Hoàn thiện hạch toán tài sản cố định hữu hình trong các doanh nghiệp khai thác thuộc TKV phải phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mỏ.... Theo chuẩn mực kế
Trang 1Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực Các đánh giá, kết luận khoa học của Luận văn ch−a từng đ−ợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Hưng
Trang 2Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Phòng
Đào tạo Sau đại học - Đại học Mỏ - Địa chất; các thầy giáo, cô giáo đồng nghiệp trong Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh và Bộ môn Kế toán doanh nghiệp - Đại học Mỏ - Địa chất, các nhà khoa học, bạn bè và người thân đã động viên, khích lệ và chia sẻ với tác giả trong suốt quá trình học tập, công tác và thực hiện Luận văn
Tác giả luận văn
Trang 3danh mục các chữ viết tắt trong luận văn
DNkt Doanh nghiệp khai thác Coal Production Enterprise
IASC Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế International accounting standard
committee Mkh Mức khấu hao tài sản cố định Depreciation
TSCĐHH Tài sản cố định hữu hình Tangible fixed assets VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam Vietnamese aacounting Standards WTO Tổ chức Thương mại thế giới World trade organization
Trang 4Danh mục các bảng Bảng 2.1 Cơ cấu tài sản cố định của Tập đoàn TKV 29 Bảng 2.2 Vốn chủ sở hữu của Tập đoàn TKV năm 2007 - 2009 30 Bảng 2.3 Tình hình sử dụng vốn và tài sản của Tập đoàn TKV năm 2007 – 30 Bảng 2.4 Trữ lượng than đã thăm dò của các khu vực tính đến ngày 33
Bảng 2.6 Tỷ trọng TSCĐHH trong tổng tài sản của một số DN từ 2005 – 43 Bảng 2.7 Hệ số hao mòn TSCĐHH của một số DN từ 2005 - 2009 43 Bảng 2.8 Tỷ suất tự tài trợ TSCĐHH một số DN thuộc TKV từ 2005 - 2009 44 Bảng 2.9 Suất sinh lời của vốn CSH một số DN thuộc TKV từ 2005 - 2009 44 Bảng 2.10 Sức sản xuất của TSCĐHH một số DN từ 2005 - 2009 44 Bảng 2.11 Sức sinh lời của TSCĐ một số DN từ 2005 - 2008 45 Bảng 2.12 Hệ số huy động TSCĐHH của một số DNXD từ 2005 - 2009 45 Bảng 2.13 Các sổ liên quan đến kế toán TSCĐHH theo hình thức nhật ký 57
Trang 5Danh mục các hình vẽ và sơ đồ
Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị theo hình thức kết hợp 82 Sơ đồ 3.2 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị theo hình thức tách biệt 83
Sơ đồ 3.4 Các bước công việc trong quá trình ra quyết định về TSCĐ 88
Trang 6mở đầu 1
Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý tài sản cố định hữu hình
trong các doanh nghiệp 4
1.1 Tài sản cố định hữu hình và vai trò của tài sản cố định hữu hình trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tài sản cố định 4
1.1.2 Vai trò của tài sản cố định hữu hình 9
1.2 Yêu cầu quản lý tài sản cố định hữu hình ở các doanh nghiệp 10
1.2.1 Yêu cầu quản lý tài sản cố định 10
1.2.2 Nội dung quản lý tài sản cố định 11
1.3 Các công cụ kinh tế sử dụng trong quản lý TSCĐHH 14
1.3.1 Công cụ kế toán 14
1.3.2 Các công cụ khác 19
1.4 thông tin kế toán với việc đánh giá trình độ quản lý, sử dụng tài sản cố định hữu hình trong doanh nghiệp 20
1.4.1 Thông tin kế toán với quản lý TSCĐHH trong doanh nghiệp 20
1.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh tình trạng trang bị TSCĐHH 20
1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định 23
Chương 2 Thực trạng quản lý TSCĐHH trong các doanh nghiệp khai thác than thuộc tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản việt nam 25
2.1 Tổng quan về Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam 25
2.1.1 Đặc điểm về tổ chức 25
2.1.2 Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh 27
2.1.3 Tình hình quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại Tập đoàn TKV 29
2.2 Thực trạng quản lý và sử dụng TSCĐHH trong các DN khai thác than thuộc tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam hiện nay 34
2.2.1 Thực trạng quản lý và sử dụng TSCĐHH trong các DN khai thác than thuộc TKV 34
2.2.2 Quy chế quản lý và sử dụng tài sản tại Công ty mẹ 37
2.2.3 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong các doanh nghiệp thuộc TKV 39
2.2.4 Thực trạng kế toán TSCĐHH trong các DN khai thác than thuộc TKV 46
Trang 72.3 Đánh giá chung về thực trạng kế toán TSCĐHH trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay 59 2.3.1 Những kết quả đạt được 59 2.3.2 Một số tồn tại và nguyên nhân 60
Chương 3 Hoàn thiện công tác quản lý tài sản cố định hữu hình trong các doanh nghiệp khai thác than thuộc TKV áp dụng cho công ty than thống nhất. 65
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác quản lý TSCĐHH ở các doanh nghiệp khai thác than thuộc TKV 65 3.2 Các quan điểm định hướng cho việc hoàn thiện công tác kế toán TSCĐHH phục vụ cho công tác quản lý 67 3.2.1 Hoàn thiện hạch toán tài sản cố định hữu hình trong các doanh nghiệp khai thác thuộc TKV phải phù hợp với các quy định tài chính, kế toán của Nhà nước về tài sản cố định hữu hình 67 3.2.2 Hoàn thiện hạch toán tài sản cố định hữu hình trong các doanh nghiệp khai thác thuộc TKV phải phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mỏ 67 3.2.3 Hoàn thiện hạch toán tài sản cố định hữu hình trong các doanh nghiệp khai thác thuộc TKV phải phù hợp với yêu cầu trình bày thông tin trên hệ thống báo cáo tài chính 69 3.2.4 Hoàn thiện hạch toán tài sản cố định hữu hình trong các doanh nghiệp khai thác thuộc TKV phải phù hợp với thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế về tài sản
cố định hữu hình 70 3.3 Giải pháp hoàn thiện hạch toán tài sản cố định nhằm tăng cường quản lý tài sản cố
định trong các doanh nghiệp khai thác thuộc TKV 71 3.3.1 Giải pháp hoàn thiện hạch toán tài sản cố định trong các doanh nghiệp khai thác thuộc TKV 71 3.3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định hữu hình trong các doanh nghiệp khai thác thuộc TKV 92 3.4 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện hạch toán tài sản cố định nhằm tăng cường quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp khai thác thuộc tkv 98 3.4.1 Về phía Nhà nước 98 3.4.2 Về phía các doanh nghiệp khai thác thuộc TKV 102
Trang 83.5 áp dụng cho công ty than thống nhất 105 3.5.1 Hoàn thiện mẫu biểu sổ sách nhằm nâng cao quản lý về mặt số lượng, chủng loại, tình trạng sử dụng TSCĐHH 105 3.5.2 ứng dụng Công nghệ Thông tin vào quản lý TSCĐHH nhằm đáp ứng yêu cầu
thông tin nhanh cho quản lý doanh nghiệp 110
Trang 9mở đầu
1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài (Tính cấp thiết của đề tài)
TSCĐHH trong các doanh nghiệp mỏ nói chung và các doanh nghiệp khai thác than chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ tài sản của doanh nghiệp Các tài sản này quyết định năng lực khai thác của một doanh nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sản lượng khai thác cũng như đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh trong ngành công nghiệp than tại Việt Nam Tuy nhiên việc quản lý và
sử dụng các đối tượng này trong các doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam có nhiều vấn đề bất cập TSCĐHH trong các doanh nghiệp khai thác than thường cũ, giá trị còn lại (GTCL) thấp ở một số công ty đại đa số máy móc thiết bị đã qua sử dụng nhiều năm, công nghệ kỹ thuật
ở mức trung bình và lạc hậu so với khu vực và thế giới TSCĐHH chưa cần dùng, không cần dùng, chờ thanh lý vẫn tồn tại, trong khi các doanh nghiệp phải huy
động vốn từ đi vay Đó là do các TSCĐHH chủ yếu được đầu tư và trang bị trong thời gian bao cấp để lại, đến nay khi chuyển sang cơ chế thị trường thì số TSCĐHH này không còn phù hợp các doanh nghiệp đã chuyển hướng sản xuất kinh doanh nên chỉ khai thác và sử dụng một phần hoặc không sử dụng hết năng lực nhà xưởng, máy móc thiết bị đã được đầu tư Đó là một trong những nguyên nhân dẫn
