đoan……… 1

Mục Lục………. 2

Mở đầu……… 5

Chương I : Cơ sở lý luận về tập bản đồ hμnh chính… 11

1.1 Khái niệm về tập bản đồ……… 11

1.1.1 Định nghĩa về tập bản đồ……… 11

1.1.2 Đặc điểm của tập bản đồ……… 11

1.1.3 Phân loại tập bản đồ……… 14

1.1.4 Đặc điểm thành lập tập bản đồ……… 15

1.2 Bản đồ hành chính……… 17

1.2.1 Khái niệm tập bản đồ hành chính……… 17

1.2.2 Nội dung trang bản đồ hành chính ……… 17

1.2.3 Cách trình bầy nội dung thể loại bản đồ hành chính………… 18

1.2.4 Giải pháp lựa chọn nền mầu cho bản đồ hành chính………… 20

Chương II: Lịch sử vμ địa lý tự nhiên Thăng long - Hμ Nội 27 2.1 Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử……… 27

2.1.1 Thăng Long - Hà Nội thời kỳ tiền sử……… 27

2.1.2 Thăng Long - Hà Nội thời Lý……… 28

2.1.3 Thăng Long - Hà Nội thời Trần……… 29

2.1.4 Thăng Long - Hà Nội thời Hậu Lê……… 30

2.1.5 Thăng Long - Hà Nội thời Trịnh……… 31

2.1.6 Thăng Long - Hà Nội thời Tây Sơn……… 32

2.1.7 Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn……… 33

2.1.8 Thăng Long - Hà Nội thời thuộc Pháp……… 34

2.1.9 Thăng Long - Hà Nội lúc Cách mạng Tháng Tám và Kháng chiến chống Pháp……… 35

2.1.10 Thăng Long - Hà Nội thời chống Mỹ……… 36

2.1.11 Thăng Long - Hà Nội thời kỳ thống nhất đất nước……… 37

2.2 Những tên gọi của Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử………… 40

2.2.1 Những tên gọi chính thức……… 40

2.2.2 Những tên gọi không chính thức……… 42

2.3 Địa lý tự nhiên và xã hội Hà Nội ngày nay……… 43

2.3.1 Giới thiệu chung về Hà Nội……… 43

Trang 5

2.3.2 Vị trí địa lý……… 43

2.3.3 Địa hình……… 44

2.3.4 Khí hậu……… 44

2.3.5 Sông ngòi……… 45

2.3.6 Dân cư……… 45

2.3.7 Giao thông……… 45

2.3.8 Kinh tế……… 46

2.3.9 Văn hóa……… 47

2.3.10 Giáo dục……… 48

2.3.11 Khoa học – kỹ thuật……… 49

Chương III : thμnh lập: tập bản đồ hμnh chính Thăng Long – Hμ Nội 50

3.1 Tài liệu để thành lập các bản đồ 50

3.1.1 Bản đồ Thăng Long - Hà Nội thời Lý – Trần 50

3.1.2 Các bản đồ Hồng Đức 1490……… 50

3.1.3 Bản đồ Hà Nội năm 1803 52

3.1.4 Bản đồ Hà Nội năm 1831 53

3.1.5 Bản đồ khu thành Hà Nội kiểu Vô Băng năm 1873 54

3.1.6 Bản đồ Hà Nội năm 1873 của Phạm Đình Bách 54

3.1.7 Bản đồ Hà Nội năm 1886 – 1888 trong “Đồng Khánh địa dư chí lược” 58

3.1.8 Các bản đồ Hà Nội thời thuộc Pháp 58

3.1.9 Các bản đồ Hà Nội dưới thể chế mới của Việt Nam 62

3.1.10 Thay đổi về mặt hành chính của Thăng Long - Hà Nội qua 1000 năm 66

3.2 Thiết kế tập bản đồ hành chính Thăng Long-Hà Nội………… 69

3.2.1 Đặc điểm chung của tập bản đồ……… 69

3.2.2 Đặc điểm công tác thu thập, phân tích, đánh giá tài liệu để thành lập tập bản đồ……… 71

3.2.3 Các trang trong Tập bản đồ hành chính Thăng Long-Hà Nội 72

3.2.4 Phương pháp biên tập, thành lập và in các trang trong “Tập bản đồ hành chính Thăng Long – Hà Nội”……… 74

3.2.5 Công nghệ thành lập Tập bản đồ hành chính Thăng Long-Hà Nội……… 74

3.3 Biên tập và trình bầy các trang bản đồ trong Tập bản đồ hành chính Thăng Long-Hà Nội……… 76

3.3.1 Nhóm bản đồ biên tập bằng Photoshop ……… 76

Trang 6

3.3.2 Nhóm bản đồ biên tập bằng Microstation ……… 80

Trang 7

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tháng 10 năm 2010 nước Việt Nam chúng ta kỷ niệm thủ đô yêu dấu Thăng Long – Hà Nội tròn 1000 năm tuổi Đây là một chủ đề được cả nước hân hoan chờ đón Hà Nội đã phát triển qua một thời kỳ dài, trải qua nhiều triều đại, qua nhiều biến cố của lịch sử của đất nước Rất nhiều vấn đề về lịch

sử Hà Nội đang được nhiều người và nhiều cơ quan trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu các khía cạnh nhằm góp phần công sức cho kỷ niệm ngày lễ thêm phần long trọng và phong phú

Hà Nội ngày nay, xưa kia là một vùng đất cao ráo, có dòng sông Hồng

ở phía Đông và Bắc, còn về phía Tây và Nam có vô số đầm, hồ to nhỏ, sông Tô Lịch và Kim Ngưu bao quanh Do vậy, Hà Nội ngày ấy là vùng đất lợi hại Vì thế, trong thời Bắc thuộc có những lúc quan lại phong kiến Trung Hoa lấy nơi đây làm nơi chiếm đóng Năm 542 Lý Bôn đánh đuổi quân Tầu chiếm thành Long Biên (vùng đất Hà Nội ngày nay), lập nước Vạn Xuân (nhà nước

đầu tiên của của chúng ta), xưng Hoàng đế lấy hiệu là Lý Nam Đế và đóng đô

ở Đại La Như vậy nhà Tiền Lý đã có công khai phá vùng đất Hà Nội ngày nay cách đây hơn 1500 năm

Sau khi lên ngôi vua, Lý Thái Tổ khai sáng vùng đất Hà Nội thành Kinh

đô Thăng Long vào tháng 10 năm 1010 bằng việc ra chiếu dời đô

Trải qua 1000 năm, đất nước thuộc nhiều triều đại và mỗi triều đại lại lập kinh đô riêng của mình, nhưng vùng đất Hà Nội tới năm 2010 có tới 815 năm là kinh đô chính thức của nhiều triều đại Việt Nam với tên gọi khác nhau Kinh đô là nơi tập trung quyền lực và các mặt về kinh tế xã hội phát triển, cho nên Hà Nội có rất nhiều di tích lịch sử quý giá và diện mạo cũng thay đổi nhiều qua các thời đại Để chào mừng thủ đô 1000 năm tuổi, các mặt của thủ

Trang 8

đô đã và đang được tổng kết và đánh giá Về khía cạnh lãnh thổ: phân giới cai quản hành chính và tên gọi các địa phương v v… có rất nhiều thay đổi Vì vậy, tác giả của luận văn có ý định nêu sự biến động của thủ đô (chủ yếu về mặt hành chính) qua 1000 năm trong luận văn: “ Nghiên cứu phương pháp thành lập tập bản đồ hành chính Thăng Long – Hà Nội “ Qua tập bản đồ nhằm để giới thiệu với mọi người thấy được diện mạo thủ đô ngày càng thay

đổi đi lên

Một trong những phương pháp tìm hiểu nghiên cứu về Hà Nội là thông qua những tờ bản đồ đã và đang được thành lập Vì vậy, mỗi tờ bản đồ cổ về kinh thành Hà Nội đều là tư liệu vô cùng quý giá, phải được trân trọng, giữ gìn, tìm hiểu, nghiên cứu để khai thác triệt để các thông tin trên đó với mục

đích làm sáng tỏ hơn về lịch sử thủ đô ngàn năm văn hiến Những nhà nghiên cứu về Hà Nội đều đặc biệt quan tâm đến những tấm bản đồ này Ngoài ra còn

