1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng nội dung ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu thể dục trường đại học TDTT đà nẵng

231 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BIỂU BẢNG 3.1 Thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy môn Thể dục Trường 3.2 Ý kiến phản hồi của sinh viên về công tác giảng dạy môn chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

Hà Nội – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của

riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận

án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Đỗ Ngọc Quang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục đại học 5 1.1.2 Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến đào tạo cán bộ quản lý, giáo viên, huấn luyện viên và hoạt động tập luyện ngoại

khóa Thể dục thể thao cho đối tượng học sinh, sinh viên các cấp 7

1.1.4 Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ 10

1.3.1 Những quy định chung về chương trình đào tạo 17 1.3.2 Chương trình đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ 19

1.4.1 Khái niệm ngoại khóa Thể dục thể thao 21 1.4.2 Khái niệm về trình độ chuyên môn 28 1.5 Đào tạo môn chuyên sâu Thể dục tại Trường Đại học TDTT

1.5.1 Đặc điểm môn chuyên sâu Thể dục 29

1.5.3 Đặc điểm cơ bản hoạt động ngoại khóa của sinh viên

chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng 33 1.5.4 Những yêu cầu chung khi xây dựng nội dung tập luyện

Trang 5

ngoại khóa cho Sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng 34 1.5.5 Cơ sở lý luận lựa chọn tiêu chí đánh giá hiệu quả nội dung

ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên

1.6.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 39 1.6.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 43 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 50 2.2.2 Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm 51

2.3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 58

3.1 Nghiên cứu thực trạng hoạt động ngoại khóa của sinh viên

chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng 59 3.1.1 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến trình độ chuyên môn

của sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng 59 3.1.2 Thực trạng hoạt động ngoại khóa của sinh viên CSTD 70 3.1.3 Đánh giá thực trạng trình độ chuyên môn của sinh viên

Trang 6

chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng 76 3.1.4 Thực trạng mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội đối với sinh viên

3.1.5 Sự cần thiết của việc tổ chức tập luyện ngoại khóa nâng cao

trình độ chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu Thể dục 86 3.1.6 Bàn luận về kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1 88 3.2 Xây dựng nội dung tập luyện ngoại khóa cho sinh viên

chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng 96 3.2.1 Cơ sở xây dựng nội dung tập luyện ngoại khóa cho

sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng 96 3.2.2 Xây dựng nội dung ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên

môn cho sinh viên chuyên sâu Thể dục 103 3.2.3 Xây dựng chương trình ngoại khóa cho sinh viên chuyên sâu

3.3.2 Đánh giá hiệu quả nội dung tập luyện ngoại khóa nâng cao

3.3.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu của mục tiêu 3 129

3 Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố có

4 Tài liệu tham khảo

Trang 7

DANH MỤC BIỂU BẢNG

3.1 Thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy môn Thể dục Trường

3.2 Ý kiến phản hồi của sinh viên về công tác giảng dạy môn

chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng 61

3.3 Số lượng, giới tính sinh viên chuyên sâu Thể dục

3.4 Thang điểm đánh giá nội dung môn chuyên sâu Thể dục tại

3.5 Chương trình đào tạo cho sinh viên chuyên sâu Thể dục

Trường Đại học TDTT Đà Nẵng theo niên chế 66

3.6 Chương trình đào tạo cho sinh viên chuyên sâu Thể dục

Trường Đại học TDTT Đà Nẵng theo hệ thống tín chỉ 67

3.7 Ý kiến phản hồi của sinh viên về nội dung, chương trình môn

3.8 Thực trạng cơ sở vật chất dành cho môn Thể dục 69

3.9 Kết quả quan sát thời điểm, thời gian sinh viên chuyên sâu Thể

3.10 Kết quả quan sát nội dung sinh viên chuyên sâu Thể dục

3.11

Thực trạng nhận thức về vai trò, tác dụng của việc tập luyện

ngoại khóa môn chuyên sâu Thể dục đối với việc nâng cao

trình độ chuyên môn

73

3.12 Ý kiến phản hồi của sinh viên chuyên sâu Thể dục về hứng thú,

mức độ, thời gian, thời điểm và địa điểm ngoại khóa 74

Trang 8

3.13 Ý kiến phản hồi của sinh viên về nhu cầu tập luyện ngoại khóa

3.14 Ý kiến phản hồi của sinh viên chuyên sâu Thể dục về hình thức

3.15 Kết quả học tập môn chuyên sâu Thể dục của sinh viên khóa

3.16 Kết quả học tập môn chuyên sâu của sinh viên chuyên sâu Thể

3.17 Kết quả học tập môn chuyên sâu của sinh viên chuyên sâu Thể

3.18 Năng lực tổ chức giờ học và triển khai phương pháp giảng dạy

của sinh viên chuyên sâu Thể dục năm thứ 3 78

3.19 Ý kiến phản hồi của cựu sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường

3.20 Ý kiến phản hồi của đơn vị cựu sinh viên chuyên sâu Thể dục

3.21 Ý kiến phản hồi về lĩnh vực công tác của sinh viên chuyên sâu

3.22 Ý kiến phản hồi nội dung chuyên sâu được sử dụng trong công

3.23 Ý kiến phản hồi của đơn vị tuyển dụng của đơn vị tuyển dụng

3.24 Ý kiến phản hồi của sinh viên về sự cần thiết của việc tổ chức

tập luyện ngoại khóa môn chuyên sâu Thể dục 87

3.25

Kết qủa phỏng vấn lần 1 lựa chọn nội dung xây dựng chương

trình ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho nam sinh

viên chuyên sâu Thể dục

105

Trang 9

3.26

Kết qủa phỏng vấn lần 1 lựa chọn nội dung xây dựng chương

trình ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho nữ sinh

viên chuyên sâu Thể dục

105

3.27

Kết qủa phỏng vấn lần 2 lựa chọn nội dung xây dựng chương

trình ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho nam sinh

viên chuyên sâu Thể dục

105

3.28

Kết qủa phỏng vấn lần 2 lựa chọn nội dung xây dựng chương

trình ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho nữ sinh

viên chuyên sâu Thể dục

105

3.29

Kết qủa phỏng vấn lần 1 lựa chọn tiêu chí đánh giá hiệu quả

nội dung ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh

viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng

115

3.30

Kết qủa phỏng vấn lần 2 lựa chọn tiêu chí đánh giá hiệu quả

nội dung ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh

viên viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng

115

3.31 Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nam sinh viên

chuyên sâu Thể dục trước thực nghiệm sư phạm 119

3.32 Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nữ sinh viên chuyên

3.33 Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nam sinh viên

chuyên sâu Thể dục sau 6 tháng thực nghiệm sư phạm 123

3.34 Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nữ sinh viên chuyên

sâu Thể dục sau 6 tháng thực nghiệm sư phạm 124

3.35 Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nam sinh viên

chuyên sâu Thể dục sau 12 tháng thực nghiệm sư phạm 125

3.36 Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn của nữ sinh viên chuyên

sâu Thể dục sau 12 tháng thực nghiệm sư phạm 127

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

3.1 Kết quả kiểm tra năng lực vận động chuyên môn của hai

3.2

Kết quả kiểm tra năng lực tổ chức giờ học và triển khai

phương pháp giảng dạy - kết quả học tập của hai nhóm

trước thực nghiệm

120

3.3 Kết quả kiểm tra năng lực vận động chuyên môn của nam

sinh viên chuyên sâu Thể dục sau 12 tháng thực nghiệm 125

3.4

Kết quả kiểm tra năng lực tổ chức giờ học và triển khai

phương pháp giảng dạy của hai nhóm sau 12 tháng thực

nghiệm

126

3.5 Kết quả kiểm tra năng lực vận động chuyên môn của nữ

sinh viên chuyên sâu Thể dục sau 12 tháng thực nghiệm 127

3.6

Kết quả kiểm tra năng lực tổ chức giờ học và triển khai

phương pháp giảng dạy - kết quả học tập của nữ sinh viên

chuyên sâu Thể dục sau 12 tháng thực nghiệm

128

DANH MỤC SƠ ĐỒ

3.1 Các bước tiến hành thực nghiệm ứng dụng nội dung tập

luyện ngoại khóa môn chuyên sâu Thể dục 114

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

Giáo dục là nền tảng cơ bản để phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Bất cứ quốc gia nào muốn đạt được các mục tiêu đề

ra cần phải phát triển giáo dục, bởi vì giáo dục gắn với việc đào tạo con người, nhân tố quan trọng nhất trong các nguồn lực để phát triển đất nước

Trong các bậc học ở nước ta, giáo dục đại học không chỉ giúp người học lĩnh hội tri thức ở mức độ cao nhất, sự trưởng thành về kiến thức mà còn

là cơ hội để họ đạt được các mục tiêu nghề nghiệp cá nhân Hơn nữa, giáo dục đại học còn đào tạo ra những người lao động có giá trị làm việc, giá trị kinh

tế, mức độ cống hiến, đóng góp…lớn nhất cho xã hội Chính vì vậy, giáo dục đại học rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng đầu tư

Giáo dục đại học trên thế giới đã khẳng định đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một trong những phương thức có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống, bởi việc tự học, tự nghiên cứu của người học được coi trọng-người học là trung tâm, độ linh hoạt của CTĐT giúp cho họ chọn được những môn học phù hợp, phát huy mạnh mẽ khả năng sáng tạo, tự chủ

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở nước ta đang được thực hiện ở bậc giáo dục đại học nhưng nhiều SV còn bỡ ngỡ và chưa thay đổi kịp với hình thức đào tạo này do không còn sự kiểm soát chặt chẽ của người dạy SV còn xa lạ với việc tự hoạch định nội dung và quản lý quá trình tự học của mình Chất lượng đào tạo của từng môn học trong nhà trường phụ thuộc nhiều vào sự quản lý, điều hành trong việc xây dựng chương trình, tổ chức hoạt động giảng dạy và sự nhiệt tình của GV các môn học và tính tích cực tự giác của SV

Thực hiện chủ trương của Chính phủ và quy định của Bộ GD-ĐT, Trường ĐH TDTT Đà Nẵng đào tạo theo hệ thống tín chỉ từ năm 2013 Đào tạo theo hình thức này, thời lượng các môn học nói chung và môn CSTD

Trang 13

được rút ngắn Để đáp ứng yêu cầu của CTĐT, có kết quả học tập tốt cũng như nâng cao trình độ chuyên môn SV cần phải tích cực, chủ động ngoại khóa Tuy nhiên, để ngoại khóa có hiệu quả thì cần có một nội dung phù hợp

và được tổ chức chặt chẽ, bài bản

Các môn thực hành nói chung và môn chuyên sâu Thể dục (CSTD) nói riêng của Trường Đại học TDTT Đà Nẵng được tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đào tạo theo hình thức này sinh viên CSTD phải tích cực tự học, ngoại khóa và giảng viên cần giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm thì mới đạt hiệu quả cao, tuy nhiên khai thác triệt để hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ hay tuyên truyền, khuyến khích SV tự học, ngoại khóa chưa được chú ý quan tâm đầy đủ Vì vậy, việc tập luyện ngoại khóa để nâng cao trình độ chuyên môn của sinh viên CSTD chỉ mang tính tự phát, chưa phát triển thành phong trào sâu rộng, hơn nữa việc chưa có một nội dung ngoại khóa phù hợp, khoa học cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc tập luyện

Trong quá trình nghiên cứu nhằm xây dựng một hệ thống lý luận và thực tiễn của công tác đào tạo liên quan đến giờ học không chính khóa, đã có

sự đóng góp rất đáng trân trọng của nhiều giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia, các nhà quản lý TDTT có kinh nghiệm như tác giả Mai Thị Thu Hà

(2014) “Nghiên cứu hiệu quả tập luyện và thi đấu Thể dục Aerobic trong hoạt động ngoại khoá đối với học sinh tiểu học” [27] Nguyễn Văn Long (2010)

“Nghiên cứu đề ra các giải pháp tổ chức tập luyện ngoại khoá nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn Điền kinh cho sinh viên Trường Đại học TDTT Đà Nẵng” [43] Nguyễn Mạnh Hùng (2015) “Đánh giá sự hứng thú đối với môn Thể dục dụng cụ của sinh viên khoa giáo dục thể chất Trường Đại học Vinh” [37] Phạm Việt Hùng (2015), “Thực trạng hoạt động ngoại khóa môn học thực hành của sinh viên khóa 48 ngành Quản lý Thể dục thể thao Trường Đại học TDTT Bắc Ninh” [38]

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ là định hướng mang tính

Trang 14

lý luận về cách tiếp cận các nội dung và hình thức tập luyện ngoại khóa cho học sinh, sinh viên Đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào xây dựng hoàn chỉnh nội dung tập luyện ngoại khóa cho sinh viên chuyên sâu Thể dục để nâng cao trình độ chuyên môn Vì vậy, với mong muốn góp phần

nâng cao chất lượng đào tạo môn CSTD, tôi chọn đề tài: “Xây dựng nội dung

ngoại khóa nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng”

Mục đích nghiên cứu: Xây dựng nội dung ngoại khóa phù hợp cho

sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng Thông qua đó, nâng cao trình độ chuyên môn cho sinh viên CSTD và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo chung của nhà trường

Mục tiêu nghiên cứu: Để đạt được mục đích của đề tài, các mục tiêu

nghiên cứu sau được đặt ra:

Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng hoạt động ngoại khóa của sinh viên

chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng

Để thực hiện mục tiêu 1, luận án tiến hành giải quyết các nội dung sau: Thực trạng đội ngũ GV và sinh viên CSTD

Chương trình đào tạo cho sinh viên CSTD

Thực trạng kết quả học tập chuyên môn của sinh viên CSTD

Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ công tác giảng dạy và tập luyện Thực trạng nội dung và hình thức ngoại khóa của sinh viên CSTD

Thực trạng nhu cầu ngoại khóa của sinh viên CSTD

Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động ngoại khóa của sinh viên CSTD

Ý thức tham gia ngoại khóa của sinh viên CSTD

Mục tiêu 2: Xây dựng nội dung ngoại khóa cho sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng

Xây dựng trên cơ sở dựa vào nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa TDTT đã được áp dụng rộng rãi từ trước đến nay

Trang 15

Xây dựng trên cơ sở phỏng vấn chuyên gia, GV và SV

Xây dựng dựa trên kế hoạch học tập chính khóa của sinh viên CSTD Xây dựng trên cơ sở kết quả học tập môn CSTD

Xây dựng dựa trên nhu cầu xã hội (các đơn vị sử dụng) đối với SV tốt nghiệp môn CSTD

Xây dựng được nội dung ngoại khóa phù hợp cho sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng

Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây dựng cho sinh viên chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng

Tiến hành thực nghiệm nội dung ngoại khóa đã xây dựng trên đối tượng sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng

Xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây dựng cho sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng

Kiểm nghiệm đánh giá hiệu quả nội dung ngoại khóa đã xây dựng và

hoàn thiện quá trình nghiên cứu

Giả thuyết khoa học: Tổ chức tập luyện khoa học, bài bản các nội

dung ngoại khóa đã xây dựng thì trình độ chuyên môn của sinh viên CSTD sẽ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao về TDTT cho đất nước

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giáo dục đại học ở nước ta

1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục đại học

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục

và đào tạo thế hệ trẻ, coi đó là quốc sách hàng đầu

Trước những đòi hỏi cấp bách về nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta khẳng định, một trong những nhiệm vụ cốt yếu để phát triển trí tuệ cho nhân dân là nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục-đào tạo và khoa học

công nghệ Vì vậy, từ Nghị quyết Đại hội VII, Đảng ta đã coi giáo dục và

đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu Đến các kỳ Đại hội Đảng VIII, IX, X, XI, XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định đường lối phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, quán triệt quan điểm coi giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu

Trải qua các cuộc cải cách có đánh giá kết quả và đúc rút kinh nghiệm

từ thực tiễn, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đưa ra Kết luận số KL/TW, ngày 29/10/2012 Hội nghị lần thứ 6: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo bao gồm: đổi mới tư duy; đổi mới mục tiêu đào tạo; hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; nội dung, phương pháp dạy và học; cơ chế quản lý; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện bảo đảm, trong toàn hệ thống (giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, đào tạo nghề” [89]

51-Đặc biệt là vấn đề đổi mới giáo dục đại học, Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương khóa XI, số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 đã nêu rõ mục tiêu cụ thể: “Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học” [2]

Trang 17

Nghị quyết trên đã nhấn mạnh, trong giáo dục đại học cần chú trọng hơn nữa đến phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của SV Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, chủ động lập kế hoạch học tập và thực hiện, trên cơ sở đó tạo cơ hội học tập suốt đời

Quyết định số 711/QĐ-TTg, ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục của nước ta giai đoạn

2011-2020 đã chỉ rõ: “…đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm

và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới” [72]

Công văn số 184/2016/BGDĐT-VP, ngày 18/01/2016 của Bộ GD-ĐT

về việc triển khai đánh giá giai đoạn I, Chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo năm 2011-2020 theo Quyết định số 711/QĐ –TTg, ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu ra mục đích: “Đề xuất, kiến nghị điều chỉnh lại một

số chỉ tiêu, giải pháp mới trong thực hiện giai đoạn II Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 cho phù hợp với thực tế ” [10]

Hơn nữa, Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chỉ thị số 1973-CT/Tg, ngày 07/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh: “Tiếp tục chỉ đạo việc biên soạn chương trình, giáo trình về đạo đức Hồ Chí Minh để giảng dạy ở các cấp học, bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp” [71]

Tóm lại, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến lĩnh vực giáo dục, nhất

là giáo dục đại học, coi tự học, tự đào tạo là vấn đề mấu chốt có vị trí rất quan trọng trong chiến lược giáo dục của đất nước Bởi vì, chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về

Trang 18

tri thức khoa học, về đời sống xã hội Vì vậy, giáo dục SV có khả năng tự học,

tự nghiên cứu, làm việc độc lập là rất cần thiết trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, giúp SV ra trường có thể thích nghi với môi trường làm việc mới

và không bị bỡ ngỡ, mất thời gian để thích ứng hoặc phải đào tạo lại

1.1.2 Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến đào tạo cán bộ quản

lý, giáo viên, huấn luyện viên và hoạt động ngoại khóa Thể dục thể thao cho đối tượng học sinh, sinh viên các cấp

Để tăng cường thể chất cho nhân dân trong thời kỳ kháng chiến Trên báo Cứu quốc, ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, chính Người đã nêu gương: “Tự tôi, ngày nào cũng tập" [35]

Điều 20, Luật Thể dục, thể thao (2006) đã nêu rõ: “Hoạt động thể thao

trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao” [58]

Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục, thể thao đến năm 2020: “Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học Thể dục, thể thao Tập trung xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, giáo viên Thể dục, thể thao, huấn luyện viên, cán bộ quản lý có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển

Trang 19

của học sinh, sinh viên; tiếp tục phát triển các trường lớp năng khiếu thể thao

để phát hiện, đào tạo tài năng thể thao quốc gia” [18]

Quyết định số 641/QĐ-TTg, ngày 28/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030: “Nâng cao chất lượng giờ học thể dục chính khóa; tổ chức các hoạt động Thể dục, thể thao ngoại khóa, hướng dẫn học sinh tự tập luyện Thể dục, thể thao để tăng cường thể lực, cải thiện chiều cao thân thể” [70]

Quyết định số 2198/QĐ-TTg, ngày 03/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt về thực hiện Chiến lược phát triển Thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 nêu ra các hạn chế: “Công tác giáo dục thể chất trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho học sinh, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực” [69]

Từ đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, huấn luyện viên TDTT và việc tập luyện ngoại khóa TDTT cho đối tượng là học sinh, SV các cấp để nâng cao thể chất, sức khỏe của các tầng lớp nhân dân phục vụ công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.1.3 Chất lượng đào tạo đại học

Đào tạo là một hoạt động được tổ chức có hệ thống theo một trình tự nhất định để trang bị, truyền thụ cho người học kỹ năng thực hiện nghề nghiệp và động lực làm việc, tạo ra giá trị của cải cho xã hội Nâng cao chất lượng đào tạo đại học giúp SV có những kỹ năng, kiến thức, tư duy sáng tạo,

có khả năng làm việc, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động nhân lực

Nguyễn Như Ý (1998), từ điển tiếng Việt: “Chất lượng là cái tạo nên

phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc, cải tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [90]

Trang 20

Nguyễn Đức Chính: “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hay sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, rộng, đa chiều và với những người khác nhau có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó” [16]

Hoàng Phê và cộng sự (1998): “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [57]

Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh: “Chất lượng là sự tuyệt hảo,

hoàn mỹ, chuẩn mực cao” [20]

Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có ý nghĩa khác nhau Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu về chất lượng cũng khác nhau Nói như vậy, không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn luôn thay đổi Tuy nhiên, cần tuân thủ một

số đặc điểm sau của khái niệm chất lượng: Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng

Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía người sử dụng còn từ các bên có liên quan Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình

Từ đó, có thể khái quát, chất lượng là thuộc tính bản chất của sự vật, là mức độ thể hiện của sản phẩm ấy đối với những chuẩn mực đã được quy định trước, là sự thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng

Các quy định của Bộ GD–ĐT về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học, đã định nghĩa: “Chất lượng giáo dục trường đại học là sự đáp

Trang 21

ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho

sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và cả nước” [7]

Thông tư số 12/2017/TT-BGDĐT, ngày 19/5/2017 của Bộ GD-ĐT về việc ban hành quy định kiểm định chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học: “Chất lượng của cơ sở giáo dục đại học là sự đáp ứng mục tiêu do cơ sở giáo dục đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật giáo dục đại học, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và cả nước” [12]

Cụ thể, có thể quy thành các yếu tố tạo nên chất lượng đào tạo đại học, gồm chuẩn đầu ra; chương trình đào tạo; tổ chức quy trình đào tạo; phát triển đội ngũ giảng viên; hệ thống giáo trình, sách tham khảo; tình hình các phòng thí nghiệm, thực hành; thư viện, Internet; đánh giá chất lượng đào tạo; vai trò nghiên cứu khoa học với chất lượng đào tạo thực tế ở trường

Chất lượng dạy học đại học phụ thuộc vào đội ngũ GV, SV, chương trình đào tạo Các nhà khoa học cho rằng: “Sản phẩm được coi là có chất lượng khi chúng đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng” [33]

Chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục đại học được quy định: “Kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện theo chu kỳ 5 năm/lần” [5]

Xu thế toàn cầu hóa trong giáo dục đại học đang diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh có mức độ khốc liệt lớn Trong cuộc cạnh tranh đó, trường nào có thương hiệu mạnh sẽ thắng cuộc và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chính

là thương hiệu mạnh của trường đó

1.1.4 Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ

Nghị quyết số 06/NQ-CP, ngày 07/3/2012 về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ đã nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục

và đào tạo” [17]

Trang 22

Phần 3, điều 3, Quyết định số 17/2014/VBHN-BGDĐT, ngày

15/5/2014 của Bộ GD-ĐT về việc ban hành quy chế đào tạo cao đẳng, đại học chính quy theo hệ thống tín chỉ đã quy định rõ: “Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân” [8]

Nguyễn Trọng Hải (2013), trong bài viết: “Vài nét về đào tạo tín chỉ và một số nhiệm vụ, giải pháp của việc đào tạo tín chỉ trong các cơ sở giáo dục đại học của ngành Thể dục, thể thao”, tín chỉ cũng tương tự như đơn vị học trình, đều là đơn vị đo khối lượng học tập của người học, nhưng khác ở chỗ người học phải mất 15 giờ chuẩn bị cá nhân để tiếp thu 1 đơn vị học trình, trong khi phải mất 30 giờ mới tiếp thu được 1 tín chỉ Nghĩa là học chế tín chỉ đòi hỏi thời gian tự học nhiều hơn [30]

Bản chất của phương pháp đào tạo này là phát huy tính tích cực, chủ động, trong đó tự học, tự nghiên cứu là yếu tố quyết định kết quả học tập của

SV được đào tạo theo hệ thống tín chỉ Có thể khẳng định, tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của SV đang học tập tại các trường đại học

Phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy và học, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Trong phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ thì tự học, tự nghiên cứu của người học được coi trọng, được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình Người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu của thị trường lao động ngoài xã hội Mọi phương thức đào tạo đều lấy quá trình dạy học làm trọng tâm Trong phương thức đào tạo truyền thống, vai trò của người dạy được coi trọng (lấy người dạy làm trung tâm) Ngược lại, trong phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ tín chỉ, vai trò của người học được đặc biệt coi trọng (lấy người học làm trung tâm) Đường hướng lấy người học

Trang 23

làm trung tâm được quán triệt từ khâu thiết kế chương trình, biên soạn nội dung giảng dạy và sử dụng phương pháp giảng dạy

Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Như Ý (1998), đã nêu lên tư tưởng chủ đạo của giáo dục-đào tạo nước ta: “Tự học, tự đào tạo-tư tưởng chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam” [73]

Có thể nói, tự học là một trong những vấn đề cơ bản nhất của công tác giáo dục-đào tạo con người, đặc biệt là trong giáo dục đại học, bước phát triển cao nhất của giáo dục đó là tự giáo dục Vấn đề này đã được đề cập đến rất nhiều trong các văn bản của Đảng và Nhà nước, các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học liên quan đến công tác giáo dục và đào tạo con người, nguồn lực cho đất nước

1.2 Tự học

1.2.1 Quan điểm về tự học

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về vấn đề tự học, tự rèn luyện Trong lý lịch tự khai ở Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 cũng như tham

dự một số hội nghị và đại hội của Quốc tế Cộng sản năm 1924, Người đều ghi

ở phần trình độ học vấn là: Tự học Năm 1961, tại Hội nghị chuyên đề SV quốc tế họp ở Việt Nam, Người kể: “Về văn hóa: Tôi chỉ học hết lớp tiểu học Về hiểu biết phổ thông: Năm 17 tuổi, tôi mới thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 20 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên ” [45]

Ngày 17/8/1962, nói chuyện với giáo viên, học sinh trường Thanh niên

lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình, Bác kể lại: “Trước đây lúc tuổi thanh

niên, Bác hoạt động ở Pháp, cũng vừa lao động, vừa học tập, nhưng lúc đó lao động là lao động nô lệ cho đế quốc Bác phải làm thế để tự kiếm sống, nhưng vẫn dành thì giờ để học tập, ngày lao động, đêm học tập, chứ Bác không được

đến trường học đâu” [47]

Người quan niệm: “Tự học là cách học tự động và phải biết tự động học tập Tự động học tập tức là tự học một cách tích cực tự giác, chủ động

Trang 24

không cần ai phải nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác tích cực, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình” [46]

Nguyễn Hiến Lê cho rằng: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm….người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được” hay: “Tự học là cần thiết nhưng không phải là một sự bắt buộc; ta hoàn toàn được tự do, tự chủ, nhờ vậy nó là một cái thú” [42]

Tự học là hình thức hoạt động cá nhân do bản thân người học nỗ lực thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập ở trên lớp hay ngoài lớp Có thể diễn ra khi còn đang học, khi đã ra trường và trong suốt cả cuộc đời” hay “Tự học là một quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội trong hoạt động thực tiễn của

cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ mới cải tiến kinh nghiệm trau dồi, đối chiếu các mô hình phản ánh thực tại biến tri thức của loài người thành vốn tri thức kinh nghiệm KNKX của bản thân chủ thể

Ở một khía cạnh nào đó, người ta xem tự học là tự hoạt động, là hình thức cùng một lúc người học tự thực hiện đồng thời vị trí của hai chủ thể: người dạy và người học Nói như vậy, không có nghĩa là chỉ khi nào không có thầy hướng dẫn thì mới tự học, tự khám phá tri thức mà kể cả khi có người hướng dẫn thì hoạt động tự học vẫn cứ diễn ra, tiến hành hoạt động tự học để đạt được mục đích, mục tiêu của mình đề ra Hoạt động tự học có thể diễn ra

ở mọi lúc mọi nơi, cứ khi nào người học huy động mọi khả năng nhận thức hiện có của mình tiến hành các hoạt động tìm tòi, khám phá, tự giác đứng trước các hiện tượng của thế giới khách quan là lúc đó họ đang tự học

Lưu Xuân Mới: “Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ xảo của bản thân người học Nói cách khác, tự học

là hình thức hoạt động nhận thức cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và

Trang 25

kỹ năng do chính sinh viên tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã quy định” [48]

Tự học là hoạt động có mục đích của con người, là điều cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức, nó có vai trò đặc biệt quan trọng-một trong những yếu tố tạo nên trí tuệ của con người Theo tác giả Hà Thị Mai: “Tự giáo dục bắt đầu bằng việc xây dựng các mục tiêu lý tưởng cho tương lai, tiếp đó là tìm các biện pháp và quyết tâm thực hiện mục tiêu đã xác định thường xuyên tự kiểm tra các kết quả và phương thức thực hiện, tìm các giải pháp sáng tạo mới, xác định quyết tâm mới để hoàn thiện bản thân Mỗi con người là sản phẩm của chính mình, tự giáo dục chính là phương pháp tự khẳng định” [44]

Từ nhu cầu thực sự, con người sẽ có động cơ mạnh mẽ để hoạt động, học tập và làm việc có hiệu quả bởi do thấy được sự cần thiết phải thực hiện các hành động như vậy Khi con người có nhu cầu thực sự sẽ nảy sinh ra tính tích cực tự giác hoạt động, học tập, lao động: “Nguồn gốc của tính tích cực và hoạt động cá nhân của con người là nhu cầu” [88]

Tự học phải được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, tự giác và hoàn toàn không có sự ép buộc hoặc áp lực từ bất cứ điều gì thì nó sẽ có hiệu quả cao nhất, có nghĩa là nó phải mang đến hứng thú nhất định cho đối tượng tự học Tính tích cực của tự học trong giáo dục và đào tạo đã được thấy rõ Tuy nhiên, nếu tự học không có phương pháp, không có đường lối và sự hướng dẫn của thầy cô thì sẽ dẫn đến những sai lầm, làm lãng phí thời gian, công sức của người học Hơn nữa, việc sửa chữa lại những sai lầm đã được định tính,

ăn sâu lại càng khó khăn hơn việc thực hiện giảng dạy, học tập ban đầu

Nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo (2013), khi bàn về vấn đề tự học đã nêu: “Trên con đường học vấn của người tự học nhan nhản những cạm bẫy cực kỳ nguy hiểm khiến cho tri thức của họ có nguy cơ lệch lạc hoặc chứa những lỗ hổng rất lớn mà bản thân họ không hay biết” [32]

Trang 26

Nếu tổ chức tốt công tác tự học sẽ giúp cho SV phát triển tính tự giác, tích cực và độc lập nhận thức, khắc phục tính bị động, ỷ lại vào thầy hoặc những người khác Làm quen với cách thức làm việc độc lập-tiền đề, cơ sở để nâng cao học vấn đáp ứng sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong thực tiễn công tác sau này Bồi dưỡng hứng thú học tập, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, nâng cao niềm tin và năng lực bản thân

Tóm lại, tự học, tự trang bị kiến thức cho mình là một hoạt động có mục đích của con người, diễn ra hoàn toàn tự giác, chủ động, người học biết

tự lập kế hoạch học tập và thực hiện, bố trí thời gian để biến kiến thức của nhân loại thành kiến thức cần thiết cho mình Tự học, tự giáo dục được coi là mức độ cao nhất của giáo dục trong mọi thời đại

1.2.2 Tự học trong giáo dục đại học

Tự học là một khâu rất quan trọng trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, chỉ có tự học mới giúp SV hiểu rõ được kiến thức, hoàn thiện những khiếm khuyết của bản thân, trang bị thêm những tri thức cần thiết khác mà trong quá trình học tập tại trường lớp còn thiếu, tăng cường được tính chủ động, sáng tạo trong học tập, nghiên cứu Hơn nữa, nhờ có thực tiễn

tự học của SV mà phương pháp, bài giảng, tài liệu của giảng viên được phong phú, hấp dẫn, mang tính thực tiễn cao

Theo bản chất của lý luận dạy học đại học thì tự học, tự giáo dục của

SV bao gồm toàn bộ môi trường học tập được tổ chức bởi GV với mục tiêu hướng đến tự đào tạo cho người học Tự học, tự giáo dục là hoạt động học tập, rèn luyện diễn ra mà không có sự tham gia trực tiếp của người dạy

Tự học ở bậc đại học là một trong những hình thức tổ chức dạy học cơ bản có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học, coi đó là một nét đặc trưng của người học

Theo tác giả Đồng Văn Triệu: “Tự học-một hoạt động đặc trưng cơ bản của sinh viên” [76], [77]

Trang 27

Đúng vậy, đào tạo trình độ đại học chủ yếu là hướng dẫn, định hướng cho SV có phương pháp tự học, tự nghiên cứu, tự tìm tòi Phát huy tính chủ động, sáng tạo để tìm ra quy luật, những nhân tố mới của hiện tượng, sự vật

để SV có một kết luận đúng đắn nhất Hơn nữa, tự học là nhu cầu, một năng lực cần có của người SV trong thời đại ngày nay, do đó mục tiêu quan trọng nhất của nhà trường không những trang bị cho người học tri thức mà còn phải trang bị cho SV phương pháp tự học, tự rèn luyện Ngoài việc hoàn thành các nhiệm vụ học tập theo chương trình đào tạo, nhờ tự học SV còn có thể nâng cao trình độ văn hóa chung cho mình đáp ứng yêu cầu của cuộc sống đặt ra Nếu tổ chức tốt công tác tự học sẽ giúp cho SV:

Phát triển tính tự giác tích cực và tính độc lập trong nhận thức và hành động, khắc phục tính thụ động, ỷ lại vào thầy hoặc người khác

Đáp ứng được phương pháp đào tạo tiên tiến

Bồi dưỡng hứng thú học tập, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì nhẫn lại, óc phê phán, kỹ năng giao tiếp, nâng cao niềm tin vào năng lực của bản thân mình

Trong giáo dục đại học, nhất là đào tạo theo hệ thống tín chỉ đòi hỏi SV phải nắm được các quy luật của triết học: “Sự thay đổi về lượng của sự vật có ảnh hưởng tới sự thay đổi về chất và ngược lại, sự thay đổi về chất của sự vật tương ứng với thay đổi về lượng của nó” [66]

Nguyên nhân nào thì đưa ra kết quả đó: “…nguyên nhân quyết định kết quả, nguyên nhân có trước, kết quả có sau Nguyên nhân nào thì sinh ra kết quả đó” [1]

Theo đó, trong hoạt động nhận thức cũng như thực tiễn học tập, SV cần tích lũy về lượng kiến thức, kỹ năng, điểm số cao đến một mức độ nào đó sẽ làm biến đổi về chất như kết quả học tập, năng lực làm việc Cố gắng học tập đúng phương pháp sẽ có kết quả học tập như mong muốn

Trang 28

Có thể nói dù có học trường gì, GV nổi tiếng đến đâu, thì nhân tố quan trọng nhất, quyết định kết quả mỹ mãn của quá trình đào tạo vẫn là cái công

tự học của SV Tự học ở đây chỉ cái phần tích cực, chủ động, quyết đoán của

SV Vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình học tập vẫn là vai trò của SV Tuy tự học có ý nghĩa quyết định đến kết quả học tập của SV nhưng nhân tố người thầy cũng rất quan trọng Người thầy mang một vai trò rất quan trọng trong việc tu dưỡng đạo đức, rèn luyện, hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách người học Điều đó đã được ông cha ta quan niệm, khẳng định từ hàng nghìn đời nay Người thầy như thế hệ đi trước, trải qua nhiều tình huống sư phạm, có kinh nghiệm nghề nghiệp, kinh nghiệm trong cuộc sống, nay truyền thụ lại kiến thức cho người học, mở đường chỉ lối, giúp người học có con đường đúng đắn nhất để đi Thầy là người truyền đạt kiến thức, có tầm quan trọng rất lớn, là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình học tập và rèn luyện của người học Bất kì kiến thức nào, kinh nghiệm nào cũng là kết quả của trí tuệ đúc rút qua nhiều năm, nhiều thế hệ Vì vậy, không có thầy dạy thì sẽ rất khó khăn trong việc nắm bắt tri thức của nhân loại

Như vậy, hiệu quả của giáo dục đại học phụ thuộc rất nhiều vào sự tự học, tự nghiên cứu của SV, hiểu được bản chất vấn đề này giúp cho GV có biện pháp kích thích SV tự giác, tích cực rèn luyện, có động cơ, hứng thú học tập sâu sắc, lĩnh hội những tri thức, bổ sung kiến thức còn thiếu, say mê học tập để đạt được kết quả cao nhất, sao cho thời gian, công sức bỏ ra học tập, lao động ít nhất nhưng thu được hiệu quả cao nhất Hơn nữa, để học tập hiệu quả SV cần nắm vững những yếu tố ảnh hưởng, tác động tới tự học để có phương pháp phù hợp cho mình Trong đó, vai trò của người dạy vẫn là yếu tố quan trọng đối với việc lĩnh hội tri thức và hoàn thiện bản thân người học

1.3 Chương trình đào tạo đại học

1.3.1 Những quy định chung về chương trình đào tạo

Trang 29

Lê Viết Khuyến trong một số công trình nghiên cứu đã phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề về chương trình đào tạo, thiết kế chương trình, tổ chức triển khai trương trình đào tạo bậc đại học theo hệ thống tín chỉ và đổi mới phương thức quản lý nhà nước về chương trình nội dung đào tạo đại học và cao đẳng theo tinh thần Luật Giáo dục [40], [41]

Luật Giáo dục đại học (2012) phần a, điều 36 quy định: “Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học gồm: mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; nội dung đào tạo, phương pháp đánh giá đối với mỗi môn học và ngành học, trình độ đào tạo; bảo đảm yêu cầu liên thông giữa các trình độ và với các chương trình đào tạo khác” [59]

Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT, ngày 16/6/2015 của Bộ GD-ĐT về việc ban hành khối lượng kiến thức tối thiểu về năng lực người học phải đạt được sau khi tốt nghiệp: “Chương trình đào tạo là hệ thống kiến thức lý thuyết

và thực hành được thiết kế đồng bộ với phương pháp giảng dạy, học tập và đánh giá kết quả học tập để đảm bảo người học tích lũy được kiến thức và đạt được năng lực cần thiết đối với mỗi trình độ giáo dục đại học” [9]

Nguyễn Hữu Chí định nghĩa về chương trình: “Chương trình giáo dục

là sự trình bày có hệ thống một bản kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập… nhằm đạt được mục tiêu học tập đã đề ra” [15]

Trong quan điểm này, CTĐT là văn bản thiết kế cho hoạt động đào tạo

có kế hoạch tổng thể trong một thời gian nhất định Trong đó, thể hiện rõ về mục tiêu, phương pháp, yêu cầu cần đạt được và cách đánh giá quá trình học tập của người học

Tóm lại, CTĐT của các trường đại học được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ GD-ĐT quy định Chương trình được xây dựng với

Trang 30

sự tham gia của GV, cán bộ quản lý, đại diện của các tổ chức, hội nghề nghiệp SV và các nhà tuyển dụng lao động theo quy định CTĐT có mục tiêu

rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, được thiết kế một cách hệ thống, đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của đào tạo trình độ đại học và đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực của thị trường lao động

1.3.2 Chương trình đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ

Khung chương trình đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ

Chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ được thực hiện theo Văn bản hợp nhất số 17/2014/VBHN-BGDĐT, ngày 15/5/2014 của Bộ GD-ĐT và Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 15/8/2007 và Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT, ngày 27/12/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều quy chế đào tạo cao đẳng, đại học chính quy, theo đó: “Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành, kiểu ngành chính-ngành phụ, kiểu 2 văn bằng) và được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp” [8]

Theo Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT, ngày 16/6/2015 của Bộ

GD-ĐT, khối lượng kiến thức của CTĐT: “Trình độ đại học: 120 tín chỉ Đối với những ngành có thời gian đào tạo 5 năm hoặc 6 năm thì khối lượng kiến thức tích lũy tối thiểu tương ứng là 150 hoặc 180 tín chỉ” [9]

Từ những văn bản mang tính pháp quy, các cơ sở giáo dục đại học căn

cứ biên soạn CTĐT phù hợp với thực tiễn giảng dạy và học tập tại đơn vị mình Khi biên soạn cần chú ý đến những quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện thực hiện, cách đánh giá…đặc biệt cần cân đối giữa các nội dung chính khóa và nội dung ngoại khóa của SV Bởi vì, đào tạo theo hệ thống tín chỉ đòi hỏi có sự chuẩn bị giờ tự học, ngoại khóa để phục vụ cho giờ chính khóa

Tóm lại, CTĐT theo hệ thống tín chỉ trong các cơ sở giáo dục đại học phải được thiết kế theo đúng quy định của Bộ GD-ĐT về mục tiêu, khối lượng đào tạo…và đảm bảo thời lượng cho tự học, tự nghiên cứu của SV

Trang 31

Chương trình đào tạo đại học ngành giáo dục thể chất của Trường Đại học TDTT Đà Nẵng

GDTC là một hình thức giáo dục nhằm trang bị KNKX vận động và tri thức chuyên môn (giáo dưỡng) phát triển các tố chất thể lực tăng cường sức khoẻ Từ khái niệm trên cho thấy, GDTC thực chất là một phần của giáo dục,

có nội dung dạy học chuyên biệt, đặc thù là dạy học động tác và phát triển các

tố chất thể lực cho người học Thực hiện quyết định của Bộ GD–ĐT về việc chuyển đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Do vậy, toàn bộ CTĐT ngành GDTC được Trường Đại học TDTT Đà Nẵng

tổ chức xây dựng theo các văn bản sau:

Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT, ngày 17/02/2011, của Bộ GD-ĐT về việc ban hành Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng [4]

Quyết định số 550/2013/QĐ-BGDĐT, ngày 13/02/2013 của Bộ GD-ĐT giao Trường Đại học TDTT Đà Nẵng đào tạo ngành Giáo dục thể chất trình

độ đại học hệ chính quy Đây là nhiệm vụ chính trị của nhà trường, đào tạo nguồn nhân lực TDTT cho miền Trung, Tây Nguyên và cả nước [6]

Quyết định số 1636/QĐ-TDTTĐN, ngày 21/12/2015 của Trường Đại học TDTT Đà Nẵng về việc ban hành CTĐT đại học hệ chính quy ngành GDTC theo hệ thống tín chỉ, trong đó: “Khối lượng kiến thức toàn khoá là:

130 tín chỉ chưa kể nội dung Giáo dục Quốc phòng-An ninh” [83]

Trong chương trình này, ngoài các môn học đại cương, môn học bắt buộc, tự chọn còn có các môn học thực hành, trong đó chuyên ngành thuộc môn học bắt buộc Đặc biệt, trong thiết kế chương trình đào tạo theo quy định, đòi hỏi phải có giờ chuẩn bị cá nhân của SV trước khi lên lớp chính khóa Vì vậy, rất cần thiết phải xây dựng nội dung ngoại khóa cho SV

Chương trình đào tạo được định kỳ đánh giá theo Thông tư số

Trang 32

04/2016/TT-BGDĐT, ngày 14/3/2016 của Bộ GD-ĐT về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, trong đó thang đánh giá có 7 mức và 11 tiêu chuẩn [11]

Quyết định số 1572/QĐ-TDTTĐN, ngày 29/9/2015 của Trường Đại học TDTT Đà Nẵng về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động Hội đồng khoa học và đào tạo Có nhiệm vụ tham mưu cho Hiệu trưởng đổi mới và phát triển chương trình đào tạo, xây dựng và sửa đổi, bổ sung quy chế, quy định….[82]

Trong quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhà trường đã ban hành

sổ tay SV, trong đó hướng dẫn nhiều nội dung quan trọng trong đào tạo như các biểu mẫu liên quan đến công tác đào tạo, thông tin về thư viện, nội quy học tập,Website nhà trường…

Tóm lại, ngành GDTC trong các trường Đại học TDTT chủ yếu là đào tạo cán bộ, giáo viên, HLV để giảng dạy, hướng dẫn các kỹ năng, tổ chức các hoạt động thể thao cho trường học các cấp, trung tâm huấn luyện VĐV Việc trang bị kiến thức cho SV được thực hiện theo chương trình khung và các quy định của Bộ GD-ĐT trên cơ sở tham khảo ý kiến của chính SV, GV, các trường đại học, các đơn vị tuyển dụng, phù hợp với thực tiễn, đặc điểm riêng của từng trường với mục tiêu: SV tốt nghiệp có khả năng giảng dạy môn học GDTC trong các trường học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và có thể đảm nhận công việc của người cán bộ TDTT trong các cơ quan quản lý xã hội, tổ chức hoạt động kinh doanh và cơ quan quản lý nhà nước

1.4 Các khái niệm liên quan

1.4.1 Khái niệm ngoại khóa Thể dục thể thao

1.4.1.1 Ngoại khóa

Hoạt động ngoại khóa nói chung là khái niệm chỉ hoạt động giáo dục ngoài giờ học chính thức dựa trên tính chất tự nguyện của người tham gia Có thể là một buổi thảo luận, sinh hoạt các câu lạc bộ thể thao, toán học…

Trang 33

Theo từ điển tiếng Việt của các tác giả Kỳ Duyên, Ngọc Hằng, Đăng Khoa (2014): “Ngoại khóa là môn học ngoài giờ (ngoài chương trình chính thức lên lớp” [22]

Theo Wiktionary từ điển mở tiếng Việt: “Ngoại khóa là hoạt động giáo dục ngoài giờ học chính thức” [92]

Tác giả Hoàng Phê và cộng sự (1998): “Ngoại khóa: môn học hoặc hoạt động giáo dục ngoài giờ, ngoài chương trình chính thức; phân biệt với nội khóa” [57]

Có thể thấy, hoạt động ngoại khóa là tất cả các hoạt động nằm ngoài chương trình chính khóa thường mang tính chất tự nguyện hơn là bắt buộc, có nội dung phong phú, đa dạng để lựa chọn, phù hợp với khả năng, sở thích của người tham gia và không bị giới hạn nhiều về mặt thời gian Hoạt động này

bổ sung hoặc làm tăng thêm nhiều các kỹ năng, kiến thức, thể lực, thể chất…

có tầm quan trọng trong việc phát triển con người toàn diện

Vì vậy, có thể khái quát hoạt động ngoại khóa là tất cả những hoạt động nằm ngoài giờ lên lớp, không nằm trong chương trình chính khóa

Trên cơ sở đó, có thể hiểu khái niệm ngoại khóa là một phần trong khái niệm tự học Hai khái niệm này về bản chất là đồng nhất, tuy nhiên khái niệm

tự học mang tính bao trùm, khái quát hóa và mang nhiều tính xã hội Còn khái niệm ngoại khóa mang tính chuyên môn hẹp, đi sâu vào một lĩnh vực nào đó

Mối quan hệ giữa giờ học chính khóa và ngoại khóa

Hoạt động ngoại khóa và giờ học chính khóa có mối liên hệ chặt chẽ, tương hỗ nhau trong hoạt động giảng dạy và học tập: “Giữa công việc học tập

và hoạt động ngoại khóa có mối liên hệ qua lại và tính kế thừa” [14]

Giờ học chính khóa: Theo nội dung, chương trình, kế hoạch…được quy định chặt chẽ, giữa vai trò chi phối, quyết định

Hoạt động ngoại khóa gắn liền với chương trình chính khóa: hoạt động ngoại khóa thực chất là sự tiếp nối hoạt động chính khóa trên lớp, là con

Trang 34

đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, tạo cơ hội cho SV rèn luyện sức khỏe và phát huy tối đa năng lực,

sở thích cá nhân Trong hai hoạt động thì hoạt động chính khóa là tiền đề cơ

sở, là nền tảng; hoạt động ngoại khóa là đòn bẩy, là điều kiện để hoàn thiện thêm những khiếm khuyết còn thiếu của năng lực bản thân SV Nếu biết vận dụng, phối hợp đồng bộ, sáng tạo các hoạt động thì sẽ giúp cho nâng cao chất lượng đào tạo Do vậy, mục tiêu đầu tiên đặt ra khi xây dựng nội dung, tổ chức tập luyện ngoại khóa là cần phải gắn kết với chương trình chính khóa

Hoạt động ngoại khóa là cơ hội để SV được sử dụng tổng hợp các kiến thức được học chính khóa để hoàn thiện đáp ứng yêu cầu môn học, để nâng cao kết quả học tập của mình Do vậy, những nội dung ngoại khóa phải đảm bảo tính thiết thực, bổ ích, tính thực tiễn, khả thi, tính ứng dụng, thực hành cao, nhưng phải phù hợp đặc điểm tâm lý, nhận thức của SV

Hơn nữa, ngoại khóa là một trong những mảng hoạt động giáo dục quan trọng ở các cơ sở giáo dục đại học trong việc giáo dục SV phát triển toàn diện Hoạt động này có ý nghĩa hỗ trợ cho giáo dục chính khóa, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo của

SV, nâng cao trình độ chuyên môn, hoạt động ngoại khóa còn có nhiều mặt tích cực, mang lại lợi ích cho cả SV và các bộ môn chuyên môn Vì vậy, để hoạt động ngoại khóa được phát triển cần tuyên truyền rộng rãi lợi ích của ngoại khóa đến sức khỏe, hỗ trợ cho việc học tốt, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của

xã hội khi ra trường làm việc

Tóm lại, việc học tập theo hệ thống tín chỉ trong các cơ sở giáo dục đại học đòi hỏi người SV phải tích cực tự giác học tập, ở đây tự học là một phần không thể thiếu giúp cho SV hoàn thành tốt các môn học, bổ sung thêm kiến thức mà giờ học chính khóa chưa đáp ứng được Đối với SV trong các cơ sở giáo dục đại học chuyên về TDTT cũng không nằm ngoài những đặc trưng cơ

Trang 35

bản của người SV hiện nay, ngoài ra muốn có KNKX, năng lực sư phạm cao, trên một nền thể chất tốt thì phải tập luyện ngoại khóa thường xuyên

1.4.1.2 Ngoại khóa Thể dục thể thao

Các nhà khoa học nghiên cứu về giờ học TDTT không chính khóa đã chỉ ra: “Ở một mức độ đáng kể, công tác giáo dục thể chất được tiến hành dưới hình thức tập luyện không lên lớp” hay: “Ngoại khóa là hình thức tập luyện tự nguyện nhằm củng cố sức khỏe, duy trì và nâng cao khả năng hoạt động thể lực, rèn luyện cơ thể và chữa bệnh, giáo dục các tố chất thể lực và ý chí, tiếp thu các kỹ năng, kỹ xảo vận động” [53]

Có thể khái quát ngoại khóa TDTT là tất cả những hoạt động tập luyện TDTT nằm ngoài giờ lên lớp, không nằm trong chương trình chính khóa

P.A.Ruđich cho rằng: “Nét tâm lý cơ bản của động cơ kích thích con người tập luyện thể thao là cảm giác thỏa mãn do việc tập luyện một môn thể thao nào đó gây nên và cảm giác đó không thể tách rời khỏi bản thân hoạt động thể thao” [55]

Tính tích cực trong lĩnh vực TDTT thường được thể hiện qua các hoạt động tự giác, tích cực, gắng sức nhằm hoàn thành hiệm vụ học tập, rèn luyện

Nó bắt nguồn từ một thái độ học tập tốt, sự cố gắng nắm được những KNKX vận động cùng khắc phục những khó khăn trên con đường đó Tính tự lập là một trong những hình thức cao nhất của tính tích cực, biểu hiện qua hoạt động hăng hái để tự giải quyết những nhiệm vụ do kích thích nội tâm của từng người tạo nên Hiệu quả của quá trình sư phạm phần lớn phụ thuộc vào bản thân người được giáo dục, có thái độ tự giác và tích cực như thế nào đối với công việc của mình

Cái quý nhất của mỗi con người là sức khỏe và trí tuệ Có sức khỏe tốt

sẽ tạo điều kiện cho trí tuệ phát triển được tốt hơn và ngược lại Tập luyện TDTT giúp con người có được sức khỏe tốt, từ đó, có thể học tập, làm việc và

Trang 36

tham gia các hoạt động khác đạt hiệu quả cao hơn TDTT còn góp phần nâng

cao chất lượng giáo dục trong trường học các cấp

“Nhu cầu TDTT là loại nhu cầu phát triển và hưởng thụ Khi động cơ

và trạng thái tâm lý, sở thích sẽ dẫn đến tự giác tích cực, nếu không có ham thích mà bị hành động thì sẽ không mang tính tự giác và không trở thành động cơ Vì vậy, nhu cầu với động cơ thống nhất là một khi mang yếu tố tự giác, giác ngộ, nhận thức” [88]

Muốn có được hứng thú trong học tập, rèn luyện nhất là trong lĩnh vực TDTT đòi hỏi nhiều sự nỗ lực thì con người phải có một nhu cầu, một mong muốn sâu sắc hoặc thấy được sự cần thiết để bản thân mình lĩnh hội những tri thức để tăng thêm sự hiểu biết Vì vậy, áp dụng hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ là tăng cường tính tự học Hơn nữa, để nâng cao chất lượng đào tạo, Trường Đại học TDTT Đà Nẵng cần có chế độ, chính sách khuyến khích các khoa, bộ môn tổ chức, xây dựng nội dung ngoại khóa cho SV

1.4.1.3 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức giờ ngoại khóa Thể dục thể thao

Nội dung giờ ngoại khóa Thể dục thể thao

Nhiệm vụ và nội dung cụ thể của các buổi không lên lớp ở mức độ đáng kể phụ thuộc vào khả năng và sở trường của người tập Để xây dựng nội dung ngoại khóa môn CSTD và tổ chức một cách hiệu quả thì việc quan trọng nhất là xác định mục tiêu để xây dựng cho phù hợp

Nội dung ngoại khóa môn chuyên sâu Thể dục phải đảm bảo tính thực tiễn và khả năng ứng dụng các KNKX được GV truyền thụ trong giờ chính khóa Trong chương trình chính khóa, GV chỉ đủ thời gian truyền đạt các kiến thức cơ bản, các nguyên lý thực hiện kỹ thuật động tác cũng như hướng dẫn phương pháp tập luyện để phát triển thể lực, bởi vì môn TD có rất nhiều các nội dung khác nhau như Đội hình đội ngũ, TD dụng cụ, TD phát triển chung,

TD Aerobic….Vì vậy, SV cần bổ sung các kiến thức trong thời gian ngoại

Trang 37

khóa để hoàn thiện KNKX, tố chất thể lực và các năng lực khác mới đáp ứng được yêu cầu môn học

Hình thức giờ ngoại khóa Thể dục thể thao

Có thể kể đến một số hình thức ngoại khóa như sau:

Hình thức ngoại khóa cá nhân: Có thể là tự rèn luyện thể lực, hoàn thiện KNKX vận động…tiến hành hình thức tập này đòi hỏi người tập có kiến thức về phương pháp chuyên môn, nắm được KNKX hình thành từ trước

Hình thức ngoại khóa theo nhóm: Dưới sự hướng dẫn của một người được chọn ra hoặc chỉ định Hiệu quả của các buổi tự tập theo nhóm phù thuộc phần lớn vào trình độ, tổ chức của người hướng dẫn

Hình thức ngoại khóa theo câu lạc bộ: Được tổ chức theo quy định, người hướng dẫn có trình độ về TDTT được Nhà nước công nhận, người tập thực hiện theo hình thức này có thể phải đóng lệ phí nhưng đổi lại, được hướng dẫn tập luyện đúng kỹ thuật, hiệu quả tập luyện cao

Các văn bản liên quan đến tổ chức CLB thể thao như:

Điều 2, Thông tư số 18/2011/TT-BVHTTDL, ngày 02/12/2011 về quy định mẫu tổ chức và hoạt động của câu lạc bộ thể thao cấp cơ sở đã chỉ rõ:

“Câu lạc bộ Thể dục thể thao cơ sở là tổ chức tự nguyện, được thành lập tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang, trường học, doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ” [13]

Việc tổ chức hoạt động ngoại khóa TDTT cho SV theo hình thức CLB

là rất cần thiết, mang tính xã hội hóa cao

Ngoại khóa theo hình thức thi đấu: Được tiến hành theo các hệ thống giải với quy mô lớn nhỏ khác nhau Tham gia thi đấu kích thích rất mạnh đến động cơ, hứng thú của người tập luyện, từ đó đem lại hiệu quả to lớn đối với việc hoàn thành nhiệm vụ học tập trong các trường Đại học TDTT

Tóm lại, hình thức tập luyện ngoại khóa môn CSTD cần phải sinh động

và gây hứng thú cho SV: Ngoại khóa tuy là hình thức tổ chức dựa trên tinh

Trang 38

thần tự nguyện, nhưng nó cần phải được tổ chức sinh động và gây hứng thú, thu hút được nhiều SV tham gia Cần tránh tổ chức tập luyện ngoại khóa gây cảm giác gò bó, căng thẳng, tạo cảm giác chán nản mà phải làm sao để có sức hấp dẫn, lôi cuốn được tất cả SV, phát huy khả năng bản thân, tích cực khám phá, chủ động phát hiện vấn đề, biết bảo vệ quan điểm và thuyết trình trước đám đông Qua những hình thức ngoại khóa như thế này, SV sẽ dần định hướng nghề nghiệp cho bản thân, lựa chọn nội dung yêu thích, mũi nhọn và

có thêm niềm đam mê với ngành nghề mình đã lựa chọn, từ đó nâng cao được kết quả học tập và trình độ chuyên môn

Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của giờ ngoại khóa Thể dục thể thao

Trong quá trình xây dựng nội dung ngoại khóa cho sinh viên CSTD cần chú ý mối quan hệ giữa nội dung và hình thức buổi tập Do là cái quyết định nên nội dung phải có hình thức phù hợp Khi nội dung thay đổi thì hình thức cũng phải thay đổi theo, các nhiệm vụ mới được đặt ra cần có hình thức giải quyết phù hợp thì chất lượng buổi tự tập mới được nâng cao Tuy nhiên, hình thức cũng có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại nội dung, khi hình thức phù hợp với nội dung, nó là động lực thúc đẩy nội dung phát triển tiến bộ, ngược lại nếu không phù hợp nó sẽ kìm hãm, cản trở nội dung phát triển Cùng một nội dung ngoại khóa, có thể sử dụng nhiều hình thức, ngược lại một hình thức có thể sử dụng các nội dung ngoại khóa khác nhau Hiểu rõ vấn đề này sẽ không làm lãng phí thời gian, công sức của người tập

Mỗi buổi tự tập riêng biệt tương đối hoàn chỉnh là một khâu của quá trình GDTC Nhìn chung, các nội dung ngoại khóa môn CSTD rất đa dạng:

TD sáng, TD phát triển chung, TD trên các dụng cụ, TD Aerobic, TD thể hình…Các nhà nghiên cứu giờ học TDTT cho rằng: Nội dung ngoại khóa TDTT cần xây dựng trên cơ sở một số quy luật chung Việc nắm được những quy luật đó cho phép người tập giải quyết hợp lý các nhiệm vụ giáo dục và

Trang 39

giáo dưỡng với hiệu quả cao nhất Trong mỗi trường hợp cụ thể, hình thức phải phù hợp với nội dung buổi tập và đó là điều kiện để tiến hành buổi tập có chất lượng Ví dụ, tập luyện ngoại khóa TD phát triển chung…thì hình thức

có thể theo tổ, theo nhóm hoặc là tự tập một mình

Do hình thức buổi tập có ảnh hưởng tích cực đến nội dung và kết quả của việc tập luyện, nên trong quá trình xây dựng nội dung ngoại khóa cho sinh viên CSTD Trường Đại học TDTT Đà Nẵng nhất thiết phải được quan tâm đúng mức để cho chương trình có cấu trúc hợp lý, khoa học Từ đó, nâng cao hiệu quả của việc ngoại khóa, giúp cho SV đáp ứng yêu cầu môn học, nâng cao trình độ chuyên môn và trang bị những kiến thức cần thiết khi tốt nghiệp ra trường làm việc

1.4.2 Khái niệm về trình độ chuyên môn

Khái niệm về trình độ: Là mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác

định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn xác định nào đó

Là trình độ khá cao trong một lĩnh vực nào đó [57]

Khái niệm về chuyên môn

Về danh từ: chuyên môn là một môn riêng của ngành khoa học, kỹ thuật: Trình độ chuyên môn, người có chuyên môn sâu

Về tính từ: Chuyên môn là chỉ chuyên làm một việc, chỉ có một đặc tính, ví dụ: Cửa hàng chuyên bán hàng sành sứ [22]

Theo tác giả Hoàng Phê thì chuyên môn được hiểu theo hai nghĩa:

Thứ nhất: Chuyên môn chỉ lĩnh vực riêng, những kiến thức riêng nói

chung của một ngành khoa học, kỹ thuật, ví dụ: Trình độ chuyên môn

Thứ hai: Chuyên môn chỉ làm hoặc hầu như chỉ làm một việc, ví dụ:

Cửa hàng chuyên bán đồ gỗ [57]

Thường người ta hiểu chuyên môn là nghề nghiệp, nhưng cũng có người hiểu đó là một lĩnh vực kiến thức riêng của một ngành khoa học, kỹ thuật nào đó

Trang 40

Liên hệ với lĩnh vực giáo dục thể chất có thể hiểu là chuyên môn của từng môn thể thao hay còn gọi là chuyên sâu Ví dụ chuyên sâu Điền kinh, chuyên sâu Thể dục, chuyên sâu Bơi lội…

Khái niệm về trình độ chuyên môn

Từ hai khái niệm về chuyên môn và trình độ thì “trình độ chuyên môn”

có thể được hiểu là kiến thức và kỹ năng để chuyên làm một công việc nào

đó, một lĩnh vực hoặc một ngành, nghề nào đó Hay, trình độ chuyên môn là chuyên môn đã được học hoặc đang hành nghề

Như vậy, chuyên môn có thể được hiểu là chuyên về một việc, một công việc nào đó hoặc về một lĩnh vực hay kiến thức, kỹ năng thành thạo trong một ngành, một nghề nào đó

Chuyên môn của người giáo viên TDTT là tổ hợp những kiến thức, kỹ năng và phương pháp giảng dạy môn học TD cũng như kiến thức, kỹ năng về

tổ chức, quản lý các hoạt động tập luyện, thi đấu Thể dục, thể thao và các hoạt động giáo dục khác cho SV [67], [68]

1.5 Đào tạo môn chuyên sâu Thể dục Trường Đại học TDTT Đà Nẵng cho sinh viên

1.5.1 Đặc điểm môn chuyên sâu Thể dục

Thể dục là một môn thể thao rất đa dạng, có nhiều nội dung khác nhau, tập luyện các nội dung này có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của cơ thể người tập như rèn luyện tư thế, tăng cường chức năng các cơ quan hô hấp, tuần hoàn…đến phát triển các tố chất thể lực cũng như chữa được một số bệnh mà con người mắc phải Cũng như các môn thể thao cơ bản khác trong CTĐT, Thể dục là một môn học rất quan trọng trong các trường đại học TDTT đào tạo giáo viên, huấn luyện viên thể thao, được coi là môn cơ bản trong chương trình GDTC Do là môn thể thao tổng hợp, đa dạng và toàn diện, ngày càng phong phú về loại hình, phát triển nhanh theo nhu cầu của cuộc sống hiện đại, đòi hỏi người SV ngoài việc tiếp thu kỹ thuật động tác ở

Ngày đăng: 29/05/2021, 10:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng (2010), Triết học dùng cho đào tạo sau đại học không thuộc chuyên ngành Triết học, NXB Đà Nẵng, tr. 262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học dùng cho đào tạo sau đại học không thuộc chuyên ngành Triết học
Tác giả: Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2010
3. Bộ Chính trị (2011), Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 01/12/2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 01/12/2011
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
4. Bộ GD-ĐT (2011), Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT, ngày 17/02/2011, Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT, ngày 17/02/2011
Tác giả: Bộ GD-ĐT
Năm: 2011
6. Bộ GD-ĐT (2013), Quyết định số 550/2013/QĐ-BGDĐT, ngày 13/02/2013 Về việc giao cho trường Đại học TDTT Đà Nẵng đào tạo ngành GDTC trình độ đại học hệ chính quy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 550/2013/QĐ-BGDĐT, ngày 13/02/2013
Tác giả: Bộ GD-ĐT
Năm: 2013
7. Bộ GD-ĐT (2014), Văn bản hợp nhất số 06/2014/VBHN-BGDĐT, ngày 04/3/2014 Về hợp nhất Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 01/11/2007 và Thông tư số 37/2012/TT-BGDĐT, ngày 30/10/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản hợp nhất số 06/2014/VBHN-BGDĐT, ngày 04/3/2014
Tác giả: Bộ GD-ĐT
Năm: 2014
8. Bộ GD-ĐT(2014), Văn bản hợp nhất số 17/2014/VBHN–BGDĐT, ngày 15/5/2014 Về hợp nhất Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 15/8/2007 và Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT, ngày 27/12/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều quy chế đào tạo cao đẳng, đại học chính quy theo hệ thống tín chỉ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản hợp nhất số 17/2014/VBHN–BGDĐT, ngày 15/5/2014
Tác giả: Bộ GD-ĐT
Năm: 2014
9. Bộ GD-ĐT(2015), Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT, ngày 16/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Về việc ban hành khối lượng kiến thức tối thiểu về năng lực người học phải đạt được sau khi tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT, ngày 16/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ GD-ĐT
Năm: 2015
12. Bộ GD-ĐT (2017), Thông tư số 12/2017/TT-BGDĐT, ngày 19/5/2017, Ban hành quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 12/2017/TT-BGDĐT, ngày 19/5/2017
Tác giả: Bộ GD-ĐT
Năm: 2017
14. B.P. Êxipôp (1977), Phan Huy Đính, Nguyễn Thế Trường dịch, Những cơ sở của lý luận dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của lý luận dạy học
Tác giả: B.P. Êxipôp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1977
15. Nguyễn Hữu Chí (2004), Những xu hướng chung của chương trình hiện đại, Tạp chí giáo dục, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng chung của chương trình hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
16. Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Phương Nga, Lê Đức Ngọc, Trần Hữu Hoan, Jonh J McDonald (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Phương Nga, Lê Đức Ngọc, Trần Hữu Hoan, Jonh J McDonald
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
17. Chính phủ (2012), Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 07/3/2012 về Chương trình hành động của Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 07/3/2012
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
18. Chính phủ (2013), Nghị quyết số 16-NQ/CP, ngày 14/01/2013 Về việc Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 08- NQ/TW tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 16-NQ/CP, ngày 14/01/2013
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
19. Trần Kim Cương (2007), “Loại hình CLB TDTT cơ sở tỉnh Ninh Bình”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, y tế trường học (lầnV), NXB TDTT, Hà Nội, tr. 55-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình CLB TDTT cơ sở tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Trần Kim Cương
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2007
20. Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh (2003), “Về một số thuật ngữ thường dùng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học”, Tạo chí Giáo dục (66), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số thuật ngữ thường dùng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
21. Nguyễn Nho Dũng, Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Tuấn Anh, Phùng Thị Cúc (2015), „„Đánh giá mức độ thích ứng hoạt động học tập của sinh viên khóa đại học 7 trường Đại học TDTT Đà Nẵng khi áp dụng đào tạo theo chế tín chỉ”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học kỷ niệm 38 năm thành lập trường, Trường Đại học TDTT Đà Nẵng, tr.160-169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị khoa học kỷ niệm 38 năm thành lập trường
Tác giả: Nguyễn Nho Dũng, Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Tuấn Anh, Phùng Thị Cúc
Năm: 2015
22. Kỳ Duyên, Ngọc Hằng, Đăng Khoa (2014), Từ điển tiếng Việt, NXB Thanh Niên, Hà Nội, tr. 580 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Kỳ Duyên, Ngọc Hằng, Đăng Khoa
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2014
25. Nguyễn Gắng (2015),“Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết thể dục thể thao giữa Trường Đại học Huế và các tổ chức thể dục thể thao trên địa bàn thành phố Huế”, Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục, Viện Khoa học Thể dục thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết thể dục thể thao giữa Trường Đại học Huế và các tổ chức thể dục thể thao trên địa bàn thành phố Huế”
Tác giả: Nguyễn Gắng
Năm: 2015
93. Amanda Berry, Mary Lynn Hamilton (2015), Self-Study of Teacher Education Practices.(http://www.oxfordbibliographies.com/view/document/obo-9780199756810/obo-9780199756810-0089.xml) Link
94. Amy M.Tenhouse, College extracurricylar activities – impact on students, types of extracurricylar activities.( http://education.staeuniversity.com/page/1855/College-Extracurricylar-Activities.htm#ixzz0zfmj4jIy) Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w