Berliant: “ Bản đồ số là mô hình số của bản đồ địa hình, bản đồ chuyên đề, bản đồ chuyên môn, được thể hiện ở dạng số đối với toạ độ mặt bằng x, y, độ cao và các số liệu thuộc tính được
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
MAI THU HƯƠNG
SỬ DỤNG TƯ LIỆU VIỄN THÁM VÀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS) ĐỂ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ
DU LỊCH SA PA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
HÀ NỘI 9 - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
MAI THU HƯƠNG
SỬ DỤNG TƯ LIỆU VIỄN THÁM VÀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS) ĐỂ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ
DU LỊCH SA PA
Chuyên ngành: Bản đồ, viễn thám và hệ thống thông tin địa lý
Mã số: 60.44.76
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA KHỌC PGS.TS NHỮ THỊ XUÂN
HÀ NỘI 9 - 2010
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Hà nội, ngày tháng 09 năm 2010
Tác giả luận văn
Mai Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan: 3
Mục lục: 4
Danh mục chữ viết tắt: 6
Danh mục hình ảnh: 7
Danh mục bảng biểu: 8
Mở đầu: 9
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ DU LỊCH 11
1.1 Khái niệm chung về bản đồ số: 11
1.2 Khái niệm chung về bản đồ du lịch: 12
1.3 Đặc điểm thiết kế bản đồ du lịch 19
1.4 Tổng quan về các phương pháp thành lập nền cho bản đồ du lịch 26
Chương 2: TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG TƯ LIỆU VIỄN THÁM VÀ GIS TRONG THÀNH LẬP BẢN ĐỒ DU LỊCH 31
2.1 Khái niệm chung về viễn thám 31
2.2 Khả năng khai thác tư liệu viễn thám phục vụ cho thành lập bản đồ du lịch 39
2.3 Khái niệm chung về GIS: 40
2.4 Khả năng ứng dụng GIS cho thành lập bản đồ du lịch 42
2.5 Khả năng tích hợp tư liệu viễn thám và GIS trong thành lập bản đồ du lịch: 43
Chương 3: ỨNG DỤNG TƯ LIỆU VIỄN THÁM VÀ GIS TRONG THÀNH LẬP BẢN ĐỒ DU LỊCH SA PA 49
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Sa Pa: 49
3.2 Quy trình công nghệ thành lập bản đồ du lịch từ tư liệu viễn thám và GIS 61 3.3 Các phần mềm sử dụng thành lập bản đồ du lịch Sa Pa 62
3.4 Nội dung các bước thực hiện 71
3.5 Bản đồ du lịch kết quả 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành năm 2010, để có được kết quả này tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS.Nhữ Thị Xuân đã giúp đỡ, động viên và đóng góp ý kiến cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Trung tâm Ứng dụng và Phát triển công nghệ đo đạc và bản đồ - Cục Đo đạc và Bản đồ - Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban giám hiệu Trường Đại học Mỏ - Địa Chất, phòng Đại học và Sau Đại học, khoa Trắc Địa, Bộ môn Bản đồ, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ nhiều mặt trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tác giả hoàn thành luận văn này
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn các tập thể, các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp Do thời gian nghiên cứu có hạn và trình độ hiểu biết còn hạn chế nên luận văn không thể tránh được những thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày … tháng 9 năm 2010
Tác giả luận văn
Mai Thu Hương
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GIS Hệ thống thông tin địa lý
CSDL Cơ sở dữ liệu
VQG Vườn quốc gia
LANDSAT Vệ tinh tài nguyên của Mỹ
QUICKBIRD Vệ tinh QuickBird của hãng Digital Globe
ENVISAT Vệ tinh của Châu Âu
SPOT Hệ thống vệ tinh quan trắc Trái Đất của Pháp
FME Feature Manipulation Engine - Công cụ chuyển đổi
MODIS Moderate Resolution Imaging Spectroradiometer (Đầu thu ảnh độ
phân giải trung bình)
DEM Digital Elevation Model – Mô hình số độ cao
GPS Global Positioning System – Hệ thống định vị toàn cầu
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Nền bản đồ du lịch sử dụng phương pháp nền chất lượng 27
Hình 1.2: Mô hình số độ cao khu vực Sa Pa sử dụng thang cảnh quan 29
Hình 1.3: Ảnh viễn thám tổng hợp màu tự nhiên trong không gian 3D huyện Sa Pa 30 Hình 2.1: Đồ thị phổ phản xạ của các đối tượng tự nhiên 34
Hình 2.2: Ảnh toàn sắc Spot 5(độ phân giải 2,5m, Lisbon - Portugal) 36
Hình 2.3: Ảnh vệ tinh Landsat TM 37
Hình 2.4: Sơ đồ kết nối cơ sở dữ liệu hai loại dữ liệu Vector và raster 46
Hình 3.1: Quy trình công nghệ thành lập bản đồ du lịch từ tư liệu viễn thám và GIS 61 Hình 3.2: Hộp thoại lựa chọn khuôn dạng cần chuyển 62
Hình 3.3: Hộp thoại Universal Translator 64
Hình 3.4: Hộp thoại Coordinate System Gallery 65
Hình3.5: Cửa sổ làm việc trên phần mềm Adobe Photoshop 66
Hình 3.6: Cửa sổ làm việc của phần mềm Microstation 68
Hình3.7: Cửa sổ làm việc của Mapinfo 71
Hình 3.8: Ảnh viễn thám chụp tại khu vực huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 71
Hình 3.9: Sơ đồ bản chắp 1: 50 000 huyện Sa Pa 72
Hình 3.10: Nắn ảnh viễn thám bằng phần mềm IrasC 74
Hình 3.11: Hiệu chỉnh ảnh vệ tinh trên Photoshop 75
Hình 3.12: Mẫu đoán đọc giao thông (a), thủy hệ (b), khu dân cư (c) 76
Hình 3.13:Hình ảnh lựa chọn các thuộc tính dữ liệu trên FME 78
Hình 3.14: Thay đổi trường dữ liệu trong Mapinfo 80
Hình 3.15 : Sản phẩm bản đồ du lịch huyện Sa Pa 82
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bảng màu cảnh quan 28
Bảng 1.2: Bảng màu Poiker 29
Bảng 2.1: Một số đặc tính của dữ liệu ảnh Spot 35
Bảng 3.1: Bảng dữ liệu trong Mapinfo 79
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, sự phát triển mạnh của công nghệ viễn thám và công nghệ thông tin đã mở ra những hướng ứng dụng mới, đó là sự liên ngành giữa bản đồ học với trắc địa vệ tinh, viễn thám, internet, công nghệ truyền thông đa phương tiện
Đặc biệt sự phát triển của công nghệ viễn thám đã có nhiều ảnh vệ tinh mới có
độ phân giải cao cho phép theo dõi được các đối tượng trên mặt đất một cách nhanh chóng và chính xác Cùng với chức năng ưu việt của hệ thông tin địa lý (GIS) trong việc thu thập, lưu trữ, tìm kiếm thông tin, chuyển đổi và hiển thị dữ liệu không gian từ thế giới thực cho mục đích nghiên cứu cụ thể giúp ta có thể phân tích, định lượng hoá, tích hợp các nguồn thông tin đa dạng về môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế xã hội một cách dễ dàng Do đó, viễn thám và GIS là những công cụ giúp cho ta có cái nhìn trực quan và dễ cảm nhận tốt hơn về bề mặt của khu vực thành lập bản đồ
Nhiều bản đồ du lịch đã được thành lập bằng các phương pháp truyền thống nhưng chúng chưa thu hút được sự chú ý của du khách vì tính trực quan và thẩm mĩ chưa được cao Sử dụng ảnh vệ tinh để làm nền địa lí cho việc thành lập bản đồ du lịch sẽ cho ta kết quả tốt hơn về tính trực quan, tính thẩm mĩ và độ chính xác Chính
vì vậy, việc nghiên cứu “Sử dụng tư liệu Viễn thám và hệ thống thông tin địa lý
(GIS) để thành lập bản đồ du lịch Sa Pa” để đưa ra được phương pháp thành lập
bản đồ du lịch cụ thể là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiến cao
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Luận văn đặt ra hai mục tiêu:
- Nghiên cứu đưa ra phương thành lập bản đồ du lịch từ tư liệu ảnh viễn thám
và hệ thống thông tin địa lý (GIS)
- Tiến hành thực nghiệm thành lập bản đồ du lịch Từ đó đánh giá khả năng ứng dụng của tư liệu viễn thám trong thành lập bản đồ du lịch
Trang 10Nhiệm vụ:
- Đưa ra được phương pháp thành lập bản đồ du lịch từ tư liệu viễn thám và GIS
- Khả năng ứng dụng của tư liệu viễn thám trong thành lập bản đồ du lịch Sa Pa
3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu sử dụng tư liệu viễn thám trong thành lập bản đồ du lịch một số điểm du lịch ở nước ta Trong đó nêu rõ các loại tư liệu viễn thám có thể sử dụng và mức độ sử dụng của chúng