đại bộ phận nhân dân cũng rất quan tâm và tưởng nhớ đến hình dáng thủ đô yêu dấu thay đổi cùng với biến đổi gia đình mình, họ tộc, phố phường, làng xóm, phường thợ qua năm tháng Do đó, chúng tôi thấy việc thử nghiệm thành

lập tập bản đồ hành chính về Thăng Long - Hà Nội là cần thiết

Các bản đồ cổ về Hà Nội (tư liệu gốc) được vẽ ra theo các trình độ kỹ thuật, quan điểm và ngôn ngữ thể hiện cũng rất khác nhau Vì vậy, việc cố gắng biên tập và thành lập các bản đồ cổ theo chủ đề về hành chính của Hà Nội có hệ thống, cùng một ngôn ngữ bản đồ hiện đại thống nhất thành một tập nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho người nghiên cứu thấy được mặt biến

động không gian của Thăng Long – Hà Nội, là một vấn đề khó và phức tạp

Nó đòi hỏi sự nghiên cứu sâu sắc và mang tính cá biệt về phương pháp thành lập

Trang 9

2 Mục đích của đề tài:

- Nghiên cứu phương pháp thiết kế, biên tập Tập bản đồ hành chính Thăng Long- Hà Nội với đặc thù có nhiều biến động về thời gian, không gian, tư liệu, v.v…

- Thành lập Tập bản đồ hành chính Thăng Long-Hà Nội chào mừng thủ

đô 1000 năm tuổi

3 Nhiệm vụ của đề tài:

- Nghiên cứu thể loại bản đồ hành chính – chính trị về nội dung, cách trình bày, cách thành lập, v.v… Nghiên cứu cách ghép gộp chúng lại thành tập với chủ đề đã chọn

- Thu thập các tài liệu về bản đồ cổ Hà Nội có từ trước tới nay (trong khả năng có thể của cá nhân) để nghiên cứu về nội dung, cách thành lập và cách trình bầy trên bản đồ cũ

- Thông dịch yếu tố kí hiệu nội dung trên bản đồ cũ (ở các bản đồ có thể), để thể hiện lại trên bản đồ mới với mục đích thống nhất ngôn ngữ giữa các tờ bản đồ bằng ngôn ngữ bản đồ hiện đại của tập bản đồ thành lập nhằm giúp người đọc thuận lợi khi tiếp cận tập bản đồ hành chính Thăng Long - Hà Nội

- Nghiên cứu cách khai thác thông tin từ các tài liệu lịch sử để xây dựng bản đồ

- Nghiên cứu các phần mềm như: Photoshop, Microstation, Mapinfo v.v… để chỉnh sửa bản đồ cũ, nắn chỉnh hình ảnh, chuyển vẽ nội dung và thành lập bản đồ mới trong tập bản đồ hành chính Thăng Long - Hà Nội

- Nghiên cứu lịch sử và địa lý thủ đô Thăng Long- Hà Nội

- Thử nghiệm thành lập Tập bản đồ hành chính Thăng Long- Hà Nội

Trang 10

4 Phạm vi và đối t−ợng nghiên cứu:

Luận văn này giới hạn nghiên cứu về mặt hành chính trong các bản đồ

Hà Nội năm 1010, 1490, 1803, 1831, 1873, 1885, 1886-1888, 1928, 1936,

1942, 1961, 1978, 2003, 2008

5 Cách tiếp cận:

- Thu thập các bản đồ cổ Hà Nội và các t− liệu về Hà Nội trong sách

vở, ở th− viện, trên mạng Internet, ở các triển lãm và tài liệu của các cá nhân, v.v phục vụ cho việc nghiên cứu

- ứng dụng các phần mềm tin học để chỉnh lý, biên tập và thành lập các bản đồ

Trang 11

ý nghĩa thực tiễn:

- Đây là công trình khoa học chào mừng kỷ niệm Thăng Long – Hà Nội 1000 năm tuổi

- Thêm các tài liệu chứng cứ cho những người nghiên cứu về Hà Nội

- Làm phong phú thêm kiến thức khoa học cho cá nhân để phục vụ công việc giảng dậy chuyên môn bản đồ được tốt hơn

8 Kết quả của đề tài:

Chương II: Lịch sử và địa lý tự nhiên Thăng Long- Hà Nội

Chương III: Thành lập Tập bản đồ hành chính Thăng Long- Hà Nội

Trang 12

lời cảm ơn

Đề tài về tập bản đồ lịch sử là đề tài khó, liên quan đến nhiều kiến thức

và dựa vào nhiều phương pháp mới xây dựng được Tuy tác giả cũng đã được tích lũy một số kiến thức về bản đồ cổ Hà Nội trong đồ án tốt nghiệp kỹ sư với

đề tài “Xây dựng bản đồ Hà Nội năm 1873 bằng ngôn ngữ hiện đại dựa vào bản đồ của Phạm Đình Bách” nhưng cũng chưa thể nào đủ cho một đề tài lớn hơn Nhưng với sự cố gắng của cá nhân tích lũy tài liệu và kiến thức trong một thời gian dài về hướng đề tài, được sự động viên của tập thể bộ môn Bản đồ

Đại học Mỏ - Địa chất, sự giúp đỡ tận tinh của người hướng dẫn và lời khuyên của các chuyên gia, cùng với sự háo hức cùng toàn dân đón chờ và chào mừng thủ đô ngàn năm tuổi nên tôi đã hoàn thành đề tài trên Nhân đây tôi xin càm

ơn giáo viên hướng dẫn TS Vũ Bích Vân, PGS.TS Trần Trung Hồng, bộ môn Bản Đồ, trường Đại học Mỏ-Địa chất, các GS.TS phản biện và các bạn đồng nghiệp Trong luận văn có thể có thiếu sót, xin được góp ý của các đọc giả

Xin chân thành cám ơn !

Trang 13

Chương I Cơ sở lý luận về tập bản đồ hμnh chính

1.1.Khái niệm về tập bản đồ

1.1.1 Định nghĩa về tập bản đồ

Tập bản đồ là một tập hợp các bản đồ thành lập có mối liên hệ và thống nhất với nhau, bổ xung cho nhau về mặt nội dung và cách trình bầy nhằm phản ảnh một vấn đề nào đó Tập bản đồ được coi như là một tác phẩm kỹ thuật – mỹ thuật nói lên một vấn đề khoa học nào đó

1.1.2 Đặc điểm của tập bản đồ

1.1.2.1 Tập bản đồ là một tác phẩm hoàn chinh: Hoàn chỉnh về mặt tư

tưởng chính trị , về thống nhất nội dung, về trình bầy và in ấn

- Tính tư tưởng chính trị: Là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để

đánh giá chất lượng của tập bản đồ Lập trường, quan điểm và thái độ của các nước đối với những vấn đề xử lý các sự kiện lịch sử, đối với vấn đề lãnh thổ, bảo vệ môi trường, đối với quan hệ quốc tế,…đều được phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp trong các tập bản đồ mà họ xuất bản Vì vậy, khi đọc bất kỳ tập bản đồ nào cũng phải chú ý đến tính tư tưởng chính trị

- Tính hoàn chỉnh của nội dung:

Tập bản đồ có nội dung hoàn chỉnh có nghĩa là các bản đồ trong tập cần phải làm sáng tỏ tất cả các vấn đề do đề tài, mục đích sử dụng và nhiệm vụ của tập bản đồ đặt ra Tập bản đồ là một tác phẩm hoàn chỉnh Các đặc điểm

về lãnh thổ, nội dung, chức năng trong tập bản đồ đều có mối quan hệ chặt chẽ

Trang 14

Chỉ tiêu đầu tiên của tính hoàn chỉnh là mức độ đầy đủ về nội dung nếu như trong đó phản ánh được tất cả các đối tượng, hiện tượng cần thiết và ở mức độ tin cậy theo chủ đề đã đặt ra

Tính hoàn chỉnh của tập bản đồ phải được phản ánh ở mọi khía cạnh: + Cơ sở toán học

Tính thống nhất của tập bản đồ có nghĩa là các trang bản đồ trong tập

có sự tương hỗ và bổ sung lẫn nhau, có thể dễ dàng so sánh đối chiếu bản đồ này với các bản đồ khác, có như vậy mới đảm bảo cho sự phản ánh đúng đắn những mối quan hệ tương hỗ giữa các hiện tượng và những quy luật của sự phân bố chúng

Để đảm bảo tính thống nhất và phù hợp nội tại của tập bản đồ cần phải

sử dụng biện pháp sau đây:

Trang 15

+ Căn cứ vào đề tài mục đích, mục đích sử dụng và phạm vi khu vực thể hiện trên các trang bản đồ để lựa chọn được những phép chiếu thích hợp nhưng số lượng phép chiếu khác nhau không nên nhiều Căn cứ vào kích thước trang bản đồ và đặc điểm của khu vực để chọn ra hệ thống các tỉ lệ bản đồ đơn giản và dễ so sánh

