Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm làm rõ những vấn đề mang tính đặc trưng, đặc thù của hệ thống chính trị một đảng nổi trội; và qua việc khảo sát, đánh giá một số trường hợp điển hình nổi bật của hệ thống chính trị một đảng nổi trội để đưa ra một số giá trị tham khảo đối với việc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1HÀ NỘI - 2021
Trang 2Mã số: 9 31 02 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS,TS NGUYỄN VIẾT THÔNG
2 TS TỐNG ĐỨC THẢO
HÀ NỘI - 2021
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Hoàng Ngọc Phương
Trang 4Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Những công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị nói chung 8
1.2 Những công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị Việt Nam 17
1.3 Giá trị những công trình đã nghiên cứu và các vấn đề cần tiếp tục
nghiên cứu 27
Chương 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỘT
ĐẢNG NỔI TRỘI VÀ ĐẢNG CẦM QUYỀN TRONG HỆ THỐNG
Chương 3: KHẢO CỨU MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ MỘT ĐẢNG NỔI TRỘI ĐIỂN HÌNH 71
4.1 Những nét nổi bật của hệ thống chính trị một đảng nổi trội qua
các trường hợp khảo cứu 106
4.2 Một số giá trị tham khảo cho đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam 134
Trang 5Trang
Bảng 2.1: Đảng kiểm soát chức tổng thống 67 Bảng 2.2: Đảng đối lập kiểm soát chức tổng thống 67 Bảng 2.3: Sự thống trị theo niên đại 69 Bảng 4.1: Danh sách xếp hạng GDP các quốc gia và vùng lãnh thổ
theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2018) 111 Bảng 4.2: Châu Á - 10 quốc gia có chỉ số phát triển con người cao 112 Bảng 4.3: Danh sách các nước xếp hạng theo chỉ số nhận thức tham nhũng
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công cho tới nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam là một tất yếu lịch sử khách quan, được khẳng định nhất quán trong các văn kiện đại hội Đảng, được Hiến pháp năm
1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 ghi nhận
Với sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới ở Việt Nam gần 35 năm qua đã đạt được những thành tựu quan trọng cả về kinh tế, văn hóa, xã hội Song song đó, yêu cầu đổi mới về hệ thống chính trị - cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của một đảng cầm quyền Nghị quyết Trung
ương 6 khóa XII của Đảng Về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
đã nhấn mạnh đến việc đổi mới từng bước, thận trọng, có nguyên tắc và không chủ quan, nóng vội
Trong quá trình đổi mới, hệ thống chính trị Việt Nam đã bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, có nhiều thành tựu được ghi nhận, đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, những năm qua, nhiều chủ trương, cơ chế về xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn một số yếu kém, bất cập, dẫn đến việc tổ chức, sắp xếp, kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các tổ chức trong hệ thống chính trị chưa được phân định rõ ràng, cần điều chỉnh hợp lý hơn
Trang 7Trong điều kiện mới hiện nay, việc nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong xây dựng hệ thống chính trị không chỉ là yêu cầu xuất phát từ thực tiễn hiện nay của Việt Nam sau gần 35 năm tiến hành đổi mới đất nước mà còn là xu hướng chung của thế giới Trong bối cảnh đó, Việt Nam phải chịu những sức ép không nhỏ từ cả bên ngoài và nội tại để đổi mới, hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả, hiệu lực của hệ thống chính trị, bảo đảm hội nhập quốc tế thành công Sự phát sinh và diễn biến phức tạp của các vấn đề khi hội nhập quốc tế, đòi hỏi hệ thống chính trị phải đủ mạnh và linh hoạt để kịp thời ứng phó với những vấn đề xuất hiện trong quá trình hội nhập, đáp ứng mục tiêu và nhu cầu phát triển bền vững của dân tộc, đất nước trong bối cảnh mới
Trước sự phong phú và đa dạng của các mô hình hệ thống chính trị trên thế giới (cả về thực tiễn và lý luận), để đảm bảo không chệch hướng về mặt chính trị, định hướng phát triển; kế thừa và vận dụng linh hoạt những kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng hệ thống chính trị, Đảng ta khi nghiên cứu và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước cần phải dựa trên các cơ sở sau: Bảo đảm sự biện chứng giữa cái phổ biến và cái đặc thù, cái lịch sử và cái lô-gic một cách cụ thể trên phương diện đổi mới hệ thống chính trị là nguyên tắc cần được tuân thủ hết sức nghiêm ngặt Trong đó, tính phù hợp và hiệu quả là mục tiêu, là thước đo trình độ của việc đổi mới một cách tổng thể và trực tiếp đổi mới chính trị
Hệ thống chính trị ở Việt Nam và hệ thống chính trị ở một số quốc gia
có một đảng nổi trội cầm quyền có một số điểm tương đồng Về mặt hình thức, các quốc gia có hệ thống chính trị một đảng nổi trội đều tồn tại theo cơ chế đa đảng nhưng có một đảng chính trị nổi trội nắm quyền lãnh đạo, điều hành và vận hành hệ thống chính trị trong một thời gian dài như Đảng Hành động Nhân dân (PAP) ở Singapore, Đảng Dân chủ Tự do (LDP) ở Nhật Bản,
Trang 8Đảng dân chủ ở Hàn Quốc Từ những nước nghèo và kém phát triển, lại là những nước thuộc địa, các nước này đã có những bước tiến ngoạn mục để trở thành những con rồng, con hổ ở châu Á
Đã có nhiều câu hỏi đặt ra đối với sự phát triển của những quốc gia này Bằng cách nào đảng nổi trội cầm quyền trong suốt thời gian dài có thể xây dựng và chèo lái đất nước từ nước nghèo trở thành những nền kinh tế phát triển nhanh ở châu Á cũng như trên thế giới, bằng cách nào quốc gia nhỏ đa sắc tộc, đa tôn giáo, đa ngôn ngữ lại có thể giữ được ổn định chính trị lâu dài, và đặc biệt hơn, bằng cách nào quốc gia với các giá trị châu Á làm nền tảng và một đảng duy nhất cầm quyền từ ngày độc lập lại có được mức
độ ổn định chính trị và kinh tế phát triển vượt bậc như vậy
Ở những quốc gia như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc , đảng nổi trội cầm quyền thành công trong quá trình vận hành hệ thống chính trị được biết đến như nền hành chính gọn nhẹ, khắc phục được tham nhũng, chế độ đối với cán bộ thuộc bộ máy hành chính nhà nước , và những kinh nghiệm trong quá trình vận hành hệ thống chính trị ở các quốc gia có một đảng nổi trội có giá trị tham khảo đối với quá trình đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
Tình hình quốc tế và trong nước tạo ra cả thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn tác động đan xen đến sự phát triển đất nước, đến quá trình đổi mới hệ thống chính trị, đặc biệt là công tác xây dựng Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới mạnh
mẽ tổ chức, phương thức lãnh đạo để nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững
Theo đó, việc nghiên cứu về hệ thống chính trị ở một số quốc gia có một đảng nổi trội, nghiên cứu vai trò của đảng nổi trội cầm quyền quan
Trang 9trọng như thế nào trong quá trình vận hành của cả hệ thống chính trị một quốc gia; từ đó có thể gợi mở một số giá trị mang tính tham khảo cho hệ
thống chính trị Việt Nam Do vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Hệ thống chính trị một đảng nổi trội - Giá trị tham khảo cho Việt Nam” làm đề luận án của
mình dưới cách tiếp cận tài nghiên cứu của bộ môn Chính trị học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận hệ thống chính trị, làm rõ những vấn đề mang tính đặc trưng, đặc thù của hệ thống chính trị một đảng nổi trội; và qua việc khảo sát, đánh giá một số trường hợp điển hình nổi bật của hệ thống chính trị một đảng nổi trội để đưa ra một số giá trị tham khảo đối với việc
đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận án là:
- Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và đặc trưng của
hệ thống chính trị một đảng nổi trội
- Thứ hai, khảo sát, đánh giá hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị một đảng nổi trội qua mô hình một số quốc gia châu Á điển hình như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore
- Thứ ba, gợi mở một số giá trị tham khảo từ các trường hợp khảo cứu
cho việc đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống chính trị một đảng nổi trội, giá trị tham khảo cho Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: các quốc gia Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc
Trang 10- Về thời gian: trong giai đoạn một đảng nổi trội cầm quyền ở các mô hình nghiên cứu, cụ thể như: Đảng Hành động Nhân dân của Singapore, Đảng Dân chủ Tự do của Nhật Bản và Đảng dân chủ ở Hàn Quốc
- Về nội dung: “Giá trị” mà luận án nghiên cứu mô hình hệ thống chính trị một đảng nổi trội ở một số quốc gia châu Á điển hình như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore là giá trị ứng dụng cho việc đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị Đặc biệt, luận án bám sát đến những quan điểm biện chứng, khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể, quan điểm của các học giả tư sản về hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị một đảng nổi trội nói riêng để triển khai các ý tưởng nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể được sử dụng, bao gồm:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng để phân tích bản
chất, nội hàm của các khái niệm hệ thống chinh trị, hệ thống chính trị một đảng nổi trội; làm rõ các đặc trưng cụ thể của hệ thống chính trị một đảng
nổi trội
- Phương pháp logic-lịch sử được sử dụng để làm rõ quá trình hình
thành, phát triển của hệ thống chính trị một đảng nổi trội ở một số quốc gia, từ đó rút ra những đánh giá chung về sự tồn tại, phát triển của các quốc
gia này
- Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm làm rõ sự khác biệt giữa
hệ thống chính trị một đảng nổi trội, hệ thống chính trị một đảng, hệ thống chính trị lưỡng đảng, làm rõ những giá trị tiêu biểu của hệ thống chính trị
một đảng nổi trội
Trang 11- Phương pháp phân tích tài liệu sẽ giúp cho quá trình tổng thuật tài
liệu, khai thác những dữ liệu đã có trong các công trình nghiên cứu đi trước cũng như qua báo cáo của các tổ chức, các cơ quan có thẩm quyền để phục
vụ cho việc nghiên cứu của luận án
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Khái quát những đặc trưng, những nét nổi bật của hệ thống chính trị một đảng nổi trội các nước mang tính điển hình ở châu Á
- Những giá trị tham khảo từ quá trình vận hành hệ thống chính trị một đảng nổi trội được luận án tổng kết sẽ có ý nghĩa tham khảo cho quá trình đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Luận án có ý nghĩa khoa học thể hiện ở khía cạnh:
Thứ nhất, hệ thống hóa một số lý thuyết, cách tiếp cận và quan điểm
trên thế giới liên quan tới hệ thống chính trị, đảng chính trị, đảng cầm quyền; đặc trưng của hệ thống chính trị một đảng nổi trội
Thứ hai, làm rõ sự cần thiết của nghiên cứu thực chứng, nghiên cứu so
sánh trường hợp trong nghiên cứu hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị một đảng nổi trội, phân tích điểm nổi bật về của hệ thống chính trị một đảng nổi trội qua mô hình một số nước châu Á điển hình như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore
Thứ ba, đưa ra những giá trị tham khảo, bổ sung về mặt nhận thức trong
các nghiên cứu về đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn của luận án thể hiện ở hai góc độ sau:
Thứ nhất, luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Chính trị học, các bộ môn khoa học
xã hội và nhân văn có liên quan
Trang 12Thứ hai, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp những luận
chứng, luận cứ khoa học giúp cho chủ thể cầm quyền ở nước ta trong thực tiễn đổi mới chính trị hiện nay, trên cơ sở tham khảo những kinh nghiệm về thành công và hạn chế của hệ thống chính trị một đảng nổi trội qua mô hình một số nước châu Á điển hình
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 10 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NÓI CHUNG
1.1.1 Những công trình cứu về hệ thống chính trị
Nghiên cứu về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị
trên thế giới có các công trình tiêu biểu sau: Hồ Văn Thông (1998), Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn An (2003) (chủ biên), Thể chế chính trị thế giới đương đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Viện Khoa học Pháp lý (2005), Thiết chế chính trị và bộ máy nhà nước một số nước trên thế giới,
Người dịch: Phạm Văn Lợi, Hoàng Thị Ngân, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Tô Huy
Rứa (2008) (chủ biên), Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Lưu Ngọc Trịnh (2012) (chủ biên), Kinh tế và chính trị thế giới đến năm 2020, Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội, v.v
Công trình của tác giả Tô Huy Rứa (2008) (chủ biên), Mô hình tổ chức
và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội đã nghiên cứu, khảo sát và phân tích những hệ thống chính trị cơ bản có tính chất đại diện, điển hình ở một số nước trên thế giới bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng dân chủ tự do và một số nước chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tư tưởng xã hội chủ nghĩa; những tác động của tư tưởng chính trị, điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa, tính chất dân chủ, tiến bộ của các hệ thống này Trên cơ sở đó, công trình cũng đưa ra các đề xuất về việc tham khảo kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị các nước đó trong quá trình nghiên cứu tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam
Từ tác động của bối cảnh quốc tế mới, các xu hướng chính trị hình thành và phát triển, chi phối ở những mức độ khác nhau đến diễn biến chính
Trang 14trị của các nước, tác giả Lê Minh Quân đã có công trình nghiên cứu (2006)
(chủ biên), Về một số xu hướng chính trị chủ yếu trên thế giới hiện nay,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Ở cách tiếp cận này, theo tác giả, có một
số xu hướng chính trị chủ yếu như hòa bình, hợp tác và phát triển; dân chủ hóa; hình thành trật tự thế giới mới; giải quyết các xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo và khủng bố; tìm kiếm, lựa chọn mô hình phát triển mới; cải cách, đổi mới chính trị ở các nước Những diễn biến của tình hình quốc tế đã có những tác động tích cực và tiêu cực, làm cho công cuộc đổi mới nói chung
và đổi mới hệ thống chính trị nói riêng ở Việt Nam đứng trước những vận hội và thách thức mới Nghiên cứu những xu hướng của hệ thống chính trị trên thế giới, rút ra những bài học kinh nghiệm, tham khảo và vận dụng các
lý thuyết chính trị hiện đại của thế giới cũng là mục đích mà công trình này hướng tới
Việc nghiên cứu những yếu tố tác động đến tình hình, cục diện chính trị
trên thế giới, có các công trình tiêu biểu: Phạm Thái Việt (2006), Toàn cầu hóa: Những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn hóa, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội; Lê Quang Hòa (2008), “Một số thách thức đổi mới
hệ thống chính trị trong quá trình toàn cầu hóa”, Tạp chí Giáo dục Lý luận, số
3 năm 2008, tr.31-36; Nguyễn Hoàng Giáp (2012) (chủ biên), Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
v.v Các công trình trên đã chỉ ra: những biến chuyển của bối cảnh quốc tế
và khu vực đang đặt ra cho Việt Nam cả thời cơ và thách thức đan xen; cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của từng quốc gia Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn trên thế giới,
xu hướng trật tự thế giới đa cực ngày càng được khẳng định cả về kinh tế và chính trị; nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại và nảy sinh nhiều vấn đề như xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp biên
Trang 15giới, tài nguyên v.v , là những vấn đề phức tạp đòi hỏi các quốc gia phải giải quyết, không chỉ riêng Việt Nam
