* Phạm vi nghiên cứu: Trong TKV nói chung và Công ty than Quang Hanh 5- Nội dung nghiên cứu Qua tìm hiểu tài liệu và thực tế về quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước tác giả
Trang 3T¸c gi¶ xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t¸c gi¶ C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc vµ ch−a tõng
®−îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c
Hµ Néi ngµy 22 th¸ng 7 n¨m 2008
Lª Thuý Nga
Trang 4Mở đầu 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá doanh nghiệp
1.1- Cơ sở lý luận về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 5
1.1.1- Nội dung cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo quy định
1.1.2- Phương pháp tính giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá 12
1.2- Một số vấn đề về cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở một
1.2.4- Thực tiễn về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
1.3- Cổ phần hoá ở Tập đoàn Than- Khoáng sản Việt Nam (TKV)
nói chung và doanh nghiệp khai thác than nói riêng 28 1.3.1- Đặc điểm ngành khai thác khoáng sản ở TKV và ở doanh
1.3.2- Những đặc thù của doanh nghiệp khai thác than cần quan tâm
Chương 2: Đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
than Quang hanh giai đoạn 2003 - 2007 và tại thời điểm
2.1- Tình hình chung của công ty than Quang Hanh- TKV 40
2.2- Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn
Trang 52.2.5- Tình hình sử dụng vốn của công ty giai đoạn 2003- 2007 47 2.3- Đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
than Quang Hanh tại thời điểm trước khi cổ phần hóa 54 2.3.1- Tóm tắt tình hình sản xuất kinh doanh của công ty than
Quang Hanh tại thời điểm 3 năm trước khi cổ phần hóa 54
Chương 3: Tổ chức quá trình cổ phần hoá ở công ty than
Quang Hanh và một số giả pháp phát triển sản xuất
kinh doanh sau cổ phần hoá ở công ty cổ phần than
3.1- Tổ chức quá trình cổ phần hoá ở công ty than Quang Hanh- TKV 61
3.2- Phuơng án tổ chức quá trình cổ phần hoá ở công ty than
3.3- Phương án đầu tư phát triển công ty cổ phần than Quang Hanh
3.3.1- Phương hướng và mục tiêu phát triển doanh nghiệp 80
3.4- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế khi thực hiện kế
hoạch sản xuất kinh doanh 3 năm (2009- 2011) và những năm
Trang 6Danh mục các bảng
Bảng 1.1: Kết quả hoạt động của một số đơn vị thành viên sau CPH 36 Bảng 2.1: Phân tích tốc độ tăng trưởng về sản lượng và doanh thu 43 Bảng 2.2: Phân tích tốc độ tăng trưởng về sản lượng và doanh thu 44 Bảng 2.3: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định các năm 2003-2007 48 Bảng 2.4: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động các năm 2003-2007 49 Bảng 2.5: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh các năm 2003-2007 50 Bảng 2.6: Khả năng thanh toán hiện thời các năm 2003- 2007 51
Bảng 2.9: Trình độ sử dụng vốn lưu động qua các năm 2003- 2007 53
Bảng 3.1: Bảng tính giá trị tài nguyên thuần vào giá trị DN cổ phần hoá 69 Bảng 3.2: Kết quả xá định giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá 75 Bảng 3.3: Kế hoạch sử dụng tiền thu từ bán phần vốn nhà nước 79
Bảng 3.6: Bảng chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật lò chợ chống gỗ 84 Bảng 3.7: Tính giá thành đơn vị sản phẩm cho lò chợ chống gỗ 85 Bảng 3.6: Bảng chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật lò chợ chống gỗ 84 Bảng 3.7: Tính giá thành đơn vị sản phẩm cho lò chợ chống gỗ 85 Bảng 3.8: Bảng chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật lò chợ chống giá thuỷ lực XDY 84 Bảng 3.9: Tính giá thành đơn vị sản phẩm cho lò chợ giá thuỷ lực XDY 85 Bảng 3.10: Bảng chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật lò chợ chống giá khung ZH 84 Bảng 3.11: Tính giá thành đơn vị sản phẩm cho lò chợ chống giá khung ZH 85 Bảng 3.12: Bảng chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật lò chợ chống giá khung ZHT 84
Trang
Trang 7B¶ng 3.15: B¶ng thèng kª c¸c biÖn ph¸p c«ng nghÖ 92 B¶ng 3.16: TÝnh to¸n hiÖu qu¶ kinh tÕ do ¸p dông c«ng nghÖ míi 93
Trang 8Trang
Hình 2.3: Biểu đồ về tình hình tài sản của công ty giai đoạn 2003- 2007 45 Hình 2.4: Biểu đồ về tình hình nguồn vốn của công ty giai đoạn 2003- 2007 46 Hình 2.5: Đồ thị về hiệu quả sử dụng vốn cố định các năm 2003-2007 48 Hình 2.6: Đồ thị về hiệu quả sử dụng vốn lưu động các năm 2003-2007 49 Hình 2.7: Đồ thị về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh các năm 2003-2007 50 Hình 2.8: Biểu đồ trình độ lao động tại thời điểm 31/12/2007 57
Hình 3.1: Bảng tính giá trị tài nguyên thuần vào giá trị DN cổ phần hoá 69
Hình 3.3: Kế hoạch sử dụng tiền thu từ bán phần vốn nhà nước 79
Hình 3.7: Tính giá thành đơn vị sản phẩm cho lò chợ chống gỗ 85
Hình 3.7: Tính giá thành đơn vị sản phẩm cho lò chợ chống gỗ 85 Hình 3.8: Bảng chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật lò chợ chống giá thuỷ lực XDY 84 Hình 3.9: Tính giá thành đơn vị sản phẩm cho lò chợ giá thuỷ lực XDY 85 Hình 3.10: Bảng chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật lò chợ chống giá khung ZH 84 Hình 3.11: Tính giá thành đơn vị sản phẩm cho lò chợ chống giá khung ZH 85
Trang 9H×nh 3.14: B¶ng so s¸nh kinh tÕ gi÷a c¸c biÖn ph¸p c«ng nghÖ 91
H×nh 3.16: TÝnh to¸n hiÖu qu¶ kinh tÕ do ¸p dông c«ng nghÖ míi 93
Trang 10Mở đầu 1- Tính cấp thiết của đề tài:
Cổ phần hoá (CPH) Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là giải pháp quan trọng nhất của quá trình đổi mới, sắp xếp lại DNNN ở nước ta Ngay trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, Đảng và nhà nước đ6 có chủ truơng và nhiều biện pháp chỉ đạo triển khai thực hiện rất tích cực tiến trình đổi mới và sắp xếp và CPH các DNNN này CPH các doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn đ6 được coi như là một giải pháp có tính chất chiến lược nhằm khắc phục những mặt khiếm khuyết, yếu kém vốn có của cơ chế bao cấp trong doanh nghiệp, huy động được thêm vốn, tạo được
động lực và cơ chế quản lý năng động để phát triển, nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tập đoàn công nghiệp than- khoáng sản Việt Nam (TKV) là một trong những tập đoàn kinh tế lớn mạnh của Việt Nam Mục tiêu chiến lược của tập đoàn là phát triển sản xuất và kinh doanh đa ngành bao gồm các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế
đất nước như sản xuất than, khoáng sản, sản xuất điện, đóng tầu, sản xuất cơ khí, may mặc, giày da và các ngành kinh doanh dịch vụ như du lịch, tài chính Để trở thành tập
đoàn hùng mạnh trong nền kinh tế đất nước, việc chuyển đổi các công ty nhà nước thành các CTCP là rất cần thiết
Tập đoàn TKV có 70 đơn vị thành viên bao gồm:
- Các đơn vị trong cơ cấu tổ chức công ty mẹ, có 11 đơn vị thành viên
- Các công ty con cổ phần, gồm 40 đơn vị thành viên
- Các công ty con do Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động theo mô hình công ty mẹ- con, gồm 6 đơn vị thành viên
- Các Công ty liên kết, gồm 6 đơn vị thành viên
- Các Trường Đào tạo nghề, gồm 3 đơn vị
Hiện nay, Tập đoàn TKV đ6 có 19 doanh nghiệp đ6 cổ phần (Nhà nước nắm giữ 51% số vốn) và còn 21 doanh nghiệp đang nằm trong mục tiêu cổ phần của Tập