+ Việc thiết kế nội dung các trang bản đồ cần phải dựa trên những nguyên tắc thống nhất, đối với hiện tượng cùng loại phải sử dụng phương pháp biểu thị giống nhau và các chỉ tiêu thống nhất: nội dung phải thống nhất thuộc vào một thời gian xác định hoặc một số thời gian nhất định để ta so sánh

+ Cần phải sử dụng những nguyên tắc tổng quát hóa thống nhất Những

sự phân loại phân cấp và sự khái quát nội dung trong các bản chú dẫn phải có

sự phù hợp

+ Cần phải sử dụng những nguyên tắc trình bày thống nhất, ví dụ: sử dụng các tông màu thống nhất, sử dụng các kí hiệu giống nhau đối với các đối tượng, hiện tượng có tính chất giống nhau

+ Để đảm bảo tính thống nhất của tập bản đồ thì cần phải có các bản cơ

sở địa lý thống nhất và phù hợp, đó là điều kiện rất quan trọng Ví dụ: những bản đồ khác nhau nhưng thể hiện cùng lãnh thổ, cùng tỉ lệ với nội dung có liên quan mật thiết với nhau thì phải có các yếu tố cơ sở địa lý, đồng thời lại chiếu cố một số tính đặc thù của các bản đồ, trong các trang bản đồ cần phải

Trang 16

- Tập bản đồ phải được trình bày đẹp và sử dụng kỹ thuật in, kỹ thuật

đóng tiên tiến nhất của đất nước Kỹ thuật trình bày và in cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tập bản đồ

1.1.2.2 Tập bản đồ có cấu trúc như một cuốn sách (ấn phẩm đặc biệt)

bao gồm nhiều trang: bìa, mục lục, các chương, mỗi chương thể hiện theo một chủ đề, trong các chương lại có các trang nhỏ, phụ lục

1.1.2.3 Chủ đề nội dung của tập bản đồ: Được thể hiện thông qua

không chỉ các trang bản đồ mà cả những bài viết, hình ảnh minh hoạ, bảng biểu thống kê Tỷ lệ tương hỗ giữa các trang bản đồ và bài viết khác nhau nhưng bản đồ vẫn chiếm ưu thế

1.1.3 Phân loại tập bản đồ

- Theo phạm vi lãnh thổ thì chia ra: tập bản đồ vũ trụ và các hành tinh, tập bản đồ thế giới, tập bản đồ châu lục, tập bản đồ khu vực, tập bản đồ quốc gia, tập bản đồ khu vực phân vùng, tập bản đồ tỉnh, huyện và xã, tập bản đồ chuyên đề kỹ thuật

- Theo nội dung các tập bản đồ chia ra: tập bản đồ địa lý chung, tập bản đồ địa lý tự nhiên, tập bản đồ kinh tế – xã hội, tập bản đồ địa lý tổng hợp (bao gồm các hiện tượng tự nhiên và kinh tế – xã hội)

- Theo mục đích sử dụng thì phân ra: tập bản đồ giáo khoa, tập bản đồ tra cứu khoa học, tập bản đồ du lịch, tập bản đồ quân sự , v v …

- Theo khuôn khổ và cách đóng gấp tập bản đồ thì chia ra: tập bản đồ

cỡ lớn (tổng diện tích lớn hơn 15 m2), cỡ trung (từ 6 – 14 m2) và cỡ nhỏ (dưới

6 m2) Đa số tập bản đồ đóng kẹp gáy, có loại tập bản đồ gồm các tờ rời bản

đồ được xếp thành tập để trong hộp

Tập bản đồ hành chính Thăng Long - Hà Nội thuộc thể loại tập bản đồ kinh tế – xã hội cỡ nhỏ và đóng thành tập

Trang 17

đoạn Trong ban biên tập có trưởng ban biên tập, biên tập viên chính Trưởng ban biên tập chịu trách nhiệm về phần nội dung, biên tập viên chính chịu trách nhiệm về phần bản đồ Trong quá trình in tập bản đồ còn có biên tập viên kỹ thuật chịu trách nhiệm về kỹ thuật in

Trang 18

+ Đối với tác phẩm lớn thường có những biên tập viên khoa học, chịu trách nhiệm về tong chương của tập bản đồ

+ Từng trang của tập bản đồ có cơ quan thực hiện, biên tập viên, tác giả, tập thể những biên vẽ bản đồ

- Xây dựng đề cương tập bản đồ:

Đây là tài liệu chủ yếu xác định nội dung, ý nghĩa, phương pháp thành lập tập bản đồ và mang tính phương pháp luận khoa học Đề cương tập bản đồ bao gồm các phần:

+ Thiết kế bố cục các trang trong tập bản đồ

+ Nguồn tài liệu để thành lập tập bản đồ

- Biên tập cơ sở toán học và nền cơ sở địa lý: Trong khâu này, từng trang được tạo dựng cơ sở toán học bằng phần mềm Nền cơ sở địa lý sẽ cần phải xác định thể hiện những nội dung gì (có thể hiện giao thông hay không,

Trang 19

những đối tượng kinh tế xã hội như bệnh viện, trường học,… có thể hiện không) với mật độ ntn để phù hợp với nội dung chính của tập bản đồ

- Biên tập từng trang của tập bản đồ: Nội dung chỉ đạo của trang bản đồ

sẽ được lựa chọn cách thể hiện trên bản đồ cho có tính thẩm mỹ và thống nhất với toàn tập

1.2.2 Nội dung trang bản đồ hành chính

Bản đồ hành chính thành lập ra để chỉ rõ lãnh địa cai quản của một cấp hành chính trong một quốc gia nào đó với các thông tin cần thiết nhất để giúp cho việc tra cứu ở thể loại bản đồ này thường có thể bố trí như sau: bản đồ chính chiếm phần lớn trang bản đồ, bản đồ phụ thứ nhất là vị trí đơn vị hành chính trên lãnh thổ quốc gia, bản đồ phụ thứ hai là vùng trung tâm quan trọng của đơn vị hành chính hay một vùng có nội dung dầy đặc được vẽ ở tỉ lệ lớn hơn Trong trang bản đồ có thể bố trí ở chỗ trống: bảng thống kê diện tích, dân

Trang 20

số, thu nhập kinh tế trung bình; các biểu đồ về cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu công nghiệp; đôi khi cũng có thể thêm các ảnh di tích nổi bật hay các hoạt động chính của địa phương Khung của bản đồ hành chính thông thường là các đường kẻ đậm và nhạt cùng với kinh vĩ độ Đôi khi người ta còn trình bầy giữa đường kẻ của khung trong và ngoài các lôgô đặc trưng của địa phương lặp đi lặp lại Trong trang bản đồ nhất thiếi bố trí một diện tích đủ để cho bản kí hiệu chung

Nội dung trên trang bản đồ hành chính nêu trên nhất thiết phải có: tên bản đồ hành chính, tên bản đồ phụ, bản kí hiệu, tỉ lệ Còn các yếu tố khác có thể có, có thể không tùy thuộc vào khả năng thu thập số liệu , diện tích trống trên trang bản đồ và khả năng trình bầy

1.2.3 Cách trình bầy nội dung thể loại bản đồ hành chính

Cũng như trên các bản đồ khác, trang bản đồ hành chính cũng có nội dung chính và phụ Các nội dung chính trên bản đồ hành chính gồm có: các loại đường biên giới, vị trí trung tâm hành chính với tên và cấp bậc, vị trí các

điểm dân cư với tên và cấp bậc, đường xá, sông ngòi, hồ ao Các yếu tố phụ tùy chọn trên bản đồ địa hình cùng tỉ lệ Để làm nổi bật lãnh thổ đơn vị hành chính, nền mỗi đơn vị được tô mỗi mầu khác nhau và dọc đường biên giới còn

được tô một giải mầu để dễ phân biệt hơn Trên một bản đồ có thể có nhiều dải mầu khác nhau cho mỗi cấp và mỗi địa phương, nhưng phải giảm dần chiều rộng và cường độ mầu sắc để tuân theo nguyên tắc thứ bậc

- Có các loại đường biên giới sau trên bản đồ hành chính: quốc gia , tỉnh, huyện, xã, thôn, ranh giới còn tranh chấp, ranh giới khu vực cấm, tường rào Thông thường đường biên giới thể hiện bằng: chấm - gạch hình chữ i ngắn hoa mằm ngang đậm, chấm - gạch, một gạch – hai chấm, các gạch liên tiếp, chấm chấm … Việc gán ký hiệu nào cho cấp hành chính nào là tùy chọn Mâu sắc đường biên giới thường là mầu đen hay nâu để dễ phân biệt