đến ứ đọng vốn, gây nhiều khó khăn về tài chính cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, các TSCĐ được đầu tư mang tính nhỏ lẻ, sự thiếu đồng bộ trong dây chuyền thiết
bị sản xuất là phổ biến ở các doanh nghiệp khai thác than
Trong chiến lược phát triển ngành than đến năm 2025 đã được Chính phủ phê duyệt, với sản lượng khoảng 80 triệu tấn chắc chắn cần phải bổ sung và huy
động một khối lượng lớn các TSCĐ vào hoạt động sản xuất than Tuy nhiên việc thực hiện quá trình đầu tư, huy động TSCĐHH như thế nào để thực hiện thành công chiến lược phát triển chung toàn ngành và phù hợp đặc điểm và khả năng của từng doanh nghiệp là những vấn đề cấp thiết bắt buộc các doanh nghiệp khai thác than phải quan tâm giải quyết
Trang 10Với mong muốn nâng cao hiệu quả trong việc quản lí và sử dụng TSCĐHH tại các doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam, việc nghiên cứu và hoàn thiện công tác quản lý TSCĐHH là một việc làm cần thiết Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý tài sản cố định hữu hình các doanh nghiệp khai thác than - TKV - áp dụng cho Công ty than Thống Nhất" cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm quản lý có hiệu quả TSCĐHH của các doanh nghiệp khai thác than Việt Nam, đảm bảo thực hiện thành công chiến lược phát triển của toàn ngành
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài 3.1 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp khai thác than thuộc TKV
3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là các loại TSCĐHH của các doanh nghiệp khai thác than, trong đó chú trọng các loại TSCĐ trực tiếp tham gia vào SXKD than
4 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Nội dung của đề tài cần giải quyết như sau
- Nghiên cứu tổng quan lý luận và thực tiễn về tài sản cố định hữu hình
- Đánh giá thực trạng về việc quản lý, sử dụng và hạch toán TSCĐHH tại các doanh nghiệp khai thác than thuộc TKV
- Nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý TSCĐHH tại các doanh nghiệp khai thác than thuộc TKV
- áp dụng kết quả nghiên cứu vào Công ty than Thống Nhất - TKV
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm:
Trang 11- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề vừa toàn diện, vừa cụ thể, có hệ thống đảm bảo tính logic của vấn đề nghiên cứu
- Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thống
2 Đề tài đã nêu được thực trạng quản lý TSCĐHH trong các doanh nghiệp khai thác thuộc TKV, đưa ra quan điểm định hướng cho việc hoàn thiện và đưa ra
được giải pháp hoàn thiện công tác quản lý TSCĐHH
* ý nghĩa thực tiễn
1 Những phân tích trong luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan Nhà nước liên quan, Tập đoàn Công nghiệp than – khoán sản Việt Nam trong việc nghiên cứu đưa ra các chính sách quản lý TSCĐHH
2 Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ cho công tác giảng dạy trong lĩnh vực kinh tế và những người quan tâm tới vấn đề này
Trang 12Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý tài sản cố định hữu hình
trong các doanh nghiệp 1.1 Tài sản cố định hữu hình và vai trò của tài sản cố định hữu hình trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tài sản cố định
1.1.2.1 Khỏi niệm tài sản cố định hữu hỡnh
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận và nhận thức khác nhau khi quan niệm về TSCĐHH Trong cuốn “Hiểu và ứng dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế” của Barry J Epstein và Abbas Ali Mirza có đưa ra 2 khái niệm là “TSCĐHH” (Fixed assets) và “Nhà xưởng, máy móc và thiết bị” (Property, plant and machinery) để
đề cập tới cùng một vấn đề Khái niệm thứ nhất đưa ra các điều kiện để một tài sản bất kỳ nếu thoả mãn có thể được ghi nhận là TSCĐHH, đó là “những tài sản
đủ năng lực sản xuất, có hình thái vật chất rõ ràng, thời gian sử dụng tương đối dài
và mang lại lợi ích chắc chắn cho doanh nghiệp” [26, tr225] Các đối tượng nhà xưởng, máy móc và thiết bị được chỉ đích danh như những ví dụ điển hình đủ tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH trong doanh nghiệp Vì vậy tên của chuẩn mực kế toán quốc tế về TSCĐHH chính là Chuẩn mực về Nhà xưởng, máy móc và thiết
bị Khái niệm thứ hai hướng trực tiếp tới các đối tượng là Nhà xưởng, máy móc và thiết bị nhưng lấy mục đích sử dụng tài sản là điều kiện nhận biết để không phải mọi nhà xưởng, máy móc và thiết bị đều được coi là TSCĐHH, đó phải là “những tài sản có thời gian hữu ích lớn hơn một năm, được nắm giữ nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất hàng hoá, dịch vụ, hoặc nắm giữ để cho thuê, hoặc nắm giữ vì các mục đích hành chính” [26, tr225] Với cách hiểu này, rõ ràng những nhà xưởng, máy móc và thiết bị doanh nghiệp đã đầu tư nhưng không sử dụng lâu dài
dù trực tiếp hay gián tiếp mà chờ tăng giá để bán thì sẽ không được ghi nhận là TSCĐHH của doanh nghiệp Như vậy, theo cách hiểu của các chuẩn mực kế toán quốc tế thì TSCĐHH trong doanh nghiệp phải là những tài sản thoả mãn các tiêu
Trang 13chuẩn sau: có hình thái vật chất rõ ràng; có thời gian hữu ích lớn hơn một năm;
được doanh nghiệp nắm giữ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ hay cho thuê; và chắc chắn đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, cụ thể là VAS 03 - TSCĐHH,
“TSCĐHH là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH” [10, tr51] Các tài sản được ghi nhận là TSCĐHH phải thoả mãn đồng thời cả 4 tiêu chuẩn ghi nhận sau:
(a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó Lợi ích này biểu hiện ở chỗ khi doanh nghiệp kiểm soát và sử dụng tài sản đó thì doanh thu tăng, chi phí tiết kiệm, chất lượng sản phẩm dịch vụ tăng Khi xác định tiêu chuẩn này của mỗi TSCĐHH, chuẩn mực yêu cầu doanh nghiệp phải xác định mức độ chắc chắn của việc thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, dựa trên các bằng chứng hiện có tại thời điểm ghi nhận ban đầu và phải chịu mọi rủi ro liên quan
(b) Nguyên giá phải được xác định một cách đáng tin cậy Nguyên giá
là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được TSCĐHH tính đến thời
điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng Thông thường tiêu chuẩn này
đã được thoả mãn vì TSCĐHH trong doanh nghiệp hình thành từ mua sắm, xây dựng và trao đổi
(c) Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm Tiêu chuẩn này yêu cầu việc
sử dụng TSCĐHH phải ít nhất là 2 năm tài chính, như vậy mới có thể đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng TSCĐHH và cũng là để phân biệt TSCĐHH với các hàng hoá hay khoản mục đầu tư khác
(d) Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo qui định hiện hành Mức giá trị này thay đổi theo qui chế tài chính của từng thời kỳ ví dụ theo quyết định 215/TC ngày 2/10/1990 là 500.000 đồng trở lên, theo quyết định 166/1999/QĐ/BTC ngày 30/12/1999 là 5.000.000 đồng trở lên, theo quyết định 206/2003/QĐ-BTC
Trang 14là 10.000.000 đồng trở lên và hiện nay theo Thông tư 203/2009/TT-BTC là 10.000.000 đồng trở lên
Trên cơ sở khái niệm và tiêu chuẩn nhận biết đó, chuẩn mực kế toán Việt nam cũng đã đưa ra danh mục những TSCĐHH cơ bản trong các doanh nghiệp Đó là: nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải, thiết
bị truyền dẫn; thiết bị và dụng cụ quản lý; vườn cây lâu năm và súc vật làm việc cho sản phẩm cùng các TSCĐHH khác (VAS 03.07) [10, tr53]
Như vậy, có thể thấy giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế có sự tương đồng khá lớn về việc ghi nhận TSCĐHH Ngoài việc có thêm qui định về giá trị tối thiểu đối với 1 TSCĐHH của chuẩn mực kế toán Việt Nam, cả hai chuẩn mực đều thống nhất về các tiêu chí để 1 tài sản được ghi nhận là TSCĐHH, đó là: hình thái biểu hiện, thời gian hữu ích, khả năng đem lại lợi ích và mục đích nắm giữ TSCĐHH trong các doanh nghiệp Tóm lại, TSCĐHH trong các doanh nghiệp được hiểu là: “những tài sản có hình thái vật chất, do doanh nghiệp nắm giữ để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh,