Trong cuốn sách “Tại sao có quốc gia thất bại”, Acemoglu và
Robinson đã nhắc lại và phân tích một câu hỏi đơn giản nhưng quan trọng, vì sao một số quốc gia trở nên giàu có và các quốc gia khác vẫn nghèo? Câu trả lời của họ cũng đơn giản - bởi vì sự khác nhau của các chính thể và các thể chế chính trị Daron Acemoglu và James Robinson đã đưa ra câu trả lời và chứng minh dứt khoát rằng chính những thể chế kinh tế và chính trị do con người tạo ra là nguyên nhân của sự thành công hay không thành công về kinh
tế Về cơ bản, thể chế chính trị sẽ quyết định thể chế kinh tế, và thế chế kinh
tế quyết định con đường mà đất nước đó sẽ đi - giàu hơn hay nghèo đi Tóm lại, Daron và Robinson kết luận một quốc gia không thể giàu mạnh lên được
là vì thể chế chính trị của nó có tính bòn rút tài nguyên, tập trung quyền lực vào một số ít người, thay vì phân tán quyền lực đó cho đại đa số người dân Daron Acemoglu và James Robinson chứng minh một cách dứt khoát rằng chính những thể chế kinh tế và chính trị do con người tạo ra là nguyên nhân căn bản của sự thành công (hay không thành công) về kinh tế
1.1.2 Những công trình cứu về đảng chính trị
Nghiên cứu về đảng chính trị - bộ phận cấu thành của một hệ thống chính trị nói chung - cũng có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết tiêu biểu:
Các tác phẩm đề cập đến các đảng phái chính trị như: Các hệ thống chính trị Đông Âu và Các hệ thống chính trị Tây Âu (W Ismayr chủ biên, 2002-2003); Các chính Đảng Châu Âu trong hợp tác và hội nhập (chủ biên
K.M Johanson/ P Zervaki, ed., 2002), hai tác phẩm này có đề cập đến các đảng chính trị ở Anh, Pháp song mới dừng lại ở việc so sánh một số điểm giữa các đảng chính trị ở hai nước Anh, Pháp này
Tác phẩm Political parties and political development (chủ biên Joseph
LaPalombara, Myron Weiner, 1966) đề cập đến vấn đề lý thuyết đảng chính
Trang 16trị, sự tồn tại và phát triển Tác phẩm Nền chính trị Anh trong kỷ nguyên của những người theo chủ nghĩa tập thể, chủ biên Samuel Beer (1966) chủ yếu
bàn về sự thay đổi cấu trúc và tư tưởng trong các đảng phái chính trị ở Anh
Tác phẩm Phân tích hệ thống đời sống chính trị, chủ biên David Easton
(1965) bàn về sự đóng góp của các đảng chính trị vào đời sống xã hội Mỹ
Tác phẩm Sự biến đổi chính trị Anh, chủ biên David Buttler và Donald Stokes (1969), tác phẩm Các đảng phái chính chủ biên Maurice Duverger (1969),
các tác giả bàn về lý thuyết hệ thống đảng chính trị, văn hóa chính trị và lý thuyết bầu cử
Như vậy, qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài,
ta thấy, họ chủ yếu tập trung vào phân tích các điều kiện của tính chính đáng của đảng chính trị, như, nguồn gốc hình thành thông qua bầu cử, các quyết định hợp pháp, phát triển được kinh tế, xã hội, đồng thời lợi ích của đa số phải được đảm bảo Các kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở dữ liệu để tham khảo trong quá trình triển khai làm rõ các nội dung của luận án
Nghiên cứu về đảng chính trị nói chung được các học giả tại Viện Nghiên cứu châu Âu và Viện Kinh tế - Chính trị thế giới Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam) có những bài viết đã đăng trên tạp chí chuyên
ngành Tác giả Lưu Văn Quảng có một số công trình gồm sách: Hệ thống bầu cử ở Anh, Mỹ và Pháp - Lý thuyết và hiện thực (Nxb Chính trị Quốc gia, 2008), bài viết Một số vấn đề về hệ thống bầu cử ở Anh hiện nay (Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 5/2006), Cơ chế thực hiện dân chủ nội bộ của các đảng cầm quyền ở Vương quốc Anh (Tạp chí Lý luận chính trị, số 2/2014); và Cơ chế thực hiện dân chủ trong các đảng chính trị ở Mỹ (Qua
nghiên cứu trường hợp đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa) (Tạp chí Nghiên cứu châu Mỹ ngày nay, số 1/2014)…, đã nghiên cứu vấn đề đảng chính trị ở các nước Anh, Pháp và Mỹ tập trung vào một số vấn đề như bầu cử, dân chủ nội bộ, hoạch định chính sách v.v
Trang 17Bài viết “Phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với nhà nước tại một số nước tư bản chủ nghĩa” [27] của Ngô Huy Đức Trong bài viết này,
mục đích của tác giả nhằm xem xét một vấn đề chính: Các đảng chính trị cầm quyền lãnh đạo nhà nước như thế nào trong nhà nước pháp quyền phương Tây Tác giả giải quyết ba khái niệm mang tính công cụ và cũng là ba vấn đề chính: “nhà nước pháp quyền”, “đảng cầm quyền”, và “sự lãnh đạo” Đặc biệt, tác giả cho rằng, trong khoa học chính trị, ngoài khía cạnh hiệu lực, hợp hiến của quyền lực, còn có một khía cạnh được gọi là “tính chính đáng” của quyền lực và của sự lãnh đạo nói chung Quyền lực của một người (hay tổ chức) nếu được coi là chính đáng, thì sự lãnh đạo sẽ rất thuận lợi, sự cần thiết của bộ máy kiểm tra, giám sát và cưỡng chế được giảm đến tối thiểu, và hơn thế nữa, sự tự nguyện sẽ nâng cao hiệu quả và hiệu lực của sự lãnh đạo
Cuốn sách Một số đảng chính trị trên thế giới (chủ biên Ngô Đức Tính, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004); Thể chế đảng cầm quyền - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Chủ biên Đặng Đình Tân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006); Đảng chính trị phương Tây và Cộng hòa liên bang Đức (chủ biên Lương Văn Kế, 2009); Một số vấn đề về các đảng chính trị trên thế giới (chủ
biên Tạ Ngọc Tấn, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2012) giới thiệu các đảng chính trị tiêu biểu trên thế giới trong đó có đảng chính trị lớn như Anh, Pháp, Hoa Kỳ Nội dung các sách giới thiệu sự hình thành và phát triển của các đảng chính trị, kinh nghiệm lãnh đạo, kinh nghiệm tranh quyền và cầm quyền, kinh nghiệm xây dựng và phát triển của các đảng chính trị, kinh nghiệm điều chỉnh chiến lược, sách lược của các đảng chính trị hiện nay
Bài báo “Vai trò các đảng chính trị nói chung, đảng cầm quyền nói riêng đối với nhà nước trong chủ nghĩa tư bản hiện đại (Qua khảo sát một số
mô hình tiêu biểu)” của Nguyễn Xuân Tế, Đặng Đình Thành [77] đã phân
tích vị trí, vai trò của đảng chính trị nói chung, đảng cầm quyền nói riêng trong hệ thống chính trị tư bản Đặc biệt, các tác giả đi sâu phân tích vai trò
Trang 18của đảng cầm quyền đối với nhà nước, trong đó một phần hết sức quan trọng
là đã đề cập đến các điều kiện để một đảng chính trị có thể trở thành đảng cầm quyền ở các nước tư bản, đó là: có tổ chức, hệ tư tưởng đủ mạnh và tuyên truyền, giáo dục hệ tư tưởng, đường lối của đảng mình cho thành viên
và công chúng để có khả năng thu hút lực lượng về mình và nhận được sự ủng hộ cũng như bảo vệ của các lực lượng xã hội; bảo đảm số ứng cử viên là thành viên của đảng thắng cử tham gia vào cơ quan nhà nước và có khả năng thực hiện lợi ích của đảng; tuyển chọn và bố trí nhân sự vào bộ máy cơ quan quyền lực nhà nước Đảng nắm chính quyền thông qua đội ngũ đảng viên là công chức trong các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; xây dựng chủ trương, cương lĩnh, chính sách của đảng đúng đắn, phù hợp, phản ảnh và thỏa mãn nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân và cam kết thực hiện nếu thắng cử và lập được chính phủ Các tác giả đã đề cập đến vấn đề mang tính điều kiện để một đảng chính trị có được tính chính đáng trong cầm quyền một cách hợp pháp, nhờ có những giá trị mới được thể hiện qua cương lĩnh tranh cử, có tổ chức đủ mạnh và thông qua con đường bầu cử hợp pháp, công bằng và dân chủ
1.1.3 Những công trình cứu hệ thống chính trị một đảng nổi trội
Nghiên cứu về cơ chế một đảng cầm quyền (một đảng lãnh đạo), trong thực tế, có thể chia thành 3 nhóm như sau: Thứ nhất, chỉ duy nhất một đảng lãnh đạo (trường hợp của Việt Nam, Lào, Cuba); thứ hai, nhiều đảng nhưng duy nhất một đảng cầm quyền theo hiến định (Trung Quốc, Xiri, Irắc, ); thứ
ba, nhiều đảng nhưng chỉ một đảng nổi trội cầm quyền không hiến định (Singapore, Malaysia, Indonexia, )