Trang 21

- ở bản đồ tỉ lệ lớn thì điểm dân cư thể hiện cả vùng diện tích với cấu trúc nhà cửa và đường phố Bản đồ có tỉ lệ trung bình thể hiện hình dáng

đường viền tổng quát cả vùng diện tích với cấu trúc các đường phố chính và các khối nhà lớn Trên bản đồ tỉ lệ nhỏ thì thể hiện điểm dân cư bởi các kí hiệu (như các khuyên tròn có đường kính và kích thước khác nhau phân theo

số dân) trong bảng kí hiệu

- Cấp bậc, kiểu và tên điểm dân cư dựa vào các quyết định hay sắc phong trong thời điểm lịch sử bản đồ được lập ra và theo bảng kí hiệu quy

định Cần phải nghiên cứu kỹ lịch sử để xác định tên địa danh của các bản đồ

cổ Tên và địa danh ở bản đồ thời hiện đại có thể tra cứu từ địa bạ quốc gia Tên mỗi cấp bậc điểm dân cư dùng một kiểu chữ và kích cỡ sao cho dễ phân biệt Tên cấp bậc điểm dân cư càng cao thì dùng kiểu chữ, mầu sắc càng nổi

và có lực nét lớn hơn Thông thường các điểm dân cư cấp thấp chiếm nhiều trọng tải của bản đồ, vì vậy người ta dùng mầu nhạt hơn để cho bản đồ đỡ nặng nề

- Các loại đường xá giao thông được thể hiện trên trang bản đồ hành chính bằng các kí hiệu khác nhau để nói lên mối liên hệ giữa các quốc gia, giữa các địa phương Các loại giao thông gồm có: đường bộ, đường thủy, dường hàng không, viễn thông … Điểm dân cư càng có nhiều và dày đặc các loại đường giao thông càng nói lên vị trí quan trọng của điểm dân cư đó

Đường xá giao thông được thể hiện bởi các kí hiệu hình tuyến khác nhau cùng với mầu sắc riêng biệt ở bản đồ tỉ lệ lớn thì các nhà ga , bến cảng , các thiết

bị kỹ thuật và các vật cản cũng được thể hịên Các đối tượng trên giảm và khái quát dần trên bản đồ tỉ lệ nhỏ Đường hàng không thường thể hiện trên bản đồ phụ tỉ lệ bé

- Thủy hệ được thể hiện tỉ mỉ trên bản đồ tỉ lệ lớn, còn với bản đồ tỉ lệ nhỏ thì giảm dần Mầu thể hiện theo mầu truyền thống: nét là mầu xanh nước

Trang 22

biển đậm, còn nền là mầu lơ nhạt Tên mỗi loại đối tượng thủy hệ dùng chữ theo đúng quy định: kiểu chữ đậm–mảnh nghiêng phải cho sông, hồ và biển, còn đại dương – chữ nghiêng trái

- Các yếu tố phụ như địa hình ít được thể hiện Nếu có thể hiện địa hình thì ghi độ cao, đường đẳng cao, kí hiệu đèo dốc

- Phép chiếu trên bản đồ hành chính thường chọn ngay phép chiếu của bản đồ địa hình khu vực đó ít biến dạng về diện tích để thuận tiện cho việc so sánh độ lớn-nhỏ Không nên chọn phép chiếu biến dạng góc quá nhiều làm cho khu vực bị méo mó

1.2.4 Giải pháp lựa chọn nền mầu cho bản đồ hành chính

Phương pháp nền chất lượng thường được dùng để trình bầy nền mầu bản đồ hành chính-chính trị Đối với bản đồ hành chính-chính trị, khi áp dụng phương pháp trên có đặc điểm là có thể dùng mầu nền lặp lại cho cho địa phương ở xa cách nhau Yêu cầu nền mầu trình bầy trên bản đồ cần đạt được những điểm sau:

- Dễ phân biệt lãnh thổ cạnh nhau;

- Nhìn tổng thể thì các mầu nền lãnh thổ phải có độ sáng như nhau;

- Mầu chọn phải trong sáng, không quá sẫm xỉn che mất các yếu tố khác trên lãnh thổ của bản đồ

Để đạt được những yêu cầu trên cần tìm hiểu những điểm sau đây:

1.2.4.1 Cách chọn mầu dễ phân biệt

Để giải quyết vấn đề trên thì dựa vào vòng tròn mầu (hình 1.1) Dẫy mầu quang phổ của ánh sáng trắng được trình bầy trên vòng tròn cho ta biết:

Trang 23

xa xăm và lạnh lẽo, ít nổi trội

- Nếu kẻ một giây cung cắt qua vòng tròn thì mức độ tương phản lớn nhất hai mầu ở hai đầu giây cung là những giây cung đi qua tâm vòng tròn Những giây cung càng ngắn thì mầu ở hai đầu càng ít tương phản về sắc thái

Cho nên muốn chọn mầu nền lãnh thổ cạnh nhau tương phản nhiều thì dùng mầu ở hai đầu giây cung càng lớn càng tốt

Mầu lam được chọn riêng để thể hiện vùng diện tích biển, ao, hồ Do

đó, mầu lam và các mầu lân cận có sắc thái gần giống mầu lam không nên dùng để tô mầu cho nền đơn vị hành chính Nếu lạm dụng dùng mầu này thì gây cho người đọc bản đồ tưởng lầm đó là khu vực biển hay hồ, ao

Như vậy, trừ mầu lam, các mầu còn lại trên vòng tròn mầu được dùng

để tô mầu cho các nền lãnh thổ hành chính của bản đồ Vấn đề chọn mầu nào

và cần bao nhiêu mầu dược xem ở các mục dưới đây

Trang 24

1.2.4.2 Lựa chọn số mầu

Một lãnh thổ tiếp cận với các lãnh thổ khác có thể từ 1 tới n, nhưng thực

ra số mầu cần dùng ít nhất dao động từ 2 đến 4 mầu như chứng minh ở hình 1.2 dưới đây:

Số mầu để trình bầy các lãnh thổ ít nhất dao động từ 2 mầu khi tiếp giáp

1 lãnh thổ, 3 mầu khi tiếp giáp với số lãnh thổ chẵn và 4 mầu khi tiếp giáp với

số lãnh thổ lẻ Như vậy, trên bản đồ hành chính ta dựa vào số lãnh thổ tiếp giáp với một lãnh thổ nào đó mà quyết định chọn số mầu để trình bầy mầu nền Đương nhiên ta có thể hoàn toàn chọn số mầu nhiều hơn số mầu tối thiểu trên để trình bầy cụ thể nền mầu của bản đồ hành chính

2

1

3 2

3

2 3

Trang 25

1.2.4.3 Lựa chọn tên mầu

Tên mầu cụ thể chọn để trình bầy các lãnh thổ xác định từ việc kẻ các

giây cung, tam giác, tứ giác nội tiếp trong vòng tròn, v v như ở hình 1.3

a - bộ 2 mầu; b - bộ 3 mầu; c - bộ 4 mầu;

Các mầu chọn để trình bầy đọc ra từ vị trí tiếp giáp của các doạn thẳng

và các đỉnh của các hình với vị trí của vòng tròn mầu Chú ý là các lãnh thổ

tiếp giáp nhiều với biển hay dòng sông lớn thì nên chọn các mầu ấm để tạo ra

độ tương phản với mầu lam Sau đó xác định tiếp các mầu bên cạnh theo

nguyên tắc trên

1.2.4.4 Lựa chọn độ sáng của các mầu nền

- Yêu cầu các nền mầu trình bầy trên các lãnh thổ bản đồ hành chính

cần phải có độ sáng cảm nhận tương đương như nha Điều kiện này phụ thuộc

vào đặc tính của mỗi mầu được chọn, diện tích lãnh thổ mầu bao phủ và ảnh

hưởng các mầu để cạnh nhau

- Độ sáng của mầu gần tương đương với độ chói Độ chói phụ thuộc

vào cường độ nguồn chiếu sáng lên bề mặt lớp mầu nền Nguồn sáng chiếu tới

mỗi lớp mầu nền bị chia ra các phần sau: phản xạ, thấu xạ, tán xạ và hấp thụ

với các phần trăm khác nhau Chỉ có các tia phản xạ hay thấu xạ tới mắt ta

da cam

vàng

lá mạ lục

lam chàm

hồn tím

da cam

vàng

lá mạ lục

lam chàm tím hồng

Trang 26

mới nhận biết mầu đó của đồi tượng Như vậy, độ sáng (S) của mầu được thể hiện bằng số phần trăm giữa tia phản xạ (Sf) với tia sáng tới (ST) như sau:

S = (Sf/ST).100% (1.1)