có thời gian hữu ích lớn hơn 1 năm và có giá trị thoả mãn tiêu chuẩn của các qui định hiện hành”
Tuy nhiên, còn có một yếu tố mà cả hai chuẩn mực này đều không đề cập một cách chính thức trong điều kiện ghi nhận TSCĐHH mặc dù nó đã được vận dụng trong việc xác định phạm vi áp dụng chuẩn mực và thực tế công tác
kế toán tại doanh nghiệp, đó là yếu tố sở hữu Sẽ có trường hợp chúng ta không thể tìm thấy thông tin về một dây chuyền sản xuất trị giá 1.000.000.000
đồng ở khoản mục TSCĐHH trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp A mặc dù biết chắc doanh nghiệp này đang sử dụng dây chuyền đó để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh Lý do là vì dây chuyền sản xuất đó được hình thành từ kênh thuê tài chính Thuê tài chính là hợp đồng thuê mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê [21, tr9] Theo đó, nếu tuân thủ các qui định của hợp đồng, doanh nghiệp sẽ không phải bỏ vốn ra mua tài sản nhưng được quản lý và sử dụng tài
Trang 15sản đó như những tài sản thuộc quyền sở hữu, tuy nhiên không bao gồm quyền thanh lý, nhượng bán, trao đổi Các điều kiện của hợp đồng thuê tài chính thường gặp là: (a) bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết thời hạn thuê; (b) tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với mức giá ước tính thấp hơn giá hợp lý vào cuối thời hạn thuê; (c) thời hạn thuê tài sản tối thiểu phải chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu; (d) tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn (tương đương) giá trị hợp lý của tài sản thuê; (e) tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng sử dụng không cần có sự thay đổi, sửa chữa lớn nào [21, tr 9]
Như vậy, một tài sản thoả mãn các tiêu chuẩn: có hình thái vật chất rõ ràng,
có thời gian hữu ích lớn hơn một năm, được doanh nghiệp sử dụng trực tiếp cho hoạt động kinh doanh, đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp và thoả mãn tiêu chuẩn về giá trị nhưng được hình thành từ hình thức thuê này sẽ được tách hoàn toàn ra khỏi chỉ tiêu TSCĐHH mà tính vào chỉ tiêu TSCĐ thuê tài chính (leasing) trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Nói cách khác, trên chỉ tiêu TSCĐHH sẽ chỉ gồm những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc đối tác góp vốn và thoả mãn các tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐHH Mặc dù đặc thù của những TSCĐ thuê tài chính là được quản lý và sử dụng như những TSCĐ thuộc quyền sở hữu nhưng trên thực tế, công tác kế toán đối tượng này tuân thủ những qui định riêng và cũng có những khác biệt so với kế toán TSCĐHH thuộc sở hữu doanh nghiệp (chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan đến thuê tài chính là IAS 17
- Thuê tài sản; chuẩn mực kế toán Việt Nam liên quan đến thuê tài chính là VAS
Trang 16m qui định đất và các nguồn lực tự nhiên đều thuộc sở hữu Nhà nước, các doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng hoặc khai thác mà các quyền này lại thuộc phạm trù TSCĐVH
Xuất phát từ những lập luận trên, tác giả cho rằng TSCĐHH nhìn từ góc
độ kế toán phải là: những tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp hoặc đối tác liên kết, có hình thái vật chất, do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh, có thời gian hữu ích lớn hơn 1 năm và có giá trị thoả mãn tiêu chuẩn của các qui định hiện hành
1.1.1.2 Đặc điểm của TSCĐHH
Dù doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nào thì TSCĐHH cũng là một bộ phận tài sản đầu tư dài hạn quan trọng, phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh và
ảnh hưởng lớn đến kết quả hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu đặc
điểm TSCĐHH chi phối công tác quản lý TSCĐHH TSCĐHH có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, TSCĐHH là những tài sản có hình thái vật chất, có giá trị lớn,
thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp Xuất phát từ đặc điểm này, DN cần theo dõi, quản lý chặt chẽ TSCĐHH về số lượng và chất lượng, tránh hiện tượng mất mát hoặc không sử dụng được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Đồng thời DN cần lựa chọn hình thức đầu tư TSCĐHH cho phù hợp với nhu cầu và đặc điểm sản xuất kinh doanh cũng như khả năng tài chính của DN
Thứ hai, TSCĐHH được đầu tư sử dụng cho nhiều chu kỳ SXKD hoặc nhiều
năm hoạt động của DN Không phải TSCĐHH đầu tư cho sản xuất một lần là hư hỏng và giá trị được chuyển toàn bộ vào giá thành sản phẩm Chính vì vậy, DN phải quan tâm đến việc bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐHH và lựa chọn phương pháp tính khấu hao thích hợp nhằm đánh giá sát nhất mức độ hao mòn để thu hồi giá trị đã đầu tư của tài sản
Thứ ba, trong quá trình tham gia vào hoạt động SXKD cho đến khi bị hư
hỏng, TSCĐHH giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, đồng thời bị giảm dần về
Trang 17mặt giá trị và giá trị sử dụng (hiện tượng hao mòn TSCĐHH) DN thực hiện thu hồi giá trị TSCĐHH để tái đầu tư thông qua việc tính trích khấu hao TSCĐHH
Thứ tư, TSCĐHH là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tài
sản của DN TSCĐHH có vai trò quan trọng trong việc phản ánh tình hình tài chính của DN và phản ánh thông tin trên Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt
động SXKD Chính vì vậy, DN cần quan tâm quản lý tốt TSCĐHH nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý TSCĐ và hiệu quả SXKD
1.1.2 Vai trò của tài sản cố định hữu hình
Bàn về vai trò của TSCĐ các nhà kinh tế chính trị cho rằng TSCĐ là xương cốt của nền sản xuất xã hội Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh tất cả các cuộc đại cách mạng công nghiệp diễn ra đều là tập trung giải quyết các vấn đề cơ khí hóa, điện khí hóa, tự động hóa các quá trình sản xuất mà về thực chất là đổi mới, cải tiến và hoàn thiện hệ thống TSCĐ trong đó có TSCĐHH
Cho đến nay, trong thời đại của toàn cầu hóa, ý nghĩa của những nhận định
đó vẫn còn nguyên giá trị Rõ ràng, để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, mỗi DN đều phải tự ý thức không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Tuy nhiên, không thể đòi hỏi một sản phẩm chất lượng cao, đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế mà giá thành rẻ để đem đi cạnh tranh khi DN sản xuất bằng hệ thống máy móc thiết bị nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu, hệ thống kho bãi bảo quản không đảm bảo Nói cách khác, sức mạnh cạnh tranh của DN phụ thuộc nhiều vào việc máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất chế biến
mà DN sử dụng có đáp ứng được yêu cầu mới của quá trình sản xuất kinh doanh,
có theo kịp được sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại, có tạo ra sự khác biệt
và tính năng ưu việt cho sản phẩm hay không?
Như vậy, dù ở thời đại nào, TSCĐHH luôn là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng có ý nghĩa to lớn đối với các DN Hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng TSCĐHH đã trở thành nhu cầu bức thiết đối với các DN nói chung và DN ngành
mỏ nói riêng trong điều kiện hội nhập Vì thế, bên cạnh việc chuẩn bị, cân đối nguồn vốn đầu tư các DN cần chủ động nắm vững yêu cầu quản lý TSCĐHH trong
Trang 18điều kiện hội nhập cũng như nắm vững vai trò của TSCĐHH để việc đầu tư sử dụng TSCĐH ở DN thực sự hiệu quả Vai trò của TSCĐHH thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, TSCĐHH thể hiện trình độ trang bị kỹ thuật của DN, trực tiếp ảnh
hưởng đến số lượng và chất lượng sản phẩm của DN Số lượng, chủng loại TSCĐHH cũng như mức độ hiện đại hay lạc hậu của nó quyết định tính ổn định của sản xuất và hình thức, chất lượng của sản phẩm
Thứ hai, TSCĐHH góp phần giải phóng lao động chân tay của con người,