Trang 11đoàn trong những năm 2008- 2010
Thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước Hội đồng quản trị Tập đoàn Than- Khoáng sản Việt Nam (TKV) đ6 chỉ đạo, triển khai xây dựng “Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp trực thuộc Tập đoàn” Từ năm 1999 đến 2007 Tập đoàn đ6 thực hiện cổ phần hoá 19 doanh nghiệp Sau cổ phần hoá hầu hết các công ty đều có biến chuyển mạnh mẽ và hoạt động có hiệu quả: Vốn điều lệ tăng bình quân 32,67%; doanh thu tăng bình quân 56,56%; nộp ngân sách nhà nước tăng 254,3%; Lợi nhuận tăng bình quân 187,74%; lao động tăng 5%; Thu nhập bình quân tăng 42,3%; cổ tức bình quân là 12,28% [1]
Tuy nhiên, việc cổ phần hoá (CPH) các doanh nghiệp của tập đoàn TKV nói chung cũng như các doanh nghiệp khai thác than nói riêng còn có nhiều bất cập Đối với các doanh nghiệp khai thác than việc đánh giá giá trị doanh nghiệp mỏ ngoài việc
đánh giá các công trình, tài sản dùng cho công tác khai thác còn đánh giá kinh tế khoáng sản, trữ lượng chất lượng tài nguyên khoáng sản, điều kiện khai thác, vị trí địa lý cho nên, việc đánh giá đúng giá trị doanh nghiệp là vấn đề tương đối khó đối với các doanh nghiệp khai thác than
Hệ thống quy định pháp lý cho việc triển khai cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ban hành rất nhiều tuy nhiên còn chưa đầy đủ, không đồng bộ, thiếu nhất quán trong khi những vấn đề mới liên tục nảy sinh, tại nhiều doanh nghiệp công tác tuyên truyền, vận động CPH còn chưa tốt cho nên quá trình CPH triển khai chậm, một số l6nh
đạo doanh nghiệp còn nhận thức chưa đầy đủ vì lo ngại đến quyền lợi của cá nhân sau quá trình CPH
Với những lý do trên, tác giả nhận thấy rằng đề tài: “Tổ chức quá trình CPH và các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh sau CPH ở Công ty than Quang Hanh- TKV” là cấp thiết và chọn đề tài này làm luận văn Thạc sỹ kinh tế với kỳ vọng xây dựng, hoàn thiện phương án CPH tại Công ty than Quang Hanh góp phần đẩy nhanh tiến trình CPH tại Tập đoàn TKV và mục tiêu CPH các DNNN ở Việt Nam
Trang 122- Mục đích nghiên cứu của đề tài
Góp phần hoàn thiện một số vấn đề về tổ chức quá trình CPH doanh nghiệp khai thác than nói chung, Công ty than Quang Hanh nói riêng, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh sau CPH
3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức quản lý công tác CPH DNNN ở Tập đoàn
công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam (TKV)
* Phạm vi nghiên cứu: Trong (TKV) nói chung và Công ty than Quang Hanh
5- Nội dung nghiên cứu
Qua tìm hiểu tài liệu và thực tế về quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước tác giả xây dựng phương án có tổ chức quá trình cổ phần hoá ở công ty than Quang Hanh, đề xuất phương pháp tính giá trị tài nguyên khoáng sản vào giá trị doanh nghiệp mỏ cổ phần hoá đồng thời đưa ra các giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh sau cổ phần hoá của công ty than Quang Hanh-TKV
6- ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Dựa trên cơ sở khoa học của các chế độ chính sách về CPH, lý thuyết về kinh
tế tổ chức vào công tác CPH ở các doanh nghiệp khai thác than
- Nghiên cứu và đưa ra các giải pháp tối ưu hơn cho công tác tổ chức quá trình CPH tại các doanh nghiệp khai thác than và công ty than Quang Hanh như :
+ Đánh giá đúng giá trị doanh nghiệp, tạo sự công bằng, niềm tin cho người lao
động, tạo ưu thế phát triển của công ty trên thị trường
+ Giải pháp để công ty phát triển đi lên sau cổ phần
Trang 137- Cơ sở tài liệu
- Các giáo trình Đại học và sau Đại học của các trường ĐH kinh tế ở Việt Nam
- Các văn bản pháp quy về luật doanh nghiệp, luật khoáng sản, luật môi trường, các quy định về công tác CPH
- Các tài liệu, báo cáo của TKV về công tác CPH
- Các báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty than Quang Hanh trong những năm qua (2003-2007)
8- Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá doanh nghiệp khai thác Than ở Việt nam
Chương 2: Đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty than Quang Hanh tại thời điểm xây dựng phương án CPH
Chương 3: Tổ chức quá trình cổ phần hoá ở công ty than Quang Hanh- TKV và một số giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh sau cổ phần hoá ở công ty cổ phần than Quang Hanh- TKV
Luận văn này được tác giả hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Đức Thành, khoa Kinh tế- Quản trị kinh doanh, trường Đại học Mỏ- Địa chất Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc về sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS trong quá trình làm luận văn
Tác giả mong muốn được bảo vệ đề tài này trước hội đồng chấm luận văn và rất mong nhận được sự góp ý quý báu của các Thày, Cô giáo, các nhà khoa học, các đồng nghiệp nhằm giúp tác giả hoàn thiện luận văn và nâng cao nhận thức của mình trong công tác
Xin trân trọng cảm ơn !
Trang 14Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá doanh nghiệp
Khai thác Than ở Việt nam 1.1- Cơ sở lý luận về Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (CPH DNNN) ở Việt Nam
CPH DNNN là một trong các nội dung cơ bản của quá trình đổi mới và sắp xếp lại DNNN ở nước ta Quá trình này đòi hỏi khách quan để thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước Quá trình đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp bắt đầu được thực hiện từ năm 1990, đ6 trải qua nhiều giai đoạn và nhằm thực hiện bốn nội dung:
Nghị quyết kỳ họp thứ mười Quốc hội khoá VIII tháng 12 năm 1991 về nhiệm
vụ phát triển kinh tế- x6 hội 5 năm (1991- 1995) đ6 xác định: “ Thí điểm việc cổ phần hoá một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển” Nghị quyết số 10/ NQ- TW ngày 17/3/1995 của Bộ chính trị nêu rõ: “…Tuỳ theo tính chất, loại hình doanh nghiệp nhà nước mà tiến hành bán một số tỷ lệ cổ phần cho cán bộ công nhân viên chức… và cá nhân ngoài doanh nghiệp” [6]
Thực hiện chủ trương của Đảng và Quốc hội, Chính phủ đ6 cụ thể hoá các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội thành các văn bản pháp quy về vấn đề CPH Từ khi triển khai CPH đến nay, đ6 có nhiều quyết định, chỉ thị, các nghị định của Chính phủ và
Trang 15thông tư của các bộ được ban hành nhằm quy định, hướng dẫn những vấn đề có liên quan đến việc thực hiện CPH DNNN như sau:
- Luật DNNN ngày 20/4/1995 và các văn bản hướng dẫn kèm theo
- Luật Doanh nghiệp ngày 12/6/1999 và các văn bản hướng dẫn kèm theo
- Luật DNNN ngày 26/11/2003 và các văn bản hướng dẫn kèm theo
- Quyết định 202- CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng Chính phủ) Về tiếp tục thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần; Các thông tư hướng dẫn kèm theo
- Nghị định 28-CP ngày 7/5/1996 của Chính phủ về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần, các thông tư hướng dẫn kèm theo
- Nghị định 44/ 1998- CP ngày 29/6//1998 của Chính phủ về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần, các thông tư hướng dẫn kèm theo
- Nghị định 64/ 2002 -CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần, các thông tư hướng dẫn kèm theo
- Nghị định 187/ 2004-CP ngày 16/11//2004 về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần, các thông tư hướng dẫn kèm theo