Đại lượng S này có thể được đo bằng máy Đensitômét \

Việc cảm thụ độ sáng phụ thuộc vào trạng thái của mắt, não bộ, yếu tố

ảnh hưởng của các mầu xung quanh và diện tích mảng mầu

Muốn thay đổi sự cảm thụ mầu (ΔS) theo cấp số cộng thì cần phải thay

đổi lượng mầu (ΔB) kích thích vào mắt theo cấp số nhân Đặc điểm đó được thể hiện bởi công thức: ΔS = k.lgΔB (1.2)

ở đây k là hằng số cụ thể cho mỗi mầu

- Mầu xung quanh của một mầu nền có thể làm cho nó sáng lên (như mầu đen xung quanh mầu xám) hoặc tối đi (như mầu đỏ xung quanh mầu lục) Cũng có thể làm cho nó ngả sang mầu khác như mầu đỏ nhạt xung quanh mầu vàng làm cho ta thấy như là mầu da cam v ,v

- Hai diện tích khác nhau nhưng được phủ bởi một mầu có độ sáng như nhau thì ta lại cảm nhận thấy vùng diện tích lớn mầu nền đậm hơn so với vùng diện tích nhỏ Hiện tượng này luôn luôn thấy rõ đối các lãnh thổ trên bản đồ hành chính được bôi phủ cùng một mầu nhưng có diện tích khác nhau Đó là

ảo giác của của mắt người Do đó, để có được cảm nhận độ sáng của mầu như nhau ở các vùng diện tích khác nhau thì ta phải giảm độ đậm của mầu ở vùng

có diện tích lớn hay tăng độ đậm của mầu ở vùng diện tích nhỏ tuỳ thuộc vào mức độ diện tích lãnh thổ lớn hay nhỏ gấp bao nhiêu lần Việc làm này đối với công nghệ chuẩn bị in và chế bản theo công nghệ cũ thì rất tốn kém và vất vả, nhưng đối với công nghệ mới thì không khó khăn lắm mà chỉ đòi hỏi sự cảm nhận tinh tế về mầu sắc của người trình bầy bản đồ

Trang 27

- ảo giác xa gần của mầu cũng làm ảnh hưởng tới việc trình bầy mầu nền của lãnh thổ trên bản đồ hành chính Nơi bôi phủ các mầu lạnh làm cho ta cảm nhận thấy lãnh thổ đó xa ra và nhạt nhẽo, còn nơi phủ mầu ấm thì lãnh thổ đó đập ngay vào mắt và cảm thấy đậm đà và gần gũi hơn

Như vậy, để trình bầy mầu nền của các lãnh thổ trên bản đồ được tốt thì cần phải giả quyết các vấn đề: ảo giác một mầu ở các vùng diện tích khác nhau, ảo giác mầu xa gần, cảm nhận độ sáng của các mầu khác nhau và đặc

điểm riêng việc trìng bầy cụ thể cho mỗi lãnh thổ trên bản đồ hành chính Mục đích giải quyết các vấn đề trên là làm sao các mầu nền các lãnh thổ phải

có độ sáng tương đương nhau và tương phản nhau để cho chúng nổi bật Muốn giải quyết vấn trên thì phải nắm vững các quy luật và các cách chọn mầu ở trên Nghệ thuật-kỹ thuật này phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng tinh tế của hoạ sĩ-kỹ sư bản đồ khi trình bầy bản đồ

1.2.4.5 Điểm cần chú ý khi trình bầy và in bản đồ theo công nghệ số

Việc trình bầy nền mầu các lãnh thổ trên bản đồ hành chính có thể tô

bằng mầu nước trên giấy hoặc theo các phần mềm trên màn hình máy vi tính Trình bầy nền mầu theo công nghệ cũ thì không có những vấn đề gì lớn, nhưng rất khó khăn trong việc phục chế đúng với mầu đã chọn

Với công nghệ mới cho phép thay đổi mầu nền rất dễ dàng, còn cho biết

rõ ràng số phần trăm từ 3 mầu cơ bản tạo ra nó và sau đó in ra phim để chế khuôn in ốpsét Tuy vậy trong công nghệ mới lại nẩy sinh vấn đề là mầu nền trên màn hình, trên tờ in từ máy in phun và trên tờ in từ máy in ốpsét có sự sai lệch khá lớn Sự khác biệt này phụ thuộc vào các yếu tố: phần mềm đồ hoạ, chất lượng và thể loại máy in phun hay laze cùng với mực và máy in ốpsét cùng với mầu in được dùng Thực chất của vấn đề là chúng ta xử dụng các thiết bị và vật tư của các hãng khác nhau với tính năng khác nhau, hoặc các thiết bị của hãng nhưng không đồng bộ

Trang 28

Để đạt được ý muốn đề ra thì cần phải xác định mối liên hệ mầu nền trên màn hình máy tính với mầu nền phù hợp trên tờ in từ máy in phun hay máy in laze cụ thể và đối với bản đồ cụ thể Việc làm cũng tương tự như vậy

đối với sự liên hệ màn hình với tờ in từ máy ốpsét

Việc xác định mối liên hệ ở trên có thể dựa theo cách thực nghiệm dò tìm Đầu tiên là trình bầy mầu nền các lãnh thổ, sau đó ghi lại các thông số phần trăm của các mầu thành phần (3 mầu cơ bản) để tạo ra mỗi mầu nền tổng hợp Tiến hành in thử nghiệm trên máy in phun ở khổ giấy A4 để khảo sát mầu nền chọn đã hợp lí hay chưa Nếu thấy mầu chọn không hợp lí so với các yêu cầu đã đề ra thì dựa vào kinh nghiệm mà điều chỉnh số phần trăm của các mầu thành phần Việc thử nghiệm này có thể phải tiến hành vài lần tuỳ theo kinh nghiệm của người trình bầy bản đồ Trình bầy mầu ở khổ giấy A4 đạt yêu cầu thì in trên khổ giấy chọn cho bản đồ và lại điều chỉnh tiếp nếu như còn có những nền mầu chưa ưng ý Nền mầu các lãnh thổ đạt yêu cầu cả khi phối hợp với các yếu tố phần tử nét để sao cho dễ đọc bản đồ

Trang 29

Chương II

Lịch sử vμ địa lý tự nhiên Thăng long - Hμ Nội

2.1 Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử

2.1.1 Thăng Long - Hà Nội thời kỳ tiền sử

Những công cụ chặt, nạo bằng đá của người nguyên thuỷ sống cuối thời

đồ đá cách ngày nay hơn một vạn năm tìm thấy ở Cổ Loa, Lào Cai, Nghệ Tĩnh…Điều đó cho ta thấy người Việt cổ đã sinh sống ở nơi đây

Đến thời băng tan, biển tiến cách đây 17 nghìn năm vùng Bắc bộ Việt Nam ngày nay chìm trong nước biển nên con người nơi đây phải lùi lên vùng chân núi Như vậy, vùng Hà Nội không có người ở gần như trong suốt thời đại

đá mới Sau đó biển lùi, Hà Nội từ vùng biển thành vùng đầm lầy, rồi thành rừng Các nhóm dân cư từ miền núi tiến về nơi đây, làm cho cuộc sống con người sôi động Do đó, các nhà khảo cổ tìm thấy nhiều di chỉ đồng – sắt nối tiếp nhau cách nay 20 thế kỷ trước công nguyên

Năm 208 trước Công Nguyên, Thục Phán kháng chiến sau thắng lợi và dựng nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa và xây toà thành ốc Hà Nội với toà thành đó bắt đầu đi vào lịch sử với tư cách một trung tâm chính trị xã hội ở vùng đồng bằng Bắc bộ

Năm 179 trước Công Nguyên, Triệu Đà (tướng nhà Hán) đánh chiếm nước Âu Lạc và thời kì Bắc thuộc này kéo dài nghìn năm Thời Hán nước ta bị chia làm 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam Vị trí Hà Nội ngày nay thuộc quận Giao Chỉ và tới giữa thế kỷ V được coi là trung tâm huyện Tống Bình, rồi ít lâu sau thành quận Quận Tống Bình gồm 3 huyện: Nghĩa Hoài và Tuy Ninh ở bờ sông Hồng (Từ Liêm, Hoài Đức ngày nay), còn Xương Quốc ở

bờ bắc (Đông Anh, Gia Lâm ngày nay)

Trang 30

Năm 544, Lý Bí rào làng ở cửa sông Tô ( phố Chợ Gạo Hà Nội ngay nay) khởi nghĩa đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, xưng đế, hiệu là Lý Nam

Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở vị trí Long Biên ngày nay Như vậy nhà tiền Lý của người Việt đã khai sáng ra kinh đô Thăng Long – Hà Nội

Cháu Lý Bí là Lý Phật Tử lại đóng đô ở Cổ Loa và để mất nước năm

603 vào tay nhà Tuỳ

Nhà Tuỳ đóng ở Long Biên, sau sang Tống Bình (Hà Nội ngày nay) Nhà Đường (618 - 907) gọi đất Việt là “An Nam” với 12 Châu và đặt

đô hộ phủ là Tống Bình Tới giữa thời Đường, Tống Bình gọi là Đại La

Năm 621 quận Tống Bình hạ cấp xuống thành huyện

Năm 622 huyện Tống Bình chia làn 2 quận Giao Châu và Hoài Đức Năm 627 hợp nhất các huyện Hoàng Giáo, Giao Châu và Hoài Đức thành huyện Tống Bình

Tới năm 938, Ngô Quyền tiêu diệt quân Nam Hán, xưng vương, định đô

ở Cổ Loa Cổ Loa sau một ngàn năm lại trở thành kinh đô của nước Việt

2.1.2 Thăng Long - Hà Nội thời Lý

Năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua, gọi là Lý Thái Tổ, đặt niên hiệu

là Thuận Thiên Đức vua nhận thấy đất Hoa Lư chật hẹp, vị trí hiểm trở chỉ thuận lợi cho việc phòng thủ, nên đã chọn thành Đại La làm kinh đô mới hội

tụ được các ưu điểm về chính trị - kinh tế - văn hoá Lý Thái Tổ quyết định rời

đô vào mùa thu năm 1010 và đặt tên là Thăng Long Chiếu dời đô đã nói rõ

lý do chọn nơi này làm kinh đô mới

Kinh thành Thăng Long bao bọc bởi ba con sông: sông Hồng ở phía

Đông, sông Tô Lịch bao quanh ở phía Bắc và Tây và sông Kim Ngưu ở phía Nam Khu Hoàng thành xây dựng ở phía nam hồ Tây với nhiều cung điện Bên ngoài Hoàng thành là khu dân cư với các phường nông nghiệp thủ công và

Trang 31

Kinh thành thương nghiệp Thăng Long có tên là phủ ứng Thiên Cho tới nay

tổ chức hành chính và quan chức hành chính đời Lý chưa được rõ

Hoàng Thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, mở 4 cửa: Tương Phù ở phía Đông, Quảng Phúc ở phía Tây, Đại Hưng ở phía Nam, Diệu Đức ở phía Bắc Tuy còn những ý kiến khác nhau, nhưng căn cứ vào sử liệu và di tích còn lại, có thể xác định cửa Tương Phù mở ra ở phía Cầu Đông và khu phố buôn bán tấp nập của phường Giang Khẩu và đền Bạch Mã Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà) Cửa Đại Hưng ở gần Cửa Nam hiện nay Cửa Diệu Đức nhìn ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng hiện nay Những cung điện chính còn thấy trong sử sách như: điện Càn Nguyên là nơi thiết triều dặt trên núi Nùng tức núi Long Đỗ, hai bên Tả Hữu là điện Tập Hiền và điện Giảng Vũ Bên trái mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân, bên phải mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, chính Bắc dựng điện Cao Minh Thềm các quan chầu vua gọi

là Long Trì có hành lang chạy xung quanh Đằng sau điện Càn Nguyên là điện Long An và điện Long Thụy làm nơi nhà vua nghỉ ngơi Bên trái xây điện Nhật Quang, bên phải xây điện Nguyệt Minh, đằng sau là cung Thúy Hoa là nơi của các phi tần

2.1.3 Thăng Long - Hà Nội thời Trần

Kế nghiệp nhà Lý, nhà Trần (1226-1400) tiếp tục củng cố hoàng thành, xây thêm cung điện Về kiến trúc vẫn như thời Lý, nhiều cung điện trong hoàng thành và cấm thành vẫn giữ nguyên Nhà Trần ngoài việc trùng tu các công trình cũ, cũng xây dựng một số công trình kiến trúc mới ở Thăng Long: lập Viện Quốc học, Giảng Võ Đường Năm 1225 đặt chức Kinh Sư Đại Doãn và sau là Trng Đô Doãn để cai quản kinh thành Năm 1230, kinh đô

được quy hoạch thành 61 phố phường, bao gồm cả phường buôn, phường thợ, phường nông nghiệp Bộ mặt đô thị ngày càng rõ nét với sự phát triển nhanh

Trang 32

chóng của các phường nghề, chợ búa Ngoài ra Thăng Long thời Trần còn hội

tụ nhiều nhà văn hoá lớn: Hà Thuyên đặt cơ sở cho sự ra đời của nền văn hoá tiếng Việt, Lê Văn Hưu nhà sử học uyên bác Các vị tướng kiêm nhà văn, nhà thơ: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải… Đến cuối thời Trần, Thăng Long đã

được sử sách ghi chép lại với tên Kẻ Chợ Nền văn minh Đại Việt tiếp tục khởi sắc với các Vua và tướng lĩnh anh minh sáng suốt, cùng với sự hợp tụ của nhiều nhà văn hoá lớn ở trong nước 3 lần quân Nguyên Mông xâm chiếm Thăng Long và 3 lần bị quân dân Đại Việt đánh đuổi khỏi kinh thành trong thời gian ngắn

2.1.4 Thăng Long - Hà Nội thời hậu Lê

Năm 1400, Hồ Quý Ly lập ra triều Hồ, xây dựng kinh đô mới ở Thanh

Hóa Thăng Long bị đổi tên thành Đông Đô và 7 năm sau lại bị huỷ hoại bởi

quân Minh Đông Đô trở thành trụ sở của chính quyền đô hộ Đông Đô lại bị

đổi tên thành Đông Quan

Cuộc kháng chiến chống giặc Minh của nghĩa quân Lam Sơn thắng lợi Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi lấy hiệu là Lê Thái Tổ và khôi phục lại quốc hiệu

là Đại Việt, đóng đô ở Đông Quan (trước là Thăng Long) Năm 1430 đổi tên

là Đông Kinh Năm 1446 đổi tên gọi là phủ Trung Đô Kinh thành được xây

dựng trên cơ sở kinh thành Thăng Long thời Lý – Trần và mở thêm về phía

Đông Được quy hoạch lại còn 36 phố phường, Đông Kinh - Thăng Long trở thành một đô thị phồn vinh, buôn bán tấp nập, đông vui Đến năm 1459, sau

sự biến trong cấm thành, Lê Thánh Tông đã cho dựng lại hoàng thành rộng thêm tám dặm nữa Theo bản đồ vẽ năm 1490 thì trong cung là tòa thành hình chữ nhật xây gạch gọi là cấm thành Bên trong cung điện, thâm nghiêm nhất

là điện Kính Thiên Bên phải là điện Chí Kính, phía sau là điện Vạn Thọ, đằng trước là điện Thị Triều Phía ngoài điện Thị Triều là cửa Đoan Môn, hai bên cửa Đoan Môn là hai cửa Đông và Tây Tràng An thông ra phía tây và đông

Trang 33

hoàng thành nơi có nhà thờ Thái miếu – thờ tổ tiên nhà vua và đông cung – nơi thái tử ở

Đời Lê Thánh Tông (1460 – 1497), cả nước chia làm 13 đạo, dưới là

đạo, phủ, huyện, châu, xã Thăng Long gọi là phủ Phụng Thiên thuộc triều

đình quản lý từ 1460 – 1778 luôn luôn có 2 huyện: Vĩnh Xương, Quảng Đức

và mỗi huyện có 18 phường Thăng Long có tất cả 36 phường Chức Phủ doãn

đứng đầu phủ: Huyện Uý – huyện: phường Trưởng - phường Lê Thánh Tông cho vẽ bản đồ đất nước và Kinh thành được đóng thành tập và gọi là Tập bản

đồ Hồng Đức

Năm 1512 lại cho mở rộng hoàng thành mấy nghìn trượng (mỗi trượng 3,6 m) bao bọc cả quán Trấn Vũ và chùa Kim Cổ, tường thành chạy từ phía

đông nam đến tây bắc, chắn ngang sông Tô

Vào thời Lê, Thăng Long vẫn là nơi tập trung buôn bán lớn nhất của cả nước, đồng thời cũng dồn tụ nhiều ngành nghề thủ công có các thợ giỏi Kinh thành xây dựng lại đàng hoàng hơn, Văn Miếu được mở rộng, Quốc Tử Giám

được dựng lại, các hoạt động văn hóa, kinh tế, giáo dục, thi cử đều được khôi phục và phát triển, nhất là dưới thời của Lê Thánh Tông (1460 – 1497)

