1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự khác biệt của yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của hồ anh thái và haruki murakami

171 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về thực tiễn: Qua so sánh những điểm khác biệt ở yếu tố hậu hiện đại ở tác phẩm của hai tác giả Hồ Anh Thái và Haruki Murakami chúng tôi mong muốn đem một hướng nghiên cứu về sự khác biệ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả phân tích trong luận án hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong luận án của mình

Tác giả

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi chân thành cảm ơn những người thân yêu trong gia đình đã tạo mọi điều kiện cần thiết để tôi tập trung hoàn thành luận án Đặc biệt, xin cảm ơn PGS TS Trương Đăng Dung – người hướng dẫn khoa học – đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận án trong điều kiện tốt nhất có thể

Xin được cảm ơn tất cả quý thầy cô, bạn bè đã luôn khuyến khích và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Nxb : Nhà xuất bản:

tr : Trang:

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan gián tiếp đến đề tài 5

1.2 Những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài 12

1.2.1 Những công trình nghiên cứu yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Hồ Anh Thái 12

1.2.2 Những công trình nghiên cứu yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Haruki Murakami 20

Chương 2: HẬU HIỆN ĐẠI TRONG VĂN HỌC VÀTIỀN ĐỀ TIẾP NHẬN Ở HỒ ANH THÁI VÀ HARUKI MURAKAMI 27

2.1 Những đặc trưng thi pháp cơ bản của văn học hậu hiện đại 27

2.1.1 Phi trung tâm hóa và tinh thần giễu nhại 29

2.1.2.Tính liên văn bản 31

2.1.3 Bóp méo sự thật và lối trần thuật hỗn độn 33

2.1.4 Đề cao tiểu tự sự và mở rộng ngoại biên 34

2.2 Những yếu tố tiền đề cho sự tiếp nhận tinh thần hậu hiện đại ở hai tác giả 35

2.2.1 Hồ Anh Thái 35

2.2.2 Haruki Murakami 43

2.2.3 Cái nhìn về hiện thực và con người 48

Chương 3: SỰ KHÁC BIỆT VỀ THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ ANH THÁI VÀ HARUKI MURAKAMI 55

3.1 Sự khác biệt ở kiểu con người đặc trưng 55

3.1.1 Con người tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh Thái 55

3.1.2 Con người cô đơn trong sáng tác của Haruki Murakami 65

3.2 Sự khác biệt ở kiểu con người với bản năng tính dục 78

3.2.1 Con người bản năng tính dục qua cái nhìn của Hồ Anh Thái 79

3.2.2 Con người với bản năng tính dục trong sáng tác của Haruki Murakami 84 3.3 Sự khác biệt ở kiểu con người với hành trình kiếm tìm 97

Trang 6

3.3.1 Con người với hành trình kiếm tìm giá trị cuộc sống trong sáng tác của

Hồ Anh Thái 98

3.2.3 Con người với hành trình kiếm tìm bản thể chính mình trong sáng tác của Haruki Murakami 101

Chương 4 SỰ KHÁC BIỆT VỀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ ANH THÁI VÀ HARUKI MURAKAMI 110

4.1 Sự khác biệt về nghệ thuật xây dựng cốt truyện phân mảnh, lắp ghép 110

4.1.1 Những nét cơ bản về cốt truyện phân mảnh lắp ghép 110

4.1.2 Cốt truyện phân mảnh lắp ghép trong sáng tác của Hồ Anh Thái 111

4.1.3 Cốt truyện phân mảnh, lắp ghép trong sáng tác của Haruki Murakami 118 4.2 Sự khác biệt về nghệ thuật mờ hóa nhân vật 129

4.2.1 Tẩy trắng ngoại hình, lai lịch, tính cách 129

4.2.2 Sự biến mất của nhân vật 133

4.3 Sự khác biệt trong việc thể hiện yếu tố liên văn bản 139

4.3.1 Sắc màu văn hóa đặc trưng 139

4.3.2 Sự xâm nhập của các thể loại 142

KẾT LUẬN 147

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hậu hiện đại đã trở thành hiện tượng mang tính toàn cầu, được bàn luận, tranh cãi rất nhiều và có ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, trong đó, có văn học Với văn học, chủ nghĩa hậu hiện đại đã mở ra nhiều khả năng mới cho sự sáng tạo, đem lại những hiệu quả rất to lớn trong việc mang đến cho đông đảo công chúng độc giả trên toàn thế giới món ăn tinh thần hết sức gần gũi mà không bị nhàm chán

Hồ Anh Thái là nhà văn giàu yếu tố hậu hiện đại của Việt Nam và Haruki Murakami là một nhà văn hậu hiện đại của Nhật Bản Sự xuất hiện của yếu tố hậu hiện đại trong các sáng tác của hai tác giả văn học đương đại Việt Nam và Nhật Bản có thể xem là độc lập chứ không nằm trong mối quan hệ ảnh hưởng, chi phối Họ cùng thuộc hai quốc gia ở một châu lục, cùng mang cảm thức Đông Á, cùng tương đồng về thế hệ, cùng tiếp nhận văn học phương Tây và Mỹ từ đầu nguồn, cùng làm công việc dịch thuật nhưng lại có những khác biệt thú vị ở yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác So sánh

sự khác biệt của yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của hai nhà văn với nhau sẽ thấy được sự khác biệt, chẳng những ở văn chương của họ, mà còn có được một cái nhìn thực chất về hậu hiện đại ở Việt Nam và Nhật Bản, và xa hơn nữa là hai nền văn hóa, hai cá tính dân tộc Trên cơ sở đó khẳng định tài năng và đóng góp đáng kể của hai nhà văn trên tiến trình hiện đại hóa và hội nhập văn học thế giới

Trong thời gian qua đã có khá nhiều nghiên cứu giới thiệu về yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Hồ Anh Thái và Haruki Murakami Tuy nhiên hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu yếu tố hậu hiện đại ở cấp độ tác phẩm hoặc nhóm tác phẩm và khảo sát độc lập cho một tác giả Chưa có công trình nào tiến hành khảo sát trên quy mô toàn diện và có sự so sánh để chỉ ra được sự khác biệt của yếu

tố hậu hiện đại trong sáng tác của hai nhà văn này Chính vì vậy đề tài Sự khác biệt

của yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Hồ Anh Thái và Haruki Murakami mà

chúng tôi tiến hành là hoàn toàn mới mẻ và có triển vọng để thực hiện tốt

Trang 8

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ được sự khác biệt của yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Hồ Anh Thái và Haruki Murakami

2.2 Nhiệm vụ

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án tập trung vào các nhiệm vụ chính sau:

- Nghiên cứu lí thuyết, khái quát các đặc trưng cơ bản của văn học hậu hiện đại

- Nghiên cứu những tiền đề tiếp nhận yếu tố hậu hiện đại ở hai nhà văn

- Khảo sát, phân tích yếu tố hậu hiện đại trong tác phẩm của mỗi tác giả

- So sánh, đối chiếu chỉ rõ những điểm khác biệt ở yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của mỗi nhà văn, đưa ra lí giải cho những khác biệt đó Đồng thời khái quát những thành công của mỗi tác giả trong việc vận dụng các thủ pháp hậu hiện đại

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Hồ Anh Thái

và Haruki Murakami và chỉ ra sự khác biệt của nó trong sang tác của Hồ Anh Thái

và Murakami

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án là những tác phẩm của hai nhà văn Hồ Anh

Thái và Haruki Murakami: Phía sau vòm trời, Vẫn chưa tới mùa đông, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Người đàn bà trên đảo, Trong sương hồng hiện ra, Họ trở thành nhân vật của tôi, Bốn lối vào nhà cười, Cõi người rung chuông tận thế, Văn mới 5 năm đầu thế kỷ, Người và xe chạy dưới ánh trăng, Tự sự 265 ngày, Sắp đặt và diễn, Mười lẻ một đêm, Đức Phật, nàng Savitri và tôi, SBC là săn bắt chuột, Những đứa con rải rác trên đường, Lang thang trong chữ

Kafka bên bờ biển, Rừng Nauy, Phía nam biên giới, phía Tây mặt trời, Người

tình Sputnik, Biên niên kí chim vặn dây cót, Ngầm, Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, Cuộc săn cừu hoang, Tôi nói gì khi nói về chạy bộ, Nhảy Nhảy

Trang 9

Nhảy, Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương, Những người đàn ông không có đàn bà

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để triển khai đề tài Sự khác biệt của yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của

Hồ Anh Thái và Haruki Murakami, chúng tôi đã vận dụng lý thuyết hậu hiện đại, lý

thuyết liên văn bản là chủ đạo

Chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó phương pháp so sánh là phương pháp nghiên cứu chủ đạo Hệ thống phương pháp nghiên cứu gồm có:

Phương pháp so sánh (đồng đại, lịch đại): Phương pháp này được sử dụng để chỉ ra những khác biệt trong yếu tố hậu hiện đại trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái và Haruki Murakami trong dòng chảy của văn học hậu hiện đại

Phương pháp lịch sử - loại hình: Đây là phương pháp vận dụng những tiểu thuyết ở các dạng thức biểu hiện cụ thể, xét từ phương diện đặc trưng tư duy tiểu thuyết, nghệ thuật trần thuật; chỉ ra các kiểu, dạng của người kể, điểm nhìn, kết cấu Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Với việc xem toàn bộ tiểu thuyết của Murakami như một hệ thống, phương pháp này giúp chúng tôi tìm hiểu mối quan hệ

để rút ra những kết luận, đánh giá cần thiết

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án chỉ ra và làm sáng tỏ những điểm khác biệt ở yếu tố hậu hiện đại ở tác phẩm của hai tác giả chủ yếu qua các phương diện thân phận con người và phương thức thể hiện tác phẩm Qua đó, luận án đánh giá những đặc sắc nghệ thuật riêng trong sáng tác của hai nhà văn tiêu biểu cho hai nền văn học Việt Nam và Nhật Bản trên tinh thần soi sáng của lí thuyết hậu hiện đại Đây là cơ sở để khẳng định tài năng và đóng góp đáng kể của hai và văn trong tiến trình hướng tới ngôi nhà chung của văn chương thế giới

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

Về lí luận: Luận án nỗ lực khái quát những đặc trưng cơ bản của văn học hậu hiện đại, mang đến một cái nhìn sâu sắc hơn về sự vận động của tư duy tiểu thuyết

và truyện ngắn theo tinh thần hậu hiện đại

Trang 10

Về thực tiễn: Qua so sánh những điểm khác biệt ở yếu tố hậu hiện đại ở tác phẩm của hai tác giả Hồ Anh Thái và Haruki Murakami chúng tôi mong muốn đem một hướng nghiên cứu về sự khác biệt ở những tác giả khác nhau, trong những hoàn cảnh xã hội khác nhau khi họ cùng sử dụng những thủ pháp tương đồng Qua đó, luận án cũng gợi mở thêm về những giá trị của văn học hậu hiện đại cũng như thấy được sức ảnh hưởng của nó trong tiến trình phát triển của văn học nhân loại Luận

án sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, học tập về văn học hậu hiện đại

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung luận án được triển khai thành 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Hậu hiện đại trong văn học và tiền đề tiếp nhận ở Hồ Anh Thái và Haruki Murakami

Chương 3 Sự khác biệt về thân phận con người trong sáng tác của Hồ Anh Thái và Haruki Murakami

Chương 4 Sự khác biệt về phương thức thể hiện trong sáng tác của Hồ Anh Thái và Haruki Murakami

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan gián tiếp đến đề tài

Trước hết để tạo được cơ sở lí luận cho việc đi vào nghiên cứu các yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của các nhà văn Việt Nam, chúng tôi hướng đến tìm hiểu những công trình cung cấp cơ sở lí thuyết do các nhà lí luận đã dày công nghiên cứu và dịch thuật trong thời gian qua Tính từ bài viết của Antonio Blach:

“Vài suy nghĩ về cái gọi là tiêu thuyết hậu hiện đại” trên Tạp chí văn học (1991),

cho đến nay nhiều công trình lí luận nghiên cứu về văn học hậu hiện đại đã được

xuất bản Có thể điểm qua tên của các công trình tiêu biểu như: Văn học hiện đại

thế giới – những vấn đề lý thuyết (2003) của nhiều tác giả; Chủ nghĩa hậu hiện đại

(Postmodernism) (2006) của Trần Quang Thái; Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới (2003); Truyện ngắn, lí luận, tác gia và tác phẩm (2005); Văn học hậu hiện đại - Lí

thuyết và tiếp nhận (2012) của Lê Huy Bắc; Hoàn cảnh hậu hiện đại (2006) của J.F

Lyotard (do Ngân Xuyên dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính và giới thiệu); Lí thuyết

hậu hiện đại (2011) của Phương Lựu; Thi pháp của chủ nghĩa hậu hiện đại (2012)

của Liviu Petrescu do Lê Nguyên Cẩn dịch và giới thiệu…

Hậu hiện đại trong văn học là vấn đề được giới lí luận nghiên cứu mà còn thu hút được sự quan tâm của các Khoa ngữ văn ở các trường đại học uy tín trên cả nước Đã có hai cuộc hội thảo về văn học hậu hiện đại được tổ chức bởi Khoa Ngữ văn Trường Đại Khoa học Huế năm 2011 và Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội Năm 2013 Các cuộc hội thảo đã nhận được nhiều bài viết, tham luận của các nhà nghiên cứu ở nhiều độ tuổi khác nhau và được tập hợp trong hai tập kỉ

yếu hội thảo Văn học hậu hiện đại – Lí thuyết và tiếp nhận (2011), Văn học hậu

hiện đại - Lí thuyết và thực tiễn (2013) Đây là sự góp thêm những công trình có giá

trị cho nghiên cứu về văn học hậu hiện đại một vấn đề đang ngày càng dành được

sự quan tâm của giới nghiên cứu ở nước ta

Trong chuyên luận Văn học hiện đại thế giới – những vấn đề lý thuyết (2003)

do Nhà xuất bản hội nhà văn và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây phát hành

đã giới thiệu 19 công trình và bài viết của các tác giả trong và ngoài nước về chủ

Trang 12

nghĩa hậu hiện đại Những bài viết được tuyển tập của các nhà lí luận phê bình trên thế giới được dịch và giới thiệu như J F Lyotard, Mary Klages, I.P.Ilin, D Martin Fields, Hans Bertens, Fredric Jameson…, và một số nhà nghiên cứu Việt Nam như Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân, Lê Huy Bắc, Hoàng Ngọc Tuấn… , có sức thuyết phục cao Đây là một công trình quy mô và có hệ thống nhất về văn học hậu hiện đại xét cả ở cấp độ lí thuyết và thực tiễn sáng tạo, đem lại đóng góp rất lớn cho việc tiếp nhận lí thuyết hậu hiện đại ở nước ta Các bài viết được giới thiệu trong chuyên luận này đã lần lượt đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại.I.P.Ilin với bài viết “Chủ nghĩa hậu hiện đại – một số khái niệm và thuật ngữ” (do Đào Tuấn Ảnh dịch) đã cung cấp một cách có hệ thống các thuật ngữ về khái niệm hậu hiện đại cũng như những đặc điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Phương Lựu trong bài viết “Chủ nghĩa hậu hiện đại” đã trình bày những sự kiện cơ bản thúc đẩy sự ra đời của thuật ngữ hậu hiện đại bao gồm: đại chiến thế giới thứ II, bóng ma vũ khí hạt nhân, sự phát triển như vũ bão của văn minh kĩ trị

Lê Huy Bắc với bài viết “Truyện ngắn hậu hiện đại” đã khẳng định quá trình vận động tất yếu của lịch sử và trạng thái tinh thần nhân loại đang trải qua giai đoạn hậu hiện đại Ông viết: “Bất kì một quốc gia có nền kinh tế, nền khoa học kĩ thuật phát triển nào đều không xa lạ với chủ nghĩa hậu hiện đại” [3, tr.415] Quan trọng hơn ứng dụng khái niệm “toàn cầu hóa”, tác giả khẳng định chủ nghĩa hậu hiện đại có cơ hội phát triển ngay cả trên những nền kinh tế và cơ sở hạ tầng chưa đạt tầm hậu công nghiệp Và ông khẳng định “thế giới hiện nay là thế giới của kỉ nguyên chủ nghĩa hậu hiện đại” [3, tr.415] Bài viết Nguyễn Minh Quân: “Chủ nghĩa hậu hiện đại, những khái niệm căn bản”, đã góp phần xác định lại một cách khá thuyết phục

sự phân kì giữa hiện đại và hậu hiên đại Nguyễn Ước với bài nghiên cứu “Một hồ

sơ về chủ nghĩa hậu hiện đại” đã thể hiện cái nhìn toàn diện và đa chiều trong việc xác định trạng thái tinh thần, quy luật phát triển của văn học hậu hiện đại trong tiến trình chung của thế giới và đi đến khẳng định quan trọng: “Chủ nghĩa hậu hiện đại

là một trào lưu toàn cầu nên Việt Nam không thể không chạm tới” [3, tr 549] Hoàng Ngọc Tuấn trong bài “Viết: từ hiện đại đến hậu hiện đại” đã chỉ rõ quá trình vận động của văn học từ hiện đại đến hậu hiện đại Cũng trong cuốn chuyên luận này lần đầu tiên bảng so sánh “Những dị biệt có tính hệ thống giữa chủ nghĩa hiện

Trang 13

đại và chủ nghĩa hậu hiện đại” của Hassan được giới thiệu để người đọc nắm được những đặc trưng cơ bản của khuynh hướng hậu hiện đại

Trong khoảng thời gian từ 2003 đến 2012 đã có nhiều cuốn chuyên luận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đến quá trình tiếp nhận lí thuyết văn học ở nước ta được dịch và giới thiệu Năm 2003, nhóm dịch giả Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại

Nguyên Ân giới thiệu cuốn Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên

cứu văn học phương Tây và Hoa Kì thế kỉ XX của các tác giả I.P.Ilin và

Tzurganova Đây là cuốn sách cung cấp một cách có hệ thống các thuật ngữ và khái niệm về hậu hiện đại cũng như chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Các nhà nghiên cứu văn học có thể tiếp cận đầy đủ nội hàm của các khái niệm của Chủ nghĩa hậu hiện đại như: cảm quan hậu hiện đại, mặt nạ tác giả, siêu truyện, mã kép, giải nhân cách hóa, phi lựa chọn, pastiche, bất tín nhận thức, liên văn bản, tính nhục

thể, ngoại biên… Tiếp đến, chuyên luận nổi tiếng của Umberto Eco có tên Đi tìm sự

thật biết cười được Vũ Ngọc Thăng dịch và giới thiệu năm 2004 Đây là công trình

hoàn chỉnh đầu tiên với những tiểu luận phê bình nổi tiếng thế giới của một học giả Phương Tây có đề cập đến văn học hậu hiện đại Cũng trong năm 2004, Nhà xuất

bản Khoa học xã hội phát hành cuốn sách Tác phẩm như là quá trình của tác giả

Trương Đăng Dung Cuốn chuyên luận gồm ba phần đã đem đến cho người đọc một cái nhìn lí luận khái quát về quá trình từ hiện đại đến hậu hiện đại

Quý II năm 2005, Nhà xuất bản Khoa học xã hội cho xuất bản cuốn sách xã

hội học, kinh tế học giá trị với nhan đề Chiếc Lexus và cây Oliu của Thomas

L.Friedman (do Lê Minh dịch) Cuốn sách này đã giúp những người nghiên cứu về văn học hậu hiện đại trả lời được câu hỏi rất quan trọng: Toàn cầu hóa là gì? Ngoài

ra, trong năm 2005 cuốn chuyên luận Những tiểu thuyết của Robbe – Grillet của

Bruce Morriseette được Từ Huy dịch đã giới thiệu cho người đọc những cách tân mới mẻ, với nhiều kĩ thuật viết hậu hiện đại trong nghệ thuật tiểu thuyết của Robbe

- Grillet

Tiếp đến, với cuốn sách Theo vết chân những người khổng lồ - Tân Guylivơ

phiêu lưu kí về các lí thuyết văn hóa (2006), Đỗ Lai Thúy cung cấp cho người đọc

nhiều sự hiểu biết nhiều nét về văn hóa hậu hiện đại Ở cuối bài nghiên cứu được dịch có tên “Phân tích văn hóa theo thuyết hậu hiện đại” của Steven Seidman, tác

Trang 14

giả đưa phần phụ lục “Chủ nghĩa hậu hiện đại là gì?” đem đến một cái nhìn có tính lịch đại chi tiết về lí thuyết hậu hiện đại trên thế giới

Cuốn Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại (2006) của các tác giả Richard

Appignanesi, Chis Gattat, Z Sardar và P Curry được Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu là một tác phẩm chuyên biệt về lí thuyết hậu hậu hiện đại được dịch và biên tập rất chu đáo Cuốn sách này đã tạo ra ảnh hưởng rất thuận lợi cho tiến trình tiếp nhận lí luận

hậu hiện đại vào Việt Nam Cũng trong năm 2006 với chuyên luận Chủ nghĩa hậu

hiện đại gồm hai chương với 244 trang, Trần Quang Thái đã phác thảo nên lịch sử

hình thành và phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại trên thế giới Tác giả đã chú ý đến những thay đổi cơ bản của quan niệm hậu hiện đại về con người với điểm nhấn quan trọng là sự xuất hiện của chủ thể phi trung tâm

Với chuyên luận Hoàn cảnh hậu hiện đại (2008) do Ngân Xuyên dịch, tác giả

Jean Francois Lyotard đã tiếp tục cung cấp cho người đọc một cái nhìn bao quát về tâm thức và hoàn cảnh hậu hiện đại Đây là một tác phẩm tạo dựng lí thuyết hậu hiện đại trên thế giới được dịch và xuất bản nên tạo được ảnh hưởng rất quan trọng đối với quá trình tiếp nhận lí thuyết văn học hậu hiện đại ở nước ta

Tác giả Phương Lựu với bài nghiên cứu “Chủ nghĩa lịch sử mới, một chuyển biến trong lòng chủ nghĩa hiện hậu hiện đại”, đăng trên Tạp chí Văn học, số 12, năm 2007, đã đem đến cho người đọc cái nhìn về thái độ của chủ nghĩa hậu hiện đại

với lịch sử Tiếp đến, trong năm 2008, với bộ giáo trình Lí luận văn học (3 tập), ông

đã đưa chủ nghĩa hậu hiện đại vào tập ba và xác định đậy là khuynh hướng sáng tác của văn học thế giới đương đại Cùng thời điểm này, với bài viết “Những bậc tiên phong của tư duy hậu hiện đại” in trên Tạp chí Văn học, số 5, đã phân tích những đóng góp của J Lacan trên phương diện phân tâm học cấu trúc và M Foucault trên phương diện vô thức lịch sử Từ đó, tác giả đã chỉ ra những tư tưởng của họ chính là tiền đề quan trọng cho sự hình thành triết học hậu hiện đại

Năm 2011, Phương Lựu với chuyên luận Lí thuyết hậu hiện đại gồm 10

chương và phần phụ lục Đây là công trình lí thuyết hoàn chỉnh đầu tiên về văn học hậu hiện đại của một học giả Việt Nam, đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về lí luận văn học hiện đại Đặc biệt ở chương hai: “Tổng quan về chủ nghĩa hậu hiện

Trang 15

đại”, tác giả đã lần lượt có những kiến giải về nguồn gốc của khái niệm hậu hiện đại, các khái niệm cơ bản, những vấn đề về quan niệm con người và hiện thực đời sống trong cái nhìn hậu hiện đại Về đặc trưng của thi pháp văn học hậu hiện đại, Phương Lựu nhấn mạnh đó là “một hệ thống bất định và đột phá” [81, tr.66] Sự bất định thể hiện qua những kiến giải về tính vô định của chủ đề, tính mơ hồ của hình tượng, sự chồng chéo của những tình tiết trong một tác phẩm văn học hậu hiện đại

Sự bứt phá được thể hiện qua tính bành trướng của ngôn từ và sự bứt phá về thể loại Đầu chương ba của chuyên luận, tác giả cũng đã viện dẫn bảng so sánh của chủ nghĩa hậu hiện đại với của chủ nghĩa hiện đại của I Hasan

Năm 2012 cuốn chuyên luận Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại của Liviu do Lê

Nguyên Cẩn dịch và giới thiệu đã góp phần cung cấp thêm những góc nhìn về văn học hậu hiện đại trên thế giới ở các phương diện những tiền đề cơ bản để xuất hiện

và những đặc trưng cơ bản nhất của thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại

Với ba công trình nghiên cứu Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới (2003);

Truyện ngắn, lí luận, tác gia và tác phẩm (2005); Văn học hậu hiện đại - Lí thuyết

và tiếp nhận (2012), tác giả Lê Huy Bắc đã lần lượt giải quyết các vấn đề về hoàn

cảnh ra đời, khái niệm và các đặc trưng cơ bản của văn học hậu hiện đại Theo ông:

Bắt đầu từ thơ Đa đa (1916), văn xuôi của Franz Kafka (Biến dạng, 1915) và kịch của Samuel Beckett (Chờ đợi Godot, 1952), chủ nghĩa

hậu hiện đại đã tồn tại song song với chủ nghĩa hiện đại cho đến đầu thập niên 1950 và thực sự phát triển mạnh từ 1960 trở đi Đây là khuynh hướng đối nghịch với chủ nghĩa hiện đại về bản chất, ở chỗ

chấp nhận tính hư vô (nothing), hỗn độn (chaos), trò chơi (game) và

liên văn bản (Intertextuality) của tồn tại, hòng giải quyết những

vướng mắc của chủ nghĩa hiện đại với tham vọng dùng khoa học để giải phóng tối đa con người thoát khỏi cuộc sống và những điều tín tăm tối Chủ nghĩa hậu hiện đại gắn liền với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin, của sự phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật vượt bậc, của thành tựu đô thị hóa, … được thể hiện ở cả ba phương diện thơ, kịch, văn xuôi với các đặc điểm chính: đa trị, huyền ảo, lắp ghép, mảnh vỡ, cực hạn, phi trung tâm, phi mạch lạc; hạn chế tối đa

Trang 16

vai trò thống trị của người kể chuyện, không quan tâm đến cốt truyện, kịch và văn xuôi mang nhiều đặc điểm của thơ [14, tr.32]

Dựa vào tiêu chí hình thức thể hiện, ông chia văn học hậu hiện đại thành năm khuynh hướng tiêu biểu nhất là khuynh hướng huyền ảo, khuynh hướng mảnh vỡ, khuynh hướng nhại và khuynh hướng cực hạn, khuynh hướng giả trinh thám Để chỉ

ra đặc trưng của một tác phẩm văn học hậu hiện đại, ông dẫn ý kiến của nhà phê

bình mác xít hậu hiện đại Terry Eagleton trong cuốn Dẫn luận lí luận văn học

(1996) khẳng định: “Tác phẩm nghệ thuật hậu hiện đại điển hình nhất là tùy tiện, đa trị, lai ghép, lệch tâm, dễ thay đổi, ngưng đọng hệt như một mô phỏng” [14, tr.31] Ông cũng tán thành với Barry Lewis đề cập đến các phương diện của văn xuôi hư cấu hậu hiện đại đó là “sự hỗn độn thế tục (Temporal disorder), cóp nhặt (Pastiche) Mảnh vỡ (Fragmentation), sự nới lỏng tổ chức (Looseness of association), tính hoài nghi (Paranoia), vòng tương tác (Vicious circles)” [14, tr.31] Cũng trong công trình của mình một lần nữa Lê Huy Bắc dẫn lại bảng so sánh để khu biệt giữa hai khuynh hướng Chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại của Ihab Hassan đưa ra năm

1885 để những người nghiên cứu có thêm những căn cứ chắc chắn khi tiến hành khảo sát các tác phẩm văn học hậu hiện đại Lê Huy Bắc cũng là dịch giả có công giúp người đọc Việt được tiếp cận những tác phẩm văn học hậu hiện đại ở một số quốc gia trên thế giới qua tuyển tập 54 truyện ngắn ông đã dịch và giới thiệu Ông cũng là người rất tỉ mỉ trong việc hướng dẫn người đọc vận dụng lí thuyết của văn học hậu hiện đại để tiếp cận các tác phẩm văn học có yếu tố hậu hiện đại trong nhà trường Đây là cơ sở quan trọng để tạo nên cái nhìn trong mối tương quan so sánh tìm ra sự khác biệt trong việc thể hiện yếu tố hậu hiện đại qua các tác phẩm ở nền văn học của các nước có sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại

Ngoài công trình nghiên cứu cá nhân của các chuyên gia còn phải kể đến

những công trình tập thể qua các kì hội thảo quốc gia Cuốn Văn học hậu hiện đại –

Diễn giải và tiếp nhận (Kỉ yếu hội thảo khoa học quốc gia do Khoa Ngữ văn,

Trường Đại học Khoa học Huế tổ chức tháng 3 năm 2011) với 37 bài viết của các chuyên gia nghiên cứu ở nhiều độ tuổi khác nhau được tuyển tập chia làm ba nhóm: 1) Những bài viết giới thiệu và diễn giải về lý thuyết hậu hiện đại; 2) Những bài viết phê bình các tác phẩm văn học theo xu hướng hậu hiện đại trên thế giới; 3) Những

Trang 17

bài viết phê bình các tác phẩm mang dấu ấn hậu hiện đại ở Việt Nam Ở nhóm bài giới thiệu và diễn giải về lý thuyết hậu hiện đại đáng lưu ý trong kỉ yếu có dẫn đăng bài các “Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại” của Lê Huy Bắc, “Phê bình văn học từ góc nhìn hậu hiện đại” của Đỗ Lai Thúy, “Tri thức và ngôn ngữ trong tinh thần hậu hiện đại” của Trương Đăng Dung, “Chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiến trình văn học Việt Nam” của Nguyễn Phú Phong, “Quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam” của hai tác giả Nguyễn Hồng Dũng và Phan Tuấn Anh, “Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI” của Thái Phan Vàng Anh Ngoài việc cung cấp các khái niệm về văn học hậu hiện đại các bài viết còn có sự kiến giải thấu đáo về hoàn cảnh xuất hiện và những khả năng thể hiện của văn học hậu hiện đại đối với nền văn học chưa có được cơ sở từ một nền văn minh hậu công nghiệp như ở nước ta

Kỉ yếu hội thảo khoa học quốc gia năm 2013 Văn học hậu hiện đại – Lí

thuyết và thực tiễn của Khoa ngữ văn – Bộ môn văn học nước ngoài của trường Đại

học Sư phạm Hà Nội với 29 bài tham luận từ các nhà nghiên cứu ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam Trong đó có 5 bài tham luận về những vấn đề chung của văn học hậu hiện đại, 8 tham luận ứng dụng lí thuyết hậu hiện đại vào nghiên cứu văn học Việt Nam, và 16 tham luận ứng dụng lí thuyết văn học hậu hiện đại vào nghiên cứu các tác giả và tác phẩm văn học nước ngoài Điều được những nhà nghiên cứu quan tâm

và làm sáng tỏ nhiều nhất là về các yêu tố thuộc về kĩ thuật viết đặc trưng của văn học hậu hiện đại như trò chơi, tính liên văn bản, phi trung tâm, huyền ảo, mảnh vỡ… Qua các bài viết được tập hợp trong cuốn kỉ yếu lần này đã cho thấy những lí thuyết soi sáng có tính chất định hướng mở đường của lí luận văn học hậu hiện đại dần dần được ứng dụng rộng rãi vào nghiên cứu đối với các trường hợp một tác giả, tác phẩm văn học cụ thể

Ngoài những công trình trên còn phải kể đến một loạt các bài viết về văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới, trong đó, có đề cập đến đặc trưng của văn học hậu hiện đại Nguyễn Hưng Quốc với nhiều bài viết khá công phu về chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại ở Việt Nam như: “Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học Việt Nam” (2000), “Giễu nhại như một ý niệm” (2005), “Văn bản và liên văn bản” (2005), “Giải lãnh thổ hóa trong văn học Việt Nam” (2008), “Toàn cầu hóa và văn

Trang 18

học Việt Nam” (2008), “Tính lai ghép trong văn học Việt Nam” (2008), “Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái cần chết trong văn học Việt Nam” (2009), “Chủ nghĩa hậu hiện đại - Những mảnh nghĩ rời” (2009), v.v… Trong các bài viết của mình, Nguyễn Hưng Quốc đã lần lượt xem xét vấn đề hậu hiện đại trong văn học Việt Nam trên rất nhiều phương diện, từ khả năng chịu ảnh hưởng, những tính chất riêng biệt ở văn học Việt Nam… Ngoài ra còn phải kể đến nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu có uy tín khác như Nguyễn Thị Bình (Một số khuynh hướng tiểu thuyết

ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay), Lê Hương Thủy (Truyện ngắn sau 1975 – một số đổi mới về thi pháp), Bích Thu (Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời

kỳ đổi mới)… Các bài nghiên cứu của Đào Tuấn Ảnh, Phùng Gia Thế, Đông La, Hoàng Ngọc Tuấn, Inrasara, Phan Nhiên Hạo, Như Huy, Trịnh Thanh Thủy, Văn Giá, Nguyễn Chí Hoan, Đoàn Cầm Thi… đã chỉ ra được những dấu hiệu hiện đại trong văn học Việt Nam nói chung và văn xuôi Việt Nam nói riêng

Văn học hậu hiện đại trong những năm gần đây đã được đưa vào chương trình đào tạo ở hệ đại học và sau đại học Trong đó có những luận án trực tiếp nghiên cứu

về văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam như: Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện

đại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 của Phùng Gia Thế, Yếu tố hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam của Lê Văn Trung, Ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đối với tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010 của Nguyễn Hồng Dũng Những

nghiên cứu nói trên là kết quả của quá trình tìm tòi, học tập và cả sự nỗ lực không mệt mỏi của các nhà Lý luận và Phê bình – Nghiên cứu văn học trên con đường đưa nền văn học Việt Nam hội nhập với văn học thế giới Đó cũng là những gợi mở hết sức thú vị cho công việc nghiên cứu về yếu tố hậu hiện đại trong văn học qua thực tiễn sáng tác ở hai tác giả Hồ Anh Thái và Murakami

1.2 Những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài

1.2.1 Những công trình nghiên cứu yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của

Trang 19

nhà văn chuyên nghiệp có sức viết mạnh mẽ với thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc Rất nhiều bài viết đánh giá cao bút lực, tài năng cũng như thái độ lao động nghệ thuật của ông Sự đổi mới ở ngòi bút của Hồ Anh Thái đã nhận được nhiều sự chú ý của các nhà phê bình trong nước và quốc tế

Sau khi hợp tuyển gồm hai tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo, Trong sương

hồng hiện ra và tám truyện ngắn được dịch sang tiếng Anh và xuất bản ở nhiều nước

trên thế giới, Hồ Anh Thái đã nhận được nhiều ý kiến đánh giá tích cực của các nhà phê bình nghiên cứu nước ngoài về sự đổi mới về tư duy nghệ thuật mang đậm cá

tính sáng tạo Wayne Karlin trong lời giới thiệu cho cuốn tiểu thuyết Người đàn bà

trên đảo cho rằng, Hồ Anh Thái đã biết vượt lên khỏi xuất phát điểm của bản thân và

nền văn học Việt Nam đương thời khi tiếp cận với những ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mĩ La tinh và tác phẩm của nhà văn Pháp gốc Czech Milan Kundera Những đổi mới dũng cảm trong cách nhìn về các vấn đề như số phận con người thời hậu chiến, những di chứng của chiến tranh, tình dục và cách ứng xử của con người trước nó Tác giả này cũng nhận thấy trong tác phẩm Hồ Anh Thái, chất hài hước, chất lạ quyện với chất Kafka dường như gây bất ngờ cho người phương Tây khi họ tìm hiểu văn học Việt Nam Từ đó Wayne Karlin đã khẳng định Hồ Anh Thái và những người đương thời Việt Nam đang tiên phong cho nền văn học của các nước đang phát triển, nền văn học không còn bị định nghĩa bằng những thông số của

cuộc đấu tranh giữa hai bên tư sản và cộng sản Riêng với cuốn tiểu thuyết Trong

sương hồng hiện ra là tác phẩm lạ trên mặt bằng văn học đương thời đã “mở ra một

cách cửa vào một nền văn hóa đang phải đấu tranh để định nghĩa mối quan hệ của mình với quá khứ và tương lai của chính mình” [139, tr 393] Jennifer Eagleton đưa

ra những nhận xét khái quát cho giá trị nội dung và nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết này: “Dường như cuốn tiểu thuyết bày tỏ niềm khao khát được quay nhìn lại quá khứ, cái quá khứ đã được ký ức đóng khung và tôn kính Sự tái tạo huyền thoại này đã thành công với sự giản dị, trong sáng của ngôn ngữ và cả yếu tố kỳ lạ” [139, tr.440] Trong bài viết ngắn “Đặt ra vấn đề cá nhân ở nước Việt Nam” (Thời báo Los Angeles, 18.9.2001), Michael Harris cũng nhận thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mĩ La tinh trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái như một dấu hiệu cho thấy

nỗ lực rất đáng kể của nhà văn Việt Nam trong việc tiếp cận với văn học thế giới

Trang 20

Chris King (Thời báo ST Louis Missuri River Front Times) nhận thấy sáng tác của

Hồ Anh Thái là hành trình đi từ những vẻ đẹp nhân bản giản dị dẫn tới nỗi đau khủng khiếp nhất, rồi nỗi đau ấy lại được cứu rỗi bằng chính sự thông hiểu nhân bản Philip Gambone nhận ra chất châm biếm, chất siêu thực và ngụ ngôn tràn đầy trong nhiều truyện của cuốn sách được cấu trúc một cách tao nhã của một trong những nhà văn Viêt Nam đương đại xuất sắc nhất Tiến sĩ văn học Ấn Độ K Pandey có nhận xét đánh giá rất cao về những truyện ngắn của Hồ Anh Thái viết về đất nước và con người Ấn Độ: “Những dòng chữ Hồ Anh Thái là những mũi kim

châm cứu Á Đông đã điểm trúng huyệt tính cách Ấn Độ” [138, tr.322]

Ở trong nước tiểu thuyết Hồ Anh Thái được đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình văn học quan tâm bởi tác giả luôn biết cách tạo ra những điều mới mẻ bất ngờ trong tác phẩm của mình Diệu Hường trong bài “Một góc nhỏ văn chương

Hồ Anh Thái” khẳng định: “Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sung sức nhất

và được đón đọc nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay Ông viết văn như một thứ lao động nghiêm ngặt, ông chăm chút cho từng câu chữ với tinh thần không chấp nhận, cái gì sẵn có, không thụ động chờ đợi, cái mà rất nhiều nhà văn khác vẫn quen gọi

là cảm hứng” [93] Nguyễn Thị Minh Thái cũng cho rằng: “Với Hồ Anh Thái, viết văn là một nghề hẳn hoi, chứ không phải là thứ lao động tài tử, nghiệp dư, một cuộc ghé chơi tình cờ như nhiều người lầm tưởng” [147, tr 351] Cùng quan điểm đó, Ngọc Ánh trong bài viết “Hồ Anh Thái – Sáng tạo, bứt phá trên từng con chữ” cũng cho rằng: “Văn chương với Hồ Anh Thái là một nghiệp với đa tầng phong cách biểu hiện, với một tiềm năng đọc mới và thấu suốt cuộc sống, con người, những gì mà với nhiều người khác đã trở nên cũ kỹ Anh biết vượt qua những lối mòn tư duy coi văn học như là tấm gương phản ánh hiện thực một cách đơn giản để nhìn cuộc đời” [2] Tác giả bài viết còn phát hiện: “Chân dung của hiện thực trong văn bản của Hồ Anh Thái có nhiều góc khuất, nhiều trạng thái, nhiều giá trị xấu tốt đan cài chứ không đơn điệu Đó không phải là thứ hiện thực “dẹt”, “phẳng” mà góc cạnh, nhiều chiều, là hiện thực “phân mảnh” [2]

Nghiên cứu về nghệ thuật thể hiện trong những tác phẩm Hồ Anh Thái, Nguyễn Đăng Điệp trong bài “Hồ Anh Thái – Người mê chơi cấu trúc” có nhiều khám phá mới mẻ và đưa ra những nhận định sắc sảo Theo ông: “Hồ Anh Thái có ý

Trang 21

thức tạo dựng một thế giới vừa giống thực bằng nhiều chi tiết ngỡ nhặt được từ đời sống ồn tạp vừa tạo nên một thế giới ngập đầy biểu tượng Thông điệp của nhà văn không hiện ra lộ liễu mà toát lên từ tình huống, qua các biểu tượng thấm đầy chất ảo” [43] Nguyễn Đăng Điệp còn phát hiện ra “cách chơi cấu trúc” đầy biến hóa của

Hồ Anh Thái trong sự bện kết, hài hòa giữa hai yếu tố tính luận đề và màu sắc tượng trưng, siêu thực – những phương diện đòi hỏi sự cao tay của người viết Ông còn chỉ ra dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua bức tranh về hiện thực: “Đó là hiện thực “phân mảnh” như các nhà hậu hiện đại vẫn thường nói đến” [43] Tác giả cũng đã nhận thấy một trong những điểm mới của tiểu thuyết Hồ Anh Thái là tính liên văn bản và khả năng dung hợp văn hóa hết sức năng động: “Khảo sát hành trình văn chương Hồ Anh Thái có thể nhận ra một kiểu đối thoại mang tính

văn hóa thấm trong từng văn bản” [43]

Viết về cuốn tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng đã đoạt được giải

thưởng văn xuôi 1986 – 1990 của Hội Nhà văn, Xuân Cang trong bài “Một hương

vị riêng”, nhận định khái quát: “Cuốn tiểu thuyết hầu như không có cốt truyện để kể lại được, nó thu hút người đọc bằng một hương vị riêng kín đáo của những chi tiết, những mảnh đời, quá khứ và hiện tại đan xen” [144, tr.391] Trần Thanh Giao,

trong bài viết “Không theo kiểu cũ”, nhấn mạnh đến sự khó đọc của Người và xe

chạy dưới ánh trăng, “vì tác giả sử dụng thủ pháp “dòng suy tưởng, cảm xúc” để

nội tâm các nhân vật được bộc lộ rõ ràng, qua đó mà cái thiện, cái ác, lẽ phải và bất công, lòng cao thượng và giả dối, … đấu nhau rất quyết liệt” [144, tr 410] Lê Minh Khuê thì nhận xét: “Có lẽ ngay từ ngày ấy, tác giả đã ý thức rằng tác phẩm văn học muốn hòa nhập được với dòng văn học chảy ào ạt ngoài kia của thế giới và muốn tiếp cận được với người đọc hôm nay thì đừng có quá lệ thuộc vào hiện thực giản đơn” [144, tr.416] Gần với ý kiến trên của Lê Minh Khuê, trong bài viết “Một cá tính sáng tạo độc đáo” (Đài tiếng nói Việt Nam, 2001), Trần Bảo Hưng cũng cho

rằng: “Có thể nói hiện thực trong Người và xe chạy dưới ánh trăng là một hiện thực

đa chiều, và để phản ánh được cái thực tại phức tạp ấy, Hồ Anh Thái sử dụng nhiều thủ pháp linh hoạt, cả phục hiện và đồng hiện; rồi một cốt truyện đầy co giãn với

những mạch ngang, lối rẽ…” [144, tr.420]

Trang 22

Nghiên cứu giọng điệu tác phẩm Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Minh Thái trong

bài “Giọng tiểu thuyết đa thanh” cho rằng: Cõi người rung chuông tận thế là tiểu

thuyết ngắn, cốt truyện khá giản dị, với điểm nhìn tiểu thuyết độc đáo, giọng kể đa thanh trên nền suy tưởng trữ tình Đây là tác phẩm đánh dấu mốc bước tiến quan trọng trong sự đổi mới nghệ thuật, đặc biệt là giọng điệu.Trong tác phẩm hiện diện

cả giọng mỉa mai châm biếm lẫn chất trữ tình suy tưởng Sự đan xen giọng điệu này làm nên tính đa thanh cho tác phẩm: “Nhiều thanh điệu của một giọng kể đa thanh, đích thực là giọng riêng của nhà văn Hồ Anh Thái trong cuốn tiểu thuyết mới tinh này” [142, tr.276] Tác giả bài viết còn phát hiện ra “giọng kể mang tính thông tấn” trong tác phẩm và đó là cơ sở tạo nên thi pháp mới cho cuốn tiểu thuyết, “thi pháp giễu nhại – thông tấn”

Phùng Gia Thế trong bài “Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam sau 1986” lại cho rằng “nhìn đời sống như những mảnh vỡ, tiểu thuyết Hồ Anh Thái thể hiện tinh tế những nỗi hoang mang về con người” và một “cái nhìn hắt sáng từ phía

sau” [124] Tác giả Trần Thị Hải Vân trong bài báo “Một chiêm nghiệm “cõi người” của Hồ Anh Thái” (báo Văn nghệ, số 16, 2009) đã đưa ra một sự phân tích

khá hệ thống về quan niệm nghệ thuật, về con người của Hồ Anh Thái trong đó nhấn mạnh các tính chất hài hước nghịch dị trong cái nhìn đời sống của nhà văn

Trên hành trình sáng tác từ 1995 đến nay, giọng điệu tiểu thuyết Hồ Anh

Thái có sự chuyển hướng, nghiêng về màu sắc trào lộng, giễu cợt, mỉa mai Tiểu

thuyết Mười lẻ một đêm là một thử nghiệm mới Hầu hết các bài viết đều đánh giá

cao tác phẩm ở chất hài hước, nghịch dị, tiêu biểu có bài “Hài hước và trữ tình” (Lê Hồng Lâm), “Chất hài hước nghịch dị trong Mười lẻ một đêm” (Hoài Nam) Ở bài

“Mười lẻ một đêm - cái nhìn hắt sáng từ phía sau”, Nguyễn Thị Minh Thái đánh giá cao lối viết mới, giọng kể mang tính thông tấn, “góc nhìn ở vị thế hắt sáng, từ phía sau, từ bản thể, giọng tiểu thuyết giễu nhại, thâm sâu” [147, tr.353]

Cuốn tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi khi vừa được xuất bản đã lập

tức nhận được nhiều luồng ý kiến đánh giá khác nhau Hoài Nam trong bài viết

“Phật sử và hư cấu văn chương” cho rằng cái mới của tác phẩm là “quan điểm cá nhân của tác giả về Đức Phật và từ đó, là cách tác giả xử lý những tư liệu liên quan

xa gần đến đức Phật” [98] và thành công của tiểu thuyết là ở khả năng tưởng tượng,

Trang 23

hư cấu văn chương, chủ yếu ở chương Savitri Tác giả đánh giá về cách xây dựng nhân vật đức Phật của Hồ Anh Thái: “Nhân vật này hiện lên với diện mạo của một hiền giả, một triết gia, một nhà tư tưởng vĩ đại, nhưng vẫn không thôi đậm chất Người” [98] Ý kiến đánh giá này thống nhất với những ý kiến của nhiều nhà phê bình khác cho rằng Hồ Anh Thái thành công vì anh đã “người hóa” đức Phật, khiến hình ảnh đức Phật hiện lên vừa giản dị vừa gần gũi, vừa thiêng liêng, lại cũng vô cùng trần thế Đây chính là phép giải thiêng, kĩ thuật quan trọng trong lối viết hậu hiện đại Ở bài viết “Hồ Anh Thái có sợ “giải thiêng”, Phạm Xuân Thạch chỉ ra mặt

ưu và mặt hạn chế của tiểu thuyết là lối kết cấu bộ ba với khả năng soi chiếu lẫn nhau của các nhân vật: Đức Phật, nàng Savitri và tôi nhưng Hồ Anh Thái chưa đi đến tận cùng của ý tưởng khiến cho tác phẩm chỉ mới dừng lại ở mức độ làm mầm mồng của một ý tưởng lớn Hoàng Công Danh trong bài “Tái hiện Phật sử, đồng hiện nghệ thuật” trên website cá nhân đã có những đánh giá rất sắc sảo về nghệ thuật viết của Hồ Anh Thái Tác giả cho rằng Hồ Anh Thái vẫn dùng nghệ thuật tiểu thuyết đặc sắc của mình, đó là kiểu cắt mảng và ghép mảng Sự đan xen giữa các chương với các tựa “Đức Phật”, nàng “Savitri” và “Tôi” hệt một cuộc “Sắp đặt và

diễn” trên sân khấu mà độc giả, khán giả sắp được chứng kiến và thưởng thức” Riêng về truyện ngắn, Hồ Anh Thái được chú ý trước hết bởi chất giọng giễu

nhại sắc sảo, tinh tế Lê Vĩnh Nguyên cho rằng, tiếng cười trong truyện ngắn Hồ Anh Thái có khả năng dồi dào trong việc phóng chiếu, châm biếm và chạm đến phần nhạy cảm của con người Tác giả Ngọc Hà trong bài viết “Giễu nhại ngôn ngữ thị dân” đã bước đầu chỉ ra những độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ của Hồ Anh Thái trên ba phương diện: Lối nói liệt kê, bổ sung; lối nói nhấn mạnh và lối nói thông tục Đây là một trong những dấu hiệu quen thuộc của kỹ thuật viết hậu hiện đại Tôn Phương Lan trong bài viết “Người luôn làm mới mình” cũng nhận thấy cảm hứng nhân văn trải dài và xuyên suốt trong sáng tác của Hồ Anh Thái, và ở giai đoạn đầu đó là cảm hứng chủ đạo Theo tác giả, Hồ Anh Thái luôn làm mới mình qua từng trang viết, mới trong giọng điệu, mới trong ngôn ngữ, mới trong kết cấu

Ma Văn Kháng trong bài “Cái mà văn chương ta còn thiếu” cho rằng truyện ngắn, tiểu thuyết Hồ Anh Thái thú vị trước hết ở chỗ “ từng con chữ có đời sống là lạ; ở mỗi tình tiết giàu sức khám phá, ở các mối liên tưởng lạ lùng và gần gũi; ở tổng thể

Trang 24

câu chuyện, nó mở ra một góc nhìn nhân sinh, nó cho thấy tính đa tầng, những thực tại nhìn thấy và không nhìn thấy…” [141, tr.326] Nhà văn Ma Văn Kháng đã tỏ ra rất thích giọng văn của Hồ Anh Thái vì “nó có cái thông minh, hóm hỉnh vừa sâu sắc vừa có truyền thống Hơn nữa cái này mới là cái thật thích đây: chất trào phúng, giễu nhại,cay chua mà tâm thiện, chất này văn chương ta thiếu quá! Không có tài

chịu đấy!” [141, tr 326]

Với hai tác phẩm Dấu về gió xóa, và SCB là săn bắt chuột, Hồ Anh Thái được

bạn đọc nhiệt liệt hoan nghênh và đã nhận được nhiều khen ngợi từ các chuyên gia

nghiên cứu về phương thức thể hiện Dấu về gió xóa của Hồ Anh Thái được Hoài

Nam so sánh giống như một “nồi lẩu nghệ thuật” với một loạt vấn đề lớn trong đời sống xã hội và đời sống của mỗi cá nhân người như chính trị, tôn giáo, tình yêu…,

đã được đặt ra và được xử lý một cách đặc biệt Tính chất “nồi lẩu” của tác phẩm

còn nằm trong cấu trúc và giọng điệu văn bản Hà Anh khi viết về tiểu thuyết SCB

là săn bắt chuột nhận định rằng, Hồ Anh Thái là một nhà văn đa giọng điệu có khả

năng mang đến sự tươi mới cho văn chương hiện đại

Những cách tân mang khuynh hướng hậu hiện đại ngày càng rõ nét trong kỹ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái ở những sáng tác gần đây của ông Từ Nữ đã nhìn

thấy ở Mười lẻ một đêm tính phân mảnh, rời rạc trong cốt truyện lẫn bề mặt kết cấu:

“Có thể nói, mỗi phần là một truyện ngắn, những truyện ngắn được chia bởi nhiều phân đoạn, giới thiệu được những nét riêng của nhân vật” [147, tr.289] Hoài Nam

đánh giá cao chất hài hước và nghịch dị trong Mười lẻ một đêm và xem đó như đòn

bẩy giúp Hồ Anh Thái tạo dựng nên thế giới nghệ thuật sống động và hấp dẫn Bùi Thanh Truyền và Lê Biên Thùy trong bài viết “Những cách tân quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái” đã nhận ra: “Con người trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái phức tạp, đa dạng và đều là những lát cắt chân thực cuộc sống đương đại với những cung bậc “đa sự – đa đoan” của nó” [133] Theo tác giả bài viết, vì chịu sự ảnh hưởng của dấu ấn hậu hiện đại phương Tây nên nhân vật trong tác phẩm của Hồ Anh Thái phần đông là những con người đa cực, đa trị, bất bình thường Mỗi người với nhiều ngã rẽ, không đơn tuyến, nhất phiến và ai cũng mải mê đi tìm cho mình một điểm tựa, một mục tiêu phấn đấu

Trang 25

Nguyễn Thị Huế trong bài viết “Truyện ngắn Hồ Anh Thái từ góc nhìn liên văn bản” đã khẳng định: “Với Hồ Anh Thái, dấu ấn hậu hiện đại trong sáng tác của anh khá dễ nhận biết… Đọc các tập truyện ngắn của Hồ Anh Thái có thể thấy mọi yếu tố của văn bản, từ ngôn từ, chi tiết, hình tượng cho đến giọng điệu… đều đã, đang và sẽ có thể trở thành đầu mối của một quan hệ giao tiếp rộng lớn Từ đó, cần

có một nền tri thức về văn bản để mà lĩnh hội” [92] Tác giả đã quy mối quan hệ liên văn bản về hai diện giao tiếp cơ bản: một là mối quan hệ giữa những văn bản (tác phẩm) của Hồ Anh Thái với nhau, hai là mối quan hệ giữa văn bản này với sáng tạo nghệ thuật của các tác giả khác Hỏa Diệu Thúy đã nhận ra “Dấu ấn hiện đại trong bút pháp Hồ Anh Thái” qua tinh thần “giải cấu trúc” trong tiếp cận và phản ánh hiện thực cũng như ở phương diện hình thức của tác phẩm Tác giả bài viết khẳng định “dấu ấn hậu hiện đại trong sáng tác của Hồ Anh Thái không chỉ ở ý thức lựa chọn tiếp cận đối tượng phản ánh mà trước hết và rõ nhất là ở phương thức,

kĩ thuật phản ánh” [10, tr.113] Tác giả đã làm sáng tỏ nhận định này bằng việc khảo sát qua các yếu tố như dấu ấn “mã kép”, dấu ấn liên văn bản trong sáng tác của Hồ Anh Thái

Sáng tác của Hồ Anh Thái được nhiều tác giả lựa chọn làm đối tượng nghiên

cứu trong nhiều đề tài khoa học khác nhau Có thể nói Hồ Anh Thái là một hiện

tượng tiểu thuyết trong văn học Việt Nam đương đại, nên trong những năm gần đây,

tác phẩm của tác giả này thường xuyên được chọn làm đối tượng nghiên cứu cho

các báo cáo khoa học, khóa luận, luận văn của các sinh viên và học viên như: Cái kỳ

ảo trong Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái của hai sinh viên Nguyễn

Thị Thu Hằng và Vũ Thúy Mây (2005); Tìm hiểu vài nét về nhân vật người kể

chuyện trong Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái của sinh viên Ngô

Thị Thu Trang (2006); Nguyễn Thị Thanh Nga với khóa luận tốt nghiệp Cái kỳ ảo

trong văn chương Hồ Anh Thái (2004); Vũ Thúy Mây với Nhân vật tiểu thuyết trong Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái (2006); Nguyễn Thị Ngọc Hà với Kết cấu tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra (2006); Phạm Lan Anh với Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái (Năm 2005); Nguyễn Thị Kim

Lan với Nghệ thuật kết cấu trong một số tiểu thuyết huyền ảo triết luận của Tạ Duy

Anh, Châu Diên, Hồ Anh Thái (Năm 2006); Nguyễn Hữu Tâm với Nghệ thuật trần

Trang 26

thuật trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái (2006); Nguyễn Bá Thạch với Cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của Hồ Anh Thái (Năm 2007); Nguyễn Thị Vân Nga với Về tiểu thuyết cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái (2004); Võ Anh Minh với Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan điểm nghệ thuật vì con người, (2005); Ngô Thị

Thu Hương với Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua 3 tác phẩm“Người và xe chạy

dưới ánh trăng, cõi người rung chuông tận thế, mười lẻ một đêm” (2007); Phạm Anh

Tuấn với Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong sáng tác Hồ Anh Thái, (2008); Trần Lê Nhật Tâm với Chất trào lộng trong truyện ngắn Hồ Anh Thái; Trần Thị Hoài Phương với Biểu tượng như một phương thức phản ánh của văn xuôi đương đại (qua tác

phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái), (2008)…

Hồ Anh Thái xuất hiện trong văn đàn không những làm cho vườn hoa văn

học đương đại nước nhà thêm tỏa sắc mà còn góp phần khẳng định vị thế của nền văn học Việt Nam trong dòng chảy văn học thế giới Tác phẩm của ông ngày càng gây được sự chú ý của dư luận và bạn đọc, được đề cập trong nhiều bài báo, công trình nghiên cứu khác nhau Yếu tố hậu hiện đại trong các sáng tác của ông thể hiện

rõ nét ở nhiều phương diện khác nhau Đây là cơ sở để chúng tôi tiến hành khảo sát một cách có hệ thống và đặt trong mối quan hệ so sánh với yếu tố hậu hiện đại trong

sáng tác của Murakami

1.2.2 Những công trình nghiên cứu yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Haruki Murakami

Haruki Murakami là nhà văn hiện đại Nhật Bản nhận được nhiều sự đánh giá

cao về vai trò và vị trí trong vườn hoa văn học Nhật đương đại Ông rất xứng đáng với vị trí một trong những tiểu thuyết gia thế kỉ 20 quan trọng nhất của Nhật Bản

Đề cập đến thời đại lắm bão tố hiện nay, Matsuda Tetsuo của nhật báo Yomiuri có

số in lớn nhất ở Nhật, viết: “Trong bất cứ trận bão lớn nào cũng có những nhà văn giương cao ngọn đèn soi cho quần chúng Murakami Haruki đang và sẽ lãnh vai trò

đó” Ngay từ khi tiểu thuyết Rừng Nauy xuất hiện đã có hàng ngàn lời tán tụng dành

cho cả tác giả và tác phẩm Từng tác phẩm lớn được ra đời sau đó lại làm tăng thêm

vị thế cho sự nghiệp văn học của Haruki Murakami Ông đã chiếm lĩnh được ngày càng nhiều sự yêu mến trong độc giả và cả giới phê bình Qua những sáng tác của mình Haruki Murakami đã cho thấy ông thực sự là một nhà văn hậu hiện đại với kĩ

Trang 27

thuật hết sức tinh tế và điêu luyện Chính tác giả cũng đã thấy tự hào về điều này Ông từng phát biểu ông không nghĩ mình là nhà văn hậu hiện đại, nhưng nếu mọi người gọi bằng cái tên đó thì ông cũng không phản đối Ông không quan trọng việc người ta gọi mình là gì nhưng ông có cơ sở để tự hào mình là một người kể chuyện khá cừ Ở Việt Nam Haruki Murakami đã và sẽ tiếp tục làm tốn nhiều giấy mực của giới nghiên cứu và phê bình viết về ông Năm 2007, nhà xuất bản tổng hợp thành

phố Hồ Chí Minh đã cho xuất bản cuốn Truyện ngắn Murakami – nghiên cứu và

phê bình của Hoàng Long Tác giả cuốn sách này đã nhìn lại những dấu mốc quan

trọng trong cuộc đời của Murakami tác động tới sự ra đời của các tác phẩm văn học đưa đến cho người đọc nhiều sự hiểu biết về Murakami trong văn nghiệp và cuộc đời Cuốn sách còn giới thiệu 5 truyện ngắn của Kawabata, 14 truyện ngắn tiêu biểu của Haruki đặt trong sự đối sánh qua đó thấy được sự vận động của văn hóa Nhật Bản từ Kawabata đến Haruki Murakami Tuy nhiên ở cuốn sách này chỉ dừng lại ở việc giới thiệu tác phẩm chứ chưa có những nghiên cứu phê bình cụ thể về yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Murakami

Tại Hội thảo “Thế giới của Haruki và Banana Yoshimoto” được công ty Nhã Nam hợp tác cùng đại sứ quán Nhật Bản tổ chức tại Hà Nội, tháng 3, năm 2007, dịch giả Lâm Thiếu Hoa với bài “Những vẻ đẹp trong tác phẩm Haruki Murakami”

đã chỉ ra được vẻ đẹp văn chương, vẻ đẹp cô độc và vẻ đẹp ẩn dụ trong tiểu thuyết của Murakami

Năm 2011 Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội cho xuất bản cuốn Những

cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật Bản hiện đại do Nguyễn Tuấn Khanh biên

soạn và giới thiệu Tác giả đã trang trọng dành 40 trang trong cuốn sách này để giới thiệu về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Haruki Murakami Lí giải về sức hút của tác phẩm Murakami với công chúng, Nguyễn Tuấn Khanh cho rằng đó chính là nhờ “sức sáng tạo của Murakami thực phong phú, đa dạng và mỗi tác phẩm của ông là một tìm tòi, khám phá mới về thế giới, về đáy sâu tâm hồn con người” [68, tr.401] Tác giả cuốn sách cũng đã nhìn thấy được những giá trị phổ quát mang tính nhân loại trong trang văn của Murakami Đó không chỉ là một xã hội Nhật thời hậu công nghiệp mà còn là những vấn đề có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào, bất

cứ nơi nào trên thế giới, nó chứa đựng tính toàn cầu sâu sắc “Murakami đã viết ra

Trang 28

một thứ văn soi rọi những vấn nạn của thế giới hậu hiện đại, vạch rõ sự khủng hoảng của nước Nhật kể từ cuối thời kì hậu chiến” [68, tr.440] Cùng quan điểm này trong bài viết “Thực tại và con người trong tiểu thuyết của Haruki Murakami”, tác giả Trần Tố Loan cũng nhận định: “Những điều Haruki Murakami đặt ra trong các tác phẩm đã chạm đến những vấn đề mang tính nhân loại, đặc biệt là cuộc vật lộn của con người trong hành trình cuộc đời để tìm thấy bản ngã đích thực của mình trong một thế giới nhiều khả thể” [75]

Dưới sự soi sáng của lí thuyết hậu hiện đại qua các công trình được các nhà

lí luận dày công nghiên cứu và giới thiệu, yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Haruki Murakami ngày càng thu hút được sự quan tâm của nhiều chuyên gia nghiên

cứu Trong cuốn Văn học hậu hiện đại – Diễn giải và tiếp nhận (Kỉ yếu hội thảo

khoa học quốc gia 2011) với 37 bài viết tham gia hội thảo đã có 3 bài các nhà nghiên cứu hướng về Murakami và yếu tố hậu hiện đại trong các sáng tác của ông Trong bài viết “Kiểu con người đa ngã trong tiểu thuyết Người tình Sputnik của Haruki Murakami”, Trần Thị Tố Loan nhận định những tác phẩm của Murakami

“thực sự là những hành trình đầy trăn trở, những cuộc lãng du kì lạ trong hiện thực, những cuộc vượt thoát ra ngoài không gian, thời gian và thám hiểm vào cõi nội tâm đầy bí ẩn của con người để truy tầm bản ngã cho mình” [119, tr.481] Và “Haruki Murakami, với những tác phẩm sâu sắc đã lặng lẽ hòa vào dòng văn học mới bằng cảm thức của con người hoang mang trước sợ đổ vỡ của các đại tự sự” [119, tr.482]

Riêng với tiểu thuyết Người tình Sputnik, tác giả nhìn thấy được kĩ thuật viết văn

hậu hiện đại của Murakami khi ông “đã diễn tả được tinh tế cảm thức của thời đại con người không tin vào đại tự sự nữa, họ đi tìm những mảnh vỡ của chính mình.Và mỗi mảnh vỡ ấy chính là một cái tôi của họ - cái tôi đa ngã” [119, tr.491]

Hà Văn Lưỡng với bài viết “Dấu ấn nghệ thuật hậu hiện đại trong một số sáng tác của Haruki Murakami” đã chỉ ra những điểm rõ nét hơn về sự thể hiện của

kĩ thuật viết hậu hiện đại ở những tác phẩm của Murakami qua ba đặc điểm quan trọng đáng chú ý đó là sự phá vỡ kết cấu kể chuyện truyền thống, sử dụng nhiều biểu tượng, ẩn dụ, và việc sử dụng nhiều yếu tố giễu nhại Về kết cấu tác phẩm của Murakami, theo Hà Văn Lưỡng, đó là “lối kết cấu mở, có sự cắt dán, lắp ghép giữa các phần, chương và đoạn văn Trong nhiều tác phẩm nhà văn đưa vào cả những

Trang 29

văn bản báo chí” [119, tr.515] Đây là xu hướng phá bỏ “đại tự sự” theo kiểu văn chương truyền thống theo tinh thần hậu hiện đại Về sử dụng các biểu tượng và ẩn

dụ, tác giả bài viết cho rằng: “Những biểu tượng, ẩn dụ và chất trinh thám xuất hiện khá nhiều trong hầu hết những tác phẩm của Haruki Murakami từ truyện ngắn đến tiểu thuyết Đó là những kí hiệu thẩm mĩ mà nhà văn sử dụng để nói lên một vấn đề

gì đó của con người và cuộc sống” [119, tr.518] Tác giả còn chú ý đến việc sử dụng yếu tố giễu nhại trong sáng tác của Murakami Đây là những nhận định thỏa đáng nhưng thật ra chỉ mới là những bước đầu trong việc nghiên cứu yếu tố hậu hiện đại được thể hiện khá phong phú và phức tạp trong toàn bộ sáng tác của Haruki Murakami, nhà văn lớn của văn học đương đại Nhật Bản

Dương Ánh Tuyết trong bài: “Quan niệm nghệ thuật của Haruki Murakami trong tác phẩm người tình Sputnick” đã chỉ ra được thủ pháp mặt nạ tác giả được Murakami thể hiện xuất sắc và thuyết phục Ngoài ra tác giả cũng nhận thấy “tính nước đôi, sự mơ hồ, tính mảnh vỡ, đa tâm điểm là đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Murakami” [119, tr.577] Tác giả khẳng định “con người cô đơn là chủ đề bao trùm trong tiểu thuyết của Murakami” [119, tr.581] Từ những phân tích khá thuyết phục của mình, Dương Ánh Tuyết khái quát: “Toàn bộ nghệ thuật của Murakami tập trung ở chỗ buộc độc giả phải đối mặt với những góc khuất trong chính con người mình Đó là cú sốc lớn nhất mà tiểu thuyết gia đầy cảm hứng Nhật Bản này mang đến cho độc giả trên hành trình thám hiểm mê lộ cuộc sống [119, tr.586]

Kỉ yếu hội thảo khoa học quốc gia năm 2013 Văn học hậu hiện đại - Lí

thuyết và thực tiễn của Khoa ngữ văn - Bộ môn văn học nước ngoài của trường Đại

học Sư phạm Hà Nội với 29 bài tham luận từ các nhà nghiên cứu ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam lại tiếp tục có 3 bài nghiên cứu về yếu tố hậu hiện đại ở sáng tác của Murakami Nguyễn Thị Kim Ngân dành sự quan tâm của mình cho “Sự tái sinh của các Motif Folklore trong Biên niên kí chim vặn dây cót của Murakami” Nguyễn Anh Dân chú ý đến “Cốt truyện phân mảnh lắp ghép trong tác phẩm của Murakami”, Dương Ánh Tuyết đề cập sâu vấn đề “Tự sự hậu hiện đại của Haruki Murakami trong Phía Nam biên giới phía Tây mặt trời” Trong mỗi bài nghiên cứu của mình các tác giả lại đóng góp thêm những phát hiện mới mẻ về nghiên cứu yếu

tố hậu hiện đại trong trang văn của Murakami Theo Nguyễn Anh Dân “phong cách

Trang 30

nghệ thuật của Murakami Haruki rất đa dạng”, tuy nhiên “về cơ bản có thể xem ông

là một cây bút hậu hiện đại “thế hệ thứ hai” của Nhật Bản” [10, tr.156] Các kĩ thuật viết văn thuộc về khuynh hướng hậu hiện đại qua tác phẩm Murakami được tác giả chỉ ra khá rõ: “Nếu xem mờ hóa, mã kép, đa điểm nhìn, nghịch lí, nhại, phân mảnh, hỗn độn… là những thước đo của chủ nghĩa hậu hiện đại trong tác phẩm của Murakami Haruki thì độc giả sẽ không phải thất vọng trong quá trình tìm kiếm chúng” [10, tr.157] Sau đó tác giả bài viết đã đi sâu phân tích những chi tiết thể hiện cho chủ nghĩa hậu hiện đại trong sáng tác của Murakami Haruki là cốt truyện

phân mảnh và lắp ghép có thể tìm thấy qua Biên niên kí chim vặn dây cót, cuộc săn

cừu hoang, Nhảy, nhảy, nhảy, Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, 1Q84… Tác giả khẳng định: “Với cảm quan hậu hiện đại, Murakami đã xây dựng

nên những kiểu nhân vật đầy những suy nghiệm; những không - thời gian ảo hóa,

mê lộ khiến con người lạc lối, lầm lẫn; những cốt truyện và kết cấu mê cung, phân mảnh, đầy biến ảo, lôi cuốn, hấp dẫn người đọc” [10, tr.161] Còn Dương Ánh

Tuyết trong bài viết “Tự sự hậu hiện đại của Haruki Murakami trong Phía Nam biên

giới phía Tây mặt trời” [10, tr.164] đã chỉ ra được những đặc điểm : trần thuật đa

điểm nhìn, tiểu cốt truyện, nhân vật tìm kiếm bản thể, hệ thống biểu tượng

Ngoài những bài nghiên cứu được đăng trên kỉ yếu, chúng tôi còn quan tâm

đến nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí Phan Quý Bích với bài viết “Rừng

Nauy – Sex thuần túy hay nghệ thuật đích thực” đã chú ý đến vai trò của sex trong

tiểu thuyết này của Murakami Nguyễn Anh Dân trong bài “Hệ thống biểu tượng

trong Biên niên kí chim vặn dây cót” đã chỉ ra một hệ thống biểu tượng trong tác

phẩm khá đa dạng từ vật thể đến con người và nhận định rằng: “Đó hoàn toàn có thể

là một trò chơi biểu tượng của Murakami… Đây không phải là một tác phẩm dễ giải

mã khi mà trong nó ngồn ngộn hệ thống kí hiệu quy ước của cá nhân – những biểu tượng của tác giả” Trong bài “Biểu tượng cổ mẫu và thực tại phức diện qua tiểu thuyết của Murakami Haruki” đăng trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 328 tháng

10 - 2011, tác giả Nguyễn Bích Nhã Trúc đã chỉ ra và luận giải khá chi tiết về một

số cổ mẫu đắc dụng trong tiểu thuyết của Murakami như cái bóng, phức cảm Edip, linh hồn…, đây đều là những yếu tố thể hiện rõ chất phương Tây hiện đại

Trang 31

Trong luận án tiến sĩ Yếu tố hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Haruki

Murakami (2014), tác giả Lê Thị Diễm Hằng luận án đã phân tích chỉ ra được cảm

quan về con người hậu hiện đại trong sáng tác của Haruki Murakami là cô đơn, hoài nghi và phân mảnh Trần thuật trong tiểu thuyết Haruki Murakami là cấu trúc trần thuật hỗn hợp với sự đan xen và bện xoắn của hình tượng người kể chuyện phi trung tâm hóa Đó là hình thức kể chuyện ngôi thứ nhất với người kể chuyện tự bạch, hình thức kể chuyện ngôi thứ hai với với người kể chuyện phân thân đa ngã,

và hình tượng người kể chuyện ngôi thứ ba mang điểm nhìn hạn tri trong văn học Tác giả luận án cũng đã chú ý đến cấu trúc liên văn bản trong tiểu thuyết của Murakami qua các phương diện đan xen thể loại, lai ghép văn hóa, giải thiêng huyền thoại và lớp trầm tích văn hóa qua hệ thống các biểu tượng Tính đến thời điểm hiện tại ở nước ta đây là công trình nghiên cứu có hệ thống nhất về yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Haruki Murakami Ngoài ra sáng tác của Haruki Murakami cũng đã được nhiều tác giả lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu trong nhiều đề tài khoa học, các khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học viên

cao học như: Thực và ảo trong truyện ngắn của Haruki Murakami của Trần Thị Yến Minh (2007); Vấn đề tình dục qua tiểu thuyết “Người đẹp say ngủ”

(Kawabata) và “Rừng Nauy” (Haruki Murakami) (2008) của Đỗ Minh Phương; Con người bản năng trong tiểu thuyết Rừng Nauy của Haruki Murakami (2009) của

Nguyễn Văn Bằng; Cái chết trong Rừng Nauy (2009) của Nguyễn Thị Mai; Bi kịch

con người hậu hiện đại trong Rừng Nauy và Biên niên kí chim vặn dây cót của Haruki Murakami (2010) của Vũ Thị Hồng Nhung; Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn của Haruki Murakami (2010) của Hà Thị Lĩnh; Thế giới nhân vật trong Kafka bên

bờ biển của Haruki Murakami (2011) của Nguyễn Thi Ý Lan; Bút pháp hiện thực

và huyền ảo trong tiểu thuyết của Haruki Murakami (qua Kafka bên bờ biển, Biên niên kí chim vặn dây cót và xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới) (2011)

của Trần Thị Bích; Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Haruki Murakami (2011) của Trần Thị Thạch Hà; Thủ pháp dòng ý thức trong tiểu thuyết Biên niên kí

chim vặn dây cót của Haruki Murakami (2011) của Hồ Minh Thông; Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết Ngầm của Haruki Murakami (2012) của Hồ Thị Thu Hương; Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết Haruki Murakami (2012) của Lê Thị Thanh…

Trang 32

Qua rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu trên có thể thấy được tầm vóc

và sự ảnh hưởng của Haruki Murakami trong văn học Nhật Bản đương đại là rất lớn Haruki Murakami thật xứng đáng với lời khen tặng của Glasgơ Herald “là một trong những tiểu thuyết gia tinh tế nhất thế giới”, kĩ thuật viết văn của ông đã thể hiện rất tinh tế và chuyên nghiệp những yếu tố hậu hiện đại

Tiểu kết: Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã phần nào đề cập

đến được một số yếu tố thể hiện tinh thần hậu hiện đại trong sáng tác của hai nhà văn Hồ Anh Thái và Haruki Murakami Tuy nhiên các bài viết, tham luận, những công trình nghiên cứu đều tập trung vào nghiên cứu độc lập một tác giả qua khảo sát một số tác phẩm nhất định Chưa có công trình nào khảo sát yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của Hồ Anh Thái và Haruki Murakami trong một hệ thống có sự so sánh đối chiếu để tìm ra được những điểm khác biệt thú vị trên tinh thần của những cây bút hậu hiện đại Đây chính là vấn đề đang bị bỏ ngỏ mà tác giả luận án mạnh dạn tìm tòi, nghiên cứu trên cơ sở kế thừa và phát triển kết quả đã có

Trang 33

Chương 2 HẬU HIỆN ĐẠI TRONG VĂN HỌC VÀ TIỀN ĐỀ TIẾP NHẬN

Ở HỒ ANH THÁI VÀ HARUKI MURAKAMI 2.1 Những đặc trưng thi pháp cơ bản của văn học hậu hiện đại

Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học là khuynh hướng văn học tiếp nối chủ nghĩa hiện đại (bao gồm các khuynh hướng như tiểu thuyết mới, hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa cực hạn…), ra đời vào khoảng sau chiến tranh thế giới thứ hai với các đặc trưng: sự từ chối tư tưởng trung tâm, tính liên văn bản, giễu nhại, “xuyên tạc” sự thật, lối trần thuật hỗn độn, xóa nhòa ranh giới giữa tinh tuyển và bình dân… Tác phẩm văn học viết theo tinh thần hậu hiện đại có một “hệ thống thi pháp bất định và đột phá”, sự không hạn chế về mặt chủ đề, “quan niệm hiện thực không theo mô típ chiều sâu, cuộc đời tản mạn, không

có trung tâm, không mang bản chất gì cả, cho nên sáng tác cụ thể không thể mà cũng không cần phải tập trung đề cập đến bất cứ vấn đề nào Chính đề không, phụ đề lại càng không Nhà văn hậu hiện đại sáng tác theo kiểu lắp ghép tùy tiện [17, tr.67]

Thời điểm ra đời của các khuynh hướng văn học hậu hiện đại được Barry Lewis xác định cụ thể là phương pháp sáng tác văn chương nổi bật nhất giữa những năm 1960 và 1990 Theo Mary Klages, chủ nghĩa hậu hiện đại hầu như theo đúng các tư tưởng của chủ nghĩa hiện đại: “Cũng xóa bỏ ranh giới giữa các hình thức nghệ thuật cao và thấp, xóa bỏ những phân biệt cứng nhắc về thể loại, cũng nhấn mạnh đến mô phỏng, nhại, cắt dán, mỉa mai và hài hước Nghệ thuật (và tư tưởng) hậu hiện đại đề cao phản thân và tự ý thức, sự phân mảnh và sự đứt quãng (đặc biệt trong các cấu trúc tự sự)…” [3, tr.199], tuy nhiên, chủ nghĩa hậu hiện đại “khác chủ nghĩa hiện đại ở thái độ với nhiều xu hướng” Barry Lewis cụ thể hơn khi chỉ ra các đặc điểm của văn chương hư cấu: sự phá vỡ trật tự thời gian, sự nhại văn, sự phân mảnh, tính cách lỏng lẻo trong sự liên kết ý tưởng, tính đa nghi hoang tưởng, những cặp vòng tương tác, sự rối loạn ngôn từ Jasmina Mihajlovic nghiên cứu “Những yếu tố của thi pháp hậu hiện đại trong văn xuôi Milorad Pavic” dựa trên bảy đặc

Trang 34

trưng then chốt của văn chương hậu hiện đại mà Dagmar Burkhart đã đưa ra trong

tiểu luận “Những nhà văn mộng, Tam ngữ luận và phong cảnh vẽ bằng trà: Thi

pháp hậu hiện đại của Milorad Pavic” trình bày tại hội nghị các nhà Xlavơ học

Đức ở Berlin năm 1990:

Sự khước từ chọn một quan điểm mang tính ý hệ, tính liên văn bản và trích dẫn ở cấp độ thể loại và môtip, sự thiếu vắng tính logic nhân quả của câu chuyện, sự phá bỏ tính hiện thực và không thừa nhận trình tự logic của các hệ không gian / thời gian, xu hướng mở thay vì cố kết trong tự sự, nhân vật không hoạt động trên cấp độ tâm lý, tính chất tự chủ đề [56]

Tuy dựa vào các tiêu chí khác nhau, song giữa họ thống nhất ở đặc điểm từ chối “đại tự sự”, cổ xúy “tiểu tự sự” nhằm phi tâm hóa, đây là tư tưởng nền tảng dẫn đến các đặc trưng của văn học hậu hiện đại

Để thuận lợi cho cho quá trình khảo sát tác phẩm của hai tác giả trong luận án, chúng tôi xin phép dẫn bảng đối sánh sự khác nhau giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại của Ihab Hassan (năm 1985) và chú trọng ở một số đặc trưng cơ

bản (dẫn theo tác giả Lê Huy Bắc trong Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp

nhận):

Chủ nghĩa hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại

Chủ nghĩa lãng mạn, Chủ nghĩa tượng trưng Paraphysics/ Chủ nghĩa Đa da

Hình thức (liên kết, đóng) Phản hình thức (không liên kết,

mở)

Chi phối / biểu tượng Bất lực / im lặng

Khách thể nghệ thuật / Tác phẩm hoàn thành Tiến triển / trình diễn / đang xảy ra

Sáng tạo / toàn thể / tổng hợp Phi sáng tạo / giải cấu trúc / phản

đề

Thể loại / ranh giới Văn bản / liên văn bản

Ngữ nghĩa học Tu từ học

Trang 35

Quan hệ chính phụ Quan hệ đẳng lập

Rễ gốc / sâu Rễ chùm / bề mặt

Giải thích / hiểu Chống giải thích / khó hiểu

Cái biểu đạt Cái được biểu đạt

(Văn bản) để đọc (Văn bản) để viết

Tự sự / Đại tự sự Phản tự sự/ Tiểu tự sự

Triệu chứng Khát vọng

Sinh sản / dương tính Đa sản / lưỡng tính

Hoang tưởng Tâm thần phân liệt

Bản gốc / nguyên nhân Bản sao / dấu vết

Đức chúa Cha Chúa Thánh thần

Siêu hình học Mỉa mai

Xác định Không xác định

2.1.1 Phi trung tâm hóa và tinh thần giễu nhại

Chống lại các yếu tố trung tâm là đặc trưng then chốt của chủ nghĩa hậu hiện đại nói chung và văn học hậu hiện đại nói riêng

Nếu chủ nghĩa hiện đại là một quá trình khu biệt hóa (differentiation) dựa trên một trung tâm nhất định thì chủ nghĩa hậu hiện đại lại là một quá trình giải - khu biệt hóa (de - differentiation) và xóa bỏ mọi trung tâm Cũng có thể nói chủ nghĩa hậu hiện đại là sự sụp đổ của những cái đơn nhất và toàn trị để nhường chỗ cho những phân mảnh và những yếu tố ngoại biên (margin) là sự khủng hoảng của tính nhất quán và là sự nở rộ của những sự dị biệt, là sự thoái vị của tính hệ thống và sự thăng hoa của tính đa tạp Một cách vắn tắt, tự bản chất, chủ nghĩa hậu hiện đại là một thứ chủ nghĩa đa nguyên [70]

Tính đa nguyên này được lý giải theo nhiều cách khác nhau nhưng phổ biến hơn cả là quan điểm về “đại tự sự”, “tiểu tự sự” của triết gia, nhà phê bình văn học người Pháp J F Lyotard Lyotard khái quát về hậu hiện đại: “Nói một cách thật đơn giản, hậu hiện đại là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự” [88, tr.54] Theo ông, “đại

Trang 36

tự sự” là những câu chuyện “có tính cách thần thoại” một nền văn hóa tự kể về niềm tin và hành động thực tiễn của nó Nói cách khác, đại tự sự là “bất cứ tri thức nào”

tổ chức lên một xã hội và biện minh cho nó: lịch sử, đạo đức, mĩ học, triết học, khoa học nghệ thuật… như chủ nghĩa duy vật của Marx, thuyết tiến hóa của Charles Darwin, phân tâm học Freud… Các đại tự sự chi phối mọi vận động tinh thần của

cả thời đại, con người bị áp đặt, trói buộc vào vòng kiềm tỏa của nó, do đó, không thể suy nghĩ, hành động độc lập Hiện thực họ nhìn thấy không phải là hiện thực hiện trạng mà là hiện thực được diễn dịch qua các đại tự sự Lyotard cho rằng chủ nghĩa hiện đại sử dụng các đại tự sự đó để che đậy yếu tố hỗn loạn và bất ổn - những mặt đối lập và bất định trong tiến trình kiến tạo một xã hội hợp lí - trật tự và

ổn định Vì vậy, hậu hiện đại khước từ sự tồn tại của bất kì nền tảng cơ bản nào, nó thiếu sự lạc quan đối với chân lý khoa học, triết học, hay tôn giáo - những cái có thể giải thích mọi thứ cho con người Con người hậu hiện đại nhận thấy cần đánh đổ những đại tự sự mang tính bất biến và phổ quát để mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa kể về “câu chuyện nhỏ” của riêng mình như là phản ứng, kinh ngiệm riêng tư trước những vấn đề cụ thể, ngẫu nhiên, tạm thời Tính đa nguyên, hỗn độn, đánh đổ mọi trung tâm chi phối cách nhìn về thế giới

Tiếp cận với một tác phẩm văn học hậu hiện đại, người đọc khó có thể định hình một tư tưởng, hay một thông điệp rõ ràng phổ quát nào thậm chí cả với những vấn đề đã phần nào được lịch sử xác tín Bởi vì tác phẩm văn học hậu hiện đại luôn tìm cách phá vỡ những khuôn mẫu và không chấp nhận sự tuân thủ dưới bất kì một

hệ hình tư tưởng nào Angutara Nikaya khuyên người đọc tác phẩm hậu hiện đại:

Đừng tin tưởng một điều gì vì phong văn Đừng tin tưởng điều gì vì

cớ được nhiều người nói đi nhắc lại Đừng tin tưởng điều gì dù là bút tích của thánh nhân Đừng tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến

ta nhận là điều ấy đúng Đừng tin tưởng một điều gì do ta tưởng tượng

ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai thị cho ta Đừng tin tưởng bất

cứ một điều gì chỉ vin vào có uy tín của các thầy dậy Đừng tin tưởng ngay cả lời ta nữa mà chỉ tin tưởng điều gì chính các người đã tự mình từng trải, kinh nghiệm và cho là đúng mà thôi [66]

Trang 37

Chính vì thế, trong những tác phẩm như vậy, ta dễ dàng bắt gặp việc sử dụng phổ biến các yếu tố nghịch dị, mỉa mai, phúng dụ đối với lịch sử, coi thường tính xác thực của sự kiện, cho nhiều cái nhìn va chạm với nhau hỗn loạn trong lối trần thuật mà chẳng cần hướng đến một sự thống nhất nào để tránh phải chui đầu vào một hệ quy chiếu nhất định Tác phẩm văn học hậu hiện đại hầu hết là sự tập hợp các “mảnh” độc lập tạo nên tính đa tâm điểm, trong đó, không có cái nhìn nào, kể cả cái nhìn của tác giả chiếm lĩnh vị trí thống trị cũng không ai có quyền đưa ra kết luận cuối cùng Chính thái độ này dẫn đến hiện tượng phân mảnh, sự chồng chéo các biểu tượng, kiểu kết cấu mang tính mở của tác phẩm

Chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại đều là hệ quả của các cuộc khủng hoảng, song nếu người hiện đại tỏ ra bi quan, chán chường thì người hậu hiện đại chấp nhận tình trạng đỗ vỡ do tình thế mang lại Họ cho rằng chỉ còn cách duy nhất để chống lại là “chơi đùa” với nó Tính hài hước có nhiều trong tác phẩm hiện đại và

có vẻ giống tác phẩm hậu hiện đại nhưng với chủ nghĩa hậu hiện đại tính hài hước lại trở thành trung tâm Khôi hài trích dẫn một cách mỉa mai, hài hước đen (black humor) dù không bắt đầu với những người hậu hiện đại nhưng chúng đã trở thành những nét đặc trưng chính trong nhiều tác phẩm của họ Nhiều tác phẩm được xem

là hậu hiện đại có điểm chung ở lối “hài hước đen” này: Donal Barthelme, John Barth, Joseph Heller, William Garddis, Kurt Vonnegut, Bruce Jay Friendman… Với

họ, những vấn đề quan trọng, nghiêm túc được giải quyết một cách bông đùa, hài hước Những tình huống thậm chí bi thảm, tuyệt vọng cũng được kể với giọng cười cợt đem lại dư vị khôi hài, chua chát Thái độ này được xem “như sự phản ứng lớn nhất của loài người đối với những cái vô nghĩa hoang đường mà lại thường thấy trong cuộc sống” [3, tr.81]

2.1.2 Tính liên văn bản

Liên văn bản là thuật ngữ cơ bản, phổ biến của chủ nghĩa hậu hiện đại “Liên văn bản có thể diễn giải như là: 1) Thủ pháp văn học cụ thể như trích dẫn, vay mượn, nhại, bắt chước, mô phỏng; 2) Nguyên lí phổ quát của sự tồn tại của văn bản văn học; 3) Hình ảnh “thế giới như văn bản”” [3, tr.198] Trong thời hậu hiện đại, thực tại đã “biến mất” và hình thức duy nhất để có thể “tái tạo” lại nó là trích dẫn những văn bản văn học có uy tín Liên văn bản là sự tương quan của văn bản chính

Trang 38

với các văn bản văn học, nghệ thuật khác R Barthes xác định: “Mỗi văn bản là một liên văn bản; những văn bản khác có mặt trong nó ở cấp độ khác nhau dưới những hình thái ít nhiều nhận thấy được: những văn bản của văn hóa trước đó và những văn bản của văn hóa thực tại xung quanh Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn cũ (…)” (theo I P Ilin) Trong cái “liên văn bản” hỗn hợp, văn bản cá nhân bị hòa tan dẫn đến “cái chết của chủ thể”, gồm “cái chết” của bản thân văn bản cá nhân và chính tác giả theo lời khuyến cáo của R Barthes trong

cuốn Cái chết của chủ thể (1968) Nếu trong văn học hiện đại, tác giả dường như

đứng ở đâu đó can thiệp, điều hành mọi thứ thì tình hình xoay chuyển khi thời hậu hiện đại đã điểm, tác giả mất hết quyền lực và hòa vào đám đông độc giả Số phận nhân vật cũng không “khả quan” hơn, không còn nhân vật mang tầm vóc của những

lý tưởng cao đẹp, những nhân vật điển hình đứng ở vị trí trung tâm mà “bất cứ ai,

dù là tác giả hay độc giả, bất cứ lúc nào, cũng có thể chiếm lĩnh vị trí của nó” [3, tr.56] Đằng sau những trích đoạn “liên văn bản”, nhân vật bị chìm lấp, trở nên không xác định Trong nhiều tác phẩm, nhân vật chỉ là sự nhái lại hình tượng nhân vật lịch sử hay văn học cổ điển Ngay cả khi văn học hậu hiện đại xây dựng được những mẫu nhân vật riêng thì đó cũng là những nhân vật mang chấn thương tinh thần, trở nên nghịch dị, vô nghĩa và trống rỗng, nói như nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh: “Vô Nghĩa và Trống Rỗng, đó là những nhân vật chính của văn học hậu hiện đại” [3, tr.57]

Liên văn bản là biểu hiện của sự trưng bày “hiện thực phì đại” của xã hội hậu hiện đại Những hình thức cụ thể của liên văn bản văn học: sử dụng, vay mượn đề tài, cốt truyện, trích dẫn (một cách công khai hay kín đáo), đạo văn, điển tích, nhái lại (phong cách, thể loại nhân vật…), sử dụng đề từ… Tuy nhiên, bất kì một hành động “tái sử dụng” nào cũng kèm theo một thái độ “phản ứng” với văn bản trước đó thể hiện ở các hình thức giễu nhại hay diễn dịch lại Việc sử dụng nhiều thể loại, nhiều kiểu tự sự, phong cách khác nhau tạo nên một cấu trúc lai ghép, chắp vá khơi gợi nỗi hoài nghi đối với những phương thức hiện có trong việc nhận biết và biểu hiện thực tại bởi thế giới là văn bản, vì thế chỉ có thể nhận biết thế giới thông qua các văn bản mà trên thực tế, chỉ là những mảnh rời, những dấu vết của văn bản

Trang 39

2.1.3 Bóp méo sự thật và lối trần thuật hỗn độn

Người hiện đại chối bỏ thực tại phi lý và hỗn loạn, luôn tìm kiếm với nỗ lực xác lập cho mình một thực tại có tính phù hợp, toàn vẹn để từ đó cố gắng nắm bắt ý nghĩa sâu xa của hiện thực Trong trường hợp này, người nghệ sĩ được tôn vinh như những người duy nhất có khả năng giải đáp hiện thực Các nhà văn hậu hiện đại không như vậy, họ xem hỗn độn này là không thể khắc phục được, người nghệ sĩ bất lực Họ giễu nhại nỗ lực giải thích hiện thực của người hiện đại là ảo tưởng ngây thơ Họ chấp nhận thế giới hỗn độn và gia tăng thực trạng đó bằng cách “giải cấu trúc mọi trung tâm văn hóa”, thực hiện mọi “chiến lược” tạo hiệu ứng trần thuật hỗn độn Sự thật trong tác phẩm bị bóp méo, xuyên tạc một cách cố ý thể hiện cảm quan

về thế giới đa phương đa tầng của “hiện thực phì đại” Phương thức này được phản ánh ở nguyên tắc “phi lựa chọn” – nguyên tắc đặc trưng trong văn học hậu hiện đại Theo nguyên tắc này, nhà văn hậu hiện đại “pha trộn liên tục những hiện tượng và những vấn đề thuộc các cấp độ khác nhau, là sự san bằng ý nghĩa cả những cái thực

sự có vấn đề, bỏ qua nguyên nhân và kết quả, tiền đề và lí luận” [3, tr.27], kết quả tạo ra những “hiệu ứng khác nhau của lối trần thuật hỗn độn có chủ ý, của loại diễn ngôn rời rạc nói về sự cảm nhận một thế giới bị cô lập, xa lạ, đánh mất ý nghĩa, tính quy luật và tính trật tự” [3, tr.27]

Trong khi tác phẩm hiện đại cố gắng thuyết phục người đọc tin vào tính chân thực của bức tranh hiện thực phản ánh trong tác phẩm thì ở tác phẩm hậu hiện đại tính chất giả tạo, hư cấu thể hiện rõ ràng Các thủ pháp huyền thoại, nghịch dị được

sử dụng phổ biến Chính tác giả trực tiếp bước vào văn bản, tự nói về quan điểm nghệ thuật, kĩ thuật viết cũng như quá trình sáng tác của mình Những phương thức

đó là cố gắng tạo “đoản mạch” cảm xúc để người đọc luôn bừng tỉnh rằng không thể

lí giải tác phẩm trong sự so sánh với thực tại, tỉnh táo nhìn tác phẩm nghệ thuật hư cấu như một văn bản đúng nghĩa Đó là một trò chơi mà văn bản đang tự trình bày cách chơi và mời người đọc tham dự vào trò chơi của nó Yếu tố thực được kết hợp bình đẳng với yếu tố hư cấu, đặc biệt rõ nét trong các tác phẩm siêu hư cấu lịch sử, những tác phẩm mà các sự kiện hay nhân vật lịch sử có thật đặt bên cạnh những sự kiện, nhân vật hoàn toàn hư cấu hay hư cấu những văn bản về những biến cố nổi tiếng… tạo nên sự phá vỡ trật tự thời gian Tính chất tuyến tính thời gian bị từ bỏ,

Trang 40

cấp độ thời gian khác nhau được trộn lẫn, tích hợp tạo ra một thời gian dị biệt, dẫn đến ấn tượng về tính phi thời gian và tính hằng hữu trong thời gian (có nghĩa là câu chuyện xảy ra ở thời điểm này nhưng lại gây cảm giác nó có thể hiện hữu tại bất cứ thời điểm nào trong thời gian) Các tầng không gian, thời gian xóa mờ, trộn lẫn tạo tính nước đôi, mập mờ, trộn lẫn tạo tính nước đôi, mập mờ, làm méo mó lịch sử và sai lệch cả hiện tại

Tuy tính phân mảnh và phi tuyến tính là kĩ thuật đã phổ biến trong tác phẩm hiện tại với những thành tựu đáng kể, đó là nét đặc trưng cho cả văn học hiện đại và hậu hiện đại, song các kĩ thuật này trong văn học hậu hiện đại được sử dụng một cách đa dạng, phổ biến với ý thức khác trước Tác phẩm nghệ thuật hậu hiện đại là tập hợp những mảnh vụn đứng cạnh nhau, để mỗi mảnh tự nó là một tâm điểm trong khi tác phẩm hiện đại phân mảnh rồi cố gắng đặt các mảnh đó vào một cấu trúc thống nhất Nhà văn hậu hiện đại đập nát bốn yếu tố của tiểu thuyết là cốt truyện, nhân vật, cảnh trí và đề tài Họ thể hiện nhu cầu tìm kiếm phương thức đa kết, từ chối cái tổng thể, sự liền mạch và kết thúc của những truyện truyền thống bằng cách mang lại cho truyện kể vô số hệ quả Nhiều tác giả còn phá vỡ kết cấu văn bản thành những mảnh hay đoạn ngắn bởi những nhan đề, con số, biểu tượng, trích dẫn, bản đồ… hoàn toàn không quan hệ gì đến câu chuyện

2.1.4 Đề cao tiểu tự sự và mở rộng ngoại biên

Trong khi chủ nghĩa hiện đại nỗ lực tạo nên một nền văn chương cao cấp, những nhà văn hậu hiện đại không còn đặt ra những mục tiêu cao siêu mà các tác giả hiện đại hướng đến như tính nhân loại, tính khái quát… mà với tư tưởng thâu nạp mọi thứ, họ quay về những câu chuyện đời thường, nhỏ nhặt, mang xu hướng thông tục hóa, phù hợp với xã hội tiêu dùng ngày nay Nhiều đề tài, thể loại phức tạp, thậm chí trước đây được cho là không phù hợp với văn học đều được mô phỏng, kết hợp, trở thành chất liệu của tác phẩm: những tin tức vặt vãnh trên các báo lá cải, những chuyện khiêu dâm, tiếu lâm, các thông báo… để tác phẩm gần gũi, dễ tiếp cận đối với công chúng Chính vì thế hiện thực trong tác phẩm văn học

là một “hiện thực thậm phồn” (Jean Baudrillard), ranh giới giữa hiện thực và tưởng tượng bị xóa nhòa, cái huyền ảo và thực tại khách quan được đặt trong mối quan hệ tương thông với nhau Tuy nhiên, với sự dung nạp dễ dãi đó, văn chương của họ

Ngày đăng: 29/05/2021, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Appignanesi R., Gattat Ch. (2006), Nhập môn Chủ nghĩa hậu hiện đại (Trần Tiễn Cao Đăng dịch), Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Chủ nghĩa hậu hiện đại
Tác giả: Appignanesi R., Gattat Ch
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
2. Ngọc Ánh (2008), “Nhà văn Hồ Anh Thái: sáng tạo, bứt phá trên từng con chữ”, http://www.hanoimoi.com.vn/vn/print/158439/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Hồ Anh Thái: sáng tạo, bứt phá trên từng con chữ
Tác giả: Ngọc Ánh
Năm: 2008
3. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (Biên soạn), (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lí thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lí thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (Biên soạn)
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
4. Đào Tuấn Ảnh (2005), “Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 8, tr.43-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Năm: 2005
5. Đào Tuấn Ảnh (2007), “Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 12, tr.39-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Năm: 2007
6. Lại Nguyên Ân (1986), “Khi quyền kể chuyện được trao cho nhân vật”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi quyền kể chuyện được trao cho nhân vật
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
7. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (2003), Văn học hậu hiện đại : Những vấn đề lí thuyết, Nxb Hội nhà văn, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại : Những vấn đề lí thuyết
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
8. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư dịch), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
9. M. Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
10. Barthes R. (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: Barthes R
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1997
11. Lê Huy Bắc, Lê Nguyên Cẩn, Đỗ Hải Phong (2013), Văn học hậu hiện đại – Lí thuyết và thực tiễn, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại – Lí thuyết và thực tiễn
Tác giả: Lê Huy Bắc, Lê Nguyên Cẩn, Đỗ Hải Phong
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2013
13. Lê Huy Bắc (2004), Lí luận, tác gia và tác phẩm (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận, tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
14. Lê Huy Bắc (2005), Lí luận, tác gia, tác phẩm (tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận, tác gia, tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
15. Lê Huy Bắc (2012), Văn học hậu hiện đại – Lí thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại – Lí thuyết và tiếp nhận
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2012
16. Nguyễn Thị Bình (2005), “Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 11, tr.60-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2005
17. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975- 1995, những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975- 1995, những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
18. Antonio Black (1991), “Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại”, (Nguyễn Trung Đức dịch), Tạp chí Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại
Tác giả: Antonio Black
Năm: 1991
19. Lưu Văn Bổng (2002), Văn học so sánh và thế giới hậu thực dân, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh và thế giới hậu thực dân
Tác giả: Lưu Văn Bổng
Năm: 2002
20. Bryan Walsh, “Haruki Murakami và hành trình ngược về Nhật Bản” http://evan.vnexpress.net/News/chan- dung/2007/08/3B9AD9E6/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Haruki Murakami và hành trình ngược về Nhật Bản
63. Evelyne Grossman, Phân tâm học trong nghiên cứu văn họchttp://www.khoavanhoc – ngonngu.edu.vn/home Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w