Nghiên cứu về hệ thống chính trị của quốc gia nhiều đảng nhưng duy nhất một đảng cầm quyền theo hiến định Những nội dung chủ yếu của hệ thống chính trị như cơ cấu, tổ chức, cách thức hoạt động, quá trình cải cách đã được các nhà nghiên cứu làm sáng tỏ Đó là các công trình nghiên cứu về
Trang 19Trung Quốc, Xiri, Irắc, tiêu biểu như sau: Tinh Tinh (2002) (chủ biên), Cải cách chính phủ - Cơn lốc chính trị cuối thế kỷ XX, Nxb.Công an Nhân dân;
Đỗ Tiến Sâm (2003) (chủ biên), Cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc (1978-2003), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Doãn Trung Khanh (2012), Chế
độ chính trị Trung Quốc, Người dịch: Nguyễn Mạnh Sơn, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh; Đỗ Tiến Sâm (2013) (Chủ biên), Chính trị Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Nxb Từ điển Bách
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh “Các nền dân chủ ở phương Đông dưới góc nhìn chính trị học so sánh” do TS Ngô Huy Đức làm Chủ nhiệm
Đề tài đã chỉ ra những nguyên nhân biến các quốc gia và vùng lãnh thổ phương Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore từ những nước
có sự chuyên chế về chính trị, nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế trở thành những nền dân chủ có tính tiêu biểu trong khu vực, thậm chí nó khắc phục được những hạn chế trong mô hình dân chủ phương Tây mà vẫn bảo tồn được các
giá trị dân tộc của các quốc gia phương Đông
Một công trình khoa học nghiên cứu về hệ thống chính trị một đảng
nổi trội có giá trị cao để tham khảo, đó là sách của Hồ Sĩ Quí (2014), Một số vấn đề về dân chủ, độc tài và phát triển, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội
Cuốn sách là một kho tư liệu về các chế độ dân chủ và độc tài trên thế giới
Trang 20cùng với những vấn đề của chúng về phương diện phát triển Chẳng hạn như Singapore vào những năm 60 của thế kỷ XX loay hoay tìm đường phát triển, sau hai thập niên đã vượt qua ngưỡng bị coi là nước nghèo và tiếp tục phát triển trở thành NIC, một trong 4 con hổ châu Á - điều kỳ diệu của thế kỷ
XX Hay hai mô hình xã hội thành công nhất của thế kỷ XX là Hàn Quốc và Đài Loan cũng là những tấm gương chưa từng có trong tiền lệ lịch sử, phát triển và hoá rồng nhờ chính quyền đã nhận ra các giá trị của dân chủ và có ý thức cải biến xã hội
Báo cáo được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) - Viện Kinh tế Việt Nam (VIE) - Viện nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) được dịch sang tiếng Việt bởi Đinh Tuấn Minh (Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ) và Phạm Thế Anh
(Khoa Kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội), Từ nhà nước điều hành sang nhà nước kiến tạo phát triển Nội dung công trình đã dựa trên
khung phân tích thể chế và đổi mới thể chế đề xuất bởi Fukuyama (2011 và 2014) và North (1990) và khung lý thuyết xây dựng thể chế nhà nước một đảng thống lĩnh (nổi trội) hiệu quả (đúc rút từ các trường hợp điển hình, đặc biệt là các nước và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore) cùng với lý thuyết về nhà nước một đảng thống lĩnh của một số học giả như Trantidis (2012), Bogaards (2004), Carothers (2002) Đây là hai khung lý thuyết chính nhằm phân tích các hệ thống chính trị một đảng thống lĩnh, xây dựng hệ thống tiêu chí cho bộ máy nhà nước có một đảng thống lĩnh kiến tạo phát triển, từ đó đánh giá và đưa ra những đề xuất cải cách thể chế chính trị cho Việt Nam
Nghiên cứu về hệ thống chính trị một đảng nổi trội tại vùng lãnh thổ Đài Loan có các công trình nghiên cứu của hai nhà khoa học nổi tiếng là Điền Hồng Mậu là học giả và là chính khách trong những năm chuyển đổi Ông
Trang 21viết nhiều về quá trình chuyển đổi từ độc tài tới dân chủ ở Đài Loan và đã nhận được sự quan tâm sâu sắc của các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới; các công trình khoa học của ông như “Chính phủ và nền chính trị của Quốc dân
đảng Trung Quốc 1927-1937” Government and Politics in Kuomintang China 1927- 37 (Stanford University Press, 1973) “Đại chuyển giao: sự thay đổi xã hội và chính trị ở Cộng hòa Trung Quốc” The Great Transition: Social and Political Change in the Republic of China (Stanford: Hoover Institution Press, 1989); “Dân chủ hóa ở Đài Loan, áp dụng cho Trung Quốc” Democratization
in Taiwan, Implications for China (St Anthony's Series, Oxford University,
1998), “Củng cố làn sóng thứ ba của nền dân chủ: những thách thức khu vực”
Consolidating the Third Wave Democracies: Regional Challenges (Baltimore
and London: The Johns Hopkins University Press, 1997), “Sự tương tác
xuyên eo biển hai thập kỷ qua” The Cross-Strait Interactions in the Past Two Decades (Tiếng Hán, Taipei 2008) [95]
Chu Vân Hán là tác giả của nhiều ấn phẩm, gồm hơn 100 bài báo khoa học và nhiều chuyên khảo có giá trị Chẳng hạn, “Phác thảo nền dân chủ ở
Đài Loan” Crafting Democracy in Taiwan (Taipei: Institute for National
Policy Research, 1992); “Củng cố nền dân chủ của làn sóng thứ ba: những xu
hướng và thách thức” Consolidating the Third Wave Democracies: Trends and Challenges (Bộ sách lớn gồm nhiều tập do nhiều người viết mà Điền
Hồng Mậu cũng là một trong các tác giả, Johns Hopkins University Press,
1997), “Trung Quốc thời Giang Trạch Dân” China Under Jiang Zemin
(Boulder: Lynne Reinner Publishers, 2000), “Đông Á nhìn nhận dân chủ như
thế nào” How East Asians View Democracy (Chủ biên, Columbia University
Press, 2008 [95]
Hai tác giả Điền Hồng Mậu và Chu Vân Hán đã có những phân tích rất đáng lưu ý về tiến trình dân chủ ở Đài Loan với những lực cản đặc biệt của
Trang 22nó Việc Đài Loan phát triển mạnh về kinh tế để cùng Hong Kong, Singapore
và Hàn Quốc trở thành bốn con rồng châu Á đã là một “phép lạ” (miracle) đáng chú ý
Ngoài ra, nghiên cứu về vấn đề này còn có các công trình của tác giả
trong và ngoài nước như sau: Victor Purcell (1954), Malaysia: Communist
or free, London; Milne R.S (1967), Government and politics in Malaysia, Boston published; E.K.Firk, H.Osman-Rani (1982), The political Economy
of Malaysia, Oxford University; Jon S.T.Quan, Chan Heng Chee, Seah Chee Meow (1985), Government and polictics of Singapore, Oxford
University; Trần Khánh (1995), Cộng hòa Singapore 30 năm xây dựng và phát triển, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Diane K.Mauzy, R.S.Milne
(2002), Singapore politics under the people’s action party, New York v.v
Trong số các công trình trên, tiêu biểu là công trình Diane K.Mauzy,
R.S.Milne (2002), Singapore politics under the people’s action party, New
York đã nghiên cứu và phân tích tổng quan về các hoạt động chính trị của Singapore từ khi độc lập (1965) đến nay, phân tích các yếu tố đưa Singapore trở thành trung tâm tài chính toàn cầu với thu nhập bình quân đầu người cao nhất châu Á Để có được thành công đó, công trình đã chỉ ra yếu tố quan trọng hàng đầu là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Hành động nhân dân trong các hoạt động về dân số đa sắc tộc, quyền công dân, sự phát triển xã hội v.v
1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị Việt Nam và đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam
Các nhà nghiên cứu đã nêu lên những đặc điểm của hệ thống chính trị;
sự hình thành hệ thống chính trị Việt Nam với ba thành tố là Đảng Cộng sản
Trang 23Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân; những đặc trưng cơ bản; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam Trong số những công trình nghiên cứu
về vấn đề này đáng kể phải kể đến:
Sách “Đổi mới ở Việt Nam - Thực tiễn và nhận thức lý luận” của
Nguyễn Trọng Phúc biên soạn gồm có hai phần chính: Phần thứ nhất, quá trình thực hiện công cuộc đổi mới ở Việt Nam Trong phần này, tác giả đi sâu phân tích, luận giải khá toàn diện về công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong suốt 20 năm (từ 1986 đến 2006) Đặc biệt, tác giả đã làm rõ được những bước
