1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, xác định trữ lượng khai thác hợp lý nước dưới đất cho đơn vị hành chính tỉnh, đề xuất biện pháp quản lý, giám sát sự biến động nguồn tài nguyên nước dưới đất áp dụng cho tỉnh long an

120 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu, xác định trữ lượng khai thác hợp lý nước dưới đất cho đơn vị hành chính tỉnh, đề xuất biện pháp quản lý, giám sát sự biến động nguồn tài nguyên nước dưới đất áp dụng cho tỉnh Long An
Trường học Trường Đại Học Tài Nguyên Và Môi Trường
Chuyên ngành Tài Nguyên Nước
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Long An
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 8,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP ðÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC NƯỚC DƯỚI ðẤT (5)
    • 1.1. Các nghiên cứu trên thế giới (5)
    • 1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam (10)
  • CHƯƠNG 2: ðIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI (11)
    • 2.1. ðiều kiện tự nhiên (11)
      • 2.1.1. ðặc ủiểm ủịa lý tự nhiờn (11)
      • 2.1.2. ðặc ủiểm ủịa chất (15)
      • 2.1.3. đánh giá chung về các ựiều kiện tự nhiên liên quan ựến tài nguyên nước (18)
    • 2.2. ðiều kiện kinh tế - xã hội (20)
      • 2.2.1. Dõn số - lao ủộng (20)
      • 2.2.2. Y tế - giáo dục- văn hóa – xã hội (20)
      • 2.2.3. Thực trạng phát triển kinh tế (21)
      • 2.2.4. Phương hướng và mục tiờu phỏt triển kinh tế - xó hội ủến năm 2010 (23)
      • 2.2.5. Dự bỏo một số chỉ tiờu phỏt triển kinh tế ủến năm 2020 (24)
      • 2.2.6. đánh giá chung về các ựiều kiện kinh tế Ờ xã hội liên quan ựến tài nguyên nước (25)
  • CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC SỬ DỤNG (27)
    • 3.1. Tài nguyên nước mặt (27)
      • 3.1.1. ðặc ủiểm mạng lưới sụng, rạch (27)
      • 3.1.2. Mạng lưới quan trắc thuỷ văn (28)
      • 3.1.3. ðặc ủiểm phõn bố tài nguyờn nước mặt (29)
      • 3.1.4. Chất lượng nước và xâm nhập mặn (33)
    • 3.2. Nước dưới ủất (41)
      • 3.2.1. Tầng chứa nước lỗ hổng Holocen (qh) (41)
      • 3.2.2. Tầng chứa nước lỗ hồng các trầm tích Pleistocen trên (qp 3 ) (43)
      • 3.2.3. Tầng chứa nước lỗ hồng các trầm tích Pleistocen giữa - trên (qp 2- (44)
      • 3.2.4. Tầng chứa nước các trầm tích Pleistocen dưới (qp 1 ) (48)
      • 3.2.5. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pliocen trên (n 2 2 ) (50)
      • 3.2.6. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pliocen dưới (n 2 1 ) (54)
      • 3.2.7. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Miocen trên (n 1 3 ) (58)
    • 3.3. Hiện trạng khai thỏc nước dưới ủất (60)
      • 3.3.1. Hiện trạng khai thỏc nước dưới ủất cho cỏc ủụ thị (60)
      • 3.3.2. Hiện trạng khai thỏc nước dưới ủất nụng thụn (64)
      • 3.3.3. đánh giá nhu cầu khai thác sử dụng nước theo các giai ựoạn (66)
  • CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU, XÁC ðỊNH TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC HỢP LÝ NƯỚC DƯỚI ðẤT (69)
    • 4.1. Trữ lượng khai thác hợp lý (69)
    • 4.2. Xõy dựng mụ hỡnh nước dưới ủất (69)
      • 4.2.1. Cơ sở lý thuyết phương pháp mô hình (69)
      • 4.2.2. Xõy dựng mụ hỡnh nước dưới ủất tỉnh Long An (71)
      • 4.2.3. Chỉnh lý mô hình (78)
      • 4.2.4. đánh giá diễn biến số lượng, chất lượng nước dưới ựất theo sơ ựồ (80)
    • 4.3. đánh giá trữ lượng tiềm năng nước dưới ựất (89)
    • 4.4. Nghiờn cứu, ủỏnh giỏ, xỏc ủịnh trữ lượng khai thỏc hợp lý nước dưới ủất (90)
      • 4.4.1. Nghiờn xỏc ủịnh trữ lượng khai thỏc hợp lý nước dưới ủất cho cỏc (90)
      • 4.4.2. Nghiờn xỏc ủịnh trữ lượng khai thỏc hợp lý nước dưới ủất cho cỏc tầng chứa nước chính (99)
      • 4.4.4. Nghiờn cứu, xỏc ủịnh cơ sở phõn vựng trữ lượng khai thỏc hợp lý nước dưới ủất (99)
    • 4.5. Dự báo xâm nhập mặn theo phương án khai thác hợp lý (103)
      • 4.5.1. Tầng chứa nước Pleistocen giữa - trên (103)
      • 4.5.2. Tầng chứa nước Pleistocen dưới (104)
      • 4.5.3. Tầng chứa nước Pliocen trên (104)
      • 4.5.4. Tầng chứa nước Pliocen dưới (105)
  • CHƯƠNG 5: NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, GIÁM SÁT SỰ BIẾN ðỘNG NGUỒN TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ðẤT (107)
    • 5.1. Biện pháp quản lý (107)
    • 5.2. Biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn nước (107)
    • 5.3. Xõy dựng mạng lưới giỏm sỏt sự biến ủộng nguồn tài nguyờn nước dưới ủất (108)
    • 5.4. Các biện pháp cụ thể (109)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (113)

Nội dung

TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP ðÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC NƯỚC DƯỚI ðẤT

Các nghiên cứu trên thế giới

Trữ lượng nước trên hành tinh chúng ta ước tính gần 1,4 tỷ km³, trong đó 97,46% là nước mặn không thể sử dụng cho công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt Chỉ có 0,8% là nước ngọt, nhưng giá trị của lượng nước này rất lớn Tổng dòng chảy hàng năm của các con sông khoảng 45 nghìn km³, trong khi lượng nước mưa hàng năm gấp 60-70 lần nhu cầu sử dụng của con người Tuy nhiên, phân bố nước không đều, với nhiều khu vực có lượng mưa thấp hơn nhu cầu sử dụng Ngoài nước mưa và nước mặt, nước ngọt cũng tồn tại trong các lỗ hổng và khe nứt của đất, tạo thành nguồn nước ngầm quý giá.

Sự phát triển và hiểu biết về trữ lượng nước dưới đất có mối liên hệ chặt chẽ với nghiên cứu và hoàn thiện phương pháp ước lượng chúng, cũng như hiểu biết về quá trình thấm trong các điều kiện địa chất thủy văn khác nhau Nghiên cứu phương pháp ước lượng trữ lượng khai thác nước dưới đất trong điều tra địa chất thủy văn bắt đầu từ những năm 20 – 30 của thế kỷ trước Nhịp độ phát triển nhanh chóng của công nghiệp và nông nghiệp trong giai đoạn này đã tạo ra nhu cầu cấp thiết về nguồn nước dưới đất.

Xụ cũ đã giao nhiệm vụ cấp thiết cho việc tìm hiểu kỹ lưỡng về nước dưới đất, coi đây là nguồn cung cấp nước tưới và yếu tố quyết định điều kiện khai thác các khoáng sản có ích cũng như cải tạo đất Sự phát triển hiểu biết về trữ lượng nước dưới đất cần được thực hiện theo hai hướng chính.

- Nghiờn cứu trữ lượng tĩnh và ủộng tự nhiờn

- Nghiên cứu trữ lượng khai thác

Lần đầu tiên, việc ước lượng trữ lượng nước dưới đất được thực hiện bởi các kỹ sư V.G.Sukhov, E.K.Kiorre và K.Le.Lemke trong giai đoạn 1887 – 1888 tại Moscow Dưới thời kỳ Xô Viết, G.N.Kamenxki, I.V.Garmonov, D.I.Segolev, N.X.Gokarev cùng nhiều nhà khoa học khác đã có những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu trữ lượng nước dưới đất Bản đồ trữ lượng nước của một khu vực ngoại ô Moscow được G.N.Kamenxki và I.V.Garmonov tạo lập, đã được trình bày tại hội nghị địa chất thủy văn lần thứ nhất Dự án này được hoàn thành dựa trên điều tra thăm dò địa chất thủy văn chi tiết và vẽ bản đồ chuyên môn.