- Thông tư 126/ 2004- BTC ngày 24/12/2004 của Bộ tài chính và các thông tư của các Bộ, ngành khác hướng dẫn thực hiện Nghị định 187/ 2004- CP…vv
- Nghị định 109/02007/ NĐ- CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển một
số DNNN thành công ty cổ phần, các thông tư hướng dẫn kèm theo
Qua việc ban hành các văn bản về CPH nêu trên cho thấy nhà nước đ6 liên tục xây dựng, hoàn thiện và cụ thể hoá cơ sở pháp lý cũng như các quy định chi tiết về CPH DNNN ở nước ta trong từng thời kỳ
1.1.1- Nội dung cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo quy định hiện
hành (Nghị định 109/2007/ NĐ- CP ) [10]
1.1.1.1- Những quy định chung
1/- Mục tiêu, yêu cầu của việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành
CTCP (sau đây gọi tắt là CPH - cổ phần hoá):
Trang 16Mục tiêu:
Chuyển đổi những DNNN không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp
có nhiều chủ sở hữu, huy động vốn của nhà đầu tư trong nước và ngoài nước để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao
hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Yêu cầu:
a Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao
động trong doanh nghiệp
b Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường, khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ doanh nghiệp, gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán
f Công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
3/- Điều kiện cổ phần hoá (CPH )
Các doanh nghiệp quy định tại Nghị định này thực hiện CPH khi đảm bảo đủ 02
điều kiện:
+, Không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Danh mục doanh nghiệp thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết
định trong từng thời kỳ
Trang 17+, Còn vốn nhà nước sau khi đ6 được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp
c Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn
bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ
5/- Đối tượng và điều kiện mua cổ phần
và các khoản thu chi khác từ đầu tư mua cổ phần đều phải thông qua tài khoản này
c Thành viên Ban chỉ đạo CPH (trừ các thành viên là đại diện của doanh nghiệp) các tổ chức tài chính trung gian, các cá nhân thực hiện tư vấn, định giá, đấu giá bán cổ phần của doanh nghiệp CPH không đựơc tham gia đấu giá mua cổ phần phát hành lần đầu của doanh nghiệp đó
6/- Đồng tiền thanh toán mua cổ phần
Các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp bằng Việt Nam đồng
Trang 189/- Doanh nghiệp phải thực hiện công khai, minh bạch thông tin và niêm yết trên thị trường chứng khoán
a Doanh nghiệp CPH phải thực hiện công khai, minh bạch các thông tin về doanh nghiệp, phương án CPH, tình hình quản lý và sử dụng đất đai, lao động theo
đúng quy định tại Luật doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật
b Doanh nghiệp CPH có tình hình tài chính đáp ứng đủ điều kiện niêm yết theo quy định của pháp luật về chứng khoán, phải xây dựng phương án CPH để đảm bảo cơ cấu cổ đông thực hiện niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán
Cơ quan quyết định CPH quy định việc CPH đồng thời với việc niêm yết trên thị trường chứng khoán trong phương án CPH để công bố cho các nhà đầu tư biết trước khi bán cổ phần lần đầu Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có trách nhiệm biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông lần đầu để thông qua nghị quyết về việc niêm yết
1.1.1.2- Xử lý tài chính khi CPH
1/- Kiểm kê, phân loại tài sản và xử lý tồn tại về tài chính
a Khi nhận được quyết định thực hiện CPH của cơ quan có thẩm quyền, doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức kiểm kê, phân loại tài sản doanh nghiệp đang
Trang 19quản lý, sử dụng tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp
b Doanh nghiệp CPH có trách nhiệm thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm theo chế độ Nhà nước quy định Trường hợp thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp không trùng với thời điểm kết thúc năm tài chính, doanh nghiệp CPH có trách nhiệm lập báo cáo tài chính tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp
2/ Các khoản nợ phải thu
a Doanh nghiệp CPH có trách nhiệm đối chiếu, xác nhận, thu hồi các khoản nợ phải thu đến hạn trước khi CPH Đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp còn tồn
đọng nợ phải thu khó đòi thì xử lý theo quy định hiện hành của nhà nước về xử lý nợ tồn đọng
b Doanh nghiệp CPH có trách nhiệm bàn giao các khoản công nợ không có khả năng thu hồi loại khỏi giá trị doanh nghiệp CPH (kèm theo hồ sơ, các tài liệu liên quan) cho các cơ quan quy định tại Nghị định
c Đối với các khoản trả trước cho người cung cấp hàng hoá dịch vụ như: Tiền thuê nhà, tiền thuê đất, tiền mua hàng, tiền công phải đối chiếu với hợp đồng, khối lượng hàng hoá dịch vụ cung cấp để tính vào giá trị doanh nghiệp CPH
b Nợ thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước: Doanh nghiệp CPH có trách nhiệm nộp thuế và các khoản nợ ngân sách nhà nước trước khi chuyển đổi; trường hợp doanh nghiệp CPH chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì CTCP có trách nhiệm kế thừa toàn bộ
Trang 20c Trong quá trình CPH, nếu doanh nghiệp CPH có khó khăn về khả năng thanh toán các khoản nợ quá hạn (vay Ngân hàng Thương mại Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt nam) do kinh doanh thua lỗ thì xử lý nợ theo quy định hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn đọng
4/- Xử lý tài chính ở thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành Công ty cổ phần
a Căn cứ vào giá trị doanh nghiệp CPH đ6 được cơ quan có thẩm quyền quyết
định, doanh nghiệp có trách nhiệm điều chỉnh số liệu trong sổ kế toán; bảo quản và bàn giao các khoản nợ và tài sản đ6 loại trừ khi xác định giá trị doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định này; lập báo cáo tài chính doanh nghiệp giai đoạn từ thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp đến thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành CTCP
b Trong thời gian 01 tháng kể từ thời điểm cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu, Doanh nghiệp CPH phải hoàn thành việc lập báo cáo tài chính tại thời
điểm đăng ký kinh doanh, xác định giá trị phần vốn Nhà nước tại thời điểm chính thức chuyển thành CTCP và các tồn tại về tài chính cần tiếp tục xử lý
c Khoản chênh lệch tăng giữa giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại thời điểm doanh nghiệp chuyển sang CTCP với giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được xử lý như sau:
+) Nộp về Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tập đoàn, Tập đoàn Nhà nước, công ty mẹ khi CPH doanh nghiệp thành viên, công ty con, đơn vị hạch toán phụ thuộc của các doanh nghiệp này; về công ty Nhà nước độc lập hoặc công ty thành viên hoạch toán độc lập khi CPH bộ phận công ty này
d Trường hợp phát sinh chênh lệch giảm thì doanh nghiệp CPH có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định CPH để phối hợp với các cơ quan liên quan
tổ chức kiểm tra, làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm tập thể, cá nhân và xử lý