đi, những bước chuẩn bị, những đột phá trong tư duy của Đảng từ trước đổi mới và coi đổi mới là một sự lựa chọn không dễ dàng của Đảng Phần thứ hai, một số vấn đề nhận thức lý luận về công cuộc đổi mới Trong phần này, tác giả đã đề cập và luận giải khá nhiều vấn đề mang tính lý luận như: tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư duy kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ đổi mới v.v… để từ đó tác giả rút ra được những kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới Đồng thời, tác giả đã chỉ ra tình trạng kém phát triển ở nước ta, từ đó đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng cầm quyền như: không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng; đổi mới tổ chức, bộ máy gắn liền với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên Đặc biệt, trong cuốn sách tác giả đã đi sâu phân tích, làm rõ sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về chính trị, kinh tế qua các kỳ đại hội để khẳng định vai trò duy nhất lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, dân tộc
Bên cạnh đó, vấn đề này cũng được đề cập ở một số công trình nghiên
cứu của Trần Xuân Trường (2000), Xây dựng hệ thống chính trị theo tư tưởng
Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội Nhân dân; Nguyễn Duy Quý (Chủ biên) (2008),
Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Trang 24Nội; Lê Minh Thông (Chủ biên) (2008), Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội v.v , và các bài viết trên các tạp chí
như Phạm Hồng Chương (2004), “Xây dựng hệ thống chính trị theo tư tưởng
Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, số 22; Nguyễn Trọng Phúc (2013), “Hệ
thống chính trị ở Việt Nam trong tiến trình cách mạng và những vấn đề đặt ra
hiện nay”, Tạp chí Tuyên giáo, số 6 v.v
Ngày nay, đất nước ta đang ở bước ngoặt mới: tiến hành đổi mới theo chiều sâu, hội nhập toàn diện và trực tiếp hơn với nền kinh tế toàn cầu, trong
đó đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa
là động lực, mục tiêu vừa là nguồn lực chủ yếu của sự phát triển đất nước Để khắc phục những khó khăn đó, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, điều quan trọng nhất là phải đổi mới, hiện đại hóa và phát triển hệ thống chính trị
Đó cũng là vấn đề nghiên cứu của các công trình tiêu biểu sau: Nguyễn Đức
Bình (chủ biên) (1999), Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Hồ Bá Thâm (2005), Đổi mới và phát triển hệ thống chính trị, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; Phạm Ngọc Trâm (2011), Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam (1986 - 2011), Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Lý Vĩnh Long (2012), Hệ thống chính trị ở Việt Nam từ 1986 đến nay, Luận án tiến sỹ Chính trị học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Lê
Quốc Lý (2014), Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Hoàng Chí Bảo (2006), “Một số vấn đề về định
hướng xã hội chủ nghĩa và đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam”, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 5; Lê Quang Hòa (2008), “Một số thách thức đối với hệ thống chính trị trong quá trình toàn cầu hóa”, Tạp chí Giáo dục Lý luận, số 3
Trang 25v.v Đặc điểm chung của các công trình nghiên cứu trên về đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới từng thành tố về Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Hơn thế, ở một số công trình, các tác giả còn đánh giá quá trình đổi mới hệ thống chính trị, nhận diện những nguyên nhân đưa đến thành tựu cũng như những yếu kém để khắc phục trong giai đoạn tiếp theo
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về những quan điểm, nguyên tắc, giải pháp để đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, kết hợp với việc tổng kết thực tiễn đổi mới ở Việt Nam, sách “Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta” do Lê Quốc Lý chủ biên tập
hợp các bài viết của các tác giả nghiên cứu và tập trung làm rõ đặc điểm của quá trình ra đời và xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam, xác định đặc trưng
cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam, tính tất yếu khách quan của việc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, chỉ ra những phương hướng, quan điểm đồng thời đề xuất một số giải pháp cụ thể đổi mới hệ thống chính trị để
hệ thống chính trị nước ta trở nên mạnh hơn, hiệu quả hơn, dân chủ được tăng cường, mở rộng, kỷ cương, kỷ luật và pháp chế được củng cố nhăm ổn định chính trị, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước
Ngoài ra, còn có thể dẫn ra một số công trình tiêu biểu có thể tham khảo như: Tô Huy Rứa, Nguyễn Cúc, Trần Khắc Việt (đồng chủ biên, 2003),
Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi nước
ta hiện nay, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Trần Đình Hoan (chủ biên) (2008), Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Phương Hồng
(2005), “Tính tất yếu và một số nguyên tắc cơ bản của việc đổi mới hệ thống
chính trị ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 12; Nguyễn Văn Huyên (2014), “Quan điểm của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị”, Tạp chí Lý luận
Trang 26Chính trị, số 3; Lê Hữu Nghĩa (2013), “Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 1 v.v
1.2.3 Các công trình nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sách“Vị trí đảng cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới” của Đỗ Hoài Nam (Chủ biên) là sự chắt lọc
kết quả nghiên cứu của Đề tài KX 10.04 Cuốn sách đã đề cập một số vấn đề
lý luận mang tính khái quát về đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị ở một
số nước tư bản (tác giả chọn 8 nước để nghiên cứu là: Đức, Pháp, Anh, Thụy Điển, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia) Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu về sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong điều kiện cải cách mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc Từ đó, tác giả luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mặc dù không đề cập trực tiếp đến tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng ta nhưng cuốn sách có nhiều giá
Trang 27lý của sự cầm quyền chính là nói đến tính hiệu quả trong phương thức cầm quyền của đảng Cũng theo tác giả, tính hợp pháp và tính hợp lý của đảng cầm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tính hợp pháp là cơ sở, là nền tảng để quy định vai trò cầm quyền của đảng, còn tính hợp lý lại củng cố vững chắc hơn cho sự cầm quyền Tuy nhiên, nói đến nội dung của tính chính đáng của đảng không chỉ là tính hợp pháp và tính hợp lý mà còn phải
đề cập đến tính tiên phong của nền tảng tư tưởng, tính hiệu lực quá trình cầm quyền của đảng Mặc dù vậy, các nhận định của tác giả cũng là tài liệu
bổ ích để tham khảo cho luận án
Bài báo “Một đảng duy nhất cầm quyền - sản phẩm tất yếu của thực tiễn chính trị - xã hội ở Việt Nam” của Phạm Ngọc Quang [65, tr.35-38]
Bằng lập luận khá thuyết phục của mình, tác giả chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng duy nhất cầm quyền từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay là nhờ vào những thành công mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt nhân dân trong suốt hơn 80 năm tồn tại và phát triển của mình kể cả trong thời chiến và thời bình Đặc biệt, tác giả đã chứng minh yếu
tố “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” mà Đảng ta theo đuổi chính