Năm 1930, N.X Gokarev và D.I Segobev đã tiến hành khảo sát trữ lượng nước dưới đất trong bồn Donets, thông qua nghiên cứu mô đun và hệ số dòng ngầm.

Vào năm 1937-1938, Ph.A Makarenko đã tiến hành khảo sát trữ lượng nước tự nhiên của bồn actezi Xontri – Masenxtinxki dựa trên tài liệu thống kê dòng kiệt của các con sông Phương pháp này ứng dụng phương trình dòng thấm không ổn định dưới dạng sai phân do G.N Kamenxki đề xuất trước năm 1940, đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu giá trị cung cấp của nước ngầm Đến nay, phương pháp này vẫn giữ được ý nghĩa và đã được hoàn thiện trong các công trình của A.V Lebedev, P.A Kixelev, và M.A Veviorobxki.

Kể từ năm 1949, việc nghiên cứu giá trị cung cấp thấm của nước dưới đất đã được thực hiện bằng phương pháp cón bằng nước trong một lãnh thổ nhất định Các công trình của A.V Lebedev, A.V Taktruk, M.M Krulov và một số nhà nghiên cứu khác đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển phương pháp này.

B.I.Kudelin là người cú cụng lao lớn trong nghiờn cứu trữ lượng ủộng tự nhiên của nước ngầm và nước actezi Ông nghiên cứu rất chi tiết phương pháp phân chia dũng ngầm từ dũng mặt trờn cơ sở phõn chia biểu ủồ thủy văn nguồn gốc những con sụng Nhờ phương phỏp này người ta ủó tiến hành ủỏnh giỏ trữ lượng ủộng tự nhiờn của nước dưới ủất ủới trao ủổi nước mạnh trong cỏc vựng ủịa chất thủy văn

Trong những năm gần đây, nghiên cứu thực nghiệm về lượng cung cấp nước ngầm đã được tiến hành ngoài trời Các công trình nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực này bao gồm các dự án của VXEGINGEO, tổng hợp Kiep, tổng hợp Matxcova, Viện địa chất thuộc Viện hàn lâm khoa học Ukraine, và Viện thủy văn quốc gia của Liên Xô cũ.

Nghiên cứu hệ thống khai thác nước dưới đất nhằm cung cấp nước bắt đầu ở Liên Xô cũ vào những năm 30, mặc dù khái niệm về trữ lượng khai thác chỉ xuất hiện sau đó một thời gian ngắn.

Sự phát triển kinh tế Liên Xô trước đây, cùng với sự gia tăng dân số tại các thành phố và sự hình thành các trung tâm công nghiệp, đã dẫn đến nhu cầu cấp thiết về việc xây dựng các công trình khai thác nước lớn tập trung Để giải quyết vấn đề cung cấp nước, cần nghiên cứu các phương pháp thăm dò nước dưới đất và đánh giá trữ lượng của chúng Công tác nghiên cứu được tiến hành bởi ban nghiên cứu và sử dụng nước dưới đất, do nhà địa chất thủy văn nổi tiếng V.X Ilin dẫn dắt, cùng với sự tham gia của các nhà khoa học hàng đầu như O.K Lange.

A.X.Xemikhatov, G.N.Kamenxki Trong thời kỳ này ủó thực hiện một khối lượng công tác thăm dò nước rất lớn ở những vùng khác nhau của Liên Xô cũ Thí dụ cụng trỡnh nghiờn cứu ủịa chất thủy văn ủể xõy dựng cỏc cụng trỡnh khai thỏc nước ở Bacu trong khu vực song Xamur – Kuartrai (của N.K.Ignatovitr) trong vùng Matxcova ở Tula (của M.E.Antopxki), Minxk (của G.V.Bogomolov), v.v… Các cụng trỡnh của M.E.Antopxki cụng bố năm 1936 và phương phỏp nghiờn cứu ủịa chất thủy văn ủể cung cấp nước của N.A.Plotnhikov, G.N.Kmenxki, M.P.XeMennov, X.V.Troianxki… cú ý nghĩa rất lớn khi giải quyết cỏc vấn ủề trờn

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, nhu cầu sử dụng nước dưới đất tăng nhanh, liên quan đến sự phục hồi và phát triển của ngành công nghiệp và nông nghiệp ở Liên Xô Điều này yêu cầu gia tăng khối lượng thăm dò nước dưới đất để đáp ứng nhu cầu cung cấp nước Nghiên cứu về nước dưới đất trở nên mạnh mẽ và bắt đầu vào giữa những năm 1950, coi nước dưới đất như một khoáng sản quý giá.

Lý thuyết chuyển động ổn định được coi là cơ sở khoa học trong việc ước lượng trữ lượng khai thác nước dưới đất, thông qua việc xác định lưu lượng của dòng thấm tự nhiên và tính toán công suất các lỗ khoan Phương pháp “hao hụt” của M.E Antopxki giúp phân tích sự tương tác giữa các lỗ khoan, nhưng trong nhiều trường hợp, phương pháp này không phù hợp với điều kiện tự nhiên cụ thể Một số trường hợp cho thấy mặc dù lưu lượng dũng ngầm dường như đủ, nhưng lại xảy ra hạ thấp mực nước thường xuyên Do đó, cần nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của cấu trúc địa chất và điều kiện thủy văn đến sự hình thành trữ lượng khai thác nước dưới đất Giai đoạn mới trong nghiên cứu này, đặc biệt với công trình phân loại mỏ nước dưới đất của N.I Plotnhikov năm 1959, đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển lý thuyết về trữ lượng nước dưới đất và xác định các yếu tố quyết định trong việc hình thành trữ lượng này.

Những dạng cơ bản của điều kiện ranh giới được nghiên cứu bởi Ph.M.Botrever và bổ sung bởi N.N.Binủeman, giúp phân tích điều kiện hình thành trữ lượng các kiểu mỏ nước dưới đất Phương pháp thủy động lực được sử dụng để tính toán hiệu quả làm việc của các công trình khai thác và xây dựng phương pháp thí nghiệm thấm Giai đoạn này tập trung vào việc phát triển phương pháp mới nhằm đánh giá trữ lượng khai thác nước dưới đất dựa trên lý thuyết về động học đàn hồi và thấm không ổn định Sự phát triển của phương pháp này tại Liên Xô có liên quan mật thiết đến các công trình của nhiều nhà khoa học như Ph.M.Botrever, N.N.Binủeman, N.N.Verighin, V.M.Sextakov, và V.N.Senkatrev.

Các nghiên cứu ở Việt Nam

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, việc thăm dò và đánh giá trữ lượng nước dưới đất trở thành nhiệm vụ quan trọng nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Các công tác điều tra, nghiên cứu địa chất thủy văn và các phương pháp đánh giá trữ lượng đã được đẩy mạnh, đặc biệt sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố dưới dạng sách tham khảo và bài giảng, cùng với các đề tài luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ liên quan đến trữ lượng nước dưới đất trong các vùng và thành tạo khác nhau Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, làm sáng tỏ và thống nhất.

Trữ lượng nước dưới đất là khái niệm quan trọng, được phân loại theo các tiêu chí như trữ lượng tĩnh (tĩnh trọng lực, tĩnh điều tiết, tĩnh đàn hồi), trữ lượng tự nhiên và nhân tạo, cũng như trữ lượng cuốn theo và khai thác Ở Liên Xô cũ, trữ lượng được phân cấp thành 4 loại A, B, C1 và C2, trong đó cấp A là đối tượng đầu tư cho các dự án khai thác Mặc dù các khái niệm và phương pháp đánh giá trữ lượng đã được áp dụng rộng rãi và được các cơ quan quản lý tại Việt Nam công nhận, nhưng hiện tại vẫn chưa có văn bản chính thức nào quy định rõ ràng tiêu chí đánh giá và thẩm duyệt trữ lượng nước dưới đất.

ðIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI

ðiều kiện tự nhiên

2.1.1 ðặ c ủ i ể m ủị a lý t ự nhiờn a V ị trớ ủị a lý

Long An là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí địa lý đặc biệt giữa miền đông và miền Tây Nam Bộ Phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh và Vương quốc Campuchia, phía Đông giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang Tỉnh Long An có tọa độ địa lý thuận lợi, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và giao thương.

Từ 10 0 23'40" ủến 11 0 02'00" vĩ ủộ Bắc;

Từ 105 0 30'30" ựến 106 0 47'02" kinh ựộ đông

Hỡnh 2.1 Sơ ủồ hành chớnh tỉnh Long An

Tỉnh Long An có 14 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thị xã và 13 huyện, với 188 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn Tổng diện tích của tỉnh đạt 4,492.4 km² Là cửa ngõ phía Tây của TP Hồ Chí Minh, Long An nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và có hệ thống sông ngòi phong phú, đặc biệt là sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây Tỉnh có đường biên giới dài 137,7 km với Campuchia, tạo nên vị trí địa lý quan trọng cho phát triển kinh tế và quốc phòng.