tăng tính chuyên môn hóa của quá trình sản xuất, tăng năng suất lao động Đồng thời với tính đồng bộ và hiện đại của TSCĐHH, DN có thể giảm chi phí đầu vào của quá trình sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và vị thế của mình trên thị trường
Thứ ba, TSCĐHH thúc đẩy DN nâng cao trình độ quản lý, tạo điều kiện
khuyến khích người lao động học tập nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề làm chủ khoa học kỹ thuật hiện đại Cơ cấu, số lượng, chủng loại và trình độ TSCĐHH chi phối tổ chức hoạt động SXKD và tổ chức bộ máy quản lý của DN
Đồng thời, để thích ứng với TSCĐHH đã được đầu tư và trang bị cho SXKD, đòi hỏi người lao động phải học tập, nâng cao tay nghề chuyên môn, tăng năng suất lao động, cải thiện thu nhập và triển vọng phát triển nghề nghiệp
1.2 yêu cầu quản lý tài sản cố định hữu hình ở các doanh nghiệp
1.2.1 Yêu cầu quản lý tài sản cố định
Như đã trình bày ở trên, TSCĐHH là cơ sở vật chất kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự tồn tại của DN trong môi trường cạnh tranh khốc liệt mà quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại Do đó, TSCĐHH cần được quản lý chặt chẽ nhằm phát huy hiệu quả cao nhất trong quá trình sử dụng Việc quản lý TSCĐHH cần phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau:
- Thứ nhất, phải quản lý được toàn bộ TSCĐHH hiện có ở DN cả về hiện vật và giá trị
Trang 19Việc quản lý TSCĐHH về mặt hiện vật thể hiện ở hai khía cạnh: lượng - bộ phận quản lý TSCĐ phải đảm bảo cung cấp đầy đủ về công suất, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của DN; chất lượng - việc bảo quản TSCĐ phải đảm bảo tránh
được hỏng hóc, mất mát làm giảm giá trị TSCĐ Để làm được điều đó, mỗi DN cần xây dựng nội quy bảo quản và sử dụng TSCĐ một cách hợp lý, phù hợp với đặc
điểm hoạt động của DN mình; đồng thời mỗi DN cũng nên xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật đối với từng loại TSCĐ đang sử dụng
Việc quản lý TSCĐHH về mặt giá trị thể hiện ở việc DN có phương pháp xác định chính xác giá trị tài sản Không chỉ tính đúng, tính đủ chi phí liên quan
đến hình thành tài sản, DN còn phải có biện pháp xác định mức độ hao mòn của tài sản và lượng hóa, phân bổ chi phí hao mòn đó vào chi phí sản xuất một cách hợp
lý Việc sửa chữa, tháo dỡ, lắp đặt thêm, cải tiến hay đánh giá lại tài sản đều phải dựa trên những nguyên tắc nhất định Trên cơ sở quản lý về mặt giá trị TSCĐ, DN mới có thể xây dựng kế hoạch điều chỉnh tăng hoặc giảm TSCĐ theo từng loại TSCĐ cho phù hợp với yêu cầu hoạt động của DN
- Thứ hai, phải quản lý quá trình thu hồi vốn đầu tư TSCĐHH hiện có
Đây là yêu cầu rất quan trọng vì việc lựa chọn và áp dụng phương thức nào
để thu hồi vốn đầu tư cho các TSCĐ trong DN sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá tài sản trong quá trình sử dụng, từ đó ảnh hưởng đến chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động SXKD…vì thế ngay từ khi đầu tư hình thành TSCĐ, DN phải xác định yếu tố như giá trị phải thu hồi, thời gian sử dụng hữu ích hay phương pháp thu hồi vốn một cách hợp lý Ngay trong quá trình
sử dụng cũng phải phân tích, xem xét phương pháp đó có phù hợp hay không để có biện pháp điều chỉnh kịp thời
- Thứ ba, phải xây dựng được hệ thống chỉ tiêu quản lý và đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ phù hợp
Do chi phí đầu tư cho TSCĐ không phải là nhỏ, quá trình sử dụng TSCĐ lại tương đối dài nên việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu quản lý và đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ sẽ giúp nhà quản lý trả lời những câu hỏi cơ bản như: việc sử dụng TSCĐ đã hiệu quả chưa, cơ cấu tài sản hiện tại có phát huy được năng lực của tài sản hay không? Nếu xét thấy tài sản sử dụng không hiệu quả, không thích ứng với hoạt động của DN hoặc tài sản trở nên lạc hậu…DN có thể tiến hành thanh lý, nhượng bán để đầu tư thay thế bằng tài sản khác
Trang 201.2.2 Nội dung quản lý tài sản cố định
Các giao dịch về TSCĐHH trước, trong và sau quá trình sử dụng TSCĐ là
đối tượng quản lý, thẩm quyền và chức năng thuộc hệ thống quản lý DN cũng như các chủ thể quản lý khác ngoài thực thể kinh doanh, từ những giao dịch này thiết lập nội dung quản lý của hệ thống tổ chức SXKD của mọi DN Các nghiệp vụ giao dịch về TSCĐ được xác định như là căn cứ, tiền đề đồng thời là mục tiêu cung cấp thông tin của kế toán TSCĐ
Quản lý TSCĐHH bao gồm ba giai đoạn: Đầu tư, sử dụng và thanh lý, thải loại TSCĐHH
Trong giai đoạn đầu tư đòi hỏi quản lý phải hiểu rõ đặc điểm hoạt động của
DN cũng như hiện trạng sử dụng TSCĐHH để xác định danh mục TSCĐHH cần
đầu tư (cả đầu tư mới và đầu tư thay thế) về số lượng, chủng loại và chất lượng TSCĐHH Trên cơ sở danh mục TSCĐHH cần đầu tư, DN cân nhắc phương thức
đầu tư sao cho phù hợp với khả năng tài chính, nhu cầu của DN và đạt tính hiệu quả kinh tế Tùy từng phương thức đầu tư mà DN xem xét, thu thập thông tin, lựa chọn nhà cung cấp, cho thuê hay nhập khẩu về phương diện giá cả, thủ tục, trình
độ kỹ thuật nhằm đầu tư được TSCĐHH thích hợp Tổ chức kiểm nhận, bàn giao,
đưa TSCĐHH vào sử dụng và xác định nguyên giá TSCĐHH
(Nguồn: Walgenback, Hanson, Hamre, Principles of Acounting Harcourt Brace Jovanovich, Publishers 1990)
Sơ đồ 1.1 Các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ
Trong giai đoạn sử dụng, đòi hỏi DN phải quản lý về mặt hiện vật và giá trị của TSCĐHH Đối với chỉ tiêu hiện vật đòi hỏi phải nắm được số lượng và chất
Đầu tư
TSCĐ
bị giảm giá trị
Thanh lý
Thời gian nắm giữ
và sử dụng TSCĐ
Ghi nhận chi phí hình thành TSCĐ - Chi phí khấu hao - Chi phí sửa chữa, nâng
cấp TSCĐ
Ghi nhận lãi hoặc lỗ
về thanh lý TSCĐ
Trang 21lượng của TSCĐHH Còn đối với chỉ tiêu giá trị cần xác định chính xác giá trị hao mòn và GTCL của TSCĐHH DN phải thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình
sử dụng TSCĐ tại các đơn vị, bộ phận trong DN Đối với những TSCĐHH bị hư hỏng thì tùy vào mức độ và thời điểm hư hỏng cũng như yêu cầu của quản lý để lựa chọn hình thức sửa chữa thích hợp DN cần xây dựng quy định nội bộ về quản lý tài sản nói chung, TSCĐHH nói riêng, quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận
đối với việc đầu tư, sử dụng, bảo quản và thanh lý, nhượng bán TSCĐHH, đồng thời xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐHH để đề xuất các phương án, biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TSCĐHH
Trong giai đoạn thanh lý, thải loại TSCĐHH DN cần xác định được danh mục các TSCĐHH đã khấu hao hết giá trị, bị lạc hậu kỹ thuật hay không sử dụng
được và xây dựng, lựa chọn phương án thanh lý, thải loại TSCĐHH Đối với những TSCĐHH đã khấu hao hết nhưng vẫn có thể sử dụng được DN cần cân nhắc giữa lợi ích thu được từ việc sử dụng tài sản với chi phí hoạt động của những tài sản này Đối với những TSCĐHH không sử dụng được hoặc sử dụng không có hiệu quả về mặt kinh tế DN cần xây dựng phương án thanh lý TSCĐHH sao cho phù hợp với hiện trạng của TSCĐHH, đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của DN
Quản lý TSCĐ nói chung và quản lý TSCĐHH nói riêng đóng vai trò quan trọng, giúp DN theo dõi và quản lý chặt chẽ số vốn đã đầu tư, có biện pháp và kế hoạch sử dụng hợp lý tài sản, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN Quản lý TSCĐHH cần được thực hiện trên tất cả các mặt hiện vật, giá trị và chất lượng của tài sản Để tạo ra sự thống nhất trong quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các cá nhân, bộ phận trong việc sử dụng TSCĐHH, DN cần xây dựng quy chế nội
bộ về quản lý, sử dụng tài sản nói chung, TSCĐHH nói riêng Công tác quản lý TSCĐHH trong DN cần tập trung vào các nội dung sau:
- Quy định cụ thể tiêu chuẩn và điều kiện ghi nhận TSCĐHH của DN Trên cơ sở quy định của Nhà nước và thông lệ chung, căn cứ vào đặc điểm hoạt động và
đặc thù tài sản, DN xây dựng tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH trong đó cần thiết phải