là hệ giá trị mang tính xuyên suốt cho cách mạng Việt Nam, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai Chính nhờ có hệ giá trị đúng đắn, cao cả này mà nhân dân tin ở Đảng, quyết tâm thực hiện và cụ thể hóa những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Bằng lao động sáng tạo của mình, nhân dân biến chủ trường, đường lối của Đảng thành hiện thực sinh động trong cuộc sống Tác giả cho rằng, việc Đảng Cộng sản Việt Nam được trao quyền lãnh đạo duy nhất, cầm quyền duy nhất như một lựa chọn tất yếu, khách quan của lịch
sử chứ không phải do áp đặt của Hiến pháp Vì, Hiến pháp không tạo ra vị trí
đó của Đảng, mà chỉ là sự ghi nhận một thực tiễn chính trị - xã hội đã được xác lập trong thực tế Như vậy, tác giả cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có được và giữ vững được vai trò cầm quyền một cách chính đáng chính là nhờ
Trang 28có hệ giá trị đúng đắn mà nhân dân tin và làm theo chứ không phải nhờ sự áp đặt từ quy định vai trò cầm quyền mang tính pháp lý đến từ Hiến pháp
Bài báo “Đảng hóa thân vào Nhà nước” trong đổi mới phương thức
cầm quyền của Đảng ta” của Nguyễn Hữu Đổng [25, tr.3-8] Tác giả đã phần nào làm rõ được khái niệm “Đảng hóa thân vào Nhà nước” trong điều kiện chỉ
có một đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta Tác giả cho rằng, “đảng hóa thân vào nhà nước” là một khái niệm chỉ sự “ẩn giấu” đi quyền lực của đảng cầm quyền vào trong cái “vỏ” quyền lực của nhà nước, thực hiện việc chi phối, định hướng đối với nhà nước, chủ yếu thông qua vai trò của các cá nhân đảng viên ưu tú của đảng nhằm thực hiện hóa các mục tiêu, cương lĩnh của đảng đề
ra Từ nội hàm khái niệm này, tác giả đi tìm hiểu những bất cập, khó khăn và hiệu quả không cao trong cầm quyền trong điều kiện Đảng chưa thực sự hóa thân vào Nhà nước như ở nước ta hiện nay Từ đó tác giả đề ra bốn đề xuất mang tính giải pháp để làm cho Đảng thực sự hóa thân vào Nhà nước trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền như ở nước ta hiện nay Các phân tích của tác giả, mặc dù mới chỉ dừng lại ở khâu nêu vấn đề và các đề xuất chứ chưa có thực chứng, luận giải cụ thể để chứng minh Tuy nhiên, đây cũng
là giá trị có thể kế thừa
Đề cập đến vấn đề phương thức cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước
dưới góc độ lý thuyết quyền lực, lý thuyết hệ thống, bài “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền hiện nay - vấn đề đang đặt ra” của Hồ Bá Thâm [78, tr.112] Tác giả cho rằng, trong điều kiện
hiện nay, Đảng ta đang mắc phải những vấn đề khá cơ bản như tha hóa quyền lực, lỗi hệ thống và nó liên quan đến phương thức lãnh đạo - cầm quyền của Đảng Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tha hóa về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, làm giảm uy tín của Đảng đối với nhân dân Theo tác giả, khi Đảng làm thay, bao biện công việc của chính quyền; áp đặt sự lãnh đạo; lạm dụng quyền lực; trở nên độc
Trang 29quyền, độc đoán trong hoạt động của mình Đây là bốn biểu hiện của một loại tha hóa - tha hóa (suy thoái) quyền lực Đáng chú ý, tác giả còn cho rằng, Đảng trở thành đảng cầm quyền có mặt chưa thật hợp hiến như nhân dân chưa phúc quyết Hiến pháp, chưa ủy quyền cho Quốc hội, và chức danh nguyên thủ quốc gia, Tổng Bí thư của Đảng vẫn không nắm các chức vụ lớn nhất của Nhà nước và vẫn không do dân bầu Trên cơ sở phân tích những bất hợp lý trong cấu trúc quyền lực chính trị hiện nay, tác giả cho rằng cần phải đổi mới, cấu trúc lại cơ cấu quyền lực chính trị hiện nay Nhìn một cách tổng thể, theo tác giả, phải tập trung vào ba vấn đề lớn: Thứ nhất, Đảng phải thực sự “hóa thân vào Nhà nước” Trong đó, quyền lực của Đảng vừa tồn tại trong Nhà nước vừa tồn tại ngoài Nhà nước, nhưng tồn tại trong Nhà nước là chính Quyền lực của Đảng trở thành hạt nhân trong quyền lực của Nhà nước, tức trong quyền lực của nhân dân, được nhân dân ủy quyền và thừa nhận bằng lá phiếu và như thế mới là quyền lực chính trị hợp hiến hợp pháp Thứ hai, phải đổi mới thể chế bầu cử, nhất là chức danh cao nhất của Nhà nước (nguyên thủ quốc gia) trong sự nhất thể hóa của nó Thứ ba, liên quan đến kiểm soát quyền lực nhà nước trong thể chế một đảng duy nhất cầm quyền, tác giả cho rằng, “khi thừa nhận cơ chế kiểm soát quyền lực giữa quyền lực lập pháp - hành pháp - tư pháp thực chất là thừa nhận tam quyền phân lập theo nội dung thể chế một đảng Đó chính là đa nguyên về phương thức mà nhất nguyên về bản chất
Sách “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của Phạm Ngọc Quang, Ngô Kim Ngân đồng chủ biên là kết quả nghiên
cứu của đề tài cấp Nhà nước KX-03-08 Nội dung cuốn sách gồm ba phần: Phần thứ nhất, các tác giả làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; Phần thứ hai, các tác giả làm rõ thực trạng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trên một số lĩnh
Trang 30vực chủ yếu của Nhà nước ở cấp Trung ương trong thời gian qua; Phần thứ
ba, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong giai đoạn hiện nay Toàn bộ nội dung cuốn sách đã trình bày rõ quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về vai trò lãnh đạo và ý thức lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới; đã nêu bật tính cấp thiết đổi mới phương thức lãnh đạo phải được tiến hành khẩn trương, kiên quyết, không cứng nhắc, máy móc trong sự phân định giữa sự lãnh đạo của Đảng với sự quản lý của Nhà nước, song phải phân định rõ chức năng lãnh đạo chính trị của Đảng với chức năng quản lý nhà nước, chức năng công quyền và phương thức quản lý của Nhà nước pháp quyền
Trong bài viết của Phạm Ngọc Quang (2013) “Cơ sở đánh giá năng lực của Đảng Cộng sản cầm quyền” [66, tr.35-38], tác giả cho rằng, là đảng cầm
quyền, sứ mệnh lịch sử quan trọng nhất trong lãnh đạo là Đảng phải tạo ra được ba yếu tố căn bản: Hoạch định được đường lối đúng đắn, thể hiện đúng nhu cầu và lợi ích của nhân dân, của dân tộc; lãnh đạo xây dựng được một Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát huy được vai trò của Nhà nước và các thành viên trong hệ thống chính trị, làm cho Nhà nước thực sự là thiết chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng được đội ngũ cán bộ cầm quyền có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn - nghiệp vụ cao, có kỹ năng lãnh đạo và quản lý để làm cho đường lối đó thành hiện thực bằng sức mạnh của cả dân tộc Tác giả cũng cho rằng, sứ mệnh lịch sử trong lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền là phải bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, làm cho nhân dân thực sự là chủ nhân đích thực của mọi quyền lực Để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, nhiệm vụ quan trọng phải đẩy mạnh dân chủ hóa sinh hoạt nội
bộ Đảng, kết hợp với dân chủ hóa mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân; mọi hoạt động của Đảng phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân
Trang 31Ngoài ra, còn một số công trình khác nữa đã đề cập đến các nội dung: khái niệm đảng cầm quyền, khái niệm đảng lãnh đạo; sự cần thiết phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thời gian qua…, như: Trần Ngọc Đường
“Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội ở nước ta hiện nay”; Thang Văn Phúc “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”; Đào Trí Úc “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”; Nguyễn Hữu Đổng - Ngô Huy Đức
“Nhận thức các khái niệm Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo ở nước ta”; v.v… Công trình của tác giả Thayer Carlyle “Political Legitimacy of Vietnam’s One Party-State: Challenges and Responses” tập trung vào phân
tích các thách thức đối với quyền lực của nhà nước chỉ có duy nhất một đảng cầm quyền của Việt Nam nổi lên trong năm 2009 và cách mà nhà nước phản ứng trước các thách thức đó Tác giả nêu ra ba thách thức riêng biệt ảnh hưởng đến tính chính đáng của nhà nước: các ý kiến đối lập trong việc khai thác bô xít ở Tây Nguyên; cuộc biểu tình của Giáo hội Công giáo về các vấn