Long An là vùng chuyển tiếp giữa địa hình ủồi thấp và đồng bằng, với địa hình dốc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cao từ 0,4m đến 6,5m so với mực nước biển Khu vực này bị chia cắt bởi hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt Các khu vực địa hình tương đối cao nằm ở phía Bắc và Đông Bắc, trong khi đồng Tháp Mười với diện tích gần 300 nghìn ha thường xuyên bị lũ lụt hàng năm Ngoài ra, khu vực phía Nam thường xuyên bị nhiễm mặn và phèn mặn.

Long An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27°C, tuy nhiên, nhiệt độ có sự chênh lệch theo từng khu vực, đặc biệt là tại Tân.

Nhiệt độ trung bình tại Mộc Hóa là 27,6°C, cao hơn mức trung bình toàn khu vực là 26,4°C Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các năm không lớn, dao động từ 26,2°C (Tân An năm 2000) đến 27,9°C (Mộc Hóa năm 2002), với mức chênh lệch chỉ khoảng 1,5°C Tháng 4 ghi nhận nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm, đạt 28,6°C, trong khi tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất, chỉ khoảng 25,4°C.

Bảng 2.1 Nhiệt ủộ trung bỡnh năm tại một số trạm [4]

Nhiệt ủộ trung bỡnh năm, o C

Cũng như cỏc tỉnh khỏc ở vựng ủồng bằng sụng Cửu Long, mựa mưa ở Long

Mùa mưa ở tỉnh bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng X, nhưng có năm kết thúc muộn vào tháng XI Mùa khô bắt đầu từ tháng XI và kéo dài đến tháng IV năm sau Lượng mưa bình quân hàng năm trên toàn tỉnh khá thấp, khoảng 1.490mm Tuy nhiên, lượng mưa có sự khác biệt lớn giữa các vùng, với nơi cao nhất đạt 1.737mm (Mộc Hóa) và nơi thấp nhất chỉ 1.312mm (Bến Lức) Mùa mưa chiếm khoảng 81,6% tổng lượng mưa hàng năm, trong khi mùa khô chỉ chiếm phần còn lại Vào mùa hè, thường có mưa rào và mưa dông, với lượng mưa trung bình tháng cao nhất đạt 363,9mm (tháng X tại Mộc Hóa) và thấp nhất chỉ 0,2mm (tháng I tại Cần Đước).

Bảng 2.2 Lượng mưa trung bỡnh thỏng tại cỏc trạm ủo tỉnh Long An [25]

Lượng mưa trung bình tháng, mm Trạm ủo

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

Lượng mưa trung bình tháng, mm Trạm ủo

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

Tổng năm ðức Hoà 7.6 8.0 13.8 39.5 187.0 242.7 174.7 200.1 187.7 252.4 91.7 32.7 1,437.9 Tân An 12.7 4.6 4.7 72.6 180.4 167.3 184.0 200.8 187.1 247.2 97.3 32.9 1,391.6 Mộc Hoá 13.5 10.8 12.8 60.6 190.5 159.4 218.3 190.2 262.5 363.9 172.3 82.2 1,737.0 Bến Lức 8.2 9.1 19.9 73.4 153.3 163.5 140.2 148.5 137.8 274.9 134.3 48.8 1,311.9 Tuyên

Hỡnh 2.2 Biểu ủồ lượng mưa trung bỡnh thỏng nhiều năm tỉnh Long An [25] + ðộ ẩ m

Tỉnh có độ ẩm cao, dao động từ 80-87%, với độ ẩm trung bình nhiều năm khoảng 84,1% Khu vực Mộc Hóa có độ ẩm thấp hơn, chỉ đạt 79-80% do lượng mưa ít, nắng nhiều và nhiệt độ cao Trong năm, mùa mưa có độ ẩm cao hơn nhiều so với mùa khô, đạt từ 86-87% Độ ẩm tháng cao nhất ghi nhận lên đến 95% vào tháng 2/2001 tại Tân An, trong khi độ ẩm tháng thấp nhất có nơi chỉ còn 73% vào tháng 1/2003 tại Mộc Hóa.

Bốc hơi tại các trạm khí tượng chủ yếu được đo bằng ống Piche, với lượng bốc hơi trung bình toàn tỉnh đạt 882,5mm/năm do nền nhiệt độ cao và nắng nhiều Xu hướng bốc hơi gia tăng ở vùng có độ cao thấp, đạt khoảng trên 900mm/năm Lượng bốc hơi trung bình tháng dao động từ 55,2-103mm, trong đó thấp nhất là 55,2mm vào tháng X tại Tân An và cao nhất là 103mm vào tháng III Trong mùa khô, lượng bốc hơi từ 64,2-103mm/tháng, trong khi vào mùa mưa, lượng này giảm còn 55,2-97,8mm/tháng.

Bảng 2.3 Lượng bốc hơi trung bỡnh thỏng giai ủoạn 2001-2006 [25] ðộ ẩm trung bình tháng, % STT Tên trạm

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

T bình 74.6 76.0 92.8 90.2 76.5 65.9 65.1 69.6 69.4 59.9 70.7 72.2 882.5 Nhỡn chung, khớ hậu tỉnh Long An khỏ ụn hũa Ngoài cỏc ủặc ủiểm khớ hậu chớnh trờn ủõy thỡ vựng ớt thấy cỏc hiện tượng ủặc biệt khỏc Tuy vậy, cũng cần ủề cập một vài biến cố thời tiết cú thể xẩy ra như bóo và ỏp thấp nhiệt ủới

Thống kê trong hơn 100 năm qua cho thấy chỉ khoảng 10% cơn bão đổ bộ vào vùng biển Việt Nam có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tỉnh Rất ít cơn bão đổ bộ trực tiếp vào đất liền Một số cơn bão lớn đáng chú ý trong 100 năm qua bao gồm bão số X-1952, ảnh hưởng đến hầu hết lưu vực sông Đồng Nai, và trận bão tháng XII-1964 cùng với một số áp thấp nhiệt đới khác.

Tỉnh Long An sở hữu hệ thống sông ngòi phong phú với hơn 500 sông, rạch tự nhiên dài khoảng 1.300km và hàng nghìn kênh, mương các cấp dài khoảng 2.500km, tạo thành một hệ thống thủy lợi chặt chẽ Hệ thống sông chính là Vàm Cỏ, bao gồm Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và hợp lưu ra cửa sông Soài Rạp Các sông suối nhỏ trong tỉnh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn tải và tiêu nước cho các vùng trên địa bàn.

Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ biên giới Việt Nam - Campuchia tại Xamát, chảy qua tỉnh Tây Ninh và vào địa phận Long An Sông này đi qua các huyện Đức Hòa, Đức Huệ và Bến Lức, trước khi nối với sông Vàm.

Cỏ Lớn gặp sụng Nhà Bố và ủổ ra biển ở cửa sụng Soài Rạp

Sông Vàm Cỏ Tây bắt nguồn từ biên giới Việt Nam - Campuchia, chảy vào Việt Nam tại xã Bình Tứ (Vĩnh Hưng) và tiếp tục qua Bình Châu, đoạn này được gọi là sông Long Khốt Sau đó, sông chảy qua Bầu Nâu, Cỏi Rưng và được gọi là sông Vàm Cỏ Tây, tiếp tục đi qua các huyện Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Tân Trụ, Châu Thành, trước khi hợp lưu với sông Vàm Cỏ và đổ ra biển tại cửa sông Soài Rạp.

2.1.2 ðặ c ủ i ể m ủị a ch ấ t a ðặ c ủ i ể m ủị a ch ấ t

Trong vựng dự ỏn ủó phỏt hiện sự cú mặt của cỏc ủỏ cú tuổi từ Kreta ủến Kainozoi

+ Th ố ng h ạ , h ệ t ầ ng D ầ u Ti ế ng (K 1 dt)

Cỏc trầm tớch hệ tầng Dầu Tiếng chỉ ủược phỏt hiện ở cỏc lỗ khoan sõu trờn

Tại lỗ khoan 27 (Vĩnh Hưng), hệ tầng ủược được ghi nhận từ độ sâu 333,5 đến 338,5 mét, trong khi lỗ khoan 21 (Tân Thạnh) có độ sâu từ 393,0 đến 401,1 mét Thành phần ủất ủỏ chủ yếu gồm cát kết, bột kết, cuội kết và sột kết xen kẹp Tuy nhiên, các lỗ khoan hiện tại mới chỉ khống chế được một phần nhỏ của phong hóa, do đó chưa có cơ sở mô tả chi tiết Hệ tầng này vẫn ở trạng thái mềm bở và vụn, với chiều dày chung khoảng 200 mét.