đề cập đến tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng
Trang 22- Xây dựng chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ chặt chẽ giữa bộ phận quản lý về mặt hiện vật và chất lượng của TSCĐ (bộ phận cơ giới hoặc xe, máy) với bộ phận quản lý về chỉ tiêu giá trị của TSCĐ (bộ phận kế toán)
- Xây dựng và áp dụng các quy trình, thủ tục trong sử dụng TSCĐ như: Thủ tục đầu tư, mua sắm; Thủ tục điều chuyển; Thủ tục thanh lý, nhượng bán; Thủ tục sửa chữa TSCĐHH Đối với từng khâu phải quy định rõ ràng trình tự thực hiện và các thủ tục chứng từ cần có
- Quy định rõ ràng trong nội bộ DN thẩm quyền phê duyệt các trường hợp
đầu tư, thế chấp vay vốn bằng TSCĐHH, góp vốn bằng TSCĐHH, điều chuyển, thanh lý, nhượng bán và sửa chữa TSCĐHH Thẩm quyền phê duyệt có thể gắn với chức danh quản lý hoặc gán với quy mô của tài sản hoặc giao dịch
- Quy định cụ thể trách nhiệm vật chất của các đơn vị, bộ phận trong DN
đối với việc bảo quản, sử dụng TSCĐHH nhằm tăng cường tính kỷ luật, nâng cao ý thức của các cá nhân, bộ phận liên quan, tránh mất mát và sử dụng lãng phí TSCĐHH của DN
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tình hình trang bị và hiệu quả sử dụng TSCĐHH thích hợp với đặc điểm hoạt động SXKD của DN và đáp ứng được yêu cầu thông tin ra quyết định của quản lý
- Định kỳ tiến hành kiểm kê TSCĐ với sự tham gia của đại diện các bộ phận
kế toán, kỹ thuật, đơn vị sử dụng, bộ phận cơ giới hoặc xe, máy Mọi trường hợp chênh lệch, sai sót phải lập biên bản xác định nguyên nhân và kiến nghị hướng xử
Trang 23doanh của DN ý nghĩa của hạch toán TSCĐHH được thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, hạch toán TSCĐHH khoa học, hợp lý, đáp ứng được yêu cầu
thông tin cho quản lý và là một trong những biện pháp quan trọng để quản lý và kiểm soát TSCĐHH, tránh xảy ra tình trạng thiếu, mất, sử dụng lãng phí, sai mục
đích
Thứ hai, thông tin thu được từ hạch toán TSCĐHH giúp kế toán lập được hệ
thống báo cáo tài chính chính xác, cung cấp thông tin cho quản lý và các đối tượng khác, đồng thời tính được các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản nói chung
và TSCĐHH nói riêng
Thứ 3, hạch toán TSCĐHH giúp quản lý nắm bắt được tình hình hiện có của
TSCĐHH về mặt giá trị, số lượng, chất lượng cũng như hiện trạng sử dụng TSCĐHH từ đó quyết định các biện pháp quản lý, sử dụng, đầu tư, sửa chữa, thay thế hoặc thanh lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐHH
Để thực hiện chức năng của mình là cung cấp thông tin tài chính, kế toán cho quản lý và các đối tượng có lợi ích trực tiếp và gián tiếp với hoạt động kinh doanh của DN, hạch toán TSCĐ cần làm tốt các nhiệm vụ sau:
- Tham mưu cho quản lý lựa chọn phương thức đầu tư TSCĐHH phù hợp với điều kiện, khả năng tài chính, đặc điểm và yêu cầu hoạt động của DN
- Theo dõi, phản ánh kịp thời, thường xuyên và có hệ thống giá trị hiện có
và tình hình tăng giảm TSCĐHH, từ đó giúp quản lý nắm bắt được số lượng, chất lượng của TSCĐHH, phục vụ cho việc ra quyết định liên quan đến đầu tư, điều chuyển, sửa chữa, thanh lý và nhượng bán TSCĐHH
- Lựa chọn phương pháp tính khấu hao TSCĐHH phù hợp với khả năng, trình độ khai thác, sử dụng, đặc điểm của tài sản, khả năng tài chính cũng như chiến lược của DN và quy định của Nhà nước, từ đó xác định và phân bổ chính xác chi phí khấu hao TSCĐHH
Trang 24- Lựa chọn phương thức sửa chữa thích hợp với mức độ hư hỏng của TSCĐHH Đặc điểm SXKD và khả năng tài chính của DN, từ đó ghi nhận và quyết toán chính xác, kịp thời chi phí sửa chữa
- Tham mưu cho quản lý thời điểm, số lượng, chủng loại TSCĐHH cần thanh lý, nhượng bán, góp phần hình thành cơ cấu TSCĐHH hợp lý Ghi nhận đầy
đủ, chính xác chi phí và thu nhập phát sinh trong quá trình thanh lý, nhượng bán TSCĐHH
- Tổng hợp số liệu, lập hệ thống báo cáo tài chính về TSCĐHH nhằm cung cấp thông tin cho quản lý và các đối tượng khác
- Tham gia kiểm kê, tham mưu cho quản lý các trường hợp thiếu, mất TSCĐHH
1.3.1.2 Đánh giá TSCĐHH trong DN
Đánh giá TSCĐHH là sử dụng thước đo tiền tệ trong kế toán nhằm xác định giá trị ghi sổ của TSCĐHH phục vụ hạch toán và quản lý Việc đánh giá TSCĐHH trong DN phải tuân thủ các nguyên tắc và giả định kế toán như nguyên tắc giá phí lịch sử, giả định hoạt động liên tục và nguyên tắc phù hợp Một TSCĐHH cụ thể
được đánh giá theo ba chỉ tiêu là nguyên giá, hao mòn và giá trị còn lại
được trình bày trên báo cáo tài chính của DN Vấn đề quan trọng đối với kế toán là phải xác định được các trường hợp hình thành TSCĐHH và các yếu tố cấu thành nguyên giá tương ứng với mỗi trường hợp hình thành Trong DN có ba trường hợp chủ yếu hình thành TSCĐHH là mua, XDCB và nhận vốn góp, được cấp
Đối với trường hợp TSCĐHH hình thành qua mua sắm thì nguyên giá được xác định gồm giá mua hợp lý, các khoản thuế không được khấu trừ, hoàn lại, các
Trang 25chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐHH vào trạng thái sẵn sàng sử dụng sau khi trừ ( - ) các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá được hưởng Các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐHH vào trạng thái sẵn sàng sử dụng có thể bao gồm: chi phí chuẩn bị mặt bằng; chi phí vận chuyển, bốc dỡ ban đầu; chi phí lắp đặt, chạy thử, chuyên gia Nếu TSCĐHH mua theo phương thức trả chậm thì phí mua hợp lý không bao gồm tiền lãi trả chậm mà DN phải trả cho bên bán, khoản tiền này được phân bổ vào chi phí SXKD theo phương pháp đường thẳng trong suốt thời gian trả chậm Trong trường hợp TSCĐHH mua theo hình thức trao
đổi thì giá mua cấu thành nguyên giá là giá trị hợp lý của TSCĐHH nhận về hoặc giá trị hợp lý của tài sản mang đi trao đổi sau khi điều chỉnh các khoản tiền trả thêm hoặc nhận về
Đối với TSCĐHH hình thành qua hoạt động XDCB thì nguyên giá là giá quyết toán của công trình theo quy chế quản lý đầu tư xây dựng cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐHH vào trạng thái sẵn sàng sử dụng
Đối với TSCĐHH nhận vốn góp của thành viên, DN khác hay TSCĐHH
được cấp nguyên giá là giá trị hợp lý của TSCĐHH theo thỏa thuận hoặc giá thẩm
định hay theo biên bản giao nhận cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc
đưa TSCĐHH vào trạng thái sẵn sàng sử dụng
Trong trường hợp TSCĐHH thuê tài chính thì nguyên giá ở DN thuê được xác định theo giá thấp hơn giữa giá trị hợp lý của tài sản thuê tại thời điểm khởi
đầu thuê tài sản và giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu Giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tài sản tối thiểu được xác định theo công thức sau:
Trong công thức trên, Aj là tổng số tiền DN đi thuê phải thanh toán theo hợp
đồng thuê năm thứ j, n là thời gian thuê tài sản theo hợp đồng, r là tỉ lệ lãi suất
Giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu
Trang 26ngầm định hoặc tỉ lệ lãi suất được ghi trong hợp đồng hoặc tỉ lệ lãi suất biên đi vay của DN thuê
Trong quá trình tồn tại và hoạt động của mình, quán triệt nguyên tắc giá phí
và giả định hoạt động liên tục trong kế toán, nguyên giá TSCĐHH của DN không thay đổi Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐHH chỉ được ghi tăng nguyên giá nếu các chi phí này làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản Nguyên giá TSCĐHH chỉ thay đổi trong các trường hợp sau:
Thực hiện đánh giá lại TSCĐHH theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc đánh giá lại TSCĐHH làm ảnh hưởng đến nguyên giá và giá trị hao mòn và tất yếu ảnh hưởng đến chi phí, lợi nhuận của DN do đó đánh giá lại TSCĐHH phải được sự phê duyệt của cấp có thẩm quyền
Trang bị thêm hoặc tháo dỡ bớt chi tiết, bộ phận của TSCĐHH Trường hợp này DN phải cân nhắc đến tính hệ thống trong việc thực hiện chức năng của TSCĐHH và các điều kiện ghi nhận TSCĐHH để xác định sự thay đổi nguyên giá