- Nghiên cứu khả năng ứng dụng GIS trong quản lý và cập nhật các thông tin của những điểm du lịch
- Ứng dụng GIS để thành lập bản đồ du lịch Sa Pa trên cơ sở tư liệu viễn thám
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê: thu thập, tổng hợp, xử lý các thông tin và tài liệu liên quan Phương pháp phân tích: sử dụng các phương tiện và các công cụ tiện ích, phân tích các tư liệu, đánh giá khách quan các yếu tố để đưa ra kết luận chính xác làm cơ sở giải quyết các vấn đề đặt ra
Phương pháp so sánh: tổng hợp các kết quả, so sánh, đánh giá, đưa ra các kết luận chính xác về vấn đề nêu ra
Phương pháp chuyên gia: thu thập, tổng hợp và phân tích các ý kiến chuyên gia làm cơ sở đưa ra các kết luận khoa học
Phương pháp thực nghiệm: tiến hành thực nghiệm để chứng minh cho các luận chứng khoa học đã đưa ra
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn của đề tài, đưa ra các phương án và cơ sở lý thuyết có thể áp dụng để thành lập bản đồ du lịch từ tư liệu viễn thám Thông qua việc thực nghiệm tại khu du lịch Sa Pa để đánh giá khả năng thành lập bản đồ du lịch trên cơ sở nền là tư liệu viễn thám ở Việt Nam
6 Cấu trúc luận văn
Toàn bộ luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận được trình bầy trong 84 trang văn bản với 22 hình ảnh và 04 bảng biểu
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ DU LỊCH 1.1 Khái niệm chung về bản đồ số:
Theo Stepanovich: “ Bản đồ số là tập hợp có tổ chức các dữ liệu bản đồ trên các thiết bị có khả năng đọc bằng máy tính điện tử, và được thể hiện dưới dạng hình ảnh bản đồ ”[5]
Theo A.M Berliant: “ Bản đồ số là mô hình số của bản đồ địa hình, bản đồ chuyên đề, bản đồ chuyên môn, được thể hiện ở dạng số đối với toạ độ mặt bằng x, y,
độ cao và các số liệu thuộc tính được mã hoá Bản đồ số được thành lập trong phép chiếu, hệ thống ký hiệu quy định đối với các bản đồ cùng kiểu đã biết, có tính đến tổng quát hoá và các yêu cầu về độ chính xác”[5]
Từ những khái niệm về bản đồ số như trên ta có thể thấy bản đồ số có những đặc điểm giống như bản đồ truyền thống:
- Bản đồ số trước hết là bản đồ, có đầy đủ các đặc điểm cơ bản của bản đồ truyền thống như: phản ánh các thông tin địa lý, tuân theo cơ sở toán học, có tổng quát hoá, sử dụng hệ thống ký hiệu nhưng mọi thông tin trên bản đồ được ghi ở dạng số
- Thông tin của bản đồ số được cấu trúc theo kiểu raster hoặc vecter, có kèm theo topology, tổ chức thành các file bản đồ riêng rẽ, hoặc liên kết thành thư mục trong các cơ sở dữ liệu bản đồ hoặc GIS, được lưu trữ trong một hệ thống máy tính hoặc các thiết bị ghi thông tin có khả năng đọc bằng máy tính
- Bản đồ số có thể chuyển đổi và hiện thị thành hình ảnh bản đồ dạng tương đồng, trên các phương tiện khác nhau như: giấy, màn hình, qua mạng
- Để có thể sử dụng và làm việc với bản đồ số nhất thiết phải có máy tính điện
tử và các thiết bị liên quan, hệ điều hành cũng như các phần mềm liên quan (phần mềm trên hệ điều hành và phần mềm chuyên dụng trong công tác thành lập bản đồ)
Ngoài các đặc điểm giống như bản đồ truyền thống thì bản đồ số còn có rất nhiều các ưu điểm hơn hẳn bản đồ truyền thống như:
+ Cho khả năng giao diện trực tiếp, thuận lợi và linh hoạt giữa người dùng với thông tin bản đồ
+ Cho ta khả năng chứa đựng thông tin rất phong phú và chi tiết nhưng không
hề ảnh hưởng đến sự hiển thị và các phương pháp sử dụng bản đồ, do đặc điểm tổ chức các lớp thông tin, và do khả năng của các thiết bị tin học ngày càng tinh xảo
Trang 12+ Bản đồ số có tính chuẩn hoá cao về: dữ liệu, tổ chức dữ liệu, thể hiện dữ liệu,
+ Dễ dàng cập nhật, chỉnh sửa, hoặc có thể thay đổi về thiết kế, trình bày, ký hiệu; do đó thông tin của bản đồ luôn luôn mới, hoặc muốn theo ý người quản lý, người sử dụng, trong khi đó các thông tin cũ vẫn được bảo lưu
Đối với bản đồ du lịch thì các yếu tố địa lý thể hiện sơ lược còn các nội dung chính thì liên quan chặt chẽ với các chủ đề tham quan du lịch Bản đồ du lịch được thiết
kế tương đối linh hoạt và đa dạng, kí hiệu, màu sắc, trình bày có những đặc thù riêng
1.2.2 Phân loại bản đồ du lịch:
1.2.2.1 Phân loại bản đồ theo mục đích sử dụng:
Bản đồ du lịch thể hiện nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, xã hội và nhân văn, thể hiện các cụm, tuyến, điểm du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch, đánh giá và định hướng
khai thác tài nguyên du lịch
a Dựa theo mục đích tra cứu thông tin bản đồ du lịch chia ra làm hai loại lớn bản đồ nghiên cứu và bản đồ cho du lịch
- Bản đồ du lịch phục vụ nghiên cứu bao gồm các bản đồ hiện trạng tài nguyên
du lịch, các bản đồ đánh giá và định hướng khai thác tiềm năng du lịch, các bản đồ quy hoạch du lịch, các bản đồ tổ chức lãnh thổ du lịch
- Các bản đồ phục vụ khách du lịch bao gồm các bản đồ phản ánh các đơn vị du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch, điểm du lịch, các loại hình
du lịch (tham quan, nghỉ dưỡng, sinh thái, thể thao, vui chơi giải trí, du lịch cuối tuần )
b Bản đồ cho công tác nghiên cứu quy hoạch phát triển du lịch
- Các bản đồ tiềm năng du lịch (bản đồ vị trí địa lý du lịch, bảo tồn tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên, bản đồ tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn)
Trang 13- Các bản đồ hiện trạng ngành du lịch (bản đồ hiện trạng cơ sở hạ tầng du lịch, bản đồ hiện trạng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch, bản đồ kinh tế du lịch, bản đồ hiện trạng luồng khách du lịch)
- Các bản đồ đánh giá du lịch (đánh giá tài nguyên du lịch, đánh giá hiện trạng ngành du lịch)
c Bản đồ tuyên truyền quảng cáo
- Mục đích của bản đồ tuyên truyền quảng cáo là phổ biến một số hoặc nhiều địa điểm du lịch và nói rõ khu vực liên quan đến điểm du lịch
- Một trong những dạng cơ bản của bản đồ tuyên truyền, quảng cáo là bản đồ du lịch khái quát Bản đồ này chỉ ra dạng tổng quát chung về đối tượng du lịch của các kiểu
du lịch Chúng dùng để thông báo một cách chung chung về lãnh thổ du lịch Các bản
đồ tuyên truyền quảng cáo được thành lập ở nhiều dạng khác nhau, chúng có thể là một tấm pa nô dựng ở cổng trào của khu du lịch hoặc có thể là một tờ rơi được phát cho du khách khi chính phủ mở một chiến dịch phát động về chủ đề du lịch trong năm hoặc nó
là một đĩa CD với những giới thiệu về cảnh đẹp đất nước, con người của vùng đất
- Những bản đồ này được xuất bản với một số lượng lớn dành cho các đối tượng có mục đích du lịch hay những tổ chức du lịch riêng biệt và các hãng liên quan đến du lịch
d Bản đồ cẩm nang du lịch: là một nhóm lớn của bản đồ du lịch Mục đích của chúng là chỉ ra những đối tượng du lịch khác nhau một cách chi tiết, cũng như những đối tượng địa lý chung, mà nó có thể là đối tượng du lịch Chúng dùng để phục vụ trực tiếp một số lượng lớn người đọc quan tâm đến các mặt về du lịch và làm thoả mãn những thông tin khác liên quan đến du lịch
1.2.2.2 Phân loại bản đồ theo nội dung
Theo nội dung, bản đồ du lịch được phân ra các loại sau đây:
- Bản đồ tài nguyên du lịch (bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên và bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn)
- Bản đồ cơ sở hạ tầng du lịch
- Bản đồ cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Trang 14có thể của các loại hình du lịch phát triển khác nhau Kết quả của công việc đưa ra chỉ giới hạn trong những nhóm bản đồ du lịch khác nhau theo nội dung của chúng