Các trầm tích Neogen trong vùng khụng chỉ được phát hiện qua các lỗ khoan mà không lộ ra trên bề mặt Chúng bao gồm các trầm tích thuộc hệ tầng Phụng Hiệp (N 1 3 ph) và hệ tầng Nhà.

Bè (N 2 1 nb), hệ tầng Năm Căn (N 2 2 nc)

+ Th ố ng Mioxen th ượ ng, h ệ t ầ ng Ph ụ ng Hi ệ p ( N 1 3 ph)

ðiều kiện kinh tế - xã hội

Tính đến năm 2006, dân số tỉnh Long An khoảng 1.400 nghìn người, trong đó huyện Đức Hòa có dân số đông nhất với 201,5 nghìn người, còn huyện Tân Hưng có dân số thấp nhất chỉ 42,7 nghìn người Mật độ dân số toàn tỉnh đạt 312 người/km², nhưng phân bố không đều giữa các vùng Khu vực có mật độ dân số cao nhất lên tới 1.467 người/km² là thị xã Tân An, trong khi huyện Tân Hưng có mật độ dân số chỉ 86 người/km².

Tỉnh có tổng dân số 230,1 nghìn người, chủ yếu tập trung tại thị xã Tân An (33,1%) và huyện Đức Hòa (15,4%), trong khi huyện Tân Hưng có dân số thấp nhất chỉ chiếm 1,4% Tổng dân số nông thôn của tỉnh đạt 1.170,4 nghìn người, với huyện Đức Hòa có tỷ lệ cao nhất là 14,2%.

Tỉnh có tổng nguồn lao động đạt 891,9 nghìn người, chiếm 64% dân số Trong đó, 3% chưa có việc làm, 5,8% đang đi học, 1% mất sức lao động, và 83,6% đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Số còn lại chủ yếu là nội trợ, có việc làm tạm thời hoặc không có nhu cầu làm việc.

Năm 2006, thành phố có 201 cơ sở y tế, bao gồm 3 bệnh viện đa khoa, 1 bệnh viện lao, 1 trung tâm y tế dự phòng, 2 trung tâm bảo vệ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình, 1 trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, 14 trung tâm y tế huyện và 179 trạm y tế xã phường Trong đó, 70% trạm y tế xã đã được xây dựng kiên cố, và tỷ lệ tiêm chủng mở rộng hàng năm đạt mức cao.

Trong 10 năm 1991-2000, chất lượng giỏo dục và ủào tạo của tỉnh Long An ủó từng bước ủược nõng cao theo hướng ủa dạng hoỏ, xó hội hoỏ mạng lưới trường lớp ngành học, trường học Trong giai ủoạn 2000-2004, giỏo dục ủào tạo phỏt triển tương ủối toàn diện ở cỏc cấp học, chất lượng dạy và học ủược nõng lờn, gúp phần nõng cao mặt bằng dõn trớ và phỏt triển nguồn nhõn lực Phổ cập tiểu học ủỳng tuổi 100%, phổ cập trung học cơ sở ủạt 65%; tỷ lệ trẻ, học sinh ủi học ủỳng tuổi ngày càng ủược nõng cao; 95% ủội ngũ giỏo viờn ủược chuẩn hoỏ [4]

Hệ thống thông tin tuyên truyền đang được củng cố nhằm nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân Ngành văn hóa và thông tin đã tiến hành xây dựng các trung tâm văn hóa, thư viện và các điểm di tích lịch sử, từ đó thúc đẩy phong trào văn hóa phát triển mạnh mẽ Việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc đang được chú trọng, với 100% cơ quan, đơn vị thực hiện nếp sống văn hóa, 80% gia đình được công nhận gia đình văn hóa và 255 ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa.

2.2.3 Th ự c tr ạ ng phát tri ể n kinh t ế

Giai đoạn 2000-2004, GDP của tỉnh đạt 9.530 tỷ đồng, tăng 59% so với năm 2000, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11,8% Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này là 8,5% mỗi năm, cao hơn mức phát triển trung bình của cả nước Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, trong khi giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp; cụ thể, tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP tăng từ 22,5% năm 2000 lên 26,2% năm 2004, và tỷ trọng ngành dịch vụ cũng có sự gia tăng từ 29,5%.

2000 lên 30,4% năm 2004 Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 48,1% năm 2000 xuống chỉ còn chiếm 43,3% trong GDP toàn tỉnh a Công nghi ệ p

Trong giai đoạn 2000 - 2004, ngành công nghiệp tại tỉnh đạt mức tăng trưởng bình quân 19,6% mỗi năm, vượt chỉ tiêu kế hoạch 13,5% năm Khu vực kinh tế trong nước tăng 14,3% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng 24,4% mỗi năm Tỉnh đã quy hoạch 77 khu và cụm công nghiệp với tổng diện tích 19,86 nghìn ha, trong đó 25 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với diện tích hạ tầng giao cho nhà đầu tư là 4,8 nghìn ha Dự kiến, một số lượng lớn cơ sở sản xuất sẽ chuyển từ TP Hồ Chí Minh về các khu công nghiệp tập trung tại Long An, đòi hỏi một lực lượng lao động lớn và cần có chính sách hợp lý để tiếp nhận mà không gây ra xáo trộn trong nền kinh tế.

Trong giai đoạn 2001-2004, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,5% mỗi năm, với năm 2004 ghi nhận mức phát triển cao nhất lên đến 19,1% Giá trị sản xuất thực tế năm 2004 đạt 1.141,8 tỷ đồng, tăng 76,3% so với năm 2000 Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển trong năm 2004 là 4,16 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn FDI chiếm 36,3% với 1,51 nghìn tỷ đồng, và nguồn vốn do địa phương quản lý chiếm 37,2% với 1,55 nghìn tỷ đồng Đầu tư chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp chế biến, chiếm 45,2%, trong khi các ngành khác như thủy sản, nông nghiệp, nhà hàng và khách sạn chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ.

Ngành sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục phát triển với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 5,9% mỗi năm Trong đó, nông nghiệp tăng 4,1%, lâm nghiệp tăng 6,2% và thủy sản tăng 20,1% hàng năm Nhiều mô hình sản xuất hiệu quả kinh tế cao đã được nhân rộng, như mô hình tụm sỳ và nuôi bò sữa.

Từ năm 2000 đến 2004, ngành nông nghiệp Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng không ổn định, với mức tăng trưởng chỉ đạt 0,1% vào năm 2001 nhưng có năm lên tới 10,3% vào năm 2002 Tốc độ phát triển trung bình của toàn ngành đạt 4,5% mỗi năm, trong đó ngành trồng trọt tăng 5,2% và ngành dịch vụ tăng 4,9% Tuy nhiên, ngành chăn nuôi gặp khó khăn do dịch cúm gia cầm, dẫn đến sự phát triển chậm lại và có dấu hiệu thụt lùi.

Ngành lâm nghiệp tại Long An đã ghi nhận sự gia tăng giá trị sản xuất khoảng 5% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2004 Diện tích rừng được phát triển mạnh mẽ, với trung bình 6,7 nghìn ha rừng mới được trồng hàng năm Đồng thời, mỗi năm, tỉnh trồng khoảng 7,4 triệu cây phân tán Ngoài ra, Long An cũng chăm sóc khoảng 13,6 nghìn ha rừng mỗi năm, với đỉnh điểm là 21,3 nghìn ha trong năm 2003.

Tỷ lệ che phủ tính trên diện tích rừng và cây lâu năm tăng từ 15,5% năm 2000 lên 21,9% năm 2005

Ngành thủy sản đã có sự phát triển nhanh chóng, với mức tăng trưởng bình quân đạt 22,5% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2004 Tuy nhiên, đóng góp của GDP từ ngành này cho nền kinh tế vẫn còn khiêm tốn, với giá trị sản xuất còn nhỏ Đến năm 2004, giá trị sản xuất của ngành thủy sản đạt 598,6 tỷ đồng, gấp đôi so với năm 2000.

Phát triển ngành nghề nông thôn cần tập trung vào các nghề truyền thống của từng địa phương như dệt chiếu, đóng xuồng ghe, làm lúa, nấu rượu và làm bánh Điều này nên được thực hiện với quy mô hộ và cơ sở nhỏ, hiện có khoảng 49.500 hộ với 120 nghìn lao động tham gia Việc này không chỉ bảo tồn văn hóa địa phương mà còn thúc đẩy thương mại và dịch vụ trong khu vực.