Thực hiện đầu tư, nâng cấp TSCĐHH, chi phí nâng cấp chỉ ghi tăng nguyên giá khi các chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản được nâng cấp Kết quả của việc đầu tư nâng cấp nếu làm tăng thời gian sử dụng hữu ích hoặc làm tăng công suất sử dụng hoặc làm tăng đáng kể chất lượng sản phẩm sản xuất ra hoặc làm giảm chi phí hoạt động của tài sản so với trước khi nâng cấp thì được quyết toán ghi tăng nguyên giá TSCĐHH
1.3.1.2.2 Giá trị hao mòn và khấu hao TSCĐHH
Trong quá trình TSCĐHH tham gia vào quá trình hoạt động SXKD, dưới tác
động của quá trình cơ, lý, điều kiện làm việc và môi trường tự nhiên cũng như ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật mà TSCĐHH bị giảm dần về mặt giá trị và giá trị sử dụng hoặc bị giảm khả năng mang lại lợi ích kinh tế cho DN, đây chính
là hiện tượng hao mòn TSCĐHH
Chế độ tài chính Việt Nam hiện hành cho rằng: “Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ do tham gia vào hoạt động SXKD, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật trong quá trình hoạt động của TSCĐ”
Trang 27[6,Tr4] Khái niệm hao mòn TSCĐ này đều đề cập đến nguyên nhân làm giảm giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ, đó là do quá trình sử dụng và tiến bộ khoa học kỹ thuật Với TSCĐHH nói riêng thì khái niệm hao mòn bản chất vẫn là sự giảm dần giá trị và giá trị sử dụng do quá trình sử dụng và tiến bộ khoa học kỹ thuật
Tùy vào nguyên nhân của hao mòn TSCĐHH mà người ta chia hao mòn thành hai loại là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Hao mòn hữu hình là sự giảm giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐHH do tác động cơ, lý của con người trong quá trình sử dụng hay ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên Hao mòn hữu hình là căn
cứ quan trọng của việc tính khấu hao, thời gian hao mòn hữu hình quyết định độ dài tính khấu hao và mức trích khấu hao Hao mòn vô hình là sự giảm giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐHH do ảnh hưởng của những tiến bộ khoa học kỹ thuật hoặc
do tăng năng suất lao động xã hội Để đầu tư TSCĐHH như trước đây chỉ phải bỏ
ra ít tiền hơn hoặc với số tiền như trước đây nhưng hiện tại đã đầu tư được TSCĐHH hiện đại hơn Đối với TSCĐHH cụ thể hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình có thể xảy ra riêng biệt hoặc đồng thời
DN đầu tư một số tiền nhất định để hình thành TSCĐHH phục vụ hoạt động SXKD nhưng trong quá trình sử dụng TSCĐHH bị giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng Tuy nhiên, hao mòn TSCĐHH là hiện tượng khách quan mang tính trìu tượng, làm cho TSCĐHH bị giảm dần giá trị và giá trị sử dụng đến thời điểm thanh
lý, thải loại do không thể tiếp tục sử dụng hoặc sử dụng tiếp sẽ không đạt hiệu quả kinh tế mong muốn Chính vì vậy, về mặt quản lý việc xác định được hao mòn của TSCĐHH giúp DN có được chính sách thu hồi vốn đầu tư cho TSCDDHH một cách thận trọng, phù hợp trên phương diện ghi nhận chi phí sử dụng TSCĐHH
Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “Khấu hao TSCĐ là việc giảm trừ theo thời gian sử dụng một phần giá trị đã
đầu tư ban đầu để xây dựng hay mua cho công trình, nhà cửa, máy móc, thiết bị
được xếp loại thành TSCĐ Phần khấu hao này được tính vào giá thành (hay giá mua ban đầu) của sản phẩm hay công trình có sử dụng TSCĐ đã đầu tư vào sản xuất như trả chi phí cho một dạng tư liệu sản xuất bị hao mòn dần từng phần trong
Trang 28thời gian sử dụng” [34] Theo quan điểm này thì khấu hao chính là việc ghi nhận chi phí sử dụng TSCĐ để được bù đắp sau chu kỳ sử dụng TSCĐ từ thu nhập tạo ra
1.4 thông tin kế toán với việc đánh giá trình độ quản lý, sử dụng tài sản cố
định hữu hình trong doanh nghiệp
1.4.1 Thông tin kế toán với quản lý TSCĐHH trong doanh nghiệp
Trên cơ sở thông tin do hạch toán TSCĐHH cung cấp, nhà quản lý có thể
đánh giá được các vấn đề liên quan đến đầu tư, sử dụng, quản lý, khai thác TSCĐHH phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý TSCĐHH
- Thông tin về cơ cấu TSCĐHH đầu tư do hạch toán TSCĐHH cung cấp giúp quản lý đánh giá được nguồn lực TSCĐHH trong doanh nghiệp Đồng thời, thông tin về số lượng, chất lượng, chủng loại TSCĐHH hiện có và hiệu quả sử dụng TSCĐHH của các bộ phận, đơn vị và toàn doanh nghiệp cũng như kế hoạch SXKD của doanh nghiệp là cơ sở để quản lý ra các quyết định liên quan đến việc
đầu tư, sử dụng một cơ cấu TSCĐHH tối ưu, phù hợp với khả năng tài chính, trình
độ khai thác và nhu cầu SXKD của doanh nghiệp
- Thông tin do hạch toán TSCĐHH cung cấp về tình hình phân bố TSCĐHH giúp quản lý đánh giá được trách nhiệm của các trung tâm, bộ phận, cá nhân liên quan trong quá trình quản lý và sử dụng TSCĐHH
Trang 29- Về mặt tài chính, thông tin do hạch toán TSCĐHH xử lý và cung cấp giuos quản lý xác định và đánh giá được vốn đầu tư theo nguồn tài trợ, từ đó gắn với trách nhiệm hoàn vốn, trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn
- Trên cơ sở thông tin về mức độ khai thác TSCĐHH trong doanh nghiệp nhà quản lý có thể đánh giá được hiện trạng sử dụng TSCĐHH ( Đơn vị sẻ dụng, thời gian sử dụng, công suất khai thác ), từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp với các hoạt động SXKD của doanh nghiệp
- Thông tin do hạch toán TSCĐHH cung cấp phục vụ cho việc đánh giá tình hình trang bị và hiệu quả sử dụng TSCĐHH trong doanh nghiệp, giúp nhà quản lý
có cái nhìn tổng thể về hiện trạng đầu tư và khai thác năng lực của TSCĐHH, quyết định các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng TSCĐHH
1.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh tình trạng trang bị TSCĐHH
Xây dựng và tính toán các chỉ tiêu phản ánh tình hình trang bị TSCĐHH nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ đảm bảo TSCĐHH cho hoạt động SXKD của DN, năng lực và tình trạng kỹ thuật của TSCĐHH, trên cơ sở đó DN có kế hoạch đầu tư, trang bị mới TSCĐHH hoặc tổ chức, sắp xếp lại hoạt động SXKD nhằm tăng năng suất lao động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả TSCĐHH Các chỉ tiêu phản ánh tình hình trang bị TSCĐHH trong doanh nghiệp bao gồm:
- Thứ nhất, chỉ tiêu phản ánh cơ cấu của TSCĐHH Cơ cấu của TSCĐHH có thể được tính cho từng loại TSCĐHH hoặc cho bộ phận TSCĐHH
Tỷ trọng TSCĐHH theo bộ phận sử dụng hoặc
Trang 30Chỉ tiêu tỷ trọng TSCĐHH trong tổng tài sản phản ánh cơ cấu đầu tư TSCĐHH trong doanh nghiệp, nó cho thấy mức độ đầu tư vốn của doanh nghiệp vào TSCĐHH Tỷ trọng TSCĐHH trong tổng tài sản giữa các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực khác nhau là khác nhau, nó phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế –
kỹ thuật ngành nghề và yêu cầu của hoạt động SXKD của DN Tỷ trọng của từng loại TSCĐHH trong tổng TSCĐ phản ánh mức độ đầu tư vốn của doanh nghiệp cho từng loại TSCĐHH, chỉ tiêu này khác nhau với từng thời kỳ và chiến lược kinh doanh của DN Tỷ trọng TSCĐHH theo bộ phận sử dụng hoặc theo loại hoạt động phản ánh cơ cấu đầu tư TSCĐHH của doanh nghiệp cho từng bộ phận hoặc từng hoạt động trong tổng vốn đầu tư cho TSCĐHH của toàn doanh nghiệp, chỉ tiêu này
có thể được sử dụng để so sánh với tỷ trọng doanh thu, lợi nhuận của bộ phận hoặc hoạt động tương ứng, từ đó thấy được tính hợp lý và hiệu quả trong việc đầu tư và
sử dụng TSCĐHH trong doanh nghiệp
Trong các công thức trên, giá trị TSCĐHH có thể được tính theo chỉ tiêu nguyên giá hoặc giá trị còn lại của TSCĐHH, có thể tính vào thời điểm đầu kỳ hoặc cuối kỳ và số liệu tính được lấy từ sổ kế toán tổng hợp và chi tiết của các tài khoản phản ánh TSCĐHH
- Thứ hai, chỉ tiêu phản ánh mức độ hao mòn TSCĐ Chỉ tiêu này phản ánh tình trạng kỹ thuật của TSCĐ, giúp DN đánh giá đúng mức độ cũ, mới của TSCĐ;
từ
đó có biện pháp tái đầu t− TSCĐ Chỉ tiêu này đ−ợc tính nh− sau:
Giá trị hao mòn TSCĐHH
Hệ số hao mòn TSCĐHH = Tổng nguyên giá TSCĐHH (1-5) Trong công thức trên, hệ số hao mòn có thể đ−ợc tính vào đầu kỳ hoặc cuối