Sau khi xử lý theo các quy định mà vẫn không đủ bù chênh lệch giảm thì CTCP
có trách nhiệm kế thừa khoản lỗ này
1.1.1.3- Xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá
Trang 21A/ Tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp
1/- Tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp
Doanh nghiệp CPH có tổng tài sản theo sổ kế toán từ 30 tỷ đồng trở lên hoặc giá trị vốn nhà nước theo sổ kế toán từ 10 tỷ đồng trở lên hoặc có điều kiện địa lý thuận lợi phải thuê các tổ chức có chức năng định giá như: Các Công ty kiểm toán, Công ty chứng khoán, tổ chức thẩm định giá, Ngân hàng đầu tư trong nước và ngoài nước có chức năng định giá (dưới đây gọi tắt là tổ chức tư vấn định giá) thực hiện tư vấn xác
định giá trị doanh nghiệp
2/- Phương pháp xác định giá trị doanh nghiêp
Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp gồm: Phương pháp tài sản, phương pháp dòng tiền chiết khấu và các phương pháp khác
Giá trị doanh nghiệp được xác định và công bố không thấp hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài sản quy định
3/- Công bố giá trị doanh nghiệp
a Căn cứ hồ sơ xác định giá trị doanh nghiệp do tổ chức tư vấn định giá xây dựng (hoặc do doanh nghiệp CPH tự xây dựng), Ban chỉ đạo CPH doanh nghiệp có trách nhiệm thẩm tra về trình tự, thủ tục, tuân thủ các quy định của pháp luật về xác
định giá trị doanh nghiệp, trình cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp quyết định
b Cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp có trách nhiệm xem xét, quyết định và công bố giá trị doanh nghiệp trong thời hạn không quá 10 ngày, kể từ khi tiếp nhận đủ hồ sơ
1.1.2- Phương pháp tính giá trị doanh nghiệp [ 14,15]
Về việc tính toán giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá có rất nhiều cách tính khác nhau nhưng theo thông tư 126/2004/ TT- BTC ngày 24/12/2004 [8] quy định xác
định giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá chủ yếu theo hai cách sau đây:
1.1.2.1- Theo phương pháp tài sản, công thức (1.1) như sau:
Trang 22Giá trị thực tế
phần vốn
nhà nước =
∑
đất đ nhận giao
;(đồng) (1.1)
Trong đó:
Chênh lệch về giá trị quyền sử dụng đất được xác định như sau: Đối với diện tích
đất doanh nghiệp đ6 được giao, đ6 nộp tiền sử dụng đất cho ngân sách nhà nước thì phải xác định lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá do uỷ ban nhân dân tỉnh quy định Khoản chênh lệch giữa giá trị quyền sử dụng đất xác định lại giá trị hạch toán trên sổ
kế toán được tính vào giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
i : Thứ tự các năm kế tiếp từ năm xác định giá trị doanh nghiệp (i= 1-:- n)
Di : Khoản lợi nhuận sau thuế dùng để chia cổ tức năm thứ i
Dn +1 : Khoản lợi nhuận sau thuế dùng để chia cổ tức dự kiến năm thứ n+1
K : Tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ hoàn vốn cần thiết của các nhà đầu tư khi mua cổ phần, được xác định theo công thức (1.3):
Trang 23Rp : Tỷ lệ phụ phí rủi ro khi đầu tư mua cổ phần của các công ty ở Việt Nam được xác định theo bảng chỉ số phụ phí rủi ro chứng khoán quốc tế tại niên giám
định giá hoặc do các công ty định giá xác định cho từng doanh nghiệp nhưng không vượt quá tỷ suất lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư không rủi ro (Rf)
g : Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của cổ tức, được xác định theo công thức (1.4) như sau:
g = b x R (1.4)
Trong đó: b là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại bổ sung vốn
R là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân của các năm tương lai
1.1.2.2- Giá trị thực tế của doanh nghiệp taị thời điểm định giá theo phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) được xác định như sau:
+
Nợ thực tế phải trả
+
Số dư quỹ khen thưởng, phúc lợi
+
nguồn kinh phí
sự nghiệp
(1.5)
Trong đó:
Nợ thực tế phải trả = Tổng nợ phải trả trên sổ kế toán trừ (-) Giá trị các khoản
nợ không phải thanh toán Cộng (+) Giá trị quyền sử dụng đất của diện tích đất mới
Trang 245/ Chênh lệch tăng vốn của nhà nước giữa giá trị thực tế và giá trị ghi trên sổ kế toán được hạch toán như một khoản lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp, được xác
định là tài sản cố định vô hình, được khấu hao theo quy định của pháp luật hiện hành
1.2- Một số vấn đề về cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên Thế giới và ở Việt Nam [20]
1.2.1- Cổ phần hóa DNNN ở các nước phát triển
Đặc trưng của quá trình CPH DNNN ở các nước công nghiệp phát triển là việc hình thành hàng loạt các công ty hỗn hợp nhà nước- tư nhân Đối với những công ty loại này hoạt động trong những lĩnh vực nhất định, nhà nước giữ cổ phần khống chế, còn ở các công ty trong một số lĩnh vực khác, nhà nước giữ cổ phần ở mức sao cho có thể kiểm soát được hoạt động của công ty
Mục đích CPH DNNN ở các nước công nghiệp phát triển là nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này và củng cố vị trí quan trọng của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân Mặc dù sau CPH, khu vực kinh tế nhà nước bị thu hẹp, tỷ trọng đóng góp trong thu nhập quốc dân chỉ chiếm trên 10% nhưng các DNNN CPH vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các ngành then chốt như năng lượng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, dầu khí, hàng không, điện nguyên tử Hình thức chủ yếu để CPHDNNN ở các nước công nghiệp phát triển là:
- Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ công và thương nghiệp: áp dụng hình thức bán đấu giá hoặc bán trực tiếp
- Đối với các công ty hoặc doanh nghiệp quy mô lớn: áp dụng hình thức bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Mặc dù CPH ở các nước công nghiệp phát triển có những điểm chung về mục
đích và hình thức nhưng quá trình CPH ở mỗi nước lại có những nét đặc thù riêng:
1.2.1.1- CPH DNNN ở Anh
Các DNNN ở Anh được thành lập và hoạt động theo hai hình thức:
- Hình thức công cộng, thành lập theo các quy định của Nghị viện
- Hình thức công ty cổ phần, trong đó nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối
Trang 25Trước khi tiến hành cổ phần hóa năm 1979 nước Anh có 51 công ty công cộng với khoảng 2 triệu lao động Từ khi CPH đến nay, nhà nước đ6 ra bán đấu giá rộng r6i các doanh nghiệp công cộng để chuyển các doanh nghiệp này sang hoạt động theo cơ chế thị trường dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh
Các hình thức CPH DNNN ở Anh rất phong phú, bao gồm:
Tổ chức bán đấu giá cổ phiếu của các DNNN thông qua sở giao dịch chứng khoán; Bán một phần vốn cố định của DNNN cho một nhóm các cá nhân hoặc công ty tư nhân; Bán cổ phiếu cho cán bộ quản lý và công nhân làm việc trong các doanh nghiệp
Trong thực tế, CPHDNNN ở Anh đ6 đạt được những kết quả cụ thể:
- Cơ cấu lại quan hệ sở hữu nhà nước- tư nhân trong nền kinh tế thị trường hỗn hợp, trong đó thu hẹp một cách hợp lý sở hữu nhà nước
- Hình thành cơ chế điều chỉnh và kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp, nhờ đó các doanh nghiệp sau CPHhoạt động có hiệu quả hơn
- Nhà nước tăng thu từ bán cổ phần, giảm được nguồn trợ cấp và vay nợ, giảm thâm hụt cho ngân sách nhà nước
- Tăng lợi ích của người tiêu dùng do chống được độc quyền của các doanh nghiệp công cộng trước kia