+ Bản đồ du lịch chung: bản đồ du lịch chung cho thấy toàn bộ đặc điểm du lịch của một lãnh thổ trong các bản đồ dạng này, nội dung được thể hiện một cách trực quan và đầy đủ trong khả năng, tỷ lệ cho phép
+ Bản đồ nghỉ dưỡng chữa bệnh: trên bản đồ này thể hiện các thông tin chi tiết
về nghỉ dưỡng, chữa bệnh Ngoài các trung tâm nghỉ dưỡng, chữa bệnh (như là các làng nghỉ ngơi nhỏ), trên bản đồ còn thể hiện các chỉ dẫn cụ thể về khu nghỉ dưỡng, chữa bệnh và môi trường của vùng xung quanh cũng như các dịch vụ kèm theo
+ Bản đồ du lịch sinh thái: những bản đồ này dùng cho nhóm người du lịch đi theo tuyến du lịch sinh thái Trên những bản đồ này các yếu tố địa lý chung là phần chủ yếu của nội dung bản đồ, kèm theo đó là các thông tin tìm hiểu về sinh thái của khu vực bản đồ và chúng cần phải được đưa lên một cách chi tiết và dễ xem Bản đồ
du lịch hệ sinh thái san hô, bản đồ sinh thái vườn quốc gia, bản đồ tham quan, nghiên cứu hang động, bản đồ tham quan cảnh quan du lịch tự nhiên là những bản đồ thuộc nhóm bản đồ du lịch sinh thái
+ Bản đồ du lịch thể thao, vui chơi giải trí: đây là nhóm bản đồ khá phong phú, chúng có thể là các bản đồ săn bắn, câu cá, thể thao nước, du lịch xe đạp nội dung của chúng bao gồm các yếu tố địa lý tự nhiên, cơ sở hạ tầng và những điều kiện dịch
vụ du lịch cho hoạt động vui chơi giải trí Ở đây, các bản đồ du lịch mạo hiểm là một nhóm nhỏ trong các bản đồ du lịch thể thao Ngoài những nội dung chính như những
Trang 15bản đồ trên, các bản đồ du lịch mạo hiểm còn có những chỉ dẫn, lời khuyên về những hoạt động du lịch tại đó Các bản đồ này bao gồm: bản đồ leo núi, bản đồ đi rừng, bản
đồ đi thuyền vượt thác
+ Bản đồ du lịch văn hoá: càng ngày các đối tượng lịch sử, kiến trúc khảo cổ, làng nghề, lễ hội càng trở thành các đối tượng du lịch Vì vậy hàng loạt các đặc tính của chúng cùng các thông tin là đối tượng của bản đồ du lịch lịch sử, kiến trúc, bản đồ khảo cổ, bản đồ làng nghề, bản đồ lễ hội, tín ngưỡng
1.2.2.3 Phân loại bản đồ theo tỷ lệ
Bản đồ du lịch cũng được phân theo dãy tỷ lệ sau:
- Bản đồ du lịch tỷ lệ lớn: trong bản đồ tỷ lệ lớn thường thể hiện những vùng nhỏ, điểm hoặc tuyến du lịch: bản đồ du lịch thành phố, bản đồ du lịch thị xã Các bản đồ loại này thường có tỷ lệ 1: 100 000 và lớn hơn
- Bản đồ du lịch tỷ lệ trung bình: những tỷ lệ này thuộc về các bản đồ du lịch một phần của đất nước, một miền, một tỉnh Thuộc nhóm trung bình là các bản đồ tỷ lệ nhỏ hơn 1: 100 000 đến 1: 1 000 000
- Bản đồ du lịch tỷ lệ nhỏ: ở tỷ lệ nhỏ thường thể hiện bản đồ du lịch của một châu lục, một nhóm nước riêng biệt, một quốc gia Nhóm này gồm các bản đồ tỷ lệ nhỏ hơn 1: 1 000 000
Trong thực tế trên cùng một lãnh thổ thường thể hiện các bản đồ du lịch với nội dung và mục đích khác nhau ở các tỷ lệ khác nhau Phân loại bản đồ du lịch theo tỷ lệ chỉ mang tính chất nguyên tắc
1.2.2.4 Phân loại bản đồ theo lãnh thổ
- Bản đồ du lịch lục địa: bản đồ ở dạng này được làm ở tỷ lệ nhỏ và có thể thể hiện được những đối tượng du lịch tiêu biểu, luồng khách, tuyến du lịch chính và các nước lân cận
- Các bản đồ du lịch của một quốc gia, phần quốc gia: khu vực riêng của lãnh thổ nước đó thường là đơn vị hành chính hay là khu vực địa lý tự nhiên, phân vùng theo lãnh thổ du lịch những bản đồ này, thường là các dạng bản đồ du lịch khác nhau, chúng thường được làm ở tỷ lệ trung bình và nhỏ
Trang 16- Bản đồ du lịch của một khu vực, điểm du lịch: là những bản đồ tỷ lệ lớn, của một khu du lịch cụ thể, đưa ra đầy đủ về vị trí đo vẽ bản đồ của khu, điểm du lịch cùng với những đặc điểm chung của nó, mạng lưới giao thông, các cơ quan hành chính và xã hội, cơ quan bảo vệ sức khoẻ, những nơi văn hoá, những nơi thể thao, những nơi nổi tiếng về lịch sử, kiến trúc và khảo cổ, các vị trí ngủ trọ và những đối tượng khác (nơi đổi tiền, bưu điện) Các bản đồ này có tất cả các đối tượng mà những người tham quan quan tâm đến khu, điểm du lịch đó, cũng như là mối quan tâm tới người dân địa phương (đặc điểm tính cách dân tộc, phong tục tập quán của người dân )
1.2.2.5 Phân loại bản đồ theo hình thức
- Phân loại bản đồ theo màu sắc:
+ Bản đồ đen trắng
+ Bản đồ nhiều màu
+ Bản đồ phát sáng ban đêm
- Phân loại bản đồ theo đóng quyển:
+ Bản đồ đơn: đây là bản đồ độc lập in trên một mặt hoặc hai mặt, nó có thể được trải trên bàn hoặc treo tường
+ Bản đồ gấp: liên quan tới dạng bản đồ này gồm tất cả bản đồ độc lập được xếp đặt thuận tiện trong việc trình bày, có thể là in một mặt hoặc hai mặt, cùng với việc trình bày thành một tập gấp mặt trước, mặt sau của tờ bản đồ Bìa ngoài có thể là một phần mặt trái, mặt phải của bản đồ du lịch, hay là có thể được trình bày và in độc lập và có thể kẹp phụ vào tờ bản đồ
+ Bản đồ đóng quyển: các bản đồ này được thiết kế để đóng vào các tập báo cáo, bài viết, vì vậy nó phải phù hợp với kích thước của tập báo cáo hay tập bài viết
- Át lát du lịch: theo salisev át lát du lịch là một tập hợp các chuyên đề của bản
đồ du lịch được thống nhất một ý tưởng chung và cho thấy toàn cảnh vùng du lịch Át lát du lịch thường là át lát chung, át lát du lịch chuyên đề, át lát phức hợp
Trang 171.2.2.6 Phân loại bản đồ theo dạng mô hình lưu trữ dữ liệu
- Bản đồ du lịch dạng tương đồng (mô hình phẳng): là những bản đồ được thể hiện trên vật liệu phẳng như giấy, nhựa trong
- Bản đồ du lịch nổi (mô hình ba chiều): thường làm ra để thấy trực quan khối núi hoặc đặc điểm lãnh thổ vùng núi với độ trực quan cao về địa hình như là đối tượng du lịch Đặc điểm của bản đồ du lịch nổi trước tiên là mang tính chất quảng cáo tuyên truyền
- Bản đồ mô hình số là bản đồ mà dữ liệu của nó được tập hợp có tổ chức trên những thiết bị có khả năng đọc bằng máy tính và được thể hiện dưới dạng hình ảnh bản đồ hiện nay đã có những bản đồ trên máy PC, bản đồ kết nối GPS với PC, bản đồ truyền dẫn qua mạng mobile phone rất thuận tiện cho người đi du lịch
1.2.2.7 Phân loại bản đồ theo trạng thái
- Bản đồ tĩnh: là các bản đồ đứng im, đây chính là các loại bản đồ truyền thống thường gặp
- Bản đồ động: là các bản đồ số được gắn trên các thiết bị di chuyển, khi đối tượng chuyển động thì bản đồ cũng chuyển động theo đúng hướng và vận tốc của đối tượng Điều đó có thể hiểu rằng đầu tiên ta nhìn thấy trên màn hình bản đồ khu vực mà đối tượng đang có mặt Khi đối tượng chuyển động ra ngoài phạm vi giới hạn trên màn hình thì bản đồ sẽ dịch chuyển sang một trang bản đồ mới có chứa đối tượng ở trung tâm Công việc tự động này sẽ liên tục cho đến khi đối tượng dừng chuyển động
- Phân loại bản đồ du lịch có ý nghĩa quan trọng, cách phân loại này thể hiện đặc trưng riêng của bản đồ du lịch là những tài liệu giới thiệu và hỗ trợ du khách tới các địa điểm du lịch, hỗ trợ sự phát triển các hoạt động du lịch
1.2.2.8 Phân loại theo hình thức thể hiện
a Bản đồ điện tử
Bản đồ du lịch điện tử là bản đồ du lịch dạng số được hiện hình trên màn hình máy tính trên cơ sở dữ liệu của bản đồ số, cơ sở dữ liệu gis , đĩa cd; khác với những bản đồ được lập trên máy tính nhưng khi xuất ra không phải là các thiết bị màn hình
mà là, bản đồ giấy hay các bản đồ ốp sét hoặc bản đồ số chỉ được ghi trên đĩa cd room,
Trang 18trên thẻ nhớ, thẻ từ các bản đồ này được cài và đọc trên máy tính xách tay của khách
du lịch
b Bản đồ đa phương tiện
Trong cùng một thời gian con người có thể thu nhận được nhiều thông tin khác nhau như âm thanh và hình ảnh bản đồ Bản đồ đa phương tiện với sự trợ giúp của máy tính và phần mềm chuyên dụng gồm có:
+ Bản đồ với nội dung và ký hiệu được thiết kế - biên tập đầy đủ