2.1.5 Thăng Long - Hà Nội thời Trinh

Những mẫu thuẫn trong nội bộ triều Lê đã dẫn đến sự phế truất vua Lê bởi nhà Mạc (1527 – 1592) Dưới danh nghĩa “phù Lê” họ Trịnh đã chiếm

được kinh thành Triều đình bù nhìn của vua Lê đóng trong hoàng thành cũ Phủ chúa Trịnh, kẻ nắm thực quyền lúc đó được xây dựng bên ngoài, gồm nhiều cung điện nguy nga chạy dài từ bờ tây Hồ Gươm đến đê Sông Hồng với nhiều công trình kiến trúc xa hoa lộng lẫy

Quan Đề Lĩnh được đặt ra để cai quản Kinh thành Đầu thế kỷ XVII chúa Trịnh Cương chia 2 huyện thành 8 khu và mỗi khu có khu trưởng Cứ 5 nhà gọi một Tị, 2 tị là một Lư, mỗi lư có lư trưởng, 4 lư thành một Đoàn, mỗi

Trang 34

Khu Văn Miếu được mở rộng thêm thành một khu học xá lớn bao gồm các điện Đại Thành thờ tiên thánh, nhà giải vũ thờ tiên nho, nhà Thái Học trong đó có trường Quốc Tử Giám Hai phía đông và tây nhà thái học dựng nhà bia ghi danh tiến sĩ và dựng cả khu nhà 150 gian cho học sinh ở, tạo thành một nhà học quy mô chưa từng có trong các thời đại Hàng loạt các đền chùa quy mô lớn được dựng lên: chùa Trấn Quốc(di chuyển), chùa Tiên Tích, đền

Bà Kiệu

Tuy có những biến động chính trị, cho đến cuối thế kỉ thứ XVIII, Thăng Long (thời bấy giờ quen gọi là Kinh Kì hay Kẻ Chợ) vẫn là một thành thị thương cảng sầm uất nhất cả nước và là loại lớn ở châu á

2.1.6 Thăng Long - Hà Nội thời Tây Sơn

Mùa hè năm 1786, quân Tây Sơn tiến ra đàng ngoài lật đổ chế độ chúa Trịnh Ngày 21/7/1786 quân Tây Sơn đã làm chủ Thăng Long, nền thống trị của họ Trịnh tồn tại 241 năm (1545 – 1786), trong đó có 194 năm ở Thăng Long rồi bị lật nhào

Cuối năm 1788 kinh đô và nước Đại Việt lại phải đối đầu với cuộc xâm lược của đế chế Mãn Thanh Từ Phú Xuân (Huế) Nguyễn Huệ thống lĩnh đại quân tiến đánh ra Bắc, giải phóng Thăng Long Kinh đô mới được đặt ở Phú Xuân và Thăng Long lúc này trở thành Bắc Thành (thủ phủ của Bắc bộ) Tuy vậy hoàng thành và các công trình nghệ thuật vẫn được tu sửa Những chính sách khuyến nông, phát triển công thương của Quang Trung đã tác động tích cực đến nền kinh tế Thăng Long

Trang 35

2.1.7 Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn

Ngay sau khi vua Quang Trung qua đời (1792) tập đoàn phong kiến Nguyễn ánh từ miền Nam tiến đánh Phú Xuân và Thăng Long (vẫn là Bắc Thành) Năm 1802 Gia Long lên ngôi vua, đóng đô ở Phú Xuân, Thăng Long vẫn là thủ phủ của Bắc Thành (gồm 11 trấn)

Năm 1805 vua Gia Long lại đặt tên cho Hà Nội là Thăng Long, nhưng chữ Thăng Long bây giờ có nghĩa là thịnh vượng, ý rằng nhà vua không còn ở

đấy Chữ nho viết hai chữ Thăng Long này khác nhau và nghĩa cũng khác nhau Kinh thành trở thành trấn thành Nhà Nguyễn cho cho phá thành cũ, xây dựng lại thành mới nhỏ hẹp hơn hoàng thành cũ Thành mới xây phỏng theo kiểu thành Vô Băng của Pháp cuối thế kỷ XVII Thành hình vuông, mở ra 5 cửa: đông, tây, bắc, đông nam và tây nam Ngoài ra mỗi cửa có một mảng thành gọi là Dương Mã thành để giữ cửa Ngoài thành là các doanh trại quân

đội sau đó mới đến phố phường và có khu nhượng địa đồn thủy cho Pháp; lập phố Tràng Tiền để đúc tiền kẽm, tiền đồng Tuy gọi là 36 phố phường nhưng thực chất thì nhiều hơn Vòng ngoài của thành Hà Nội có ngoại thành, có 16 cửa ô

Năm 1831 vua Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội gồm 12 huyện với tỉnh phủ

lỵ là Hoài Đức (gồm thành Thăng Long cũ và 4 phủ), do đó Thăng Long đã

được gọi là Hà Nội từ đây Quốc Tử Giám cơ quan giáo dục chuyển vào Huế

và trường thi cũ cũng bị phá bỏ Minh Mạng chia cả nước ra thành 29 tỉnh trong đó có 15 tỉnh trực thuộc trung ương, tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Hoài Đức của trấn Tây Sơn và ba phủ: ứng Hoà, Thường Tín, Lý Nhân của trấn Sơn Nam

Tuy không còn là trung tâm chính trị, Hà Nội lúc đó vẫn là trung tâm kinh tế - văn hoá lớn nhất nước Bộ mặt đô thị của Hà Nội dồn về khu phía

đông và đông nam, ở đây phố phường ngang dọc như bàn cờ, nhà cửa kề nhau

Trang 36

Các công trình văn hoá cũng có những biến đổi Quốc Tử Giám dời vào Huế Trường thi hương được đặt ở chỗ nay là phố Tràng Thi Một số cửa ô được xây dựng lại, trong đó có Ô Quan Trưởng (1817) Đặc biệt một số tư nhân đứng ra quyên góp xây dựng 1 số công trình như Nguyễn Văn Siêu với quần thể đền Ngọc Sơn, Nguyễn Đăng Giai với chùa Báo Ân…

2.1.8 Hà Nội - Thăng Long thời thuộc Pháp

Đầu tháng 11-1873, Pháp tấn công và chiếm được thành Hà Nội Nhưng nhân dân không chịu bó tay, đã tự động nổi dậy kháng Pháp Nhưng do

sự nhu nhược của triều đình Huế, Pháp lại 1 lần nữa đem quân đánh thành Hà Nội Nhân dân Hà Nội, một lần nữa, phối hợp với đội quân Cờ Đen tiêu diệt

địch ở Cầu Giấy Nhưng vua Tự Đức chỉ hy vọng lấy lại Hà Nội bằng con

đường hoà hảo nên đã kí hiệp ước bán nước nhục nhã năm 1884 Đến ngày 10-1888, Đồng Khánh ký nhượng đất 2 huyện: Thọ Xương và Vĩnh Thuận thuộc quyền sở hữu của người Pháp Tổng thống Pháp đã ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội và xếp hạng thành phố cấp I Nước Pháp đặt nhiều cơ quan

1-đầu não ở Hà Nội như Phủ toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch) là nơi làm việc của toàn quyền Pháp ở Đông Dương và Pháp cũng xây dựng nhiều công trình nghệ thuật độc đáo như Nhà hát lớn Hà Nội …

Tại Hà Nội, chính quyền thực dân cùng với kế hoạch bình định và khai thác thuộc địa đã áp dụng các biện pháp can thiệp về xây dựng và quy hoạch khác nhau Pháp đã chiếm Hoàng thành Hà Nội, phá hủy toàn bộ hệ thống tường thành Trong khi đó vẫn giữ nguyên khu vực 36 phố phường – một trung tâm buôn bán sầm uất đương thời để khai thác nguồn lợi kinh tế qua hệ thống thuế Đồng thời ủng hộ việc xây dựng nhà thờ và các trường dòng, phá tháp Báo Thiên và các đình, chùa để phục vụ cho mục đích thống trị Cấu trúc đô thị Hà Nội đã dần dần hình thành những khu vực chức năng riêng biệt Khu thương nghiệp, dịch vụ trung tâm trên trục đường Tràng Tiền – Hàng Khay,

Trang 37

khu hành chính, chính trị ở phía đông hồ Hoàn Kiếm và trên khu vực Hoàng thành Hà Nội, khu ở của người Pháp ở phía Nam hồ Hoàn Kiếm và các khu vực kho tàng, nhà máy rải rác trong thành phố

