1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục: Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh thông qua việc tổ chức dạy học một số chủ đề phần động học, động lực học Vật lí lớp 10 trung

27 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm đề xuất và vận dụng các biện pháp tổ chức dạy học một số chủ đề phần động học, động lực học Vật lý lớp 10 THPT thông qua các hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

BÙI NGỌC NHÂN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO

CỦA HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ PHẦN ĐỘNG HỌC,

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ NHỊ PGS.TS TRẦN HUY HOÀNG

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sỹ cấp Trường

Tại trường Đại học Vinh vào hồi …… ngày…….tháng…… năm 2020

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Hà Nội

- Thư viện Trường Đại học Vinh

Trang 3

Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 xác định mục tiêu giáo dục phổ thông

là giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, có phẩm chất và năng lực để

trở thành người công dân tốt Các phẩm chất cần hình thành là: yêu nước, nhân ái, chăm

chỉ, trung thực, trách nhiệm Các năng lực chung cần hình thành là: năng lực tự chủ và

tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Về phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học môn Vật lý gắn liền với việc triển khai thực hiện trong chương trình mới và cũng được nêu rõ: “Giải quyết vấn đề và sáng tạo là một đặc thù của hoạt động tìm hiểu khoa học

Như vậy, việc dạy học hướng đến phát triển năng lực là vấn đề cốt yếu trong quá trình thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, trong đó làm thế nào để phát triển năng lực sáng tạo của học sinh là vấn đề cần nghiên cứu làm rõ Phần lớn giáo viên hiện nay vẫn quen thuộc với phương pháp dạy học truyền thống, chủ yếu là truyền thụ kiến thức nên họ thực sự gặp khó khăn khi tổ chức hoạt động dạy học với các nội dung mới, mục tiêu mới, họ không biết phải tổ chức dạy học như thế nào để phát triển năng lực sáng tạo Học sinh phải được tổ chức hoạt động học tập ra sao để vừa nhanh chóng lĩnh hội được kiến thức, đồng thời hình thành và phát triển được những phẩm chất và năng lực như mong muốn Mặc dầu đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực sáng tạo và cũng đã có những chương trình, dự án triển khai, nhưng việc thực hiện cụ thể trong môn Vật lí như thế nào vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu trong thực tế dạy học hiện nay

Xuất phát từ những nhận thức và tình hình thực tế ở trên chúng tôi thấy cần tiến hành nghiên cứu tìm các biện pháp giúp giáo viên có một cách nhìn đầy đủ về dạy học phát triển năng lực sáng tạo, qua đó biết cách tổ chức các hoạt động dạy học với chương trình hiện nay và những năm tiếp theo khi chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai rộng rãi Hy vọng kết quả nghiên cứu cũng sẽ góp phần giúp cho các em học sinh vừa nắm được kiến thức một cách vững chắc, vừa phát triển được năng lực sáng tạo đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội Với

những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài mang tên: “Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh thông qua việc tổ chức dạy học một số chủ đề phần động học, động lực học vật lí lớp 10 trung học phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất và vận dụng các biện pháp tổ chức dạy học một số chủ đề phần động học, động lực học Vật lý lớp 10 THPT thông qua các hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển

Trang 4

năng lực sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh ở trường THPT

- Dạy học theo chủ đề trong dạy học vật lý ở trường THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Hoạt động dạy học vật lý ở trường THPT

- Phần động học, động lực học, Vật lý lớp 10 THPT

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và vận dụng được các biện pháp tổ chức dạy học các chủ đề thông qua các hoạt động trải nghiệm một số kiến thức phần động học, động lực học vật lý lớp 10 THPT thì sẽ phát triển năng lực sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất

lượng dạy học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong xu thế đổi mới dạy học hiện nay

5.2 Nghiên cứu thực trạng dạy học hiện nay ở trường THPT trong việc phát triển năng lực sáng tạo của học sinh, đặc biệt thực trạng dạy học phần động học, động lực học vật lí lớp 10

5.3 Nghiên cứu đề xuất các biện pháp tổ chức dạy học các chủ đề thông qua các hoạt động trải nghiệm một số kiến thức phần động học, động lực học vật lý lớp 10 THPT nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh

5.4 Xây dựng tiến trình dạy học một số chủ đề trong phần động học, động lực học vật lí lớp 10 theo các biện pháp đề xuất nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho HS 5.5 Thực nghiệm sư phạm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp lý thuyết: Nghiên cứu những tài liệu liên quan đến đề tài, phân tích - tổng hợp những nội dung khoa học, xây dựng cơ sở lý luận về tổ chức dạy học phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật lí

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng nhóm phương pháp điều tra đại trà và điều tra theo vùng, sử dụng tư liệu thông tin, dùng phiếu khảo sát, ý kiến chuyên gia, để tìm hiểu thực trạng tổ chức dạy học phát triển năng lực sáng tạo của học sinh ở trường THPT 6.3 Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm, kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài

6.4 Phương pháp thống kê toán học: Xử lí các số liệu kết quả điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm bằng công cụ toán học thống kê

7 Đóng góp mới của luận án

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Các nghiên cứu về phát triển năng lực sáng tạo của học sinh

1.1.1 Các nghiên cứu về phát triển năng lực sáng tạo của học sinh ở nước ngoài

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, khoa học sáng tạo bắt đầu phát triển dựa trên thành tựu của cách mạng khoa học - kĩ thuật Đầu tiên là tìm hiểu về cách ghi nhớ và cách sáng tạo, những yếu tố rất quan trọng hình thành năng lực sáng tạo

Học cách sáng tạo, sáng tạo không chỉ mang tính thiên phú mà còn là kết quả của quá trình miệt mài luyện tập Tuy nhiên, khi các nhà nghiên cứu não bộ nhận ra có những ngả đường dẫn đến sáng tạo tiềm ẩn trong mỗi con người thì việc rèn luyện khả năng sáng tạo trở thành một kỹ năng có thể phát triển được

Từ những năm 50 của thế kỉ XX, các nhà Tâm lí học Mĩ đã nghiên cứu khá cơ bản và hệ thống về năng lực sáng tạo của con người từ tuổi nhỏ đến tuổi trưởng thành Đặc biệt hơn từ những 1970 - các nhà Tâm lí học Mĩ có rất nhiều nghiên cứu sâu về Tâm lí học sáng tạo, về công cuộc phát triển tài năng sáng tạo của con người

Năm 1950, J P Guilford bắt đầu nghiên cứu có hệ thống về sáng tạo dưới góc nhìn Tâm lí học Tuy nhiên, Dù cho những nhà Tâm lí học nổi tiếng như Barron, Blam, Wallase, Torrana, Bova đã tập trung nghiên cứu khá nhiều về sáng tạo nhưng vẫn còn nặng về tính chất mô tả kinh nghiệm chứ không phải là thực nghiệm để rút ra quy luật Điều mà thực tiễn đòi hỏi là phải tìm ra những quy luật của sáng tạo để có thể lấy đó làm cơ sở điều khiển, phát huy sáng tạo thì gần như các nhà Tâm lí học vẫn chưa giải quyết được

Đối với Liên Xô và các nước XHCN (cũ), các hướng nghiên cứu khác nhau về sáng tạo bắt đầu được xuất hiện thông qua các cuộc hội thảo mang tính chất quốc gia - quốc tế như: Hội thảo tại Matxcơva (Liên Xô - 1967); Hội thảo tại Praha (Tiệp Khắc - 1967); Hội thảo tại Liblice (1972 - Tiệp Khắc) Ở Liên Xô trước đây đội ngũ các nhà Tâm lí học nghiên cứu về sáng tạo khá đông đảo Điển hình một số nhà khoa học có tên tuổi như: O.K.Chikhômirôp; Ia.A.Pônôvariôp, B.M Kêdrôp; M.G.Ia.Rôsepxki; A.N.Luk; D.N Bôgôialenxki; X.L.Rubinstêin, L.X.Vưgôtxki, N.G.Alêcxâyep với các hướng nghiên cứu chủ yếu sau: So sánh cách giải quyết vấn đề của con người và máy Nghiên cứu vấn đề của hoạt động khoa học, tư duy khoa học và tìm ra những đặc thù của hoạt động phát hiện của các nhà khoa học trong đó có hoạt động sáng tạo Tập

trung nghiên cứu những vấn đề chung nhất của hoạt động sáng tạo Nghiên cứu và

phân tích tầm quan trọng của sáng tạo và quan hệ giữa sáng tạo với quá trình tiếp thu tri thức của con người Tập trung nghiên cứu và nhấn mạnh ảnh hưởng qua lại giữa tư duy và tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo của con người Nghiên cứu chuyên sâu

về vấn đề thực hành cũng như lí luận của tư duy sáng tạo và tìm hiểu mối quan hệ của

sáng tạo và hoạt động vô thức Tập trung nghiên cứu về hoạt động sáng tạo của học

sinh trong nhà trường, biện pháp phát triển sáng tạo cho học sinh

Nhà tâm lý học người Mỹ, W.Gordon phát hiện hai cơ chế sáng tạo:

- Loại cơ chế sáng tạo không điều khiển được: các hiện tượng tâm lý: linh tính, trực giác, ngẫu hứng, những gì thuộc tiềm thức, vô thức

Trang 6

- Loại cơ chế sáng tạo điều khiển được như sử dụng các phương pháp sáng tạo Đến thế kỉ XX, khả năng sáng tạo được nhận diện ở những “kiểu” người khác nhau Kết luận rất kì diệu và đầy tính nhân bản: sáng tạo hay khả năng sáng tạo có ở tất cả mọi người Những phương pháp tìm đến cái mới như: Đối tượng tiêu điểm; Phương pháp công não hay não công - tấn công não - tập kích não và nhiều phương pháp khác như: Loại trừ; Tìm cái mới đảo ngược, được đào sâu nghiên cứu Người

có công lớn trong việc xây dựng khoa học sáng tạo là nhà khoa học Genric Sanlovich Altshuller (1926 - 1998)

Phương pháp Synectic do W.Gorden (Mĩ) đề xuất vào năm 1960 (trong phương

pháp luận sáng tạo, phương pháp tương tự (Synectics) - là một phương pháp giải quyết

vấn đề được phát triển bởi George M Prince và William J.J Gordon

J Bruner nghiên cứu vận dụng lý thuyết của J Piaget để xây dựng mô hình dạy học dựa vào sự học tập khám phá của học sinh Mô hình dạy học hành động học tập khám phá của J Bruner có tác động tích cực đối với hoạt động học theo hướng học sinh tự kiến tạo kiến thức, kỹ năng nhờ đó phát triển tư duy và năng lực sáng tạo V.G Razumôxki (1975) với "Phát triển năng lực sáng tạo của HS trong dạy học vật lí (DHVL) ở trường trung học đã khái quát hóa ý kiến của nhiều nhà vật lí nổi tiếng về hoạt động sáng tạo, cơ sở lí thuyết của phương pháp phát triển khả năng sáng tạo của HS trong DHVL và đưa ra "Chu trình sáng tạo khoa học"

Gần đây, có các bài viết: “Thúc đẩy sự sáng tạo trong học tập và giảng dạy” của tác giả Christine Smith, Chrissi Nerantzi và Andrew Middleton trường đại học Suffolk, Đại học Manchester Metropolitan, Đại học Sheffield Hallam, Vương quốc Anh; “Nuôi dưỡng năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề cho học sinh qua việc tổ chức thực hiện một dự án dạy học” của tác giả Ruey-Shyy Shieh, Đại học Ruey-Shyy

Shieh Khai, Đài Loan Wheijen Chang Đại học Sư phạm Changhua, Đài Loan; “Phát

triển tiềm năng sáng tạo của học sinh bằng cách sử dụng các phương pháp trực quan khi học Vật lý” của các tác giả Maria Dinica, Luminita Dinescua, Cristina Mirona,

đăng trên Procedia Social and Behavioral Sciences 2 (2010) 3731-3736: “Phát triển

chiến lược giàn giáo mềm để cải thiện khả năng tư duy sáng tạo của học sinh trong vật lý” của các tác giả Novinta Nurulsari, Abdurrahman and Agus Suyatna đăng trên

IOP Conf Series: Journal of Physics: “Học tập vật lý tích cực: Giúp học sinh phát

triển nhận thức, cảm xúc tích cực và khả năng sáng tạo tuyệt vời” của Josip Slisko

Scientia in educatione 8(Special Issue), 2017 Các tác giả đều có quan điểm phát triển NLST cần nhiều yếu tố liên quan đến học sinh, giáo viên và môi trường học tập

Như vậy, có thể thấy rằng phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động giáo dục đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu đều cho rằng: Năng lực sáng tạo của con người đều liên quan mật thiết đến phương thức hoạt động của bộ não, được bộc lộ và phát huy thông qua hoạt động, qua trải nghiệm thực tiễn, đặc biệt, trong giáo dục học sinh cần được tạo mọi điều kiện để phát triển dưới sự khuyến khích, hỗ trợ của nhà giáo dục Tuy nhiên việc tổ chức dạy học, kiếm tra đánh giá cụ thể như thế nào cho phù hợp với điều kiện, bối cảnh nước ta hiện nay là điều cần tiếp tục nghiên cứu

Trang 7

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Vào cuối thập kỷ 70 những hoạt động nghiên cứu liên quan đến khoa học về tư duy sáng tạo còn mang tính chất tự phát Mãi đến năm 1977 lớp học dạy về phương pháp luận sáng tạo mới được tổ chức Phan Dũng đã vận dụng TRIZ vào tổ chức các lớp học về phương pháp luận sáng tạo dạy kỹ năng tư duy sáng tạo cho mọi người Nguyễn Văn Lê (1998) với "Cơ sở khoa học của sự sáng tạo"; Nguyễn Minh Triết (2001) với "Đánh thức tiềm năng sáng tạo"; Nguyễn Cảnh Toàn (2005) với "Khơi dậy tiềm năng sáng tạo"; Phạm Hữu Tòng với "Hình thành kiến thức, kĩ năng phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của HS trong Dạy học vật lí" và "Dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo và tư duy khoa học"; Đỗ Hương Trà (2014), “Lamap - Một phương pháp dạy học hiện đại”, trình bày cơ sở lí luận cũng như những đặc điểm nổi bật của Lamap về dạy học nhằm nuôi dưỡng lòng say mê khoa học, tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học

Bài viết “Một số suy nghĩ về năng lực sáng tạo và phương pháp phát huy năng lực sáng tạo” của tác giả Trần Việt Dũng đăng trên tạp chí Khoa học (Đại học sư phạm

- Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng có ba thành phần cơ bản trong năng lực sáng tạo,

đó là tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo và ý chí sáng tạo

Bài viết “Một số phương pháp giảng dạy mới nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho người học” của tác giả Nguyễn Văn Thiên cho rằng: Phương pháp giảng dạy hiện nay

ở các nhà trường đã làm mất đi một hình thái khác của tư duy đó là tư duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo tập trung vào khám phá các ý tưởng, phát triển thành nhiều giải pháp, tìm ra nhiều phương án trả lời đúng thay vì chỉ có một

Đã có nhiều công trình, đề tài, bài viết đề cập đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học nhưng trong điều kiện và thực tế dạy học hiện nay vẫn còn phải tiếp tục nghiên cứu đầy đủ hơn nữa

Một số công trình nghiên cứu liên quan đến luận án trong dạy học vật lí:

Một số luận án tiến sĩ và bài viết chuyên ngành lí luận và phương pháp dạy học vật lí liên quan đến đề tài như sau: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Việt (1993) với "Dạy học một số kiến thức lớp 10 THPT theo chu trình nhận thức khoa học vật lí"; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hòa - Hà Nội năm 2002 Với đề tài: “Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp thực nghiệm nhằm nâng cao chất lượng học tập và góp phần phát triển năng lực sáng tạo trong dạy học vật lí lớp 6 trung học cơ sở, 2002”; Vũ Thị Minh - 2011 Với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập sáng tạo trong dạy học phần cơ học lớp 10 - trung học phổ thông”; Nguyễn Văn Phương (2017) với đề tài: “Tổ chức hoạt động sáng tạo của học sinh trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT”; Phạm Thị Phú (1999) với "Bồi dưỡng PP thực nghiệm cho HS nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phần cơ học lớp 10" đã đề cập đến việc bồi dưỡng phương pháp thực nghiệm đồng thời phát triển năng lực sáng tạo cho HS trong dạy học vật lí THPT; Ngô Thị Bích Thảo (2002) với "Rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần cơ học lớp 8 THCS" đã đề xuất các giải pháp như: Dạy học giải quyết vấn đề, bồi dưỡng phương pháp nhận thức khoa học, sử dụng hệ thống bài tập vật lí nhằm rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS; Phạm Thị Phú - Nguyễn Đình Thước (2007) với “Bài tập sáng tạo về vật lí ở trường trung học phổ thông” đưa ra 6

Trang 8

dấu hiệu bài tập sáng tạo làm cơ sở cho xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lý ở trung học phổ thông Tạp chí Khoa học và Công nghệ của trường Đại học Phạm Văn Đồng tháng 12/2019 với chủ đề: “Dạy học Vật lí phát triển phẩm chất năng lực học sinh đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới” có đăng một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, đáng chú ý có một số bài viết sau: “Biện pháp dạy học Vật lí theo định hướng phát triển năng lực vật lí cho học sinh THPT đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới” của các tác giả Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, Phạm Nghiệp, Lê Thanh Huy; “Thiết kế hoạt động dạy học một số chủ đề trong môn Vật lí nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh” của Phùng Việt Hải, Trần Thị Hương Xuân; “Kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực” của Vũ Trọng Rỹ, Nguyễn Đăng Nhật Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi vào nghiên cứu cụ thể việc phát triển năng lực sáng tạo của học sinh

từ xây dựng chủ đề dạy học theo hướng tổ chức hoạt động trải nghiệm ở phần động học, động lực học vật lí 10

1.2 Các nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm theo hướng phát triển năng lực sáng tạo của học sinh

1.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Nửa cuối thế kỉ XIX, các nghiên cứu về tâm lí trong việc sáng tạo khoa học bắt đầu được đề cập, nhiều kết quả nghiên cứu rất có ý nghĩa đối với giáo dục Đứng trước những yêu cầu đòi hỏi giáo dục cần có những thay đổi cho phù hợp với thời đại lúc bấy giờ, nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục được công bố, tiêu biểu trong thời kì này có John Dewey (1859 - 1952), ông chủ trương xây dựng một nền giáo dục học đi đôi với hành, học trong hành, lý luận gắn bó chặt chẽ với thực tiễn

Kurt Lewin (1890 - 1947) với mô hình nghiên cứu hành động và huấn luyện thực nghiệm đã nhấn mạnh kinh nghiệm là một khía cạnh quan trọng của việc học Nghiên cứu hành động là một chu trình xoắn ốc bao gồm các bước: lập kế hoạch, hành động

và tìm hiểu thực tế về kết quả của các hành động Những kinh nghiệm “ở đây và bây giờ” đã được giải thích thông qua quá trình thu thập dữ liệu và phản ánh chia sẻ kết quả nghiên cứu

Lý thuyết học tập của Kolb (1974) đề xuất bốn phong cách học tập khác nhau, dựa trên chu trình học bốn giai đoạn Kolb giải thích rằng mỗi người có một phong cách học tập riêng Các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến phong cách của một người

Ví dụ, môi trường xã hội, kinh nghiệm giáo dục, hoặc cấu trúc nhận thức cơ bản của

cá nhân David Kolb cho ra mắt mô hình phong cách học tập của ông vào năm 1984 và

kể từ đó ông tiếp tục xây dựng mô hình này Theo lý thuyết của Kolb, động lực cho sự phát triển các khái niệm mới đó là những kinh nghiệm mới

Theo Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm quốc tế thì Giáo dục trải nghiệm là một

phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích người học tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội

Trang 9

1.2.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Theo Nguyễn Minh Thuyết, Trải nghiệm là hoạt động mang tính tích hợp, trong

đó học sinh dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực và nhóm kỹ năng khác nhau để trải nghiệm thực tế đời sống, cũng như tham gia các hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của giáo viên; Tưởng Duy Hải với bài viết: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học vật lí ở trường phổ thông” đã trình bày kết quả nghiên cứu cơ sở lí luận và đề xuất tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học bộ môn Vật lí ở trường phổ thông theo mục tiêu phát triển năng lực học

sinh; Trần Thị Gái (2017) với bài viết: “Xây dựng mô hình hoạt động trải nghiệm

sáng tạo trong môn học theo định hướng phát triển năng lực học sinh” đã đề cập đến

một số vấn đề về định nghĩa, đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo, làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn học theo định hướng phát triển năng lực HS; Lê Thị Dung, Nguyễn Hoàng Đoan trong bài viết:

“Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức dạy học các môn khoa học tự nhiên theo phương thức trải nghiệm ở trường trung học cơ sở” Nhóm tác giả Nguyễn Mậu Đức, Nguyễn

Thị Phương Thuý với bài “Bồi dưỡng giáo viên tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong nhà trường phổ thông”

Tạp chí khoa học trường Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng - năm 2018: Dương

Xuân Quý và Trần Thị Huyền trong bài viết: “Xây dựng các hoạt động trải nghiệm

trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông” cho rằng: Việc lựa chọn và xây dựng chủ đề

trải nghiệm cần tuân thủ những nguyên tắc về nội dung, bối cảnh hoạt động; mức độ yêu cầu thời gian thực hiện và điều kiện tổ chức; đảm bảo được sự an toàn; có ý nghĩa, lợi ích với gia đình, nhà trường và cộng đồng; Phùng Việt Hải cùng nhóm tác giả Trần Kim Thảnh, Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Quý Tuấn, Nguyễn

Thị Xuân Hoài với bài viết: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm vận dụng kiến thức dòng

điện xoay chiều, vật lí 12 cho học sinh”; Lê Công Triêm, Nguyễn Thị Nhị cùng các tác

giả trong bài viết: “Giải pháp giảng dạy “Hoạt động trải nghiệm” trong đào tạo sinh

viên ngành sư phạm Vật lí đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”; Nhóm tác

giả Quách Nguyễn Bảo Nguyên, Ngô Tấn Minh, Đỗ Hùng Dũng, Phan Nhật Khánh

với bài viết: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí”

Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu:

- Những biện pháp tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong môn Vật lí lớp 10 THPT

- Tổ chức hoạt động trải nghiệm một số nội dung trong dạy học môn Vật lí thông qua các chủ đề phần động học, động lực học vật lí lớp 10 hướng đến phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

- Xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học phù hợp với nội dung dạy học và trình độ học sinh

Kết luận chương 1

Như vậy, năng lực sáng tạo của con người đã được nhân loại coi trọng và quan tâm nghiên cứu từ rất sớm, nhưng do ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và chế độ chính trị nên sự sáng tạo của con người có lúc cũng bị quên lãng Tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền văn minh nhân loại thì khoa học về sự sáng tạo của

Trang 10

con người ngày càng được tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ Trong lĩnh vực giáo dục, việc dạy học nhằm phát triển NLST của học sinh đã được đề cập đến khá nhiều trên thực tế cũng như trong các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã nêu lên được cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn việc phát triển NLST của học sinh Một số đề tài đã đi đến những giải pháp vận dụng vào quá trình dạy học các kiến thức trong chương trình vật lí hiện hành

Tuy nhiên nhiều vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển NLST của HS trong dạy học vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu, đặc biệt là những biện pháp tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá phát triển NLST của HS Hoạt động trải nghiệm trong môn học cũng là vấn đề còn khá mới đối với nhiều thầy cô giáo, việc vận dụng vào quá trình dạy học như thế nào là những vấn đề cần làm rõ trong bối cảnh giáo dục phổ thông hiện nay

Trang 11

CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 2.1 Năng lực Năng lực sáng tạo

2.1.1 Năng lực

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Năng lực là phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”

Theo giáo dục học và tâm lí học, Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của

cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động Năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy (kinh nghiệm, trải nghiệm)

Năng lực “được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá

nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả”

Như vậy: “Năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc

tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí để thực hiện tốt một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”

Theo tác giả Hoàng Hòa Bình, có thể hình dung cấu trúc của năng lực theo các nguồn lực hợp thành bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.2 Cấu trúc của năng lực theo các nguồn lực hợp thành

Minh họa cấu trúc năng lực theo mô hình tảng băng:

Phần nổi: kiến thức, kỹ năng, thái

Một số quan niệm về năng lực sáng tạo

Dưới góc độ tâm lí học thì: “Năng lực sáng tạo là cốt lõi của hoạt động sáng tạo, làm tiền đề bên trong của sáng tạo, hoạt động sáng tạo, đặc biệt nó được dựa trên chất lượng của năng lực tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, xúc cảm, động cơ và ý chí.”

Chúng tôi đồng ý với khái niệm của Phan Dũng: “Năng lực sáng tạo là năng lực

tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân nhờ vào tố chất độc đáo của cá nhân đó”

Các biểu hiện của năng lực sáng tạo trong dạy học Vật lí

1- Nhận ra ý tưởng mới, mạnh dạn đề xuất những cái mới không theo lối mòn

Phát hiện và làm rõ vấn đề, biết tự tìm ra vấn đề, tự phân tích và khái quát vấn đề

Trang 12

2- Hình thành và triển khai ý tưởng mới, biết vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề khoa học và ngược lại biết vận dụng những vấn đề khoa học để đưa ra sáng kiến Đề xuất, lựa chọn giải pháp giải bài tập sáng tạo (hoặc GQVĐ sáng tạo)

3- Giải bài tập sáng tạo (hoặc GQVĐ sáng tạo), kết hợp các thao tác tư duy đưa

ra kết luận chính xác, ngắn gọn

4- Trình bày được vấn đề một cách linh hoạt, dự kiến nhiều phương án giải quyết

Biết liên tưởng và khái quát vấn đề

5- Có động cơ học tập tốt, biết cách tự học hỏi, biết kết hợp các phương tiện kỹ thuật và ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình tự học

6- Ý chí học tập tốt, luôn luôn biết đánh giá và tự đánh giá công việc bản thân và

đề xuất biện pháp hoàn thiện

2.1.3 Đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lý

Nguyên tắc đánh giá năng lực

1 Đảm bảo tính giá trị; 2 Đảm bảo tính toàn diện và linh hoạt; 3 Đảm bảo tính công bằng và tin cậy; 4 Đánh giá cần quan tâm đến cả kết quả và những trải nghiệm của người học để có được kết quả đó; 5 Đánh giá trong bối cảnh thực tiễn và vì sự phát triển của người được đánh giá

Phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh

Xây dựng bảng hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí (Rubric)

Vận dụng các tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo trong các công trình khoa học hiện nay

Các tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo

1: Nhận ra ý tưởng mới; Phát hiện và làm rõ vấn đề; 2: Hình thành, triển khai ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn giải pháp; 3: Giải bài tập sáng tạo (hoặc GQVĐ sáng tạo); 4: Trình bày được vấn đề một cách linh hoạt, dự kiến nhiều phương án giải quyết; 5 Động cơ hành động; 6 Ý chí hành động

Từ những phân tích trên, chúng tôi xây dựng Rubric đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh như sau:

Bảng 2.1 Hệ thống các tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo

rõ thông tin, chưa có ý tưởng mới

Biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận

ra những vấn đề đơn giản

Biết xác định và làm

rõ thông tin,

ý tưởng mới đối với bản thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn

Biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận

ra những vấn

Biết xác định

và làm rõ thông tin, ý tưởng mới;

biết phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau Phân tích được tình huống trong học tập; phát hiện và nêu

Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông tin khác nhau;

Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống

Biết phân tích các nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tin cậy của ý tưởng mới

Phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống

Trang 13

đề đơn giản

và đặt được câu hỏi

được tình huống có vấn

đề trong học tập

ý kiến của người khác;

hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho;

Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn

đề

Đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp; so sánh

và bình luận được về các giải pháp đề xuất

Xác định được

và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyết vấn

đề

Nêu được nhiều

ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống; suy nghĩ không theo lối mòn; tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý tưởng khác nhau;

Biết thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề; biết

đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề

Hình thành và kết nối các ý tưởng; nghiên cứu để thay đổi giải pháp trước

sự thay đổi của bối cảnh; đánh giá rủi

ro và có dự phòng Lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất

Xây dựng được cách giải bài tập sáng tạo hoặc đề xuất được giải pháp (hay phương án) GQVĐ, có sự trợ giúp của giáo viên

Tự lực xây dựng được cách giải bài tập sáng tạo hoặc

đề xuất được giải pháp (hay phương án) GQVĐ nhưng cần phải chỉnh sửa, GQVĐ có “tính mới” (ý tưởng mới, phương pháp mới),

có sự trợ giúp của giáo viên

Tự lực xây dựng được cách giải bài tập sáng tạo hoặc

đề xuất được giải pháp (hay phương án) GQVĐ có “tính mới” (ý tưởng mới, phương pháp mới) GQVĐ có tính độc đáo

có sự trợ

giúp của

giáo viên

Trình bày được đầy đủ vấn đề về một sự vật, hiện tượng

có sự trợ giúp của giáo viên

Trình bày được đầy đủ vấn đề về một

sự vật, hiện tượng; so sánh

và bình luận được về các giải pháp đề xuất

Trình bày được đầy đủ vấn đề một cách linh hoạt đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp

Hứng thú, tự do trong trình bày; chủ động nêu ý kiến; không quá lo lắng

về tính đúng sai của

ý kiến đề xuất; phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến khác

Có động cơ tốt đẹp

Có động cơ mạnh mẽ thôi thúc, mong muốn hoàn thành tốt công việc

Luôn luôn có khát vọng sáng tạo và cống hiến, làm việc bất kể ngày đêm với

sự đam mê cao độ

đó

Có ý thức hoàn thành tốt nhiệm vụ

Luôn luôn vượt qua mọi khó khăn trở ngại

Luôn biến thất bại thành động lực sáng tạo nên cái mới

Ngày đăng: 29/05/2021, 10:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w