+ Âm thanh: có ưu thế trong việc cảm thụ thông tin và làm phong phú thông tin của đối tượng và nhấn mạnh nội dung truyền tải
+ Chữ (text): là trao đổi thông tin giữa máy tính và con người được sử dụng nhiều nhất và cũng là phương pháp mã hoá thông tin, trao đổi thông tin trong hệ thống máy tính text được trình bày dưới dạng bài viết thuyết minh
+ Hình ảnh động (video): video được tạo lập từ thiết bị chuyên dụng đem lại các hình ảnh từ không gian thực video là hình thức truyền tải thông tin đạt hiệu quả cao kết hợp cả mắt nhìn và tai nghe minh hoạ các thông tin mà các ký hiệu bản đồ đã biểu thị
+ Yếu tố động mô phỏng (animations): các yếu tố động do mô tả về hình thức
để truyền tải các thông tin được nhấn mạnh như sự di chuyển của các đối tượng
+ Ảnh: dùng để minh hoạ cho các đối tượng bản đồ
- Đặc điểm thành lập bản đồ đa phương tiện:
+ Bản đồ đa phương tiện được thực hiện với dữ liệu của bản đồ số và phần mềm chuyên dụng như phần mềm multimedia, mapxtreme
+ Các yếu tố âm thanh, chữ, hình ảnh động, yếu tố mô phỏng, ảnh là nội dung
bổ trợ của bản đồ đa phương tiện
c Web map (bản đồ trên mạng)
Bản đồ có thể ở nhiều dạng khác nhau ở các môi trường khác nhau, khi chuyển lên mạng internet đều về một khuôn dạng mà html (hyper text mark-up language) hiểu được Các bản đồ hầu hết được hỗ trợ cách chuyển sang khuôn dạng html và cũng được hỗ trợ việc sử dụng trực tiếp trên máy tính Các bản đồ hỗ trợ cách xuất sang
Trang 19html thông qua mô đun export, các bản đồ được thiết kế theo các phương tiện truy cập
dữ liệu trên web Bản đồ kết quả là một kiểu dữ liệu mà trình duyệt có thể hiểu được
Dữ liệu được lưu lại trên máy tính chủ và trình duyệt trên máy tính khác chỉ là công cụ hiển thị và vì vậy việc duy trì phát triển và cập nhật bản đồ trở nên đơn giản và dễ dàng hơn
d GPS map:
Là các bản đồ số được gắn trên các thiết bị di chuyển như trên máy bay, trên tàu thuỷ, trên ô tô trên các phương tiện di động đó, bản đồ toàn khu vực được lưu trong máy tính và máy tính được kết nối với GPS Khi đối tượng di động đến đâu thì GPS xác định toạ độ tại điểm đó và toạ độ của điểm tương ứng trên bản đồ được hiện ở tâm của màn hình máy tính Nhờ đó mà ta luôn luôn quan sát và nắm được thông tin bản
đồ ở điểm di động hiện thời Khi đối tượng chuyển động thì bản đồ cũng chuyển động theo đúng hướng và vận tốc của đối tượng Điều đó có thể hiểu rằng đầu tiên ta nhìn thấy trên màn hình bản đồ khu vực mà đối tượng đang có mặt Khi đối tượng chuyển động ra ngoài phạm vi giới hạn trên màn hình thì bản đồ sẽ dịch chuyển sang một trang bản đồ mới có chứa đối tượng ở trung tâm Công việc tự động này sẽ liên tục cho đến khi đối tượng dừng chuyển động
e Bản đồ màn hình nhỏ (small - disphay cartography)
Là những bản đồ mà hình ảnh được đọc trên màn hình nhỏ (ví vụ: như sony ericsson t68 wap phone, nokia 7650 smart phone ), thông tin bản đồ được truyền dẫn qua mạng điện thoại, định vị bằng gps hoặc truyền vô tuyến Loại bản đồ này mới ra đời, chủ yếu được dùng cho người du lịch đi bộ hoặc xe đạp, để tìm đường đi hoặc địa điểm trong thành phố hoặc nơi tham quan phong cảnh
1.3 Đặc điểm thiết kế bản đồ du lịch
1.3.1 Tính chất, đối tượng phục vụ của bản đồ du lịch
- Bản đồ du lịch dùng cho người du lịch và các cơ quan hoạt động du lịch Các yếu tố nội dung trên bản đồ du lịch có liên quan chặt chẽ đến các đối tượng du lịch Bản đồ du lịch tương đối đa dạng, linh hoạt các ký hiệu, màu sắc, sự trình bày có đặc điểm riêng
- Theo đối tượng phục vụ: bản đồ du lịch phân ra làm hai loại:
Trang 20+ Một loại cung cấp cho các cơ quan du lịch sử dụng trong công tác quản lý Trên các bản đồ này chủ yếu phản ánh tình trạng tiềm năng du lịch và tình hình tổ chức mạng lưới du lịch, tình hình hoạt động quản lý và kinh tế du lịch, quy hoạch du lịch Loại này có nhiều đặc điểm chung như những bản đồ chuyên đề, chuyên ngành khác
+ Một loại cung cấp cho người du lịch: những bản đồ này chủ yếu giúp cho những người đi du lịch tìm hiểu sự phân bố danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và văn hoá đồng thời tìm hiểu các điều kiện ăn ở tại các điểm du lịch, phương tiện giao thông
và các lộ trình Ngoài ra người đi du lịch cũng còn cần tìm hiểu đặc điểm địa lý của khu vực du lịch và điều kiện khí hậu để lựa chọn mùa đi du lịch và các lộ trình
Loại bản đồ này mang nhiều đặc thù riêng của thể loại bản đồ du lịch
- Bản đồ du lịch trên lãnh thổ Việt Nam được phân chia ra thành những nhóm sau đây:
+ Bản đồ du lịch quốc gia: biểu hiện những danh thắng nổi tiếng của đất nước, các điểm du lịch lịch sử, nhân văn, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, thể thao
+ Bản đồ du lịch vùng: như vùng du lịch bắc bộ, vùng du lịch bắc trung bộ, vùng du lịch nam trung bộ, vùng du lịch nam bộ; biểu hiện các vùng văn hoá, văn minh, các trung tâm du lịch, các tuyến điểm du lịch
+ Bản đồ du lịch tuyến: trình bày các tuyến du lịch chính, các tuyến du lịch phụ trợ, các tuyến du lịch đường bộ, các tuyến du lịch đường thuỷ, các tuyến du lịch đường hàng không, các tuyến du lịch chuyên đề, các tuyến du lịch liên vùng, các tuyến du lịch quốc tế và nội dung du lịch của các điểm trên tuyến
+ Bản đồ du lịch tỉnh, thành phố: bản đồ du lịch thành phố hà nội, hồ chí minh, thành phố đà nẵng, hải phòng biểu hiện các cụm, các tuyến, điểm du lịch, hệ thống giao thông, các loại rừng quốc gia, các khu bảo tồn môi trường, các khu bảo tồn văn hoá, lịch sử
+ Bản đồ hướng dẫn du lịch điểm: biểu hiện nội dung du lịch của một điểm du lịch cụ thể
1.3.2 Đặc điểm nội dung và thiết kế - trình bày của bản đồ du lịch
1.3.2.1 Xác định nội dung bản đồ và phương pháp biểu thị
- Lựa chọn nội dung bản đồ du lịch phải căn cứ vào mục đích bản đồ phục vụ nghiên cứu hay phục vụ du lịch Các bản đồ du lịch phục vụ nghiên cứu thường đòi
Trang 21hỏi xác định nội dung, phương pháp biểu hiện đạt độ chính xác cao hơn các bản đồ phục vụ du khách
- Các bản đồ thể hiện điểm du lịch thường sử dụng các phương pháp ký hiệu hình học hoặc ký hiệu nghệ thuật để biểu hiện sự phân bố các cơ sở du lịch cụ thể
- Các bản đồ du lịch tuyến đường dài thường không thể hiện đúng theo khoảng cách và phạm vi giữa các điểm du lịch Đối với các tuyến có điểm du lịch thưa thường
“rút ngắn” khoảng cách lại, còn đối với các tuyến tập trung các điểm du lịch lại thì
“kéo dài” khoảng cách giữa các điểm ra, cũng có khi ngắn lại các tuyến cho tương đối thẳng để tiện biểu hiện các đối tượng khác tuy nhiên, các cung đường lại được ghi khoảng cách thực (ki lô mét)
- Nội dung của các bản đồ du lịch thành phố thường bao gồm: các đường phố chính, phụ, các điểm du lịch, các đài tưởng niệm, các di tích lịch sử, văn hoá, các di tích khảo cổ, các đình chùa, nhà thờ, các công viên, vườn bách thảo ; các tuyến đường giao thông cùng các trạm đỗ xe, bến cảng, sân bay dân dụng ; các cơ sở phục
vụ du lịch như khách sạn, nhà hàng, bưu điện, các siêu thị, các của hàng mỹ nghệ, các của hàng lưu niệm, các bệnh viện, trạm xá, các cơ quan chính phủ, báo chí, hiệu sách quốc tế
- Ngoài ra trên bản đồ du lịch còn có các bức ảnh, các tranh phong cảnh và các bài thuyết minh ngắn gọn, xúc tích về danh thắng Trên bản đồ cũng biểu hiện biểu đồ khí hậu các thời điểm du lịch thuận lợi nhất, các hành trình, các bảng giá dịch vụ, số điên thoại
- Các cơ sở địa lý của bản đồ du lịch bao gồm các khu phố, thuỷ hệ, địa mạo, địa giới
1.3.2.2 Cơ sở toán học của bản đồ
a Tỷ lệ và kích thước