Trong giai đoạn 2000-2004, ngành kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng 7,8%, trong đó thương mại tăng bình quân 7,9% mỗi năm, còn khách sạn và nhà hàng tăng 7,4% mỗi năm Kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm trong giai đoạn này tăng 24,3%, đặc biệt hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng 35,9%, trong khi hàng nông sản tăng 9,9% Số lượng khách du lịch tăng nhanh, với 70 nghìn lượt khách đến tỉnh vào năm 2006, chủ yếu là người Việt Nam (chiếm 99,8%) Số khách lưu trú đạt 66,9 nghìn người, và doanh thu ngành du lịch năm 2004 đạt 17,4 tỷ đồng, tăng 69% so với năm trước.

2.2.4 Ph ươ ng h ướ ng và m ụ c tiờu phỏt tri ể n kinh t ế - xó h ộ i ủế n n ă m 2010

TỔNG QUAN TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC SỬ DỤNG

Tài nguyên nước mặt

3.1.1 ðặ c ủ i ể m m ạ ng l ướ i sụng, r ạ ch a Khái quát chung

Sông Vàm Cỏ là đoạn hợp lưu của hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây tại Lộc Giang, Đức Hoà Phần lớn chiều dài của sông Vàm Cỏ nằm trong tỉnh Long An, với đoạn dài 42km từ đầu sông Tra đến cửa Soài Rạp là ranh giới giữa hai tỉnh Tiền Giang và Long An Hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây được xem là hai trục thủy lộ chính trong khu vực.

Cỏ Tõy có mối quan hệ thủy lực chặt chẽ với sông Tiền thông qua hệ thống kênh đào xuyên Đồng Tháp Mười, tạo thành mạng lưới giao thông thủy lợi kết nối hệ thống sông Cửu Long với hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai.

Tổng diện tích lưu vực sông Vàm Cỏ là 12.800 km², trong đó 6.820 km² thuộc lãnh thổ Việt Nam, chiếm 53,3% tổng diện tích lưu vực, và 5.980 km² nằm trong lãnh thổ Campuchia, chiếm 46,7%.

Có 10 sông chảy trực tiếp vào sông Vàm Cỏ với tổng diện tích lưu vực của cỏc sụng này là 5.786km 2 Trong ủú, 100% diện tớch lưu vực nằm trong nước Diện tích lưu vực trung bình là 579km 2 /sông, sông lớn nhất là sông Vàm Cỏ Tây, 3.280km 2 Tổng chiều dài sông là 455km[27] b Sông Vàm C ỏ ð ông

Bắt nguồn từ vùng núi cao Campuchia, thượng du sông có nhiều thác ghềnh với nguồn thủy năng dồi dào Phần hạ du có địa hình dốc nhỏ, thuận lợi cho giao thông nhưng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ thủy triều biển Đông, đây là một trong những con sông lớn ở Đông Nam Á.

Bộ là một con sông thuộc hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai, bao gồm bốn sông chính: Sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Bé và sông Vàm Cỏ Đông Đoạn sông này chảy qua Long An dài 145 km, kết nối với sông Vàm Lớn dài khoảng 35 km, với chiều rộng trung bình khoảng 400 m Độ sâu trung bình tại cầu Đức Huệ là -17m và tại Bến Lức là -21m Hệ số uốn khúc trung bình khoảng 1,98, trong khi độ dốc lòng sông rất nhỏ, chỉ khoảng 0,00021.

Sông Vàm Cỏ Đông kết nối với sông Vàm Cỏ Tây qua các kênh Mareng, đồng thời cũng liên kết với sông Sài Gòn và sông Đồng Nai thông qua các kênh Thầy Cai, An Hạ, Rạch Trà và sông Bến Lức Lưu vực lớn của hệ thống này chủ yếu nằm ở khu vực Gũ Dầu.

Hạ thì lưu vực của sông khoảng 6.000 km 2 c Sông Vàm C ỏ Tây

Sông Vàm Cỏ Tõy có tổng chiều dài 210km, trong đó đoạn chảy qua tỉnh Long An dài 186km Sông có chiều rộng trung bình khoảng 300m và hệ số uốn khúc trung bình khoảng 1,5 độ, với độ dốc lòng sông khoảng 0,2%.

Vào mùa lũ, một phần nước từ đồng Tháp Mười chảy vào sông Vàm Cỏ Tây, nhưng khả năng thoát lũ của sông này bị hạn chế do nhiều khúc uốn, dẫn đến việc sông Vàm Cỏ Tây gần như không có lưu vực riêng.

Vào mùa kiệt, sông Vàm Cỏ Tây bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thủy triều bán nhật từ biển Đông, dẫn đến việc nước biển xâm nhập sâu vào nội địa Hiện tượng này làm cho mức nước trên sông Vàm Cỏ Tây cao hơn nhiều so với sông Tiền và các sông khác trong khu vực.

Ngoài hệ thống sông chính Vàm Cỏ, tỉnh còn có nhiều sông, rạch khác Mặc dù không lớn như sông Vàm Cỏ, nhưng các sông này đóng vai trò quan trọng trong giao thông thủy và tiêu thoát nước.

Sông Cần Giuộc, bắt nguồn từ TP Hồ Chí Minh (Nhà Bố, Bình Chánh), đổ ra cửa sông Soài Rạp, chảy qua huyện Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An Sông có hướng chảy từ Bắc xuống Nam và phân nhánh thành nhiều kênh nhỏ, kết nối với hệ thống kênh đôi và kênh Tẻ.

Sông Bảo Định nằm trên địa bàn thị xã Tân An, bắt nguồn từ Tiền Giang và chảy vào sông Vàm Cỏ Tây Mặc dù không lớn như sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, sông Bảo Định đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho nhà máy nước Tân An và tiếp nhận nước thải từ các khu dân cư dọc hai bên bờ sông.

Sông Bến Lức có chiều dài khoảng 20 km, rộng 50-70 m nối với kênh đôi, kờnh Tẻ ở vị trớ ủầu sụng Cần Giuộc

Sông Rạch Cát, dài khoảng 32 km, bắt nguồn từ Bình Chánh, Nhà Bè (Tp Hồ Chí Minh), chảy giữa hai huyện Cần Đước và Cần Giuộc Với lưu lượng nước rất nhỏ và chất lượng kém, sông không phù hợp cho sản xuất nông nghiệp.

3.1.2 M ạ ng l ướ i quan tr ắ c thu ỷ v ă n

Lưu vực sông Vàm Cỏ có hệ thống trạm thủy văn khá đầy đủ, mặc dù thời gian quan trắc chưa liên tục và chưa dài ở một số trạm Tuy nhiên, đây vẫn là nguồn tài liệu quý giá cho việc đánh giá dòng chảy trên lưu vực Các trạm đo mực nước với dữ liệu dài hạn đáng chú ý là Mộc Hóa trên sông Vàm Cỏ Tây Bên cạnh đó, các trạm Tân An, Bến Lức, Tuyên Nhơn và Kiến Bình, mặc dù có tài liệu ngắn, nhưng lại rất quan trọng cho nghiên cứu.

Nước dưới ủất

Trong tỉnh Long An, nước dưới đất chủ yếu tồn tại trong các trầm tích Kainozoi từ Miocen đến Holocen, phân bố rộng rãi trên toàn vùng Chiều dày của các trầm tích này dao động từ trên mặt đất đến độ sâu 337m ở phía Đông, Đông Bắc và hơn 400m ở phía Nam, Tây Nam Đất chứa nước chủ yếu là cát hạt mịn và sạn sỏi, với khả năng chứa nước phong phú, ngoại trừ trầm tích Holocen và các lớp hạt mịn Độ giàu nước được chia thành ba cấp: giàu nước (q > 1 l/sm), trung bình (0,2 ≤ q ≤ 1 l/sm) và nghèo nước (q < 0,2 l/sm) Nước dưới đất có đặc điểm phức tạp, phần trên thường bị phèn và mặn, trong khi phần dưới có chất lượng tốt hơn Tổng độ khoáng hóa của nước biến đổi từ nhạt (M < 1g/l) đến mặn (M > 3g/l), chủ yếu thuộc loại nước có áp, ngoại trừ hệ thống nước Holocen Mực nước dao động theo mùa và chịu ảnh hưởng của thủy triều, với biên độ thường từ 0,1-0,3m, và có hướng vận động từ Bắc-Tây Bắc xuống Nam-Tây Nam Nguồn bổ cập cho các tầng chứa nước phía trên là từ nước mặt và nước mưa, trong khi các tầng bên dưới được bổ cập từ xa, nơi có diện lộ và bề mặt tiếp xúc với nguồn gốc ở ngoài vùng nghiên cứu.

- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Holocen (qh);

- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen trên (qp 3 );

- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen giữa-trên (qp 2-3 );

- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen dưới (qp 1 );

- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pliocen trên (n 2 2 );

- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pliocen dưới (n 2 1 );

- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Miocen trên (n 1 3 );

- ðới chứa nước khe nứt các trầm tích Mezozoi (ms)

3.2.1 T ầ ng ch ứ a n ướ c l ỗ h ổ ng Holocen (qh)

Trầm tích Holocen phân bố rộng rãi trên hầu hết diện tích tỉnh Long An, ngoại trừ một số khu vực nhỏ ở phía Bắc và Tây Bắc thuộc các huyện Đức Hoà, Đức Huệ, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng và Tân Hưng, nơi không có sự hiện diện của các trầm tích này.

Thành phần ủất ủỏ chủ yếu bao gồm bột, bột sột, bột cỏt, bựn sột màu xỏm ủen, nõu ủen, và vàng loang lổ Nhiều khu vực còn lẫn mựn thực vật có màu xỏm ủen hoặc ủen với nguồn gốc từ sụng, sụng- ủầm lầy, biển, và sụng - biển hỗn hợp Chiều dày tầng chứa nước thay đổi từ 3,8 đến 32m, với trung bình là 15,9m Bề dày có xu hướng tăng dần từ Bắc, Tây Bắc xuống Nam, Đông Nam, với độ dày từ 2-5m và càng về phía Nam, Đông Nam thì độ dày tăng lên từ 18-32m.

Bảng 3.4 Tổng hợp chiều dày tầng chứa nước Holocen (qh) [13]

Chiều dày(m) STT Số hiệu

Tầng Holocen có khả năng chứa nước đáng kể, với kết quả bơm nước thí nghiệm tại lỗ khoan 326 Tân Trụ cho lưu lượng Q đạt 0,61 l/s và mực nước hạ thấp S là 2,92 m Tỷ lưu lượng q được xác định là 0,20 l/sm, cho thấy khả năng chứa nước trung bình của khu vực Đặc biệt, khu vực có mức chứa nước trung bình tập trung chủ yếu ở phía Đông Nam tỉnh, bao gồm một phần diện tích của huyện Thủ Thừa, Châu Thành, Cần Đước và thị xã Tân An.

Nước có pH không đạt tiêu chuẩn cho phép, với hàm lượng Cl- dao động từ 1.754,78 đến 4.569 mg/l, vượt mức cho phép tới 6 lần Hàm lượng SO4 2- cũng vượt tiêu chuẩn trong hầu hết các lỗ khoan lấy mẫu Theo tổng khoáng hóa, các khu vực nước nhạt và nước mặn trên toàn tỉnh được phân chia rõ ràng.

Vùng nước nhạt có tổng độ khoáng M≤1g/l, điện trở ρ dao động từ 8 đến 12 Ωm, chỉ phân bố trong diện tích hẹp khoảng 38 km² tại phía Tây Nam thị xã Tân An, bao gồm các phường 3, phường 4, xã Khánh Hậu, An Vĩnh Ngãi và một phần xã Hòa Phú thuộc huyện Châu Thành.

Các khu vực còn lại nước trong tầng chứa nước bị ô nhiễm mặn Kết quả tổng hợp thành phần hóa học cho thấy tổng độ khoáng M dao động từ 3,71 đến 9,5 g/l, pH từ 3,6 đến 7,5, hàm lượng Cl từ 1754 đến 4564 mg/l, và hàm lượng sắt tổng Fe đạt từ 2,69 mg/l.

3,56 mg/l, hàm lượng NH 4 = 0,1 - 20,0mg/1, hàm lượng NO3 = 0,27 - 1,01mg/1 Loại hình hoá học nước là Clorua Natri Magie

Động thỏi của tầng chứa nước dưới mặt đất trong trầm tích Holocen cho thấy nước khụng ỏp với mực nước thường dao động từ 0,73 đến 5,60m Theo tài liệu quan trắc tại trạm 326 Tôn Trụ, mực nước dưới đất thay đổi theo mùa; vào mùa mưa, mực nước dâng cao từ 0,80 đến 2,60m, trong khi vào mùa khô, mực nước hạ thấp từ 0,91 đến 5,89m Ngoài ra, mực nước còn chịu ảnh hưởng của thủy triều, dao động từ 0,38 đến 1,05m trong ngày.

Nguồn cung cấp nước dưới ủất của tầng này chủ yếu đến từ nước mưa và nước mặt thấm trực tiếp qua diện lộ Miền thoát nước di chuyển theo hướng Nam Đông Nam cùng với hệ thống sông, kênh rạch Nước dưới ủất trong tầng này có mối quan hệ mật thiết với nước mặt và chịu sự chi phối của nó Tuy nhiên, khả năng thấm kém do thành phần thạch học của tầng bao gồm bột, bột sét, bột cát, bùn sét và sét dẻo.

Tầng chứa nước Holocen có diện tích phân bố rộng nhưng chiều dày trầm tích lại mỏng Thành phần chủ yếu là hạt mịn, dẫn đến khả năng chứa nước thấp và rất nghèo nàn Nước ở đây thường xuyên bị nhiễm mặn và nhiễm phèn, do đó không thể sử dụng cho sinh hoạt và ăn uống.

3.2.2 T ầ ng ch ứ a n ướ c l ỗ h ồ ng các tr ầ m tích Pleistocen trên (qp 3 )

Tầng chứa nước Pleistocen phân bố rộng rãi tại tỉnh Long An, với độ sâu từ 29-30m và bề dày thay đổi từ 0-18m Đặc biệt, diện tích và bề dày của tầng chứa nước này có xu hướng tăng dần từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam.

Thành phần thạch học bao gồm các trầm tích có nguồn gốc từ sông, sông-biển và biển, như bột, sột cao lanh, cỏt, cuội, và sỏi xen lẫn Mức độ chứa nước trung bình phụ thuộc vào thành phần thạch học.

- Chất lượng nước: trên cơ sở tổng khoáng hoá của nước trong tầng, có thể phân chia vùng mặn nhạt trong tầng như sau:

+ Vùng nhạt: có tổng diện tích khoảng 848km 2 Phân bố chủ yếu ở khu vực ðức Hoà, ðức Huệ khoảng, Vĩnh Hưng, Tân Hưng và Tân Thạnh

Vùng nước lợ và nước mặn phân bố rộng rãi trên toàn tỉnh, ngoại trừ một khu vực diện tích nhỏ chứa nước ngọt, chiếm khoảng 3561 km², tương đương 79% tổng diện tích tỉnh.

Hình 3.7 Phân bố mặn – nhạt tầng chứa nước Pleistocen trên [5]

Tầng có quan hệ thuỷ lực với nước mặt và tầng chứa nước phía trên, do đó nguồn cung cấp chủ yếu cho tầng này là nước mưa, sông, hồ, và kênh mương, đặc biệt là phần lộ trên mặt và tầng chứa phía trên trong vùng phủ.

Theo kết quả tính toán trong Chương 4, tầng Pleistocen có trữ lượng tĩnh tự nhiên khoảng 1,653 tỷ m³, chỉ tính cho khu vực phân bố nước nhạt.

3.2.3 T ầ ng ch ứ a n ướ c l ỗ h ồ ng các tr ầ m tích Pleistocen gi ữ a - trên (qp 2-3 )

Hiện trạng khai thỏc nước dưới ủất

3.3.1 Hi ệ n tr ạ ng khai thỏc n ướ c d ướ i ủấ t cho cỏc ủ ụ th ị

Tỉnh Long An hiện có 14 đô thị, được phân chia thành 2 cấp đô thị: đô thị trung tâm cấp tỉnh và đô thị trung tâm cấp huyện, bao gồm thành phố Tân An - trung tâm tỉnh Long An và 13 thị trấn huyện lỵ Nguồn nước phục vụ cho sản xuất công nghiệp, kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt tại các đô thị và thị trấn Long An chủ yếu được khai thác từ nước dưới đất, chiếm hơn 70% tổng nguồn cung.

Hầu hết các thị trấn và huyện lỵ đều có hệ thống cấp nước tập trung với công suất nhỏ, phục vụ cho từng khu vực Hệ thống này độc lập cho mỗi thị trấn và chủ yếu khai thác từ nguồn nước ngầm Hiện nay, có 26 nhà máy khai thác nước ngầm với tổng công suất đạt 34,04 nghìn m³/ngày.