Đến năm 1902 Pháp lấy năm huyện của Hà Nội và lập thành tỉnh Cầu

Đơ Đến năm 1904 thì tỉnh Cầu Đơ được đổi thành tỉnh Hà Đông Năm 1915 Pháp đánh chiếm 7 huyện xung quanh sáp nhập vào tỉnh Hà Đông, như vậy vào năm này Hà Nội trở thành một huyện lị thuộc tỉnh Hà Đông Đến năm

1942 Hà Nội có diện tích là 130km2

2.1.9 Thăng Long - Hà Nội lúc Cách mạng tháng tám và kháng chiến chống Pháp

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Hà Nội trở thành thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

- Ngày 22/11/1945: Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định

Hà Nội gồm 5 khu phố nội thành: Lãng Bạc, Đống Đa, Mê Linh, Đại La, Đề Thám và 120 xã ngoại thành

- Ngày 14/2/1946 xã Bùi Xá thuộc tổng Hạ Liễu huyện Thanh Trì tỉnh

Hà Đông được sáp nhập vào huyện Gia Lộc cùng tỉnh

- 19/3/1946 xã Phú Mỹ trước thuộc huyện Thanh Trì tỉnh Hà Đông sáp nhập vào xã Thu Dương phủ Thường Tín cùng tỉnh

- Năm 1945-1946: Chia Hà Nội thành 17 khu phố nội thành (Trúc Bạch,

Đồng Xuân, Thăng Long, Đông Thành, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Văn Miếu, Quán Sứ, Đại Học, Bảy Mẫu, Chợ Hôm, Lò Đúc, Hồng Hà, Long Biên, Đồng Nhân, Vạn Thái, Bạch Mai) và 5 khu hành chính ngoại thành (Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh)

- Tháng 11 năm 1946 Hiến pháp đầu tiên công nhận Hà Nội chính thức trở thành thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Cả nước chia làm 12

Trang 38

khu hành chính Hà Nội là khu thứ 11 đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung

ương Nội thành chia làm ba liên khu: liên khu I ở giữa về phía đông bắc thành phố; liên khu II ở phía nam; liên khu III ở phía tây

- 13/6/1949 nội thành Hà Nội được chia thành hai liên khu phố, chia ngoại thành làm 3 quận, lấy tên là Quận 4, Quận 5 và Quận 6

2.1.10 Thăng Long – Hà Nội thời chống Mỹ

- Năm 1954: Hà Nội khi tiếp quản gồm 4 quận nội thành (34 khu phố,

37 vạn dân) đánh số từ I đến VIII và 4 quận ngoại thành (45 xã, 16 vạn dân), , với diện tích 152 km²

- Ngày 13/12/1954, sáp nhập khu vực phố Gia Lâm (gồm phố Gia Lâm, khu nhà ga Gia Lâm, sân bay Gia Lâm, và 4 xã Hồng Tiến, Việt Hưng, Long Biên, Ngọc Thụy) của tỉnh Bắc Ninh vào Hà Nội

- Tháng 3/8/1958: Bỏ 4 quận nội thành, thay bằng 12 khu phố: Hoàn Kiếm, Hàng Cỏ, Hai Bà Trưng, Hàng Bông, Cửa Đông, Hàng Đào, Trúc Bạch, Văn Miếu, Ba Đình, Bạch Mai, Bảy Mẫu, Ô Chợ Dừa

- Năm 1959: chia lại thành 8 khu phố nội thành: Hoàn Kiếm, Hàng Cỏ, Hai Bà Trưng, Trúc Bạch, Ba Đình, Đồng Xuân, Đống Đa, Bạch Mai và 4 quận ngoại thành (có 43 xã)

- Năm 1960, ranh giới hành chính của Hà Nội được mở rộng với diện tích 586,13km2; bao gồm 4 khu phố nội thành (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống

Đa, Hai Bà Trưng) và 4 huyện ngoại thành (Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, Thanh Trì)

- Ngày 20/4/1961: Tại Kỳ họp khóa II, kỳ 2, Quốc hội đã quyết định

mở rộng Hà Nội (lần thứ nhất) với diện tích 586,13km2 (nội thành 37km2, ngoại thành 549km2); bao gồm 4 khu phố nội thành (Ba Đình, Hoàn Kiếm,

Trang 39

Đống Đa, Hai Bà Trưng) và 4 huyện ngoại thành (Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm) và 91 vạn dân

Hà Nội được sáp nhập 18 xã, 6 thôn và 1 thị trấn (Văn Điển) thuộc các huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Trì (tỉnh Hà Đông); cả huyện Gia Lâm (gồm 15 xã), 14 xã khác và 1 thị trấn (Yên Viên) thuộc các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh); cả huyện Đông Anh (gồm 16 xã), 1 xã thuộc huyện Yên Lãng và nửa thôn thuộc huyện Kim Anh (tỉnh Vĩnh Phúc); 1 xã thuộc huyện Văn Giang (tỉnh Hưng Yên)

- Ngày 31/5/1961: Thành lập 4 khu phố nội thành (Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa) và 4 huyện ngoại thành (Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm)

- Ngày 17/5/1961 sáp nhập một số xã và thôn của huyện Thanh Trì, tỉnh

Hà Đông vào huyện Thường Tín, Thanh Oai và thị xã của tỉnh Hà Đông 31/5/1961 Hà Nội được chia thành 4 khu và 4 huyện

2.1.11 Thăng Long Hà Nội thời kỳ thống nhất đất nước

- Năm 1975 là năm đất bước thống nhất Cuộc tổng tuyển cử bầu quốc hội khoá VI (25/4/1976), Hà Nội được chọn làm thủ đô nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

- Ngày 12/6/1978: Sắp xếp lại các tiểu khu: khu Hoàn Kiếm có 18 tiểu khu, khu Ba Đình có 15 tiểu khu, khu Đống Đa có 23 tiểu khu, khu Hai Bà Trưng có 22 tiểu khu, tổng cộng là 78 tiểu khu

- Ngày 29.12.1978 Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ 4 phê chuẩn mở rộng Thủ đô Hà Nội lần thứ hai với diện tích tự nhiên lên tới 2126km2; bao gồm: 4 khu phố, 1 thị xã và 11 huyện ngoại thành Như vậy Hà Nội lấy thêm 5 huyện

và 1 thị xã của tỉnh Hà Sơn Bình (Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng,

Trang 40

Hoài Đức, thị xã Sơn Tây), 2 huyện của tỉnh Vĩnh Phú (Mê Linh, Sóc Sơn) Số dân số Hà Nội lúc này là 2,5 triệu người

- Tháng 6/1981: Đổi khu thành quận và tiểu khu thành phường

- Tháng 12/8/1991, theo Nghị quyết của Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ 9, 6 huyện và thị trấn Sơn Tây chuyển trả về 2 tỉnh Hà Tây và Vĩnh Phú Diện tích mới của Hà Nội còn lại 924km2, bao gồm 4 quận nội thành (Ba

Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng) và 5 huyện ngoại thành (Gia Lâm,

Đông Anh, Từ Liêm, Thanh Trì và Sóc Sơn)

- Tháng 12/1995 thành lập quận Tây Hồ trên cơ sở ba phường của quận Ba Đình và năm xã của huyện Từ Liêm

- Ngày 22-11-1996, Hà Nội được thành lập thêm 2 quận Thanh Xuân

và Cầu Giấy Quận Thanh Xuân được thành lập dựa trên cơ sở tách một số phường của quận Đống Đa, và một vài xã của huyện Thanh Trì và xã Nhân Chính huyện Từ Liêm Quận Cầu Giấy được thành lập dựa trên cơ sở các thị trấn và 1 số xã của huyện Từ Liêm cũ

- Tháng 1/1997 thành lập quận Thanh Xuân trên cơ sở 6 phường của quận Đống Đa, một xã của huyện Thanh Trì

- Tháng 9/1997 thành lập quận Cầu Giấy trên cơ sở bảy thị trấn và xã của huyện Từ Liêm

- Như Vậy, đến cuối năm 1997 Hà Nội có 7 quận nội thành đó là: Ba

Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Cầu Giấy, Thanh Xuân và quận mới là Tây Hồ Quận Tây Hồ được thành lập dựa trên cơ sở các phường Yên Phụ, Bưởi, Thuỵ Khuê của quận Ba Đình và một số xã của huyện Từ Liêm

- Tháng 11/2003 thành lập hai quận mới: Quận Hoàng Mai trên cơ sở năm phường của quận Hai Bà Trưng và chín xã của huyện Thanh Trì, Quận Long Biên trên cơ sở ba thị trấn và mười một xã của huyện Gia Lâm Như vậy,

Ngày đăng: 30/05/2021, 07:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w