kỳ, số liệu tính căn cứ vào sổ kế toán các TK phản ánh nguyên giá và hao mòn lũy
kế của TSCĐHH
- Thứ ba, chỉ tiêu phản ánh tình hình trang bị TSCĐHH Chỉ tiêu này phản
ánh trình độ cơ giới hóa trong hoạt động SXKD của DN Chỉ tiêu này đ−ợc tính theo công thức:
Trang 31Giá trị TSCĐHH
Hệ số trang bị TSCĐHH = Tổng số công nhân sản xuất trực tiệp (1-6)
Hệ số trang bị TSCĐHH càng cao chứng tỏ tính hiện đại trong hoạt động sản xuất của DN càng lớn Trong công thức trên, giá trị TSCĐHH có thể được tính theo nguyên giá hoặc GTCL, căn cứ vào sổ kế toán của các tài khoản phản ánh TSCĐHH; số lượng công nhân sản xuất căn cứ vào sổ danh sách lao động, các quyết định tuyển dụng và hợp đồng lao động
- Thứ tư, chỉ tiêu phản ánh tình hình biến động TSCĐ Thông qua việc tính các hệ số đổi mới hoặc loại bỏ TSCĐ, DN có thể đánh giá tình hình biến động tăng, giảm TSCĐ; trình độ tiến bộ kỹ thuật và đổi mới TSCĐ của DN
Giá trị tăng TSCĐHH
Hệ số đổi mới TSCĐHH = Giá trị TSCĐHH cuối kỳ (1-7)
Giá trị giảm TSCĐHH
Hệ số loại bỏ TSCĐHH = Giá trị TSCĐHH cuối kỳ (1-8) Trong các công thức trên, giá trị của TSCĐHH cuối kỳ có thể được xác định theo nguyên giá hoặc GTCL, số liệu căn cứ vào số dư và số phát sinh trên sổ kế toán các tài khoản phản ánh nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ
- Thứ năm, tỷ suất tự tài trợ TSCĐ Tỷ suất này cho biết số vốn CSH của DN dùng cho đầu tư TSCĐ DN có tình hình tài chính lành mạnh thì tỷ suất này thường lớn hơn 1 Chỉ tiêu này được tính theo công thức:
1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Sau một kỳ kinh doanh nhất định, việc đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào cho hoạt động SXKD nói chung, hiệu quả sử dụng TSCĐHH nói riêng
Trang 32có ý nghĩa to lớn đối với quản lý nhằm có cơ sở so sánh giữa kế hoạch với thực hiện, giữa thực tế kỳ này với kỳ trước để từ đó đề ra những biện pháp, kế hoạch cải tiến tổ chức lao động, tổ chức sản xuất nhằm khai thác và sử dụng tài sản một cách hợp lý, hiệu quả Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐHH có thể được xác
định theo các công thức:
Kết quả đầu ra
Hiệu quả sử dụng TSCĐHH = Giá trị bình quân TSCĐHH (1-10) Công thức trên phản ánh bình quân một đồng giá trị TSCĐHH bình quân
được sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra cho DN, kết quả này càng cao, càng tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐHH của DN ngày càng khả quan hơn Trong công thức trên, kết quả đầu ra có thể là doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận gộp hoặc lợi nhuận thuần Giá trị bình quân TSCĐHH có thể được tính theo nguyên giá hoặc GTCL và được xác định bằng công thức:
Giá trị TSCĐHH đầu kỳ + Giá trị TSCĐHH cuối kỳ
Hoặc
1 Suất hao phí
TSCĐHH = Hiệu quả sử dụng TSCĐHH (1-13) Suất hao phí TSCĐ phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận gộp hay lợi nhuận thuần thì DN phải đầu tư bao nhiêu đồng TSCĐ Chỉ tiêu này càng nhỏ và có xu hướng giảm chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐ của DN càng có triển vọng tốt hơn
Tóm lại, TSCĐHH trong các DN có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của DN, ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, dịch
vụ, khả năng cạnh tranh và đứng vững trên thị trường Quản lý, sử dụng và hạch toán TSCĐ là một phần nội dung không thể thiếu trong các đơn vị kế toán nói
Trang 33chung, DN nói riêng nhằm cung cấp thông tin kinh tế, tài chính đáp ứng nhu cầu ra quyết định của quản lý liên quan đến đầu t−, quản lý và sử dụng TSCĐHH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐHH, góp phần vào sự phát triển thịnh v−ợng của
DN
Với tên gọi “Cơ sở lý luận về công tác quản lý tài sản cố định hữu hình ở các doanh nghiệp”, toàn bộ chương 1 của luận văn đã đề cập tới những vấn đề lý luận cơ bản về TSCĐHH trong các doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh như: khái niệm TSCĐHH; Yêu cầu quản lý TSCĐHH; Vai trò của TSCĐHH… Chương 1 của luận văn cũng đã hệ thống được các chỉ tiêu đánh giá tình hình trang
bị và hiệu quả sử dụng TSCĐHH trong doanh nghiệp
Nền tảng của công tác quản lý TSCĐHH của nhiều nước trên thế giới là chuẩn mực kế toán quốc tế Việc phân tích chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng như chuẩn mực kế toán quốc tế về TSCĐHH đã cho thấy xu hướng hoà hợp của kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay
Đây là những cơ sở lý luận quan trọng để xem xét, đánh giá thực tiễn công tác quản lý TSCĐHH của các doanh nghiệp trong Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (TKV) qua các thời kỳ cũng như thực trạng vận dụng chế độ đó trong các doanh nghiệp TKV, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý TSCĐHH trong các doanh nghiệp thuộc TKV nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 34Chương 2 Thực trạng quản lý TSCĐHH trong các doanh nghiệp khai thác than thuộc tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản việt nam
2.1 Tổng quan về Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam
có quyết định số 345/2009/QĐ-TTG về việc thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than
và Khoáng sản Việt Nam trên cơ sở Tập đoàn than Việt Nam và Tổng Công ty khoáng sản Việt Nam, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con
a) Cơ cấu tổ chức Công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam gồm: Công ty Cảng và Kinh doanh than, Công ty Tuyển than Hòn Gai, Công ty Tuyển than Cửa Ông, Công ty Tài chính than Việt nam, Công ty Địa chất
mỏ, Trung tâm Cấp cứu mỏ, Trung tâm phát triển nguồn nhân lực quản lý, Ban Quản lý dự án than Việt Nam, Ban Quản lý dự án Nhà máy điện Sơn Động, Trung tâm Y tế lao động ngành than, Tạp chí Than Việt Nam,
b) Các công ty con:
- Công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, trong đó công ty
mẹ do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nắm giữ 100% vốn điều lệ: Tổng Công ty Khoáng sản, Công ty Đông Bắc, Công ty Than Việt Bắc, Công ty Than Uông Bí, Công ty TNHH một thành viên Vật liệu nổ công nghiệp, Viện khoa học công nghệ mỏ,
- Các công ty cổ phần do Tập đoàn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ: Công ty Than Hòn Gai, Công ty Than Hạ Long, Công ty Xây dựng mỏ, Công ty Than Dương Huy, Công ty Than Hà Lầm, Công ty Than Thống Nhất, Công ty cổ phần
Trang 35than Mông Dương, Công ty Than Khe Chàm, Công ty cổ phần than Vàng Danh, Công ty Than Quang Hanh, Công ty Công nghiệp Ô tô than Việt Nam, Công ty cơ khí đóng tàu than Việt Nam, Viện cơ khí năng lượng và Mỏ, Công ty cổ phần than Núi Béo, Công ty chế tạo thiết bị điện Cảm phả, Công ty phát triển tin học, Công nghệ và Môi trường, Công ty tư vấn đầu tư mỏ và Công nghiệp, Công ty Giám định than Việt Nam, Công ty Than Đèo Nai, Công ty cổ phần than Cọc Sáu, Công ty cổ phần Than Cao Sơn, Công ty cổ phần than Hà Tu, Công ty Vật tư vận tải và Xếp
dỡ, Công ty Khách sạn Heritage Hạ Long, Công ty Nhiệt điện Na Dương, Công ty nhiệt điện Cao Ngạn, Công ty cổ phần than Mạo Khê, Công ty TNHH một thành viên Chế biến và Kinh doanh than miền Bắc, Công ty TNHH một thành viên Chế tạo máy than Việt Nam, Công ty cổ phần Nhiệt điện Cẩm phả, Công ty cổ phần Vận tải và Đưa đón thợ mỏ, Công ty cổ phần Đại lý tàu biển than Việt Nam, Công
ty cổ phần Xuất nhập khẩu than Việt Nam, Công ty cổ phần Du lịch và Thương mại than Việt Nam, Công ty cổ phần Đầu tư, Thương mại và Dịch vụ, Công ty cổ phần Chế biến và Kinh doanh than Cẩm Phả, Công ty cổ phần Than miền Trung, Công ty cổ phần Than miền Nam, Công ty cổ phần Than Tây Nam Đá Mài
- Các công ty do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ: Công ty cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng, Công ty cổ phần Nhiệt
điện Quảng Ninh, Công ty cổ phần Cơ khí Mạo Khê, Công ty cổ phần Cơ điện Uông
Trang 36Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tập đoàn hiện nay vẫn theo cơ cấu tổ chức của Tổng công ty than Việt Nam do chưa có quyết định chính thức:
- Hội đồng quản trị: 1 chủ tịch Hội đồng quản trị, 1 phó chủ tịch Hội đồng
quản trị, 1 trưởng ban kiểm soát, 2 uỷ viên Hội đồng quản trị
- Ban kiểm soát gồm: 1 trưởng ban (là thành viên trong Hội đồng quản trị), 2
thành viên do chủ tịch Hội đồng quản trị bổ nhiệm từ đội ngũ cán bộ của Tập đoàn, 1 thành viên đại diện cho Cục quản lý vốn và tài sản, 1 thành viên đại diện của Bộ công nghiệp
- Ban Giám đốc điều hành gồm: 1 Tổng giám đốc, 6 Phó tổng giám đốc
chuyên trách các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, sản xuất, chế biến và tiêu thụ than, đầu tư xây dựng, vật tư, kinh doanh khác và phát triển nguồn nhân lực, 1 kế toán trưởng
- Bộ phận chuyên môn giúp việc cho Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc chia làm 3 khối: Khối các ban chuyên đảm trách về kỹ thuật và điều hành sản xuất; khối các ban chuyên đảm trách về kinh tế - kế hoạch - tài chính và khối các ban về các nghiệp vụ khác
2.1.2 Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh
Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty than Việt Nam ban hành theo Nghị định 13 CP ra ngày 27/1/2005 quy định “Tổng công ty than Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức thăm dò, khai thác và chế biến than, tổ chức mạng lưới tiêu thụ than trên thị trường nội địa và xuất khẩu, đảm bảo nhu cầu than cho xây dựng đất nước theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước, theo nhiệm vụ của Thủ tướng giao cho Tổng công ty trong từng thời kỳ Tận dụng năng lực hiện có, thực hiện kinh doanh đa ngành trên cơ sở phát triển công nghiệp than, trong những ngành nghề được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật”
Theo điều lệ tổ chức và hoạt động đã sửa đổi của Tổng công ty than Việt Nam ban hành theo Nghị định 27CP ngày 6/5/1996 thì “Tổng công ty than Việt Nam có nhiệm vụ kinh doanh theo quy hoạch, kế hoạch và chính sách của Nhà
Trang 37nước; bao gồm nghiên cứu khoa học công nghệ Mỏ, tìm kiếm, thăm dò, khảo sát, thiết kế, xây dựng kế hoạch phát triển, đầu tư, tạo nguồn vốn đầu tư, xây dựng, khai thác, chế biến, tàng trữ, tiếp thị, vận chuyển, lưu thông, xuất nhập khẩu và cung ứng vật tư, thiết bị chuyên dùng cho ngành than; tiến hành các hoạt động kinh doanh khác phù hợp với pháp luật, chính sách của Nhà nước” Cụ thể là:
- Công nghiệp than: Thăm dò, đầu tư, xây dựng, khai thác, sàng tuyển, chế biến, vận tải, cung ứng cho thị trường trong nước và xuất nhập khẩu các sản phẩm than
- Công nghiệp khóang sản (bao gồm công nghiệp bô xít - alumin - nhôm và các khoáng sản khác): khảo sát, thăm dò, đầu tư xây dựng, khai thác, làm giàu quặng, gia công, chế tác, vận tải, mua, bán, xuất nhập khẩu các sản alumin, nhôm,
đồng, chì, kém, crôm, thiếc, đá quý, vàng, các kim loại đen, kim loại màu khác và khoáng sản khác
- Công nghiệp bôxít - nhôm và khai thác các khoáng sản khác: thăm dò, đầu tư xây dựng, khai thác, làm giàu quặng bô-xít, sản xuất alumin và nhôm; khai thác, chế biến các khoáng sản khác; kinh doanh trong nước và xuất nhập khẩu alumin, nhôm và các sản phẩm khác từ khoáng sản
- Công nghiệp điện: đầu tư, xây dựng, khai thác vận hành các nhà máy nhiệt
điện đốt than, các nhà máy thuỷ điện nhỏ, cung cấp điện lên lưới điện quốc gia và bán trực tiếp cho các hộ sử dụng
- Cơ khí chế tạo máy: sửa chữa, lắp ráp, chế tạo các sản phẩm cơ khí, xe vận tải, xe chuyên dùng, phương tiện vận tải biển, thiết bị mỏ, thiết bị điện, thiết bị chịu áp lực và các thiết bị công nghiệp khác
- Vật liệu nổ công nghiệp: đầu tư xây dựng, sản xuất, cung ứng, tàng trữ, dự trữ quốc gia, xuất nhập khẩu các loại vật liệu nổ công nghiệp; cung ứng địch vụ khoan nổ mìn, các dịch vụ liên quan đến sử dụng vật liệu nổ công nghiệp
- Quản lý, khai thác cảng biển, bến thuỷ nội địa và vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ (sông, biển)
- Đầu tư xây dựng, sản xuất và cung ứng xi măng, vật liệu xây dựng
Trang 38- Xây dựng các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi và dân dụng; xây lắp đường dây và trạm điện
- Đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng và bất động sản
- Sản xuất, kinh doanh dầu mỡ bôi trơn, hàng bảo hộ lao động, hàng tiêu dùng, cung ứng vật tư, thiết bị
- Các dịch vụ khác: đo đạc, bản đồ, thăm dò địa chất, tư vấn đầu tư, thiết kế khoa học công nghệ, đào tạo, y tế, điều trị bệnh nghề nghiệp; tin học, thương mại, khách sạn, du lịch, hàng hải; xuất khẩu lao động; giám định sản phẩm; xếp dỡ, chuyển tải hàng hoá; bảo hiểm, tài chính
- Các ngành nghề khác phù hợp với năng lực của Tập đoàn, nhu cầu thị trường theo quy định của Pháp luật
Như vậy, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty than Việt Nam là kinh doanh đa ngành, ngoài những ngành nghề trực tiếp phục vụ sản xuất - kinh doanh than (tức là trên cơ sở phát triển công nghiệp than) còn bao gồm sản xuất - kinh doanh các khoáng sản khác nằm trong vùng mỏ than được Nhà nước giao và hoạt động kinh doanh khác phù hợp với pháp luật và chính sách của Nhà nước
2.1.3 Tình hình quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại Tập đoàn TKV
Sau 3 năm hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế và thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ về mở rộng sản xuất kinh doanh đa ngành, thực hiện chuyển đổi sở hữu, cổ phần hoá để thu hút thêm vốn thêm vốn đầu tư trong sản xuất kinh doanh Tính đến 31 tháng 12 năm 2009, vốn chủ sở hữu của Tập
đoàn TKV là 14.715 tỷ đồng, tăng so với vốn điều lệ theo quyết định của Bộ Tài chính năm 2005 là 11.211 tỷ đồng, Tập đoàn luôn bảo tồn và phát triển vốn Nhà nước
Vốn chủ sở hữu luôn tăng do: Tập đoàn TKV đã chú trọng đầu tư sản xuất kinh doanh chính là sản phẩm than và khoáng sản, thực hiện tốt các biện pháp quản trị chi phí nên lợi nhuận cao và tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao:
- Lợi nhuận năm 2007: 2658 tỷ đồng, năm 2008: 3.044 tỷ đồng và năm 2009: 6.219 tỷ đồng
Trang 39- Vốn Nhà nước được bổ sung từ lợi nhuận sau thuế mỗi năm trên 1.000 tỷ
Bảng 2.3 Tình hình sử dụng vốn và tài sản của Tập đoàn TKV năm 2007 - 2009
TT Chỉ tiêu ĐVT Thực hiện năm 2007 Thực hiện năm 2008 Thực hiện năm 2009
Trang 40A Thực trạng tình hình tài chính
1 Vốn chủ sở hữu Trđ 7.774.171 10.141.434 14.786.694
1.1 Vố đầu tư của chủ sở hữu Trđ 4.489.209 5.593.854 6.336.291 1.2 Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối Trđ 69.250 29.456 3.622.843 1.3 Quỹ đầu tư phát triển Trđ 1.909.614 2.545.848 2.391.891
1.5 Quỹ dự phòng tài chính Trđ 498.141 692.985 729.300 1.6 Quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu Trđ 814.422 682.690 998.756 1.7 Chênh lệch đánh giá lại tài sản Trđ 1.394 123.724 687 1.8 Chênh lệch tỷ giá hối đoái Trđ -7.859 -13.340 -94.341
2.4 Thuế và các khoản phải nộp NSNN Trđ 353.108 496.172 1.564.109 2.5 Nợ phải trả quá hạn Trđ
2.6 Nợ khác Trđ 2.790.939 5.227.188 6.548.381
3 Khả năng thanh toán và
tỷ lệ an toàn vốn
3.1 * Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn % 156,57 111,13 132,89 3.2 * Tổng nợ phải trả/ Vốn CSH % 155,22 179,08 199,68 3.3 * Nợ vay ngân hàng/ Vốn CSH % 117,88 113,94 138,34
4 Kết quả kinh doanh
4.1 Doanh thu Trđ 28.977.976 37.458.445 57.453.775
4.2 Doanh thu hoạt động tài chính Trđ 355.664 408.220 489.366 4.3 Lợi nhuận sau thuế Trđ 2.048.650 2.424.176 4.618.620 4.4 Lỗ phát sinh (3) Trđ
4.6 Lợi nhuận sau thuế/Vốn CSH % 26 24 31
5 Quan hệ với ngân sách 5.1 Số phát sinh phải nộp ngân sách Trđ 1.588.116 3.543.480 7.241.686
Trong đó:
Thuế giá trị gia tăng Trđ 387.053 555.024 684.984 Thuế thu nhập doanh nghiệp Trđ 615.122 726.568 1.615.480 Thuế và các khoản phải nộp khác Trđ 585.941 2.261.888 4.941.222