1.2.1.2- CPHDNNN ở Italia
Italia là nước công nghiệp phát triển thuộc nhóm G7, có tỷ trọng khu vực nhà nước chiếm khoảng 40% nền kinh tế quốc dân Vì vậy, CPHDNNN ở Italia được thực hiện rất thận trọng với tốc độ hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất và tài chính mà nhà nước vốn nắm giữ vai trò trọng yếu
Các DNNN ở Italia liên kết chặt chẽ với nhau theo hình thức tập đoàn quốc doanh quy mô lớn trong cùng một ngành hay giữa các ngành có quan hệ về công nghệ
và sản phẩm Do đó, nhà nước Italia giữ được quyền kiểm soát đối với các tập đoàn quốc doanh ngành Đặc điểm này khiến cho việc tiến hành CPH ở Italia diễn ra theo hai hướng:
Trang 26- Thứ nhất, biến các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hình thành theo quyết
định của Quốc hội hoặc Chính phủ thành các CTCP hỗn hợp nhà nước- Tư nhân Để thực hiện CPH, các doanh nghiệp phải đánh giá lại tài sản nhằm phân chia cổ phần và phát hành cổ phiếu Cổ phiếu được bán trước hết cho các công ty tài chính quốc doanh, nếu còn lại mới bán ra thị trường chứng khoán
- Thứ hai, nhà nước tài trợ dưới dạng vốn cổ phần cho các công ty hốn hợp nhà nước- tư nhân Lợi ích của phương thức này là các công ty tài chính quốc doanh thâm nhập và kiểm soát nhiều ngành kinh tế tạo ra các công ty ngành và liên ngành hoạt
động như các công ty tư nhân mà không cần nhà nước cấp vốn, đồng thời với phương thức này cũng giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước, cho phép các doanh nghiệp phát hành rộng r6i cổ phiếu để tăng tỷ lệ vốn của tư nhân
1.2.2- CPH DNNN ở các nước đang phát triển
Tiến trình CPH DNNN ở các nước đang phát triển chủ yếu tập trung vào khu vực
Mỹ la tinh và khu vực Châu á
1.2.2.1- CPHDNNN ở các nước Mỹ La Tinh
Đặc điểm chung của các nước trong khu vực này là có nền kinh tế thị trường mở cửa, chịu tác động mạnh mẽ của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia Mục đích CPH các DNNN ở các nước Mỹ La Tinh là nhằm giải quyết các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ
Hình thức CPH chủ yếu được các nước Mỹ La Tinh áp dụng là bán trực tiếp cổ phần của doanh nghiệp cho các công ty nước ngoài Đối tượng CPH trước hết là các DNNN trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, sau đó đến các lĩnh vực độc quyền của nhà nước trong ngành hàng không, bưu chính- viễn thông, ngân hàng, điện lực
Trang 27bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, cắt giảm mạnh sự độc quyền của các DNNN, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và tạo cơ hội thu hút các nguồn vốn trong nước, nước ngoài, phát triển thị trường chứng khoán, góp phần điều hoà lợi ích giữa các tầng lớp dân cư trong x6 hội
Tuy mỗi quốc gia có những chính sách và hình thức thực hiện CPH riêng nhưng, nhưng nhìn chung quá trình thực hiện CPH ở các nước này đều xuất phát từ bước đầu là phân nhóm các DNNN thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: Là các DNNN mà nhà nước cần nắm giữ quyền sở hữu Đối với các DNNN thuộc nhóm này, nhà nước hỗ trợ bằng cách đầu tư, cải tổ, quản lý hoặc hợp
đồng cho thuê có thời hạn
- Nhóm 2: Các Doanh nghiệp mà nhà nước chỉ nắm quyền chi phối hoặc kiểm soát một phần giá trị của các doanh nghiệp này được bán để thành lập công ty cổ phần
Ví dụ: ở Xingapo, khi tiến hành CPH các DNNN, Chính phủ nắm giữ 51% cổ phần, phần còn lại được bán cho tư nhân; Còn ở Malaixia, Chính phủ lựa chọn doanh nghiệp lớn để tiến hành CPH nhằm tạo sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư; ở Philippin, Chính phủ đ6 huỷ bỏ một loạt công ty độc quyền nhà nước ở nhiều lĩnh vực thông qua CPH và tư nhân hoá, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp dịch vụ, công nghiệp chế biến xuất khẩu;
Thái Lan thực hiện CPH, tư nhân hoá các doanh nghiệp công nghiệp đặc biệt là các DNNN thuộc các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, dệt, chế tác đồ trang sức, các ngành nghề thủ công truyền thống, thăm dò và khai thác dầu khí Chính phủ Thái Lan còn áp dụng chính sách hợp đồng thuê tư nhân đảm nhận một phần công việc của doanh nghiệp, song Chính phủ vẫn hoàn toàn làm chủ điều hành hoạt động của doanh nghiệp và hưởng lợi từ hợp đồng cho thuê Khi hết hạn hợp đồng, tư nhân phải giao lại quyền quản lý doanh nghiệp cho Chính phủ Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan còn giảm tỷ lệ cổ phần của Nhà nước trong các công ty để tăng cường vai trò của khu vực kinh tế tư nhân
Trang 28- Nhóm 3: Các DNNN mà Nhà nước không cần nắm quyền sở hữu hoặc chi phối, các DNNN thuộc nhóm này được đưa ra đấu thầu công khai để bán cho người dân trong nước và người nước ngoài để chuyển thành CTCP tư nhân
ở Thái Lan, Chính phủ áp dụng hình thức bán, chuyển nhượng, giải thể DNNN
để tránh sự độc quyền của tư nhân sau CPH, tư nhân hoá, Chính phủ Thái lan đ6 tăng cường quản lý, giám sát chất lượng, giá cả, dịch vụ của các Doanh nghiệp đ6 được CPH, tư nhân hoá
1.2.2.3- CPH DNNN ở Trung Quốc
Từ đầu những năm 80, CPH DNNN là một bộ phận trong chương trình đa dạng hoá sở hữu và là một trong các giải pháp quan trọng để cải cách DNNN ở
Trung Quốc Quá trình CPH ở Trung Quốc diễn ra theo hai giai đoạn chính:
- Giai đoạn thứ nhất (từ năm 1978 đến năm 1997): Đây là giai đoạn thí điểm và
được chia thành các thời kỳ sau:
+ Từ năm 1978 đến 1983, CPH mới chỉ được đề cập đến trên giấy tờ
+ Từ năm 1984 đến 1991, Chính phủ Trung Quốc thực hiện CPH theo hình thức thành lập các CTCP mới với các cổ đông gồm nnhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, tập thể và một số ít cá nhân chỉ được mua số cổ phần hạn chế
+ Từ năm 1992 đến 1997, để đối phó với tình trạng thua lỗ ngày càng trầm trọng của các DNNN, Chính phủ Trưng Quốc đ6 ban hành nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh CPH DNNN và xây dựng chế độ Doanh nghiệp hiện đại Tuy vậy, CPH trong thời gian này vẫn là thí điểm, số lượng DNNN thực hiện CPH chỉ khoảng vài nghìn trong tổng số hơn 300 nghìn DNNN nghĩa là khoảng 1% số DNNN thực hiện CPH
Nhìn chung, trong giai đoạn thí điểm, việc CPH mới được tiến hành trên cơ sở tự nguyện của các DNNN mà chưa có các chỉ tiêu cụ thể Song, các DNNN được CPH đều hoạt động có hiệu quả, nâng cao được năng lực cạnh tranh
Giai đoạn thứ hai (từ năm 1998 đến nay): Trong giai đoạn này, Chính phủ Trung Quốc đ6 đẩy mạnh CPH trên cả nước Đại hội lần thứ XV của Đảng cộng sản Trung Quốc tháng 7 năm 1997 đ6 khẳng định đẩy mạnh CPH theo công thức: “ Củng cố
Trang 29doanh nghiệp lớn và giải phóng Doanh nghiệp nhỏ hay còn gọi là “nắm to buông nhỏ” với 3 cấp độ:
- Cấp cao nhất là Nhà nước nước nắm giữ 100%, gồm các Tập đoàn lớn trong lĩnh vực chiến lược như an ninh, quốc phòng, năng lượng, công nghệ cao…
- Cấp thứ hai là Nhà nước đóng vai trò CPH đông chi phối hoặc ccổ đông thường, gồm các DNNN quy mô lớn và vừa hoạt động trong các ngành quan trọng hoặc chiến lược
- Cấp thứ ba là Nhà nước không cần nắm giữ và thực hiện tư nhân hoá, CPHhàng loạt, gồm các DNNN vừa và nhỏ
Tuy nhiên, việc tiến hành CPH nhanh chóng hàng loạt các DNNN đ6 dẫn đến hậu quả nhiều DNNN được bán với giá rẻ, công nhân mất việc làm, phúc lợi của người lao động trong DNNN trước đây bị xoá bỏ trong khi Chính phủ Trung Quốc chưa có chính sách thay thế Do đó, quá trình CPH đ6 ảnh hưởng đến sự ổn định quốc gia và Chính phủ đ6 buộc phải giảm tốc độ CPH DNNN
Tóm lại: Cải cách kinh tế và CPH ở Trung Quốc được thực hiện theo các hình thức cổ phần là cổ phần Nhà nước, cổ phần xí nghiệp, cổ phần cá nhân công nhân viên trong Doanh nghiệp, cổ phần tư nhân, trong đó cổ phần Nhà nước giữ vai trò chính (tức Nhà nước nước là sở hữu chính), tư nhân hợp tác với Nhà nước để điều hành, hình thức
tổ chức thực hiện CPH là chuyển DNNN thành công ty cổ phần, sở hữu hỗn hợp gồm
cổ phần nhà nước, cổ phần pháp nhân, cổ phần cá nhân Các nhà đầu tư tư nhân, đầu tư công cộng được phép thành lập công ty theo luật công ty
Đến cuối thế kỷ XX, Trung Quốc đ6 thành lập được hơn 11 nghìn công ty cổ phần có sở hữu hỗn hợp, trong đó cổ phần nhà nước chiếm 40%, các pháp nhân chiếm 40% và các cá nhân chiếm 20% Như vậy, tỷ trọng vốn cơ bản trong các DNNN thực hiện CPH vẫn do nhà nước hay tập thể nắm giữ Trong các công ty cổ phần, Đảng cộng sản Trung Quốc vẫn nắm giữ vai trò hạt nhân chính trị giúp cho Doanh nghiệp quán triệt và thực hiện đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, Bí thư Đảng
có thể tham gia Hội đồng quản trị nhưng không phải thành viên đương nhiên Chính
Trang 30phủ Trung Quốc đ6 đẩy mạnh phát triển thị trường chứng khoán để tạo điều kiện cho quá trình chuyển DNNN thành CTCP qua hình thức mua, bán cổ phần của các DNNN CPH
Ngay từ năm 1983 đến 1992, Chính phủ Hàn Quốc đ6 chủ trương CPH một số DNNN, chủ yếu là các ngân hàng thương mại
Năm 1987, Chính phủ Hàn Quốc đ6 thực hiện chương trình CPH nhân dân, trong đó phương thức “Bán rẻ” và “Thanh toán dần” được áp dụng nhằm giúp người có thu nhập thấp có thể mua cổ phần Trong thời gian này 49% cổ phần đ6 được bán rộng r6i cho công chúng
Từ năm 1988 đến năm 1992, Chính phủ Hàn Quốc đ6 tiến hành CPH các DNNN
có vị trí thiết yếu trong nền kinh tế mà nhà nước nắm độc quyền như các công ty quặng
và sắt thép, công ty điện lực, công ty độc quyền thuốc lá, nhân sâm Ginseng, công ty viễn thông…theo phương thức bán một phần hoặc toàn bộ tài sản cho khu vực tư nhân Chính sách cơ cấu lại các DNNN ở Hàn Quốc được thực hiện dựa vào việc phân chia các DNNN thành ba nhóm để áp dụng cho phù hợp
- Nhóm 1: Gồm các DNNN hoạt động trong những lĩnh vực sản xuất- kinh doanh nghiệp theo nguyên tắc thương mại Các Doanh nghiệp này được tư nhân hoá hoàn toàn
- Nhóm 2: Gồm các DNNN hoạt động vì lợi ích công và có tham gia vào các hoạt động sản xuất- kinh doanh theo nguyên tắc thương mại Các Doanh nghiệp này
được cơ cấu lại toàn bộ trong đó có cả việc tư nhân hoá những tài sản được sử dụng cho hoạt động sản xuất- kinh doanh nghiệp theo nguyên tắc thương mại
Trang 31- Nhóm 3: Gồm các DNNN chủ yếu thực hiện các chức năng công cộng quan trọng và không tham gia vào bất kỳ hoạt động sản xuất- kinh doanh nào theo nguyên tắc thương mại Các Doanh nghiệp này được duy trì hiện trạng cho đến khi hoạt động của doanh nghiệp này còn cần thiết cho x6 hội
Trong giai đoạn đầu, việc bán cổ phần ra ngoài cần có thị trường, Chính phủ Hàn Quốc muốn bán các DNNN quy mô lớn cho các Doanh nghiệp tư nhân hay Tập đoàn tư nhân lớn nước ngoài chứ không phải là các tập đoàn trong nước có khả năng tài chính, do Chính phủ không muốn tập trung quyền lực vào các tập đoàn này, nhưng người dân Hàn Quốc lại không muốn các doanh nghiệp này được bán cho người nước ngoài Tuy nhiên, đến năm 1998 Chính phủ Hàn Quốc đ6 cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được mua đứt doanh nghiệp trong lĩnh vực chế tác
1.2.3- Bài học Kinh nghiệm đối với Việt Nam
Qua nghiên cứu thực tiễn cải cách kinh tế và CPH DNNN ở các nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình thực hiện CPH DNNN như sau:
* Nhận thức đúng đắn đối với CPH
Chính phủ cũng như các DNNN đều phảI nhận thức rằng CPH DNNN là một trong những nội dung quan trọng của cải cách kinh tế ở mỗi quốc gia và là xu thế trên thế giới Do đó, Chính phủ phải có cơ chế, chính sách thích hợp tạo điều kiện thúc đẩy tiến trình CPH Đồng thời, Các DNNN phảI có thái độ tích cực, chủ động đối với tiến trình CPH
Nhìn chung, các nước công nghiệp phát triển, các nước đang phát triển hay chậm phát triển, khu vực kinh tế nhà nước nói chung, các DNNN nói riêng đều hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ và được bù lỗ bằng ngân sách nhà nước, tăng các khoản đầu tư hỗ trợ cho doanh nghiệp Để giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cần xác lập mối quan hệ giữa khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế tư nhân theo hướng giảm mức độ sở hữu và kiểm soát trực tiếp của Nhà nước Đặc biệt, ở các nước có khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
Trang 32số vốn toàn x6 hội, giải pháp tích cực nhất để giảm bớt tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước
đầu tư vào các DNNN và vai trò độc quyền của DNNN là tư nhân hoá và CPH DNNN
Ngoài ra, mục tiêu CPH ở Việt Nam cần bao gồm:
- Giảm các khoản nợ nước ngoài
- Thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài
- Đổi mới kỹ thuật công nghệ và tiếp thu kinh nghiệm quản lý, tăng sức cạnh tranh của DNNN và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá
Về phương thức CPH, các nội dung cần được thực hiện một cách đồng bộ gồm:
Thứ nhất, tạo lập cơ sở pháp lý đầy đủ, xây dựng chương trình kế hoạch và thiết lập hệ thống tổ chức CPH từ trung ương đến địa phương và Doanh nghiệp
Thứ hai, phân loại các DNNN theo vai trò đối với nền kinh tế, theo quy mô, theo ngành và theo kết quả hoạt động, làm cơ sở cho việc xác định các DNNN cần CPH trong từng giai đoạn và mức độ nắm giữ cổ phần của Nhà nước
ở nhiều quốc gia trên thế giới, hầu hết các DNNN được tiến hành CPH đầu tiên
đều là các doanh nghiệp có quy mô lớn, nằm trong các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và hoạt động hiệu quả nhằm nhanh chóng thu hút vốn đầu tư, tạo nguồn tài chính để trả nợ nước ngoài và táI đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên cơ sở cơ cấu sở hữu Nhà nước- Tư nhân Nhưng ở Việt Nam, CPH trước tiên phải được tập trung vào các DNNN thua lỗ kéo dài, khó khăn về thị truờng, tài chính để nhanh chóng thu hồi vốn ngân sách, ngăn chặn kịp thời tình trạng thâm hụt vốn nhà nước ngày càng trầm trọng Hơn nữa, việc xác định đối tượng CPH trọng tâm như vậy phù hợp với nhận thức chung của x6 hội Việt Nam, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau CPH sẽ chứng
Trang 33minh tính đúng đắn của chủ trương CPH và thúc đẩy các DNNN khác tham gia vào tiến trình này
Thứ ba, Tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các DNNN về chủ trương, đường lối, hiệu quả và tính tất yếu của CPH nhằm giúp CBCNV hiểu rõ để tích cực tham gia
Thứ tư, Xác định hình thức tổ chức phù hợp đối với doanh nghiệp sau CPH Các Doanh nghiệp này nên tổ chức theo dạng các CTCP hỗn hợp Nhà nước- Tư nhân, trong
đó Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối và thực hiện quyền kiểm soát đối với các doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
Giá trị tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp, ngoài phần giữ lại theo hình thức sở hữu vốn góp của nhà nước, số còn lại được chia thành các cổ phần bán cho
CB CNV trong doanh nghiệp và phải giành một tỷ lệ nhất định bán cho các tổ chức, cá nhân bên ngoài có nhu cầu thông qua đấu giá nhằm khắc phục các hiện tượng tiêu cực, không lành mạnh của CPH khép kín theo kiểu “chia nhau” Đây chính là phương thức bán cổ phần của các DNNN cho công chúng áp dụng đầu tiên ở Anh và hiện nay đang
được sử dụng rộng r6i ở các nước đang phát triển
* Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ các điều kịên cần thiết để đẩy nhanh tiến trình CPH
- Hoàn thiện môi trường pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ, đầy đủ để chuyển DNNN thành công ty cổ phần
- Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích đối với các Doanh nghiệp thực hiện CPH: Cần có cơ chế chính sách khuyến khích đối với CB CNV trong DNNN CPH như:
được mua cổ phiếu với giá thấp hơn giá thị trường và có thể thanh toán chậm, thậm chí nhà nước cho vay tiền để mua cổ phiếu; được hỗ trợ để sắp xếp lại lao động, xử lý lao
động dôi dư, đào tạo, bồi dưỡng lao động; Các Doanh nghiệp sau khi CPH được miễn giảm thuế trong một thời gian nhất định, được vay vốn ngân hàng, được thuê đất như
đối với DNNN
Trang 34- Tạo lập các điều kiện hoạt động bình thường sau CPH: Nhà nước cần quan tâm
đầu tư và phát triển thị trường chứng khoán, ổn định giá trị tiền tệ, chống lạm phát Nhà nước cũng cần quan tâm đến lợi ích của người lao động trong các doanh nghiệp sau CPH như: đảm bảo việc làm, thu nhập và tham gia quản lý Vai trò của tổ chức
Đảng và Công đoàn trong các Doanh nghiệp sau CPH cũng cần được thể chế hoá và tăng cường để góp phần định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người lao động phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ
1.2.4- Thực tiễn về tình hình CPH ở Việt Nam trong những năm qua
CPH DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kịnh tế của các DNNN, là một trong những vấn đề đang được đẩy mạnh ở nước ta, nhưng việc thực hiện một cách có hiệu quả không đơn giản Sau nhiều năm thực hiện CPH (1991-2007), có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về quá trình CPH Nhiều vấn đề
lý luận và tư duy kinh tế đang đặt ra cần giải quyết để nâng cao hiệu quả của quá trình CPH trong thời gian tới
Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DNNN, nhìn chung các doanh nghiệp sau CPH đều nâng cao được hiệu quả sản xuất, kinh doanh với các mức
độ khác nhau Dựa trên báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp CPH đ6 hoạt động trên 1 năm cho thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng 23,6%, lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76% Đặc biệt, có tới trên 90% số doanh nghiệp sau CPH hoạt động kinh doanh có l6i, nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%, số lao động tăng bình quân 6,6%, cổ tức bình quân đạt 17,11% [ 1]
Qua 16 năm triển khai, chủ trương CPH DNNN đ6 đạt được những hiệu quả về kinh tế, chính trị, x6 hội nhất định, tạo sự rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng thành phần sở hữu, từng cổ đông; xoá bỏ cơ chế phân phối bình quân; hình thành phương thức phân chia lợi nhận theo tỷ lệ góp vốn, giảm được sự can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước; tạo
Trang 35cơ chế quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhắm thúc đẩy doanh nghiệp năng động hơn; tạo cơ sở pháp lý và vật chất để người lao động xác lập và nâng cao vai trò làm chủ, gắn
bó máu thịt với doanh nghiệp Kết quả nổi bật của CPH là năng lực cạnh tranh của các DNNN được nâng lên đáng kể Họ phải tự tìm kiếm cơ hội, đối tác kinh doanh, chủ
động đổi mới công nghệ, tiết kiệm tối đa các chi phí để tăng doanh thu CPH cũng đ6 huy động thêm vốn của x6 hội đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội việc làm cho người lao động Dưới góc độ phân công lao động trong x6 hội, CPH đ6 thật sự giải phóng sức lao động từ chỗ đông mà không mạnh, ỷ lại, dựa dẫm, thụ động chuyển xang chủ động tích cực hơn trong nền kinh tế nhiều thành phần với thái độ đầy
đủ hơn, trách nhiệm hơn, góp phần tăng thu nhập cho x6 hội, cho nhà nước và cho người lao động Theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, sau quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng DNNN giảm nhưng vẫn tiếp tục giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt Khu vực DNNN vẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách nhà nước
Việc CPH DNNN những năm qua đ6 đạt được những thành tựu lớn, bên cạnh đó cũng bộc lộ nhiều bất cập và những lỗ hổng, nếu không được xem xét thấu đáo và sớm
có những biện pháp khắc phục thì sẽ làm chậm tiến trình CPH và nhà nước sẽ bị thất thoát tài sản dưới nhiều hình thức Theo lộ trình CPH từ năm 2007 đến 2010, theo quyết
định số 1729/ QĐ- TTg của Thủ tướng chính phủ sẽ có 71 Tập đoàn, Tập đoàn nhà nước được tiếp tục CPH với giá trị tài sản lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng
Những thành tựu bước đầu về CPH là rõ ràng và cần được khẳng định: Tạo ra các loại hình doanh nghiệp đa sở hữu năng động thích nghi với nền kinh tế thị trường, thu hút được một lượng vốn lớn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, buộc các DNNN phải tích cực chủ động đổi mới phương thức quản trị kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh
Nhưng thẳng thắn nhận biết, chúng ta thấy việc CPH DNNN những năm qua cũng bộc lộ nhiều bất cập và lỗ hổng trong định giá tài sản nhà nước: Chính là việc xác
định chất lượng còn lại của tài sản tại thời điểm tiến hành CPH chưa chính xác, thiếu
Trang 36nhiều chuẩn mực dẫn tới hậu quả tất yếu là giá trị tài sản doanh nghiệp của nhiều doanh nghiệp thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực tế tài sản đang phát huy tác dụng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm nhà nước bị thất thoát giá trị tài sản rất lớn khi CPH Điều này cắt nghĩa tại sao nhiều doanh nghiệp khi CPH, giá bán khởi điểm một
cổ phần là 11.000, 15.000 hay 20.000 nhưng thị trường sẵn sàng chấp nhận mua với giá cao gấp 3, 4, 5 lần mà không phải là giá ảo Đó là giá thị trường chấp nhận được của các nhà đầu tư chuyên nghiệp trong và ngoài nước (chứ không phải các nhà đầu tư theo phong trào)
Loại trừ vấn đề áp giá mới, thì mấu chốt ở đây chính là phương pháp đánh giá và tính toán phần trăm chất lượng còn lại của tài sản doanh nghiệp tại thời điểm CPH, có làm tốt việc này thì mới xác định đúng giá trị thực tế tài sản doanh nghiệp CPH Nhưng hiện nay, lĩnh vực này còn thiếu những văn bản quy định và hướng dẫn cụ thể của nhà nước và cán bộ chuyên ngành
Điều phi lý đ6 xảy ra là: Nếu đứng trên phương diện quản lý kỹ thuật vận hành
và an toàn lao động thì không một nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước nào dám cho những tài sản cố định như: nhà điều hành sản xuất, những trạm biến áp điện, những phương tiện vận tải, những máy móc thiết bị khai thác, chế biến… mà chất lượng kỹ thuật được xác định lại khi CPH chỉ còn 30%, 35%, 40%, thậm chí là 20% như mức giới hạn thấp nhất mà Bộ Tài chính cho phép lại vẫn tiếp tục được vận hành và nằm trong giá trị CPH doanh nghiệp, thực tế này là khá phổ biến