Bảng 3.14 Tổng hợp cỏc nhà mỏy cấp nước ủụ thị tỉnh Long An [20]

TT Nhà máy nước Xã Huyện

Lưu lượng khai thác, m 3 /ngày

1 Công ty cấp nước Bến

2 Trạm cấp nước Gò ủen

5 Công ty cấp nước xây dựng Tân Kim Cần

Công ty công trình công cộng huyện Tân

Công ty công trình công cộng huyện Tân

8 Nhà máy nước thị trấn Thị Trấn

9 Nhà máy nước thị trấn Thị Trấn

Công ty công trình công cộng huyện Thủ

Công ty công trình công cộng huyện Thủ

Công ty công trình công cộng huyện Thủ

TT Nhà máy nước Xã Huyện

Lưu lượng khai thác, m 3 /ngày

Công ty công trình công cộng huyện Thủ

Công ty công trình công cộng huyện Vĩnh

Công ty công trình công cộng huyện Vĩnh

Công ty công trình công cộng huyện Vĩnh

Công ty công trình công cộng huyện Vĩnh

20 Công ty công trình công cộng

21 NMN TT ðức hòa Thị Trấn ðức Hòa ðức

Công ty công trình công cộng huyện ðức

Thị Trấn Hậu Nghĩa ðức

23 NMN TT.Tân Trụ Thị trấn

26 NMN TT Tân Hưng TT.Tân

Hỡnh 3.13 Vị trớ một số nhà mỏy cấp nước ủụ thị tỉnh Long An

Long An không chỉ phát triển các hệ thống cấp nước tập trung mà còn triển khai các dự án cấp nước ngầm quan trọng Một trong những dự án nổi bật là nhà máy xử lý nước ngầm KCN Tân Đức, với công suất 15.000 m³/ngày vào năm 2010, dự kiến nâng lên 50.000 m³/ngày trong giai đoạn sau Bên cạnh đó, dự án xây dựng nhà máy nước ngầm Tân Kim cũng được thực hiện với công suất 10.000 m³/ngày.

Nơi không có hệ thống cấp nước, người dân thường sử dụng nước từ giếng khoan ủơn lẻ và giếng khoan tay cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt Tuy nhiên, nguồn nước này thường không đảm bảo vệ sinh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng.

Khu vực cỏc ủụ thị hiện có 677 giếng khoan sâu, trong đó chỉ 610 giếng còn hoạt động với tổng công suất khai thác 36.348m³/ngày Các giếng này được khoan trong các tầng chứa nước n22, n21 và n13, chủ yếu khai thác từ tầng n22 với độ sâu trung bình từ 200-240m Trong số đó, 538 giếng phục vụ cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt (chiếm 88,5%), 66 giếng cung cấp nước cho sản xuất kinh doanh (10,86%), và chỉ 4 giếng được khai thác cho mục đích tưới tiêu, chiếm 0,64% tổng số giếng khoan.

Bảng 3.15 Tổng hợp cỏc giếng khoan khai thỏc tại cỏc ủụ thị [20]

TT Thị trấn, thị xã Tổng số giếng

Công suất KT (m 3 /ng) Sinh hoạt SX KD

TT Thị trấn, thị xã Tổng số giếng

Công suất KT (m 3 /ng) Sinh hoạt SX KD

Dân số đô thị của tỉnh đạt khoảng 230,12 nghìn người, chiếm 16,4% tổng dân số toàn tỉnh Trong đó, có khoảng 152,93 nghìn người sử dụng nước dưới đất, chiếm 70,67% dân số đô thị Thị trấn Tân Thạnh là khu vực có số người sử dụng nước dưới đất ít nhất với 1.000 người, tương đương 0,46% dân số đô thị Ngược lại, thị xã Tân An có số người sử dụng nước ngầm lớn nhất, khoảng 67,94 nghìn người, chiếm 31,39% tổng dân số đô thị.

3.3.2 Hi ệ n tr ạ ng khai thỏc n ướ c d ướ i ủấ t nụng thụn a Các mô hình c ấ p n ướ c ng ầ m chính

Khai thác nước ngầm cho sinh hoạt và sản xuất ở vùng nông thôn chủ yếu thông qua các giếng khoan có đường kính nhỏ, cùng với các giếng đào và tiếp tuyến, là hình thức cung cấp nước tập trung.

Giếng khoan là hình thức cấp nước mới được áp dụng từ cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, phổ biến ở những vùng có điều kiện thuận lợi về nước ngầm, thường được xây dựng với sự hỗ trợ của Nhà nước và tổ chức UNICEF Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình trạng khoan giếng tràn lan bởi các hộ khoan tư nhân không được quản lý đã dẫn đến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm cao Tính đến hết năm 2003, tỉnh Long An có 2.540 giếng khoan UNICEF, chủ yếu tập trung ở nông thôn, trong đó nhiều giếng do các hộ khoan tư nhân thực hiện không tuân thủ quy trình kỹ thuật, gây ô nhiễm từ nước thải Chất lượng công trình của các giếng khoan này chỉ đạt từ 45 - 55% Long An có số lượng giếng khoan tương đối nhiều, bao gồm giếng khoan nông (độ sâu từ 25 - 50m) và giếng khoan sâu (độ sâu từ 280 - 400m).

Giếng khoan nông chủ yếu tập trung tại huyện Đức Hòa và một số xã của huyện Đức Huệ, phục vụ nước cho một vài hộ gia đình Đường kính giếng khoan thường là φ 42 và φ 49, với ống nhựa PVC là loại ống phổ biến Nguồn nước có thể được lấy bằng bơm tay hoặc bơm điện.

Công trình cấp nước tập trung là hình thức cung cấp nước hiệu quả, đang được chú trọng phát triển trong những năm gần đây Quy mô của các công trình này thường nhỏ, với công suất từ 50-200m³/ngày, phục vụ cho từ 300 đến 3000 dân, và một số công trình có công suất lên đến 600-650m³/ngày, đáp ứng nhu cầu cho khoảng 8-10 nghìn dân Các công trình thường khai thác từ tầng nước sâu, với chiều sâu mỗi giếng khoảng 280-400m Các tầng khai thác chính bao gồm n1 3, n2 1, n2 2 và qp 3, trong đó tầng n2 1 là tầng được khai thác nhiều nhất.

Tỉnh Long An hiện có khoảng 1.079 công trình cấp nước tập trung, với lưu lượng khai thác đạt khoảng 78 nghìn m³/ngày Trong đó, huyện Châu Thành có số lượng công trình cấp nước tập trung nông thôn nhiều nhất với 245 công trình, trong khi huyện Đức Hòa chỉ có 6 công trình.

Bảng 3.16 Tổng hợp các trạm cấp nước tập trung nông thôn khai thác nguồn nước dưới ủất [20]

TT ðơn vị hành chính

Chiều sâu khai thác, m Tầng chứa nước

Long An có dân số nông thôn khoảng 1.170,38 nghìn người, trong đó có 609,05 nghìn người sử dụng nước dưới đất, chiếm 53,8% tổng dân số nông thôn Khu vực Đức Hòa có số người sử dụng nước dưới đất cao nhất với khoảng 152,63 nghìn người, chiếm 13,49% dân số nông thôn, trong khi huyện Vĩnh Hưng có số người sử dụng nước ngầm thấp nhất với 4.190 người, chỉ chiếm 0,37% Nguồn nước dưới đất chủ yếu phục vụ cho mục đích ăn uống, sinh hoạt, sản xuất kinh doanh và hoạt động tưới Các giếng khoan khai thác tầng sâu chủ yếu phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt, trong khi các giếng khoan nông chủ yếu được sử dụng cho mục đích tưới.

3.3.3 ð ỏnh giỏ nhu c ầ u khai thỏc s ử d ụ ng n ướ c theo cỏc giai ủ o ạ n ðể ủỏnh giỏ nhu cầu sử dụng nước, căn cứ vào Quy hoạch phỏt triển kinh tế xó hội tỉnh Long An ủến năm 2020 Chỳng tụi tiến hành phõn chia tỉnh Long An thành 3 vùng:

Vùng 1: gồm các huyện ðức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc

Vùng 2: gồm 6 huyện Tân An, ðức Huệ, Thủ Thừa, Cần ðước, Tân Trụ, Châu Thành;

Vùng 3: Gồm 5 huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hòa a Nhu c ầ u n ướ c s ả n xu ấ t công nghi ệ p

- Năm 2010: Với chỉ tiờu tăng trưởng cụng nghiệp bỡnh quõn giai ủoạn 2006-

Năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế dự kiến đạt khoảng 25 nghìn tỷ đồng, chiếm 22,7% tổng giá trị sản xuất Để phục vụ cho sản xuất công nghiệp, nhu cầu sử dụng nước ước tính vào năm 2010 khoảng 304,8 triệu m³/năm, tương đương khoảng 835 nghìn m³/ngày.

- Năm 2015: Với chỉ tiờu tăng trưởng cụng nghiệp bỡnh quõn giai ủoạn 20010-2015 là 12% năm, dự báo giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế năm

2015 khoảng 44,3 nghỡn tỷ ủồng, qua ủú nhu cầu sử dụng nước phục vụ sản xuất cụng nghiệp ủến năm 2015 khoảng 537,1 triệu m 3 /năm tương ủương khoảng 1,47 triệu m 3 /ngày

Bảng 3.17 Nhu cầu sử dụng nước cho cụng nghiệp ủến 2015 tỉnh Long An

Nhu cầu sử dụng nước, năm 2010

Tổng Trong khu/cụm công nghiệp

Nhu cầu sử dụng nước, năm 2015 (m 3 /ngày)

Nhu cầu sử dụng nước, năm 2010

Tổng Trong khu/cụm công nghiệp

Nhu cầu sử dụng nước, năm 2015 (m 3 /ngày)

Toàn tỉnh 559.681 103.040 986.349 b Nhu c ầ u n ướ c sinh ho ạ t

Năm 2010, tỉnh đặt chỉ tiêu tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm là 1,13% và quy hoạch các khu đô thị mới, dự báo dân số toàn tỉnh sẽ tăng đáng kể.

NGHIÊN CỨU, XÁC ðỊNH TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC HỢP LÝ NƯỚC DƯỚI ðẤT

NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, GIÁM SÁT SỰ BIẾN ðỘNG NGUỒN TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ðẤT

Ngày đăng: 29/05/2021, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ðoàn Văn Cỏnh, Phạm Quý Nhõn (2003), Tỡm kiếm, thăm dũ và ủỏnh giỏ trữ lượng nước dưới ủất, Nhà xuất bản Xõy dựng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỡm kiếm, thăm dũ và ủỏnh giỏ trữ lượng nước dưới ủất
Tác giả: ðoàn Văn Cỏnh, Phạm Quý Nhõn
Nhà XB: Nhà xuất bản Xõy dựng Hà Nội
Năm: 2003
2. ðoàn Văn Cánh, Phạm Quý Nhân (2005), Tin học ðịa chất thủy văn ứng dụng, Nhà xuất bản KHKT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tin học ðịa chất thủy văn ứng dụng
Tác giả: ðoàn Văn Cánh, Phạm Quý Nhân
Nhà XB: Nhà xuất bản KHKT Hà Nội
Năm: 2005
5. Nguyễn Huy Dũng và nnk (2004), Phõn chia ủịa tầng N-Q và nghiờn cứu cấu trỳc ủịa chất ủồng bằng Nam Bộ, Lưu trữ ủịa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân chia ủịa tầng N-Q và nghiờn cứu cấu trỳc ủịa chất ủồng bằng Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Huy Dũng và nnk
Năm: 2004
6. Bùi Học và nnk (2005), đánh giá tắnh bền vững của việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngầm lãnh thổ Việt Nam. ðịnh hướng chiến lược khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyờn nước ngầm ủến năm 2020, Trường ủại học Mỏ - ðịa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ðánh giá tính bền vững của việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngầm lãnh thổ Việt Nam. ðịnh hướng chiến lược khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyờn nước ngầm ủến năm 2020
Tác giả: Bùi Học và nnk
Năm: 2005
7. Vũ Ngọc Kỷ và nnk (1988), Nước dưới ủất Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam, Bỏo cỏo tổng kết ủề tài KT44.04.01, Bộ KHCN &amp;MT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước dưới ủất Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Kỷ và nnk
Năm: 1988
8. Vũ Ngọc Kỷ, Nguyễn Thượng Hùng, Tôn Sĩ Kinh, Nguyễn Kim Ngọc (1985), ðịa chất thuỷ văn ủại cương, NXB ðại học và Trung học chuyờn nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ðịa chất thuỷ văn ủại cương, NXB ðại học và Trung học chuyờn nghiệp
Tác giả: Vũ Ngọc Kỷ, Nguyễn Thượng Hùng, Tôn Sĩ Kinh, Nguyễn Kim Ngọc
Nhà XB: NXB ðại học và Trung học chuyờn nghiệp"
Năm: 1985
9. Liên đồn ðCTV-ðCCT miền Nam (2002), Báo cáo kết quả thăm dị đánh giá trữ lượng nước dưới ủất vựng Gũ ðen - Bến Lức-Long An, Lưu trữ tài nguyên nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thăm dị đánh giá trữ lượng nước dưới ủất vựng Gũ ðen - Bến Lức-Long An
Tác giả: Liên đồn ðCTV-ðCCT miền Nam
Năm: 2002
10. Liên đồn ðCTV-ðCCT miền Nam (2003), Báo cáo kết quả đánh giá trữ l- ượng nước dưới ủất nhà mỏy nước Tõn An -Long An, Lưu trữ tài nguyờn nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đánh giá trữ l-ượng nước dưới ủất nhà mỏy nước Tõn An -Long An
Tác giả: Liên đồn ðCTV-ðCCT miền Nam
Năm: 2003
11. Liên đồn ðCTV-ðCCT miền Nam (2003), Báo cáo kết quả thăm dị đánh giỏ trữ lượng nước dưới ủất vựng Thủ Thừa - Long An, Lưu trữ tài nguyờn nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thăm dị đánh giỏ trữ lượng nước dưới ủất vựng Thủ Thừa - Long An
Tác giả: Liên đồn ðCTV-ðCCT miền Nam
Năm: 2003
12. Liên đồn ðCTV-ðCCT miền Nam (2005), Báo cáo động thái nước dưới ủất từ năm 2001-2005 (cỏc cụng trỡnh quan trắc quốc gia ủộng thỏi nước dưới ủất thuộc tỉnh Long An), Lưu trữ tài nguyên nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo ủộng thỏi nước dưới ủất từ năm 2001-2005 (cỏc cụng trỡnh quan trắc quốc gia ủộng thỏi nước dưới ủất thuộc tỉnh Long An)
Tác giả: Liên đồn ðCTV-ðCCT miền Nam
Năm: 2005
15. Nilson Guiguer and Thomas Franz (2006). Visual Modflow. Version 4.2. Waterloo Hydrogeologic Sofware. Ontario – Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Visual Modflow. Version 4.2. "Waterloo Hydrogeologic Sofware
Tác giả: Nilson Guiguer and Thomas Franz
Năm: 2006
16. đặng Hữu Ơn (1993), đánh giá trữ lượng khai thác nước dưới ựất, Thư viện ðại học Mỏ - ðịa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: ðỏnh giỏ trữ lượng khai thỏc nước dưới ủất
Tác giả: đặng Hữu Ơn
Năm: 1993
17. ðặng Hữu Ơn (1998), Tớnh toỏn ủịa chất thủy văn (Bài giảng lớp cao học), Trường ðại học Mỏ - ðịa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tớnh toỏn ủịa chất thủy văn (Bài giảng lớp cao học)
Tác giả: ðặng Hữu Ơn
Năm: 1998
18. đặng Hữu Ơn (2003), đánh giá trữ lượng nước dưới ựất, Trường đại học Mỏ - ðịa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ðánh giá trữ lượng nước dưới ủất
Tác giả: đặng Hữu Ơn
Năm: 2003
27. Viện Khí tượng thủy văn (1986), ðặng trưng hình thái sông ngòi Việt Nam, Tổng cục Khí tượng thủy văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: ðặng trưng hình thái sông ngòi Việt Nam
Tác giả: Viện Khí tượng thủy văn
Năm: 1986
3. Chi Cục Thủy lợi – Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Long An, Quan trắc chất lượng nước hệ thống kờnh mương nội ủồng tỉnh Long An Khác
13. Liên đồn ðCTV-ðCCT miền Nam (2003), Báo cáo điều tra, đánh giá hiện trạng nước ngầm Long An Khác
14. Vũ Văn Nghi, Trần Hồng Phú, ðặng Hữu Ơn, Bùi Thế ðịnh, Bùi Trần Vượng, ðoàn Ngọc Toản (1998). Chuyờn khảo nước dưới ủất ủồng bằng Nam Bộ Khác
19. Sở Tài nguyờn và Mụi trường tỉnh Long An (2006), Kế hoạch sử dụng ủất ủai 5 năm (2001-2005) tỉnh Long An Khác
20. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An (2005), Báo cáo kết quả ðiều tra ủỏnh giỏ hiện trạng khai thỏc nước ngầm tỉnh Long An Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w