đề sở hữu đất đai; và một số bất đồng quan điểm chính trị của các nhà hoạt động gọi là “ủng hộ dân chủ” và các blogger Những tranh cãi về khai thác bô xít thách thức khẳng định của nhà nước đối với tính chính đáng chính trị trên
cơ sở thực hiện Các bất đồng quan điểm chính trị, bao gồm cả các nhu cầu cho dân chủ với những lo ngại về vấn đề môi trường và quan hệ với Trung Quốc, thách thức tuyên bố của Nhà nước về tính chính đáng dựa trên chủ nghĩa dân tộc Từ đó, tác giả khẳng định rằng, cùng với cách xử lý vừa mềm dẻo vừa cứng rắn của Nhà nước Việt Nam trong năm 2009, tất cả các thách thức này cũng sẽ được Đảng ta thảo luận tại Đại hội X của Đảng
Trang 321.3 GIÁ TRỊ NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Những giá trị của các công trình đã nghiên cứu
Có thể thấy, xuất phát từ vị trí, vai trò của hệ thống chính trị đối với đất nước, các nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm của mình để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị, đáp ứng với những biến chuyển của thế giới Những nghiên cứu này rất có giá trị, là cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu và đưa
ra các giải pháp để đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam
Những công trình nghiên cứu trên tập trung vào một số khía cạnh quan trọng của hệ thống chính trị nói chung và vai trò của đảng chính trị nói riêng Bên cạnh đó, các công trình cũng đã phân tích những vai trò, đặc điểm của đảng chính trị nổi trội trong hệ thống chính trị một số quốc gia tiêu biểu,
từ đó nhìn nhận về những ưu điểm của đảng chính trị nổi trội trong quá trình vận hành và phát triển của các quốc gia đó Trong những quan điểm, những định hướng về về phát triển quốc gia mà các đảng chính trị đã đưa ra, thấy được vai trò và mối quan hệ của đảng chính trị nổi trội với hệ thống chính trị cũng được các học giả được quan tâm Những hình thức vận hành, đưa ra quyết sách cũng như đặc điểm của đảng chính trị nổi trội trong hệ thống chính trị là khá đa dạng và phong phú nhưng tất cả đều gắn liền với mục tiêu chung của quốc gia đó, góp phần tạo ra sức mạnh xã hội, sức mạnh quốc gia phù hợp với xu hướng phát triển của nhân loại Có thể thấy, hệ thống chính trị thế giới cũng như hệ thống chính trị Việt Nam đã được các tác giả quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu trên đã đạt được những thành tựu cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống chính trị là đề tài không mới, các tác giả trong và
ngoài nước nghiên cứu về hệ thống chính trị thế giới từ trong lịch sử với mục đích nhằm duy trì, củng cố và phát triển đất nước Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về hệ thống chính trị của
Trang 33các quốc gia có đảng chính trị nổi trội cũng như vai trò, chức năng của đảng chính trị trong tổng thể quá trình vận hành của hệ thống chính trị trong lịch sử cũng như trong điều kiện nền kinh tế thị trường cũng như những tác động của
nó đến các quốc gia khác Những vấn đề về quan điểm, quyết sách chính trị của đảng chính trị đối với sự phát triển, đây là biểu hiện rõ nét của quá trình lãnh đạo đất nước Các tác giả đều nhận thấy vai trò của đảng chính trị trong phát triển quốc gia, hơn bao giờ hết trong điều kiện, quá trình hội nhập quốc
tế Hơn nữa, các công trình còn tập trung vào việc phân tích, làm rõ những vấn đề vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, những tiêu chuẩn cơ bản nhất tạo nên giá trị phát triển đất nước là gì? Những trào lưu văn hóa nước ngoài ở Việt Nam, những luồng giá trị truyền thống đan quyện với những giá trị mới làm thay đổi nhận thức, suy nghĩ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới Và do đó, vấn đề này được nghiên cứu ở nhiều cách tiếp cận, nhiều hướng khác nhau, từ những vấn đề khái quát đến cụ thể
Thứ hai, nghiên cứu về hệ thống chính trị một đảng nổi trội cầm quyền
trên thế giới đã đạt được thành tựu đáng ghi nhận Việc lựa chọn mô hình, cơ cấu tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị là vấn đề của riêng các quốc gia trên thế giới Do đó, những kết quả nghiên cứu của các công trình này đã cung cấp bài học kinh nghiệm, những ý tưởng, kiến giải mới cho Việt Nam trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị đất nước
Thứ ba, các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ sự hình thành hệ
thống chính trị, những đặc điểm, đặc trưng; những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam
Thứ tư, trên cơ sở bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước, các công
trình nghiên cứu đã đưa ra luận chứng, nhận định về xu thế mới, yêu cầu khách quan, tất yếu phải đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam
Trang 34Thứ năm, ở một số công trình nghiên cứu, bài viết đã đưa ra quan điểm,
nguyên tắc và giải pháp để đổi mới và hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính trị Việt Nam
Xuất phát từ vị trí, vai trò của hệ thống chính trị đối với đất nước, các nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm của mình để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị, đáp ứng với những biến chuyển của thế giới Những nghiên cứu này rất có giá trị, là cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu và đưa ra các giải pháp để đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam Việc tiến hành đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam là cần thiết để đi kịp với xu hướng của thế giới
Do đó, các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ sự hình thành hệ thống chính trị, những đặc điểm, đặc trưng; những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Trên cơ sở bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước, các công trình nghiên cứu đã đưa ra luận chứng, nhận định về xu thế mới, yêu cầu khách quan, tất yếu phải đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam
1.3.2 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Từ những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đề cập ở trên đã gợi mở cho tác giả những vấn đề cần tiếp tục giải quyết nhằm góp phần luận chứng về mặt lý luận cũng như góp phần đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, trên cơ sở những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống chính trị
nói chung và hệ thống chính trị một đảng nổi trội, cần khái quát những đặc trưng của hệ thống chính trị một đảng nổi trội
Thứ hai, khảo sát mô hình của một số hệ thống chính trị một đảng nổi
trội ở một số quốc gia để từ đó có cái nhìn khái quát về vai trò của đảng cầm quyền trong quá trình phát triển xã hội Hơn nữa, trước những tác động của nền kinh tế thị trường, của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đảng chính trị
Trang 35nói riêng và hệ thống chính trị nói chung chịu nhiều sự tác động mạnh mẽ từ các yếu tố bên ngoài, tác giả chỉ ra những vấn đề cần quan tâm hiện nay trong
hệ thống chính trị
Thứ ba, trên cơ sở những thành tựu cũng như hạn chế của thực trạng
hoạt động của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, cần rút ra những giá trị tham khảo từ mô hình hệ thống chính trị một đảng nổi trội trên thế giới để vận dụng vào Việt Nam nhằm mục đích đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị đất nước
Trang 36Chương 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỘT ĐẢNG NỔI TRỘI VÀ ĐẢNG CẦM QUYỀN
TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỘT ĐẢNG NỔI TRỘI
2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỘT ĐẢNG NỔI TRỘI
2.1.1 Những vấn đề chung về hệ thống chính trị
2.1.1.1 Khái niệm hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là một phạm trù quan trọng của khoa học chính trị Bởi vì nó là tổng hợp những vấn đề của thực tiễn chính trị, của đời sống chính trị Hơn nữa những vấn đề đó không phải được xem xét rời rạc, lộn xộn, biệt lập mà là xem xét trong một chỉnh thể có tính hệ thống, có hình thái phát sinh, phát triển, có chủ thể, đối tượng, với các mối quan hệ chức năng, theo những