- Căn cứ vào diện tích rộng hẹp của khu vực lập bản đồ để xác định kích thước
và tỷ lệ sao cho hợp lý Bản đồ tuyến, điểm du lịch thường có tỷ lệ lớn Bản đồ du lịch vùng, tỉnh thường ở tỷ lệ trung bình Các bản đồ cấp quốc gia, châu lục và thế giới lập
ở tỷ lệ nhỏ
Trang 22Từ đó thiết kế bố cục và trình bày bản đồ dưới hình thức tờ rơi hay gấp bản đồ
Bố cục bản đồ du lịch, ngoài nội dung chính và bản chú dẫn, thường bố trí nhiều bảng biểu và bài viết giới thiệu
b Lưới chiếu bản đồ
- Bản đồ du lịch sử dụng các phép chiếu thông dụng như các bản đồ khác
- Một số đặc điểm riêng có thể nêu ra như sau:
+ Để nâng cao tính hấp dẫn hình dạng lãnh thổ du lịch, người ta hay dùng phép chiếu phối cảnh (cho các bản đồ quốc gia, châu lục, thế giới)
+ Các bản đồ du lịch biển sử dụng phép chiếu giữa góc, để đảm bảo định vị trên biển bằng phương vị
+ Ngày nay du lịch trên biển lớn, đại dương hoặc xuyên quốc gia người ta sử dụng GPS dẫn đường, do đó cần sử dụng các phép chiếu phù hợp với quốc tế như Lambert, UTM tính theo elipxoit WGS - 84, thể hiện lưới toạ độ địa lý
+ Các bản đồ du lịch tuyến, điểm khi cần định vị độ chính xác cao thì thường sử dụng các lưới chiếu của bản đồ tỷ lệ lớn như UTM, Gauss và thể hiện đồng thời cả toạ
độ địa lý và lưới ki lô mét
+ Đối các bản đồ du lịch thành phố, thị xã ở tỷ lệ lớn thường sử dụng phép chiếu của bản đồ tài liệu
Trang 23khổ A0 bố cục bình thường, định hướng Bắc - Nam, bổ sung thêm một số biểu đồ, đồ thị và bảng biểu phản ánh các thông tin tổng hợp
- Các bản đồ phục vụ khách du lịch thường đa dạng nên việc thiết kế tờ và bố cục cũng đa dạng Yêu cầu chung là phải thiết kế sao cho thuận lợi sử dụng và tra cứu thông tin được nhiều nhất
Thông thường, các tờ bản đồ loại này có kích thước nhỏ (khổ A1) được gấp lại cho gọn Nếu là bản đồ thể hiện vùng, điểm thì định hướng Bắc - Nam, du lịch theo tuyến thì định hướng theo tuyến Bản đồ thường in cả hai mặt, mặt chính là bản đồ chính cùng các ảnh minh hoạ, mặt sau là các bảng ghi chú, thuyết minh về du lịch
b Thiết kế trình bày và ký hiệu bản đồ
- Các bản đồ du lịch cần được thiết kế trình bày và ký hiệu phù hợp với mục đích và đối tượng sử dụng
+ Các bản đồ tra cứu để bàn có nội dung dày đặc màu sắc hài hoà, ký hiệu không lớn và không đậm đặc, chữ ghi chú thanh, nhỏ, sử dụng các phương pháp ký hiệu tương ứng với từng đối tượng nội dung
+ Các bản đồ treo tường, đặc biệt là bản đồ quy hoạch (dùng để duyệt) được trình bày màu sắc tương phản cao, ký hiệu to và đậm, chữ ghi chú to và đậm
+ Bản đồ dùng cho khách du lịch đòi hỏi trình bày hấp dẫn, dễ đọc, dễ hiểu, khả năng thu nhận thông tin nhanh và phân biệt thông tin ở các mức độ chính - phụ, quan trọng - kém quan trọng ở các mức độ khác nhau
- Những phương pháp ký hiệu được áp dụng nhiều trên các bản đồ du lịch là: + Phương pháp ký hiệu điểm
+ Phương phương pháp ký hiệu tuyến
+ Phương pháp vùng phân bố
+ Phương pháp đường đẳng trị kết hợp với phân tầng màu và vờn bóng
Ngoài ra, các phương pháp khác cũng được sử dụng phù hợp với đối tượng cần thể hiện
- Trang bìa của tờ bản đồ du lịch (dùng cho khách du lịch) có đặc trưng của cuốn sách nghệ thuật vừa có đặc trưng của bản đồ Trên trang bìa có thể bố trí một
Trang 24phần nào đó của bản đồ hoặc sơ đồ của bản đồ và một phần điểm du lịch Ngoài ra còn ghi rõ tên bản đồ, nhà xuất bản, thời gian phát hành, tỷ lệ
1.3.3 Đặc điểm các phương pháp thể hiện nội dung trên bản đồ du lịch
1.3.3.1 Phương pháp ký hiệu điểm
Phương pháp ký hiệu rất phù hợp với việc định vị các đối tượng ở các điểm địa
lí cụ thể Ở cương vị đó nó biểu hiện cấu trúc không gian của các hệ thống đối tượng trong lãnh thổ phù hợp với thực tế: mạng lưới phân bố điểm dân cư, các trung tâm công nghiệp, các đầu mối giao thông vận tải, các điểm dịch vụ công cộng Vì vậy, theo hướng biên vẽ bản đồ địa lý loại tra cứu khoa học, phương pháp ký hiệu nổi lên như là phương pháp biểu hiện cơ bản
Khả năng thể hiện rõ ràng của các ký hiệu đã định vị đó là chúng có thể truyền đạt với mức độ cụ thể nào đó các đặc trưng định lượng của các hiện tượng thông qua kích thước ký hiệu (các thang bậc của chúng): thang tuyệt đối (liên tục hoặc phân cấp) hay thang quy ước Các thang được lập ra trong sự phụ thuộc khác nhau giữa trị số số lượng về giá trị của đối tượng và kích thước ký hiệu - đó là sự phụ thuộc diện tích, thể tích hoặc tuyến tính
Các ký hiệu điểm xuất hiện rất nhiều và phổ biến trên các bản đồ du lịch, phản ánh các đặc điểm du lịch (các vị trí hang, động, thác nước, di tích lịch sử văn hoá ), các cơ sở dịch vụ du lịch (nhà hàng, khách sạn ), các điểm liên quan đến du lịch (chợ, bến xe, trạm xăng, bưu điện, ngân hàng, nhà ga )
- Hình dạng ký hiệu mang tính thẩm mỹ và tương đồng với đối tượng như: bến
xe ô tô, nhà thờ, bưu điện…
- Kích thước phản ánh quy mô của đối tượng thường áp dụng phân bậc, phân khoảng tương đối (lớn, trung bình, nhỏ) như: trong bản đồ khoa học thường khó làm vì bản đồ phải "tải lượng" nhiều; thông thường dùng đến ký hiệu đồng tâm lớn dần lên vì chúng đảm bảo định vị chính xác các đối tượng
- Màu sắc rực rỡ và có độ tương phản cao giữa các nhóm lớp ký hiệu như: nhóm ký hiệu tham quan du lịch màu đỏ, nhóm liên quan du lịch màu ve, nhóm nền địa lý màu đen
Trang 25- Định vị ký hiệu tuỳ từng tình huống có thể đòi hỏi độ chính xác cao, nhằm giúp khách du lịch xác định đúng khoảng cách (các đoạn đường) đến điểm du lịch; hoặc không cao nếu chỉ cần giới thiệu về điểm du lịch
1.3.3.2 Phương pháp vùng phân bố
Phương pháp vùng phân bố phản ánh những đối tượng, hiện tượng phân bố rời rạc, không liên tục, được ứng dụng nhiều trong bản đồ du lịch, thường được áp dụng để thể hiện các vùng có hoạt động du lịch, khu danh thắng, bảo tồn, rừng tự nhiên hoặc nguyên sinh có ý nhĩa du lịch, khu vực nguy hiểm cho du lịch
Phương pháp vùng phân bố thể hiện trên các bản đồ du lịch nói chung có những đặc điểm sau đây:
- Ranh giới vùng phân bố phần lớn không chính xác (dùng đường nét đứt hoặc dấu chấm) do việc xác định ranh giới vùng chỉ là tương đối Đôi khi không có ranh giới mà chỉ dùng một ký hiệu tượng trưng như: dùng ký hiệu cây để phản ánh rừng, con động vật để phản ánh khu có thú hoang dã
- Các vùng phân bố trên bản đồ du lịch thường được thể hiện bằng màu nền nhạt hoặc pattern thưa để không ảnh hưởng làm lu mờ các ký hiệu dạng điểm trên vùng đó Đây là đặc điểm khá rõ ràng của bản đồ du lịch, bởi vì trong một vùng du lịch bao giờ cũng tập trung nhiều điểm du lịch
- Các vùng du lịch thường không phân biệt nhau về quy mô, mà phổ biến là phân biệt nhau về tính chất nên phổ biến là sử dụng các sắc màu khác nhau, có kèm theo ghi chú
1.3.3.3 Phương pháp ký hiệu tuyến
Phương pháp này sử dụng để biểu thị các đối tượng phân bố theo tuyến, chẳng hạn các tuyến giao thông, mạng lưới thuỷ văn, các khe, rãnh, mương xói, các hình thức phân bố cư trú theo tuyến…
Trên các bản đồ du lịch, phương pháp ký hiệu tuyến cũng rất phổ biến và quan trọng không kém gì phương pháp ký hiệu điểm
Phương pháp này được áp dụng để phản ánh các đối tượng, hiện tượng liên quan mật thiết đến hoạt động du lịch như: các tuyến, hướng du lịch, các đường giao
Trang 26thông; các luồng di chuyển của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên (thú, chim, sông suối có thác nghềnh, dòng chảy trong du lịch biển ) và kinh tế - xã hội (luồng hàng, ảnh hưởng môi trường, giao lưu văn hoá )
Sự thể hiển phương pháp ký hiệu tuyến trên bản đồ du lịch có những nét đặc trưng sau đây:
- Các ký hiệu tuyến thường có màu sắc nổi bật, lực nét đậm để làm nổi bật các tuyến du lịch, phân biệt với các ký hiệu hình tuyến thông thường mang tính chất nền địa lý (sông, đường, địa giới)
- Các tính chất du lịch khác nhau (đường hàng không, đường thuỷ, đường bộ, đường sắt, đường ô tô; hoặc quốc tế, quốc gia, nội tỉnh, nội vùng ) thường được phân biệt theo các biến trị thị giác sau:
+ Màu sắc khác nhau
+ Cấu trúc đường nét khác nhau
+ Lực nét khác nhau
+ Tổ hợp màu sắc, lực nét, ký hiệu
- Quy mô về du lịch (số lượng khách, tiềm năng vận tải ) thường có trên các bản
đồ du lịch chung hoặc kinh tế du lịch và được phân biệt bằng độ rộng của tuyến du lịch
- Trên các bản đồ du lịch, ký hiệu tuyến thường được kết hợp với ký hiệu đường chuyển động để phản ánh các hướng đi, hướng di động (du lịch leo núi, bơi thuyền trên sông, biển)
1.3.4 Các phương pháp biểu thị khác
- Các phương pháp biểu thị còn lại như đồ giải, biểu đồ, nền chất lượng cũng đều gặp trên bản đồ du lịch mang tính chuyên đề tự nhiên, kinh tê, xã hội như: các bản
đồ tài nguyên du lịch, kinh tế du lịch, quy hoạch du lịch
- Các phương pháp biểu thị chiều cao và phối cảnh của địa hình như đường đẳng trị, phân tầng màu, vờn bóng địa hình cũng khá điển hình và thường được áp dụng cho các bản đồ du lịch vùng núi, làm nổi bật cái đẹp của phong cảnh vùng du lịch
1.4 Tổng quan về các phương pháp thành lập nền cho bản đồ du lịch
14.1 Phương pháp nền chất lượng
Đây là phương pháp được sử dụng ở đa số các bản đồ du lịch ở Việt Nam Những đối tượng có cùng đặc tính chất lượng về hành chính- chính trị được khoanh
Trang 27vào một vùng Sau đó trên các vùng khác nhau tiến hành tô màu khác nhau để phân biệt giữa khu vực du lịch và các vùng lân cận Các màu được lựa chọn thường là các màu nhạt nhằm nổi bật các yếu tố nội dung du lịch
Thành lập nền bản đồ du lịch bằng phương pháp nền chất lượng đơn giản; chỉ cần thể hiện giữa các vùng bằng màu sắc khác nhau Đồng thời, chi phí của phương pháp này thấp, không tốn nhiều công sức khi thực hiện Song, các bản đồ du lịch này tính thẩm mĩ chưa cao, chưa thu hút được sự chú ý của người đi du lịch và chưa tạo được cảm giác thích thú cho khách du lịch khi xem bản đồ Ví dụ: tại khu vực Sa Pa đã
có bản đồ du lịch Sa Pa được thành lập năm 2003 của Nhà xuất bản và bản đồ
Hình 1.1: Nền bản đồ du lịch sử dụng phương pháp nền chất lượng
1.4.2 Mô hình số độ cao
Mô hình số độ cao là mô hình mà ở đó dùng số đo để mô tả hình học của bề mặt khu đo bằng các điểm các đường Thông thường người ta biểu diễn bề mặt bằng các điểm phân bố đều hoặc không đều Bề mặt này được hoàn thiện thêm bằng các yếu tố đặc trưng của địa hình (các điểm ghi chú độ cao, các đường đứt gãy) Các đường và các điểm nói trên cùng với phép nội suy giữa chúng tạo ra bề mặt địa hình Trong nhiều trường hợp mô hình số độ cao được thể hiện theo lưới phân bố (GRID) hình chữ nhật hoặc hình vuông và phép nội suy giữa chúng là song tuyến Tuy nhiên dạng tam giác không đều (TIN) cũng rất phổ biến
Trang 28Các thang tầng màu thường được sử dụng lập mô hình số độ cao:
- Thang lục - nâu: xây dựng theo cách thay đổi độ sáng, độ bão hoà, sắc thái và được trình bày cho các dạng địa hình khách nhau Màu lục dùng thể hiện cho vùng đồng bằng từ 0-200 m Tăng độ sáng màu lục theo độ cao làm tăng độ nổi của địa hình
Sử dụng màu nâu làm cho địa hình đồi núi nổi dần theo độ bão hòa Nhược điểm của thang này là màu nâu làm giảm hiệu ứng lập thể và không kết hợp được với phương pháp tô bóng địa hình
- Thang lục - da cam - đỏ: hơn hẳn thang lục - nâu và làm cho hiệu ứng lập thể tăng Thang này tương tự như thang quang phổ và nó được dùng rộng rãi để trình bày phân tầng địa hình Nhược điểm của thang này là làm giảm hiệu ứng lập thể và không kết hợp được với phương pháp tô bóng địa hình
- Thang cảnh quan: là gam màu dựa trên phân bố màu tự nhiên ở các độ cao khác nhau và trong điều kiện chiếu sang buổi chiều tối Lúc chiều tà là gam màu biến đổi từ vàng trên đỉnh núi, xuống thấp dần là màu da cam, màu hồng, hay tím Trên nguyên tắc này P.A Skvôsôv đưa ra thang mầu biến đổi từ lục, lục vàng, nâu-vàng, nâu, hồng tím, da cam-hồng, da cam, vàng Ưu điểm chính là dùng nền màu sạch, sáng cho các tầng trên cao của địa hình và kết hợp được với phương pháp tô bóng địa hình
- Thang Poiker: các tầng dưới là màu vô sắc xám, còn lại là màu hữu sắc thể hiện núi đồi theo thứ tự lục xám, lục, vàng, vàng - da cam, da cam, đỏ Nguyên tắc xây dựng là các màu vô sắc thay đổi độ sáng, các màu hữu sắc thay đổi sắc thái và tăng độ bão hoà ưu điểm của thang này là có tính lập thể cao và phân biệt rõ những tầng độ cao, càng cao thì càng sáng và bão hoà; thang này kết hợp được với phương pháp tô bóng địa hình
Thông thường thang màu cảnh quan và thang Poiker được sử dụng:
Bảng 1.1: Bảng màu cảnh quan
Trang 29Bảng 1.2: Bảng màu Poiker
Phương pháp này có ưu điểm là thể hiện được hiệu ứng lập thể của địa hình, tạo cho người đi du lịch gần gũi với vùng du lịch Song, các bản đồ du lịch thành lập nền bằng phương pháp mô hình số đôi khi gây cho người đi du lịch hiểu nhầm về điều kiện
tự nhiên của khu du lịch
Ví dụ: tại khu vực Sa Pa, thạc sỹ Lã Văn Hoan- Nhà xuất bản và bản đồ - thành lập bản đồ du lịch huyện Sa Pa tỉ lệ 1: 65 000 năm 2008, bằng phương pháp mô hình
số độ cao Bản đồ đã cải thiện được những khuyết điểm của phương pháp khoanh vùng Song, chi phí để thành lập bản đồ bằng phương pháp này cao hơn nhiều và tốn nhiều công sức hơn so với phương pháp khoanh vùng Hơn nữa, bản đồ này sử dụng thang tầng màu cảnh quan, địa hình càng lên cao, màu sắc càng nóng Điều này đã gây hiểu lầm cho người đi du lịch vì du khách sẽ có cảm giác nóng bức ở khu du lịch có khí hầu
ôn đới vùng núi cao như Sa Pa Trong khi, ở Sa Pa còn có tuyết rơi vào mùa đông
Hình 1.2: Mô hình số độ cao khu vực Sa Pa sử dụng thang cảnh quan
Trang 301.4.3 Ứng dụng tư liệu ảnh viễn thám
Sử dụng tư liệu ảnh viến thám để thành lập bản đồ chuyên đề đã được áp dụng nhiểu, nhất là trong thành lập bản đồ ảnh Nhưng trong thành lập bản đồ du lịch sử dụng tử liệu ảnh viễn thám làm nền thì chưa có đề tài nào, sản phẩm nào áp dụng, trong khi tư liệu viễn thám có rất nhiều điểm nổi trội hơn
Sử dụng tư liệu ảnh viễn thám được thu tại khu du lịch được tổng hợp màu với màu sắc tự nhiên trong không gian 3D Sử dụng phương pháp này có nhiều ưu điểm, khắc phục được hạn chế của phương pháp khoanh vùng và phương pháp mô hình số độ cao
Hình 1.3: Ảnh viễn thám tổng hợp màu tự nhiên trong không gian 3D huyện Sa Pa
Việc dùng tư liệu ảnh viễn thám tổ hợp màu tự nhiên thể hiện trong không gian 3D làm nền sẽ tạo tình trực quan cao; cho du khách một cảm giác gần với thực tế của khu du lịch Điều này tăng sự thích thú đối với khách du lịch, tăng sực thu hút của khu
du lịch đối với khách du lịch
Giá thành để thành lập bản đồ du lịch sẽ được giảm đi đáng kể so với phương pháp thành lập bằng mô hình số độ cao Do tư liệu ảnh viễn thám có giá thành thấp hơn nhiều so với chi phí để lập mô hình số độ cao
Do vậy đề tài luận văn chọn phương pháp nền ảnh viễn thám để thành lập bản
đồ du lịch huyện Sa Pa
Trang 31Chương 2: TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG TƯ LIỆU VIỄN THÁM VÀ GIS
TRONG THÀNH LẬP BẢN ĐỒ DU LỊCH 2.1 Khái niệm chung về viễn thám
2.1.2 Một số tính chất của viễn thám
a Các đặc trưng vật lý:
Năng lượng bức xạ Mặt trời hay một nguồn năng lượng nào khác (Ei) khi đi đến một đối tượng thì một phần bị phản xạ (Er), một phần bị hấp thụ (Ea) để chuyển thành năng lượng khác và một phần truyền qua vật (Et) Tỷ lệ giữa ba phần này khác nhau tuỳ theo đặc điểm cấu trúc, tính chất, trạng thái của đối tượng chịu tác động nhưng tổng các hợp phần luôn luôn bằng năng lượng đến: Ei= Er + Ea + Et Phần năng lượng phản xạ lại được sử dụng như một phương tiện truyền tin chính trong viễn thám Các bức xạ được ghi nhận bằng các thiết bị thu đặt trên các vật thể bay và được truyền
về mặt đất để xử lý thành tín hiệu ảnh chụp hoặc ảnh số Thông tin viễn thám có liên quan trực tiếp đến năng lượng phản xạ từ các đối tượng nên việc nghiên cứu các đặc tương phổ phản xạ của các đối tượng tự nhiên đóng một vai trò quan trọng trong việc khai thác, ứng dụng hiệu quả các thông tin thu được
Một đối tượng đều phản xạ lại năng lượng tới trong một phổ nhất định của sóng
và được gọi là phổ phản xạ Năng lượng phản xạ dưới dạng sóng điện từ nằm trên các dải phổ khác nhau cùng cho thông tin về một vật thể từ nhiều góc độ sẽ góp phần làm chính xác hơn cho việc giải đoán vật thể đó Khả năng phản xạ phổ của các đối tượng không những phụ thuộc vào cấu trúc, bản chất của chúng mà còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh như điều kiện chiếu sáng, môi trường khí quyển và trạng thái bề mặt
Trang 32của chúng Các yếu tố ngoại cảnh như điều kiện chiếu sáng, môi trường khí quyển và trạng thái bề mặt của chúng Các yếu tố ngoại cảnh khác nhau có mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh là rất cần thiết vì phải dựa vào các đối tượng tự nhiên Do vậy khi xử lý hình ảnh phải chú ý đến các thông số kỹ thuật của thiết bị được sử dụng
và các điều kiện khác như trạng thái môi trường khí quyển để có thể hiệu chỉnh nâng cao chất lượng ảnh viễn thám
b Các đặc trưng kỹ thuật:
(1) Khả năng thông tin của ảnh :
- Do độ phân giải phổ: Độ phân giải phổ liên quan đến độ rộng của band phổ
Ví dụ: ảnh SPOT có 4 band phổ, ảnh ASTER có 14 band phổ, ảnh LISS-II có 4 band phổ LANDSAT ETM+ có 7+1 band phổ
- Độ phân giải không gian: là phạm vi trường nhìn thấy tức thời của hệ thống đầu chụp mà dẫn xuất của nó là kích thước pixel
- Độ phân giải mặt đất: là khoảng cách nhỏ nhất để có thể phân biệt đối tượng liền nhau trên ảnh Độ phân giải càng cao (chỉ số nhỏ) thì thông tin mang lại càng chi tiết và ngược lại
- Độ phủ của ảnh: là khả năng bao quát đối tượng trên thực địa và khác nhau tuỳ thuộc vào mỗi vệ tinh Ví dụ: vệ tinh LANDSAT MSS, TM độ rộng của một trường quét là 185 km, SPOT HRV là 117 đến 950 km (của hai sensor)…
(2) Chu kỳ lặp lại:
Là khoảng thời gian một vị trí trên mặt đất được chụp lặp lại Ví dụ: LANDSAT 4,5,6,7 là 16 ngày, ASTER là 16 ngày…
(3) Khả năng tích hợp trực tiếp trong GIS
Ảnh viễn thám là một nguồn dữ liệu vào của GIS, các dữ liệu viễn thám sau khi phân tích có thể được tích hợp trong hệ thông tin địa lý những lớp thông tin khác
và thông qua chức năng của GIS như số hoá, vectơ hoá, overlay…
(4) Phương pháp xử lý
Có hai phương pháp xử lý đối với dữ liệu viễn thám là xử lý bằng mắt và xử lý
số Trong đó phương pháp xử lý bằng mắt là phương pháp đầu tiên, phổ biến và có thể
áp dụng trong mọi trường hợp với trang thiết bị không quá phức tạp Việc giải đoán
Trang 33bằng mắt chủ yếu dựa trên các dấu hiệu giải đoán Phương pháp số là phương pháp xử
lý dựa trên giá trị độ xám của ảnh Phương pháp này giữ một vai trò quan trọng do dữ liệu viễn thám thu được chủ yếu là dưới dạng số và đây có lẽ là phương pháp cơ bản trong viễn thám hiện đại
c Đặc trưng phổ phản xạ của các đối tượng tự nhiên:
(1) Đặc trưng phổ phản xạ của lớp phủ thực vật
Đặc trưng phổ phản xạ của lớp phủ thực vật có các đặc điểm sau đây:
- Vùng ánh sáng nhìn thấy, cận hồng ngoại và hồng ngoại khả năng phản xạ phổ khác biệt rõ rệt
- Vùng ánh sáng nhìn thấy phân lớp năng lượng bị hấp thụ bởi diệp lục có trong
lá cây, một phần nhỏ bị thầu qua còn lại bị phản xạ
- Vùng cận hông ngoại, lượng diệp lục có trong lá và cấu trúc lá ảnh hưởng lớn đến khả năng phản xạ phổ, ở vùng này khả năng phản xạ phổ mạnh nhất
- Vùng hồng ngoại nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng phản xạ phổ đó là hàm lượng nước Khi độ ẩm trong lá cao dần đến năng lượng hấp thụ là cực đại Ở vùng này ảnh hưởng của các cấu trúc tế bào lá đối với khả năng phản xạ phổ không lớn bằng hàm lượng nước trong lá
(2) Đặc trưng phổ phản xạ của nước
Nước có hệ số phản xạ cao hơn tại bước sóng 0,6µm và không phản xạ tại bước sóng 0,7µm ( tại bước sóng này nước thường có hệ số bằng 0) Khả năng phản xạ của nước phụ thuộc chủ yếu vào thành phần nước, độ đục và độ rõ của nước Nước bẩn chứa nhiều tạp chất có khả năng phản xạ phổ cao hơn nước sạch
(3) Đặc trưng phổ phản xạ của đất
Hệ số phản xạ của đất tăng từ vùng ánh sáng nhìn thấy đến vùng hồng ngoại Đất khô thường phản xạ ánh sáng hơn đất ưới tại cùng một bước sóng Đặc trưng phổ phản xạ của các loại đất khác nhau phụ thuộc vào lớp phủ thực vật, thành phần cơ giới
và đặc biệt là độ ẩm (do sự hấp thụ của nước trong đất làm giảm cường độ phản xạ), hàm lượng hữu cơ, cấu tượng của đất… Nhờ khả năng này mà tư liệu viễn thám có thể cung cấp thông tin về các chủng loại và trạng thái của đất
Trang 34Hỡnh 2.1: Đồ thị phổ phản xạ của cỏc đối tượng tự nhiờn (Nguyễn Ngọc Thạch, 2005 - Cơ sở viễn thỏm)
2.1.3 Một số loại tư liệu ảnh viễn thỏm
Tư liệu viễn thỏm bao gồm ảnh hàng khụng và ảnh vệ tinh Trong nội dung luận văn tỏc giả chủ yếu đề cập đến tự liệu ảnh vệ tinh Hiện nay, ảnh vệ tinh được chia làm
Với cỏc bộ cảm chủ động ( sử dụng nguồn năng lượng riờng)
- Radar: radarsat, ERS, Envisat, Space Shuttle
- Lidar (một loại ra đa phỏt tia la de): hiện đang được ứng dụng trong định hướng nền đường bay và được nghiờn cứu phục vụ cụng tỏc thành lập bản đồ
a Dữ liệu ảnh MODIS:
Modis là bộ cảm đặt trờn vệ tinh TERRA được phúng vào quỹ đạo thỏng 12/1999 và vệ tinh AQUA được phúng vào quỹ đạo thỏng 5/2002 với mục đớch quan trắc, theo dừi cỏc thụng tin về mặt đất, đại dương và khớ quyển trờn phạm vi toàn cầu
Hồng ngoại gần Hồng ngoại trung và xa
Đất khô
Thực vật
Đất ướt Nước
Trang 35Các ứng dụng tiêu biểu có thể kể đến là : nghiên cứu khí quyển, mây, thời tiết, lớp phủ thực vật, biến động về nông nghiệp và lâm nghiệp, cháy rừng, nhiệt độ mặt nước biển, mầu nước biển… Dữ liệu ảnh MODIS bao gồm 36 kênh trong các dải phổ nhìn thấy, cận hồng ngoại, sóng ngắn và kênh nhiệt với độ phân giải không gian từ 250m, 500, và 1000m MODIS có chu kỳ lặp lại cao và trong một ngày đêm có thể thu nhận được 2 ảnh ban ngày và 2 ảnh ban đêm đối với mọi vùng trên trái đất Đặc tính chụp phủ vùng rộng lớn (2230km), độ phân giải thời gian cao cộng với nhiều kênh thiết kế chuyên để tính hiệu chỉnh ảnh hưởng khí quyển đã làm tăng khả năng sử dụng ảnh MODIS trong nghiên cứu những vùng nhiệt đới nhiều mây Tại Việt Nam, việc kết hợp thông tin đa kênh phổ và đa thời gian của dữ liệu MODIS cho phép giám sát dài hạn một cách hiệu quả sự thay đổi của lớp phủ thực vật, theo dõi mức khô hạn nhiệt độ, thực vật và theo dõi hiện tượng đảo nhiệt… Theo một số nghiên cứu cho thấy, MODIS rất có ích cho các ứng dụng cảnh báo thiên tai yêu cầu thời gian thực và tính tác nghiệp cao
Bảng 2.1: Một số đặc tính của dữ liệu ảnh Spot
- 1 kênh toàn sắc (10m)
- 3 kênh đa phổ (20m)
Trang 36- 1 kênh hồng ngoại ngắn (20m)
Bước sóng
P: 0,48 - 0,71µm B1(chàm):0,50-0,59µm B2(đỏ):0,61-0,68µm B3(NIR):0,78-0,89µm B4(SWIR):1,58-1,75µm
M: 0,61 - 0,68µm B1(chàm):0,50-0,59µm B2(đỏ):0,61-0,68µm B3(NIR):0,78-0,89µm B4(SWIR):1,58-1,75µm
P: 0,50 - 0,73µm B1(chàm):0,50-0,59µm B2(đỏ):0,61-0,68µm B3(NIR):0,78-0,89µm
Kích thước
(theo www.spotimage.com)
Hình 2.2: Ảnh toàn sắc Spot 5(độ phân giải 2,5m, Lisbon - Portugal)
c Dữ liệu ảnh vệ tinh LANDSAT:
LANDSAT là vệ tinh tài nguyên của Mỹ do Cơ quan Hàng không và Vũ trụ (National Aeronautics and Space Administration- NASA) quản lý, cho đến nay đã có 7 thế hệ vệ tinh LANDSAT được nghiên cứu phát triển Vệ tinh LANDSAT 1 được phóng năm 1972, lúc đó đầu thu cung cấp tư liệu chủ yếu là MSS Từ năm 1985 vệ
Trang 37tinh LANDSAT 3 được phóng và mang đầu thu TM Vệ tinh LANDSAT 7 mới được phóng vào quỹ đạo tháng 4/1999 với đầu thu TM cải tiến gọi là ETM (Enhanced Thematic Mapper) Trên vệ tinh LANDSAT đầu thu có ý nghĩa quan trọng nhất và được sử dụng nhiều nhất là Thematic Mapper gọi tắt là TM có độ phân giải 28m, 1 kênh toàn sắc độ phân giải 15m và 1 kênh hồng ngoại nhiệt Vệ tinh LANDSAT bay ở
độ cao 705km, mỗi cảnh TM có độ bao phủ mặt đất là 185km x 170km với chu kỳ chụp lặp là 16 ngày
Hình 2.3: Ảnh vệ tinh Landsat TM
d Dữ liệu ảnh vệ tinh QUICKBIRD:
Vệ tinh Quickbird được đưa lên quỹ đạo tháng 10 năm 2001, bay ở độ cao 450km với chu kỳ 93,4 phút Hiện nay, Quickbird là vệ tinh cung cấp tư liệu ảnh có độ phân giải dưới 1m, đi đầu về độ chính xác trong định vị, có thiết bị lưu trữ dung lượng lớn đặt trên vệ tinh và khả năng quan sát cho một vùng có diện tích lớn Các tư liệu
Trang 38ảnh toàn sắc cũng như đa phổ của vệ tinh Quickbird trùm phủ toàn bộ bề mặt trái đất được thu nhận nhằm hỗ trợ các ứng dụng trong các lĩnh vực như đo vẽ bản đồ, đánh giá sản xuất nông nghiệp, quản lý và theo dõi hạ tầng cơ sở, quy hoạch đô thị, nghiên cứu môi trường và thiên tai… Ảnh có độ phân giải từ 61cm đến 70cm (kênh toàn sắc) mầu tự nhiên hoặc mầu hồng ngoại rất phù hợp cho giải đoán bằng mắt hoặc sử dụng như ảnh nền cho các ứng dụng GIS và đo vẽ bản đồ Ảnh đa phổ với độ phân giải 2,4m
và 2.8m rất phù hợp cho xử lý số và phân loại đa phổ
Thông tin về vệ tinh chụp ảnh Quickbird:
- Bề rộng tuyến chụp và diện tích: Bề rộng mặc định là 16,5km; vùng đơn là 16,5km x 16,5km; một dải: 16,5km x 165km
- Độ phân giải của bộ cảm và bề rộng kênh phổ
+ Ảnh toàn sắc: 61cm, bề rộng phổ từ 0,450 đến 0,950 µm + Ảnh đa phổ: 2,44m
Xanh chàm: 0,450 - 0,520 µm Xanh lục : 0,520 - 0,600 µm
Đỏ : 0,630 - 0,690 µm Cận hồng ngoại: 0,760 - 0,900 µm
e Dữ liệu ảnh vệ tinh ENVISAT:
Được phóng lên quỹ đạo ngày 28/2/2002, ENVISAT là vệ tinh quan sát trái đất lớn nhất mà con người chế tạo Nó mang theo 46 thiết bị chụp ảnh và thăm dò từ vũ trụ, trong đó có 10 dụng cụ rada và quang học phức tạp để có thể liên tục giám sát và quan sát Trái đất, khí quyển, đại dương và các mũ băng của trái đất Mỗi ngày ENVISAT tạo ra 240 gygabite dữ liệu Có khoảng 750 dự án khoa học thuộc mọi lĩnh vực đang
sử dụng dữ liệu này cùng với những người sử dụng thương mại Từ độ cao 800km, ENVISAT cung cấp thông tin về tình hình sử dụng đất, các cánh rừng và sa mạc hóa Thậm chí nó còn cung cấp dữ liệu về loại cây trồng đang được canh tác, tình trạng phát triển cũng như thăm dò hiện tượng lún đất trong các thành phố ở mức 1 mm/năm Ngoài ra nó còn giám sát được mực nước biển, nhiệt độ mặt biển, sự phân bố các sinh vật phù du, chất ô nhiễm bên trên các thành phố
Trang 39Ảnh vệ tinh ENVISAT MERIS:
Đầu thu: ENVISAT/MERIS (Medium Resolution Imaging Spectrometer);
- Bước sóng/Tần số: 0,412-0,9mm (VIS, NIR);
- Số kênh phổ: 15;
- Độ phân giải: 260m theo phương vuông góc với dải chụp, 290m dọc theo dải chụp;
- Độ rộng dải chụp: 1165km
Ảnh vệ tinh ENVISAT ASAR:
Đầu thu: ENVISAT/ASAR (Advanced Synthetic Aperture Radar)
- Bước sóng/Tần số: 5.331 Ghz (C - band);
- Số kênh phổ : 4 (phân cực);
- Độ phân giải: 30 - 1000m;
- Độ rộng dải chụp: 100 - 405km (5km đối với chế độ wave)
Ảnh vệ tinh ENVISAT/MERIS với diện tích phủ trùm lớn, tần suất chụp lặp cao, cung cấp thông tin trên nhiều kênh phổ sẽ cho phép thường xuyên cập nhật thông tin về tài nguyên và môi trường trên diện rộng (toàn bộ lãnh thổ và khu vực) bao gồm
cả trên đất liền và trên biển Tư liệu ảnh radar do đầu thu ENVISAT/ASAR cung cấp rất hữu ích trong việc quan sát, phân tích các đối tượng trên bề mặt và các dạng thiên tai như lũ lụt, ô nhiễm dầu Mặt khác, do khả năng chụp ảnh không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, các loại ảnh radar như ENVISAT/ASAR có vai trò hết sức quan trọng trong công tác theo dõi, giám sát tài nguyên và môi trường, nhất là đối với những nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa như Việt Nam, số ngày quang mây trong cả năm
để có thể chụp ảnh quang học là rất ít
2.2 Khả năng khai thác tư liệu viễn thám phục vụ cho thành lập bản đồ du lịch
Từ tư liệu viễn thám chúng ta có thể giải đoán được các yếu tố nội dung sau:
1 Hệ thống thuỷ văn: Hệ thống thuỷ văn được nhận biết trên ảnh không mấy
khó khăn bởi chúng là các địa vật hình tuyến, hệ thống đường bờ thể hiện rất rõ, rất đặc trưng về hình dạng cong lượn tự nhiên và hình ảnh của bề mặt nước thường rất khác biệt so với các đối tượng xung quanh Những hình ảnh đặc trưng này là do độ xám của các yếu tố thuỷ văn thể hiện trên ảnh được quyết định bởi điều kiện chụp ảnh,
độ sâu, chất đáy, độ trong của nước…
Trang 402 Địa hình: Các đối tượng của địa hình thường thể hiện rất rõ các đường đứt
gẫy đột biến như các vách sụt lở, các khe vực… Những yếu tố này có nền màu rất khác biệt, phía trên thường có dải xám trắng, phía dưới thường có màu xám đem
3 Lớp phủ thực vật: Đây là một trong những yếu tố dễ dàng nhận biết trên ảnh
viễn thám nhất Các yếu tố thực phủ được nhận biết trên ảnh thông qua màu sắc, nền màu, cấu trúc kết hợp với hình dáng, diện tích và vị trí địa lý Khi giải đoán yếu tố này, không những nhận biết được chính xác mà còn xác định được rất nhiều các đặc trưng khác của chúng như: Nguồn gốc, tuổi rừng, tầng thứ, mật độ, độ che phủ, diện tích của lớp phủ thực vật,… Xác định được những yếu tố đặc trưng trên là rất có ý nghĩa trong thành lập các bản đồ du lịch trên khu vực có vườn sinh thái, vườn quốc gia…
4 Dân cư: Đây là yếu tố địa vật rất đặc trưng, việc nhận biết yếu tố này chủ
yếu dựa vào đặc trưng cấu trúc và vị trí phân bố Dựa vào một số đặc trưng ta có thể phân biệt được các loại hình dân cư như: đô thị (thị xã, thành phố, thị trấn), nông thôn (đông đúc, thưa thớt), khu trung tâm du lịch và các vùng lân cận… Đặc biệt, tính cập nhật thông tin về khu du lịch lại rất cao do ảnh được chụp thởi điểm mới hơn nhiều so với bản đồ lấy cơ sở địa lý là bản đồ địa hình
5 Hệ thống giao thông: Đây là các yếu tố có dạng hình tuyến, dựa vào hình
dạng và vị trí tương đối với các đối tượng khác có thể nhận biết được chúng và các yếu
tố phụ trợ khác như: cầu, cống, đập tràn, đò, phà,…
Như vậy với khả năng khai thác được những thông tin trên từ tư liệu viễn thám, đặc biệt là xác định chính xác và chi tiêt được các yếu tố dân cư và giao thông cho phép hỗ trợ, xây dựng, cập nhật cho bản đồ du lịch từ các tư liệu này
2.3 Khái niệm chung về GIS:
2.3.1 Khái niệm
Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System-GIS) là một hệ thống bao gồm phần cứng, phần mềm, dữ liệu và con người nhằm thu thập, lưu trữ, cập nhật, xử lý, phân tích và hiển thị các thông tin địa lý trên bề mặt trái đất
2.3.2 Các thành phần của GIS
GIS gồm 4 thành phần cơ bản
a) Phần cứng của GIS được xem như là phần cố định mà bằng mắt thường có thể dễ dàng thấy được Nó bao gồm máy tính và các thiết bị ngoại vi Máy tính có thể