Như vậy, trong hồ sơ xác định giá trị doanh nghiệp CPH của nhiều doanh nghiệp
được duyệt đ6 có sự “vênh” rất lớn giữa đánh giá phần trăm chất lượng kỹ thuật còn lại với giá trị thực tế còn tốt của tài sản, phần “tốt” này đ6 bị “mất” đi một cách tuyệt đối qua số tương đối là tỷ lệ phần trăm chất lượng tài sản bị đánh tụt xuống
Nếu chúng ta biết nguyên giá một đối tượng TSCĐ như một trụ sở làm việc, một
đường dây truyền tải điện, một máy xúc… có tới hàng chục, hàng trăm tỷ đồng thì mỗi phần trăm chất lượng giảm đi nhà nước mất đi bao nhiêu tỷ đồng Mà mỗi doanh nghiệp có tới hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn tài sản cần đánh giá
Trang 371.3- CPH ở Tập đoàn công nghiệp than- Khoáng sản Việt Nam (TKV) nói chung và doanh nghiệp khai thác than nói riêng
1.3.2- Đặc điểm ngành khai thác khoáng sản ở TKV và doanh nghiệp khai thác than
Ngành công nghiệp than là ngành công nghiệp mỏ lớn nhát Việt nam vàTKV
là tập đoàn sản xuất than lớn nhất Việt Nam, chiếm trên 90% tổng khối lượng than khai thác của Việt Nam trong năm 2006 và 2007 Doanh thu từ khai thác than chiếm xấp xỉ 68% và 64% tổng doanh thu tổng hợp của TKV, tại các thời điểm tính tới ngày
31 tháng 12 năm 2006 và 31 tháng 12 năm 2007 hoạt động khai thác than vẫn là ngành nghề kinh doanh chính của TKV Doanh thu từ xuất khẩu than sang các thị trường chủ yếu bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước Tây Âu và Bra-zin chiếm xấp
xỉ 89% và 88% tổng doanh thu xuất khẩu than của TKV, tại các thời điểm tính tới ngày
31 tháng 12 năm 2006 và 31 tháng 12 năm 2007 Tuy nhiên, do nền kinh tế đang tăng trưởng của Việt Nam ngày càng cần nhiều than hơn cho thị trường trong nước, nên doanh thu bán than tại thị trường trong nước dự kiến sẽ tăng trong những năm tới phù hợp với chính sách của nhà nước nhằm làm tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Các ngành nghề kinh doanh khác như khai thác khoáng sản, sản xuất điện và sản xuất xi măng chiếm khoảng 32% và 36% doanh thu của TKV tại các thời điểm tính tới ngày 31 tháng 12 năm 2006 và 31 thấng 12 năm 2007 Ngoài ra, hiện nay TKV cũng
đang tập trung vào phát triển sản xuất nhôm, sản xuất hoá chất mỏ và vật liệu xây dựng, kinh doanh bất động sản, đóng tàu và các ngành dịch vụ thương mại khác Những hoạt
động kinh doanh khác này dự kiến sẽ là nguồn thu quan trọng chiếm hơn một nửa doanh thu của TKV từ nay đến năm 2015
Nền tảng chién lược và phát triển đi lên của TKV là dựa trên hai nguồn chính- nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực trong đó một nguyên tắc tối quan trọng là sự phát triển bền vững trong sự hài hoà với môi trường và thân thiện với cộng
đồng
Trang 38Dân số Việt Nam đông và lực lượng lao động có kỹ năng và chăm chỉ làm việc,
là nguồn nhân lực dối dào cho sự phát triển của TKV Tính tới ngày 31 tháng 12 năm
2007, TKV sử dụng khoảng 115.000 lao động [1]
TKV có kế hoạch triển khai các dự án khai khoáng mới, sản xuất điện và các dự
án sản xuất xi măng đòi hỏi chi phí vốn lớn TKV đ6 cổ phần hoá hầu hết các công ty khai thác than là công ty con của mình và tất cả các công ty con còn lại dự kiến sẽ được
cổ phần hoá từ nay cho đến năm 2010 Chính phủ dự kiến sẽ giữ lại cổ phần chi phối trong TKV và TKV dự định sẽ nắm giữ cổ phần chi phối trong các công ty con của TKV hoạt động trong lĩnh vực khai thác và kinh doanh than, bau-xít và sản xuất điện
Biểu đồ dưới đây cho biết cơ cấu tập đoàn TKV và các công ty thành viên
Hình1.1 : Cơ cấu của Tập đoàn TKV
Năm 2008, TKV dự kiến cổ phần 11 công ty trực thuộc trong đó có 6 công ty khai thác than và một nhà máy nhiệt điện [ 1]
Tập Đoàn Cụng Nghiệp Than - Khoỏng Sản Việt Nam
Cụng ty con do cụng
Cụng ty cổ phần
Cụng ty con do cụng ty mẹ sở hữu dưới 50%
vốn
Cụng ty cổ phần
Cụng ty liờn doanh
Cỏc cơ sở đào tạo
Viện
Trung tõm y tế
Trang 39Công ty Than Thống Nhất- TKV Công ty Than Quang Hanh- TKV Công ty Than Khe Chàm- TKV Công ty Than Dương Huy- TKV Công ty Than Mạo Khê- TKV Công ty Xây dựng mỏ- TKV Công ty Nhiệt điện Cao Ngạn- TKV Các mỏ than của TKV hoạt động 24 giờ một ngày, bảy ngày trong một tuần, các công nhân mỏ của TKV làm viậc mỗi ca dài 8 tiếng TKV có 29 mỏ Lộ thiên và 20 mỏ Hầm lò, chủ yếu tập trung ở tỉnh Quảng Ninh ở miền Bắc Việt Nam TKV được quyền thăm dò, khai thác các mỏ và trả thuế tài nguyên cho ngân sách Nhà nước của Chính phủ dựa trên khối lượng than đ6 được khai thác Hầu hết các bể than của TKV đều là than antraxit có nhiệt lượng cao, hàm lượng tro và lưu huỳnh thấp liên quan đến chất lượng than Năm 2003, bể than lớn tại đồng bằng sông Hồng ở khu vực phía Bắc Việt Nam được đưa vào quy hoạch phát triển ngành than của Chính phủ phê duyệt với trữ lượng lớn ước tính khoảng 200 tỉ tấn than
1.3.2- Những đặc thù của các doanh nghiệp khai thác than cần phải quan tâm khi thực hiện CPH
b) Trữ lượng than có trong lòng đất: Nếu các điều kiện khác như nhau thì mỏ nào
có trữ lượng lớn hơn sẽ có giá trị lớn hơn Mỏ sẽ hết giá trị khi lượng than trong lòng
Trang 40mỏ bị cạn kiệt Hơn nữa, do các mỏ khác nhau có mức độ thăm dò khác nhau nên độ tin cậy về trữ lượng đ6 phát hiện sẽ khác nhau, làm cho các mỏ tuy có cùng trữ lượng than như nhau nhưng chưa hẳn có giá trị như nhau Đây là yếu tố quan trọng đầu tiên phải quan tâm khi xem xét đánh giá giá trị doanh nghiệp mỏ
c) Điều kiện mỏ địa chất và điều kiện kỹ thuật mỏ gọi chung là điều kiện khai thác mỏ: các mỏ khác nhau, có điều kiện khai thác khác nhau điều đó dẫn đến chi phí khai thác giữa các mỏ là khác nhau, làm cho tỷ suất sinh lời của các mỏ sẽ khác nhau d) Vị trí địa lý: Các mỏ gần cảng biển, gần hệ thống giao thông vận tải, gần thị trường tiêu thụ, vv…sẽ có lợi thế hơn các mỏ ở xa, tức là các mỏ gần sẽ có chi phí cung cấp đầu vào và chi phí tiêu thụ đầu ra sẽ thấp hơn
Với các đặc thù nêu trên có nghĩa là hai mỏ có thể có giá trị tài sản như nhau nhưng giá trị của chúng hoàn toàn khác nhau
2) Ngay trong một mỏ, điều kiện khai thác cũng thường xuyên biến động và theo
xu thế ngày càng khó nhăn phức tạp hơn; điều đó dẫn đến chi phí khai thác ngày càng tăng lên Như vậy, với trữ lượng khoáng sản khai thác ngày càng cạn dần và chi phí khai thác ngày càng tăng thì giá trị của mỏ ngày càng giảm dần đến 0 Với đặc điểm này, không thể lấy tỉ suất sinh lời của doanh nghiệp mỏ trong quá khứ làm một trong những căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp mỏ
3) Do không thể lường trước được một cách chính xác và đầy đủ tình hình trữ lượng, chất lượng tài nguyên và điều kiện địa chất mỏ trong lòng đất nên mức độ rủi ro trong hoạt động đầu tư khai thác than là rất cao Do vậy khi xác định giá trị doanh nghiệp mỏ nói chung và tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp mỏ nói riêng cần chú ý đến
đặc điểm này
4) Quá trình khai thác mỏ gắn liền với các tác động xấu đến môi trường sinh thái, vì vậy việc tính đúng, tính đủ chi phí bảo vệ và phục hồi môi trường vào giá thành của sản phẩm được đòi hỏi cấp thiết khi xác định mức sinh lời nói riêng và giá trị nói chung của doanh nghiệp mỏ