vị trí vai trò nhất định; có “đầu vào” và “đầu ra”; có nội dung và hình thức, có
Trang 37phong phú, từ nộp thuế, các khoản thu, hoàn thành các nghĩa vụ lao động, quân sự, chấp hành luật pháp, thực hiện các chính sách của nhà nước đến việc tích cực tham gia vào đời sống chính trị để bảo vệ và khẳng định những giá trị chính trị Không có sự ủng hộ cần thiết, hệ thống chính trị không thể hoạt động có hiệu quả được
Ở “đầu ra”, sản phẩm của hệ thống chính trị cũng có thể rất khác nhau
từ hình thức cho đến nội dung Từ phân phối phúc lợi đến cung cấp dịch vụ, từ điều chỉnh hành vi công dân đến các quyết định về đường lối, chính sách nhà nước Sản phẩm “đầu ra” này cũng phụ thuộc vào mô hình hệ thống chính trị
Quan điểm này của D.Istons có hạn chế là không giải thích được các hiện tượng khi kết quả “đầu ra” trái ngược với yêu cầu của “đầu vào” Nói cách khác là vẫn còn tồn tại tình trạng Chính phủ ra những quyết định sai trái, không phù hợp hoặc đi ngược với mong muốn của nhân dân Cách tiếp cận này bị phê phán vì nó còn dừng lại ở tính bề mặt của các hiện tượng chính trị
Một cách tiếp cận khác của nhà chính trị học Mỹ G.Almold cho rằng
hệ thống chính trị đó là các kiểu khác nhau của hành vi chính trị, của các tổ chức nhà nước cũng như phi nhà nước Các kiểu hành vi đó được chia ra hai cấp độ: Thể chế và định hướng Nếu như cấp độ thứ nhất chủ yếu là nghiên cứu các thể chế nhà nước và phi nhà nước, thì cấp độ thứ hai là nghiên cứu các quan hệ, cấu trúc, các giá trị chính trị tạo thành văn hóa chính trị G.Almold khẳng định rằng, khác với các hệ thống xã hội khác, hệ thống chính trị được xác định bởi quyền cưỡng chế hợp pháp đối với người công dân Đó
là sức mạnh pháp lý, thâm nhập vào các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra”, làm nên tính chất đặc biệt, tính bền vững của hệ thống chính trị
Một số cách tiếp cận khác cho rằng, hệ thống chính trị là cơ chế để thực hiện và giải quyết các vấn đề, đồng thời để hoạch định và kiểm soát sự thực hiện các quyết định cũng như kiểm soát các quan hệ quản lý của nhà nước
Trang 38Trong các tài liệu khoa học Xô Viết, cho đến giữa những năm 70 thường dùng khái niệm “Các tổ chức chính trị của xã hội” thay vì khái niệm
“hệ thống chính trị” “Các tổ chức chính trị của xã hội” bao gồm nhà nước cùng tất cả các cơ quan của nó, các tổ chức phi nhà nước mà trước hết là Đảng Cộng sản Liên Xô, các công đoàn, các tổ chức thanh niên Đảng Cộng sản Liên Xô được coi là hạt nhân của hệ thống các tổ chức chính trị
đó, là người định hướng, cổ vũ và lãnh đạo của xã hội Trong nhiều trường hợp “hệ thống chuyên chính vô sản” được dùng như là hệ thống chính trị dưới chủ nghĩa xã hội
Quan niệm “rộng” về hệ thống chính trị này đã không phân biệt ranh giới giữa đời sống chính trị và đời sống xã hội; không phân biệt các sinh hoạt mang tính nhà nước và những sinh hoạt dân sự, đời sống riêng tư, đời sống cá nhân Nó đồng nhất đời sống chính trị và đời sống xã hội mà kết quả là chính trị hoá, nhà nước mọi mặt đời sống xã hội Tuy với cách tiếp cận này, một hệ thống chính trị với khả năng kiểm soát và huy động cao được xây dựng và hữu dụng trong các giai đoạn phát triển đặc biệt, như chiến tranh, huy động nguồn lực đất nước vào những công trình lớn… Nhưng càng chính trị hóa và nhà nước hóa đời sống xã hội bao nhiêu càng làm giảm đi tính tích cực chủ động, sáng tạo của người dân bấy nhiêu
Đầu những năm 80, khái niệm hệ thống chính trị được khẳng định trong các tài liệu triết học, chính trị học của Liên Xô Hệ thống chính trị được hiểu theo cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, là bộ phận của thượng tầng kiến trúc được quyết định bởi hạ tầng kinh tế, theo kết cấu xã hội giai cấp Hiện nay, một số nhà khoa học Nga coi hệ thống chính trị như là một tổ hợp phức tạp các thể chế nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức xã hội, trong khuôn khổ đó diễn ra đời sống chính trị và thực thi quyền lực nhà nước, quyền lực xã hội
Trang 39Làm rõ khái niệm hệ thống chính trị có ý nghĩa phương pháp luận rất lớn trong việc phân tích sự quản lý xã hội và quản lý chính trị ở các khu vực các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trên thế giới
Hệ thống chính trị tác động như một chỉnh thể trong việc tổ chức mối quan hệ qua lại với những hệ thống khác: hệ thống kinh tế, văn hóa, sắc tộc, tôn giáo Ngày nay, đời sống chính trị thế giới tương tự như trong đời sống kinh tế đã đặt ra yêu cầu chức năng hóa hệ thống chính trị dân tộc trong các vấn đề liên quan đến những quan hệ với hệ thống chính trị rộng lớn hơn như khu vực hoặc toàn cầu
Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chính trị quốc gia là địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội Ví dụ Anh, Mỹ, châu Âu Nhật Bản, các nước khác nhau ở các khu vực khác nhau có những sự khác biệt nhất định trong quá trình hình thành và tác động của các hệ thống chính trị
Các nhân tố kinh tế - xã hội tác động rõ rệt đến quá trình chính trị Thứ nhất, chúng ảnh hưởng đến vị trí, phân bổ quyền lực chính trị Thứ hai tạo điều kiện cho ổn định chính trị, xã hội Các cuộc khủng hoảng kinh tế, giảm sút sản xuất, hạ thấp mức sống dân cư luôn luôn đưa đến sự tan rã của hệ thống chính trị
Yếu tố cơ bản của hệ thống chính trị là quyền lực (sự phân bổ nguồn lực giữa các nhóm cạnh tranh), lợi ích chính trị, văn hóa chính trị Hệ thống chính trị là tổng thể những mối tác động qua lại của những thể chế chính trị, nhà nước với các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, bộ máy hành chính, các đảng, nhóm áp lực…
Hệ thống chính trị là khái niệm của khoa học chính trị đương đại - là
một trong những khái niệm phản ánh đặc trưng của những quan hệ quyền lực chính trị Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VI (tháng 3/1989) lần đầu tiên đã dùng tên gọi “hệ thống chính trị” để thay thế tên gọi “hệ thống chuyên chính vô sản” Nếu như trong các văn kiện Đại hội III, IV, V, VI, Đảng ta còn sử dụng các khái niệm
Trang 40“chuyên chính vô sản” và “hệ thống chuyên chính vô sản” thì đến Đại hội VII (tháng 6/1991), Đảng Cộng sản Việt Nam không sử dụng các khái niệm này nữa mà sử dụng các khái niệm: Nhà nước của dân, do dân, vì dân (sau này là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị…)
Xuất phát từ các quan niệm trên, chúng ta có thể định nghĩa: Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thế chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức và các phong trào xã hội) được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ
cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị
Hệ thống chính trị cần được nghiên cứu ít nhất về 3 thành tố: các cấu trúc thể chế, chức năng (của cả hệ thống và từng thể chế) và sự tương tác giữa các cấu trúc Như vậy, có thể nói hệ thống chính trị là chỉnh thể các thể chế, chức năng và mối quan hệ giữa chúng trong việc đưa ra và thực thi các quyết định chính trị trên phạm vi một lãnh thổ quốc gia
Khái niệm “Hệ thống chính trị” dùng để phân tích các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc đưa ra và thực hiện các quyết định chính trị trong chỉnh thể của chúng, phù hợp với sự biến đổi của môi trường Khả năng thích ứng với môi trường thể hiện sức sống của một hệ thống chính trị Các mô hình hệ thống chính trị khác nhau có các cách hoạt động và thích ứng khác nhau, và vì vậy, luôn là đối tượng nghiên cứu quan trọng của cả các nhà khoa học cũng như các nhà hoạt động chính trị
2.1.1.2 Phân loại mô hình hệ thống chính trị
Có nhiều tiêu chí được sử dụng để phân loại các mô hình hệ thống chính trị
Cách phân loại thứ nhất lấy tiêu chí về hệ tư tưởng chủ đạo, có thể phân loại thành mô hình xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa