1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI 8: HƯỚNG DẪN HÓA GIẢI OAN GIA TRÁI CHỦ

216 302 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC VONG LINH KHẤN MỜI KHI TU TẬP Nếu thỉnh mời vong linh nào thì khấn đúng vong linh đó: - Vong linh gia tiên tiền tổ nội, ngoại họ: Trần, Lê… - Vong linh có duyên tại nơi đất ở của g

Trang 1

CHÙA BA VÀNG CÂU LẠC BỘ CÚC VÀNG – TẬP TU LỤC HÒA

(Biên soạn)

BÀI 8 CẦU SIÊU GIẢI OÁN KẾT

TU TẬP TẠI NHÀ

LƯU HÀNH NỘI BỘ

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU 7

HƯỚNG DẪN CHUNG 8

QUYỂN THƯỢNG HƯỚNG DẪN CÁCH TU TẬP 12

A NGHI THỨC TỤNG KINH 13

I VĂN KHẤN – LỄ PHẬT 14

II CÁC BÀI KINH 18

Ngày 1: Kinh Nhân Quả 18

Ngày 2: Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân 26

Ngày 3: Kinh Cội Phước 35

Ngày 5: Kinh Bố Thí Và Cúng Dường Như Pháp 36

Ngày 7: Kinh Chuyện Ngạ Quỷ Ngoại Bức Tường 37

Ngày 9: Kinh Nhân Duyên Của Giàu Và Nghèo 45

Ngày 11: Hai Hạng Người Đáng Được Cúng Dường 46

Ngày 13: Kinh Giữ Gìn Tài Sản 46

Ngày 15: Kinh Người Cư Sĩ 47

Ngày 17: Kinh Phước Báu Thù Thắng Của Bố Thí 48

Ngày 19: Kinh Trường Thọ Và Đoản Thọ 49

Ngày 21: Kinh Vu Khống Bậc Thánh 50

Ngày 23: Kinh Quả Báo 51

Ngày 25: Kinh Hai Loại Tội 52

Ngày 27: Kinh Khuyến Hóa Cha Mẹ Hướng Thiện 53

Ngày 29: Phước Báu Hiếu Dưỡng 54

Ngày 31: Kinh Ngày Lành Tháng Tốt 55

Ngày 33: Kinh Ba Hạng Người Nghe Pháp 56

Ngày 35: Kinh Cúng Linh 57

Trang 4

Ngày 39: Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Phẩm Bảy 59

Ngày 41: Kinh Điềm Lành Tối Thượng 63

Ngày 43: Kinh Lợi Ích Của Giữ Giới 66

Ngày 45: Kinh Chánh Tín 67

Ngày 47: Kinh Quả Báo Của Nghiệp Giết 68

Ngày 49: Khổ Vui Do Mình 69

III CÚNG CƠM VÀ HỒI HƯỚNG 70

B NGHI THỨC NGHE PHÁP 76

I VĂN KHẤN – LỄ PHẬT – CÚNG CƠM 78

II NGHE PHÁP 81

III HỒI HƯỚNG 86

QUYỂN TRUNG HƯỚNG DẪN CÁCH TU TẬP 88

A NGHI THỨC TỤNG KINH 89

I VĂN KHẤN – LỄ PHẬT 90

II CÁC BÀI KINH 94

Ngày đầu tuần 1: Kinh Ác Ma Xúi Giục Cai Trị 94

Ngày đầu tuần 2: Kinh Chuyện Ông Chủ Thợ Dệt 95

Ngày đầu tuần 3: Kinh Người Sinh Làm Nữ Dạ Xoa 99

Ngày đầu tuần 4: Kinh Hàng Ma 108

Ngày đầu tuần 5: Kinh Cần Phải Nương Tựa 119

Ngày đầu tuần 6: Kinh Nguồn Gốc Khổ Đau 121

Ngày đầu tuần 7: Kinh Để Mãi Bên Nhau 122

Ngày cuối tuần 7 (ngày 49): Kinh Từ Bi 123

III CÚNG CƠM VÀ HỒI HƯỚNG 128

B NGHI THỨC NGHE PHÁP 134

Trang 5

II NGHE PHÁP 139

III HỒI HƯỚNG 147

QUYỂN HẠ HƯỚNG DẪN CÁCH TU TẬP 149

A NGHI THỨC TỤNG KINH 150

I VĂN KHẤN – LỄ PHẬT 151

II CÁC BÀI KINH 155

Ngày đầu tuần 1: Kinh Tám Điều Giác Ngộ 155

Ngày đầu tuần 2: Kinh Tam Bảo 157

Ngày đầu tuần 3: Kinh Chiêm Bái Thánh Tích 164

Ngày đầu tuần 4: Kinh Có Sinh Ắt Có Diệt 165

Ngày đầu tuần 5: Kinh Tuổi Xế Chiều 166

Ngày đầu tuần 6: Trợ Duyên Cho Người Hấp Hối 167

Ngày đầu tuần 7: Kinh Chết – Một Sự Tất Yếu 168

Ngày cuối tuần 7: Người Mang Lại Hạnh Phúc Cho Nhân Loại 169

III CÚNG CƠM VÀ HỒI HƯỚNG 170

B NGHI THỨC NGHE PHÁP 176

I VĂN KHẤN - LỄ PHẬT – CÚNG CƠM 178

II NGHE PHÁP 181

III HỒI HƯỚNG 190

PHỤ LỤC BÀI CÚNG GIỖ, MÙNG 1, TUẦN RẰM 193

A HƯỚNG DẪN 193

B NGHI THỨC CÚNG LỄ 195

1 NGHI LỄ KHÔNG TỤNG KINH 195

Trang 6

LỄ CÚNG THÍ THỰC 207

A ĐỒ LỄ VÀ CÁCH SẮP LỄ 207

B NGHI THỨC CÚNG LỄ 208

Bài Kinh: Ngạ Quỷ Nghe Kinh 210

Bài Kinh: Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân 211

HƯỚNG DẪN NGHI THỨC THẢ PHÓNG SINH 214

Trang 7

7

LỜI NÓI ĐẦU

Kính thưa quý Phật tử!

Đức Phật dạy nhân quả, nếu chúng ta tạo các nghiệp ác thì phải

thọ chịu quả khổ, nếu chúng ta tạo các nghiệp thiện thì được hưởng

hạnh phúc Chùa Ba Vàng hướng dẫn cho Phật tử và nhân dân tu

tập theo nhân quả để chuyển hóa được các nghiệp khổ

Khi gia đình có duyên sự gì, thì gia đình tu tập, hồi hướng công

đức vào đúng việc đó, theo tâm mong cầu của gia đình (mong cầu

hướng thiện)

Trong khi tu tập, mà gia đình có phát sinh duyên sự mới, thì quý

Phật tử lại hồi hướng cho cả việc mới phát sinh

Quý Phật tử đọc kỹ phần HƯỚNG DẪN CHUNG và các phần

HƯỚNG DẪN CÁCH TU TẬP để hiểu trước khi thực hành

Trang 8

8

HƯỚNG DẪN CHUNG

1 SÁCH ĐƯỢC CHIA THÀNH 3 QUYỂN:

- Quyển thượng: Chương trình tu tập trong 49 ngày lần thứ

nhất

- Quyển trung: Chương trình tu tập trong 49 ngày lần thứ 2

- Quyển hạ: Chương trình tu tập trong 49 ngày lần thứ 3

2 CÁCH THỨC TU TẬP

Thời gian: Mỗi lần gia đình có duyên sự thì quý Phật tử tu

tập đủ 3 quyển Quý Phật tử cũng có thể phát nguyện tu thời gian ngắn, mỗi lần phát nguyện tu theo 1 quyển Lần sau phát nguyện

tu tập thì tu quyển tiếp theo

Ví dụ: Lần 1 tu theo quyển Thượng Lần 2 tu theo quyển

Trung Lần 3 tu theo quyển Hạ

Thời gian tu tập trong ngày: Tuỳ duyên sắp xếp phù hợp

với công việc của gia đình, nếu một ngày tu tập được hai thời, thì lợi ích hơn Nếu ngày nào tu được hai thời, thì vẫn tu theo chương trình của ngày đó

3 KHẤN XIN NGHỈ TU TẠI NHÀ

Nếu ngày nào quý Phật tử bận công việc phải đi xa nhà không

tu tập được, thì quý Phật tử bạch lễ xin nghỉ tu tại nhà, khi xong việc thì công phu tiếp, theo văn khấn sau:

VĂN KHẤN

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Đệ tử con tên là:… Pháp danh:… Hiện đang ở tại:… Hôm nay

là ngày… tháng… năm… Theo chương trình con đang tu tập trong

Trang 9

9

49 ngày, để chuyển nghiệp cho gia đình, nhưng hôm nay con với

lý do:… con xin nghỉ đến ngày… tháng… năm… con xin tiếp tục tu

Đây là lời chân thật của con, con xin chư Phật chứng minh cho con

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

4 SẮM LỄ CÚNG

Ngày đầu tiên của mỗi lần tu 49 ngày và ngày cuối cùng khi

tu tập xong mỗi lần 49 ngày, cúng lễ bằng mâm cơm chay và hoa,

quả Các ngày tiếp theo, từ ngày thứ hai cho đến ngày 48, mỗi ngày

đều dâng lễ cúng, một bát cơm trắng và một cốc nước chè (nếu

không có thì cúng bằng nước trắng), hoa quả tuỳ duyên (có hoặc

không có đều được)

- HƯỚNG DẪN CÁCH SẮP LỄ:

Cơm chay gồm các đồ thức ăn từ rau củ quả (không có thịt

của chúng sinh) và 1 cốc sữa tươi (các đồ lễ, sau khi lễ xong thì thọ

thực) Gia đình nào có bàn thờ Phật, thì sắp hoa quả và một bát

cơm, một cốc nước để dâng cúng Phật Đặt mâm cơm cúng lên bàn

thờ gia tiên

Gia đình nếu có bàn thờ Phật, thì hành lễ phía trước dưới ban

thờ Phật, nếu gia đình nào chưa có ban thờ Phật, thì hành lễ phía

trước dưới ban thờ gia tiên

Trường hợp trong gia đình hoặc nơi ở hiện tại của quý vị chưa

thờ tự, quý vị có thể sắp xếp một cái bàn trống, hoặc trên bàn làm

việc để gọn gàng Sau đó, quý vị có thể thực hiện tất cả các nghi lễ ở

đó, có thể cắm hương bằng cốc gạo hoặc nếu trường hợp không

được cắm hương, thì không cắm hương, thành tâm làm lễ cũng

được (vì hoàn cảnh không cho phép vẫn đảm bảo yếu tố thành

Trang 10

10

tâm) Nếu do hoàn cảnh nào đó, mà không làm được mâm cơm chay, thì có thể cúng bằng một bát cơm và một cốc nước

LƯU Ý: Khi làm lễ không kiêng kỵ ngày, giờ, tháng, năm và

tuổi Do gia đình bố trí công việc mà sắp xếp thời gian phù hợp để làm lễ

5 CÁC VONG LINH KHẤN MỜI KHI TU TẬP

Nếu thỉnh mời vong linh nào thì khấn đúng vong linh đó:

- Vong linh gia tiên tiền tổ nội, ngoại (họ: Trần, Lê)…

- Vong linh có duyên tại nơi đất ở của gia đình chúng con tại…

- Vong linh thai nhi (nếu có)…

- Vong linh oan gia trái chủ, theo nghiệp báo oán tác động vào

gia đình, trên việc (phát triển kinh tế, công danh sự nghiệp, hạnh

phúc gia đình, tính tình,)… Thông qua các hiện tượng, ví dụ: Con hư

qua hiện tượng mải chơi bỏ học…; công danh: Các duyên cản trở

người (tên)… không đồng ý…

LƯU Ý: Khi tu theo chương trình số 8 mà phát sinh muốn cầu

siêu cho vong linh gia tiên, vong linh thai nhi thì vẫn tiếp tục tu theo chương trình này, khi khấn thì bạch thêm vong linh

6 CÚNG DƯỜNG TAM BẢO

Cúng dường Tam Bảo: Dâng cúng vào chùa bằng tiền hoặc vật phẩm để tôn tạo chùa, để nuôi dưỡng chư Tăng cùng Phật tử tu tập làm việc công quả và các việc từ thiện phúc lợi xã hội Tùy tâm cúng dường Tam Bảo, hồi hướng công đức cứu độ các vong linh (cầu siêu) và hồi hướng phúc cứu độ đó đến cho gia đình để hoá giải nghiệp chướng theo mong cầu

Bạch lễ cúng dường vào buổi tu tập đầu tiên, hồi hướng công đức đến cho các vong linh theo từng mục, ví dụ: Cúng dường Tam

Trang 11

11

Bảo là: 0 đồng, hồi hướng công đức cho gia tiên bên nội họ Trần;

cúng dường Tam Bảo: 1 đồng, hồi hướng công đức cho…

Trang 12

Trong Quyển Thượng chia làm 2 phần:

A NGHI THỨC TỤNG KINH (trang 13)

B NGHI THỨC NGHE PHÁP (trang 76)

Trang 13

 Phần III: Cúng cơm - Hồi hướng

1 Mười hạnh nguyện Phổ Hiền

2 Cúng cơm

3 Phục nguyện

4 Hồi hướng - Tam tự quy

Trang 14

14

KHÓA LỄ TỤNG KINH

I VĂN KHẤN – LỄ PHẬT

 NGÀY ĐẦU TIÊN KHAI ĐÀN TỤNG KINH:

SẮP LỄ: Cúng một mâm cơm chay

(Cắm hương xong, quỳ gối, chắp tay khấn)

VĂN KHẤN

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư vị Hộ Pháp, Thiện Thần, Thần Linh ủng hộ cho chúng con

Đệ tử con tên là:… Pháp danh:… Hiện đang ở tại:… hôm nay là ngày… tháng… năm… Con xin phát nguyện tu tập quyển Thượng, theo chương trình hướng dẫn tu tập hóa giải oan gia trái chủ của chùa Ba Vàng trong 49 ngày Con tin vào nhân quả, thể theo lời Phật dạy, con nghĩ rằng từ nhiều kiếp trước, con đã tạo vô lượng tội, làm tổn hại và sát hại vô lượng chúng sinh, khiến cho chúng

sinh đau khổ, mang tâm oán hận con (và gia đình con)

Hôm nay, con xin khai lễ đàn tràng tu tập các công đức, để hồi

hướng chuyển hoá nghiệp (đọc việc: thất thoát tài sản, con bất

hiếu, chơi với bạn ác…)… Giờ này cũng xin nương oai lực Tam Bảo,

hạnh nguyện độ sinh và độ cho vong linh của chư Tăng chùa Ba

Vàng thỉnh mời tất cả chư vị vong linh (đọc vong linh mà mình

muốn mời)… hoan hỉ về tại đàn tràng, nghe kinh thính pháp và thọ

lễ vật thực hiến cúng của chúng con

Trang 15

15

Chúng con xin nhất tâm cung thỉnh chư Thiên, chư Thần cùng

các vong linh mà chúng con đã mời, cùng với chúng con nghe kinh

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

 CÁC NGÀY TỤNG KINH TIẾP THEO:

SẮP LỄ:

Các ngày tiếp theo trước mỗi bát hương, đặt lễ một bát cơm,

một cốc nước chè, nếu không có nước chè thì cúng bằng nước trắng

(Cắm hương xong, quỳ gối, chắp tay khấn)

VĂN KHẤN

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng

chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư vị Hộ Pháp, Thiện Thần,

Thần Linh ủng hộ cho chúng con

Đệ tử con tên là:… Pháp danh:… Hiện đang ở tại:… hôm nay là

ngày… tháng… năm… Con đang tu tập ngày thứ (2, 3, 5, 7, 9… 47)

theo chương trình hướng dẫn tu tập hóa giải oan gia trái chủ của

chùa Ba Vàng, để hồi hướng chuyển hoá nghiệp (đọc nghiệp: thất

thoát tài sản, con bất hiếu, chơi với bạn ác ) Con xin nương oai

lực Tam Bảo, hạnh nguyện độ sinh và độ cho vong linh của chư

Tăng chùa Ba Vàng thỉnh mời tất cả chư vị vong linh (đọc vong linh

mà mình muốn mời, nếu có việc phát sinh thêm, thì đọc thêm: nay

gia đình con mới phát sinh thêm nghiệp… nên con xin thỉnh mời

thêm các vong linh có hữu duyên với việc này: oan gia trái chủ tác

động qua hiện tượng…; vong linh ): hoan hỉ về tại đàn tràng nghe

kinh thính pháp và thọ lễ vật thực hiến cúng của chúng con

Trang 16

SẮP LỄ: Cúng một mâm cơm chay

(Cắm hương xong, quỳ gối, chắp tay khấn)

VĂN KHẤN

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Con kính bạch chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh và gia hộ cho chúng con; chư vị Hộ Pháp, Thiện Thần, Thần Linh ủng hộ cho chúng con

Đệ tử con tên là:… Pháp danh:… Hiện đang ở tại:… hôm nay là ngày… tháng… năm… Con thực hành xong phát nguyện tu tập quyển Thượng, theo chương trình hướng dẫn tu tập hóa giải oan

gia trái chủ của chùa Ba Vàng, để hồi hướng chuyển hoá nghiệp (đọc

nghiệp: thất thoát tài sản, con bất hiếu, chơi với bạn ác Con xin

nương oai lực Tam Bảo, hạnh nguyện độ sinh và độ cho vong linh của chư Tăng chùa Ba Vàng thỉnh mời tất cả chư vị vong linh có hữu duyên với các duyên sự của gia đình, hoan hỉ về tại đàn tràng, nghe kinh thính pháp và thọ lễ vật thực hiến cúng của chúng con

Chúng con xin nhất tâm cung thỉnh chư Thiên, chư Thần cùng các vong linh mà chúng con đã mời, cùng với chúng con nghe kinh

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Trang 17

(Tiếp theo tụng bài kinh tương ưng với thứ tự ngày tu tập của

mình ở phần II: CÁC BÀI KINH trang 18)

Trang 18

18

II CÁC BÀI KINH

 NGÀY TU TẬP THỨ NHẤT

BÀI KINH: NHÂN QUẢ

Một hôm, Tôn giả A Nan Đà, ở trên hội Linh Sơn cùng với một nghìn hai trăm năm mươi đại Tỳ Kheo câu hội Khi ấy A Nan Đà Tôn giả, chắp tay đỉnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi quỳ xuống thưa thỉnh đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn! Đến thời mạt Pháp, tất cả chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề, nhiều kẻ sinh niệm chẳng lành, không kính Tam Bảo, không trọng cha mẹ, không có Tam cương, Ngũ thường rối loạn, nghèo khó, thấp hèn, sáu căn chẳng đủ, trọn ngày sát sinh hại mạng cho đến nghèo giàu sang hèn không đồng nhau Do nhân duyên quả báo gì khiến nên như thế? Cúi xin Đức Thế Tôn từ bi, vì chúng con giải thích mọi sự việc!

Phật bảo A Nan cùng các đại đệ tử:

- Lành thay! Lành thay! Các ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích rành rẽ Tất cả nam nữ ở thế gian, giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên từ đời trước đến nay mà cảm quả báo Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ việc sát hại mà phóng sinh, thứ tư cần ăn chay bố thí, mới có thể gieo giống ruộng phước về sau

Phật liền nói bài kệ nhân quả rằng:

1 Xưa tin nhân quả đạo lành

Đúc chuông tô tượng lòng thành chứa chan

Nay sinh hưởng phúc làm quan

Trang 19

19

Vinh hoa phú quý giàu sang ai bì

2 Đời xưa xây cống sửa cầu

Quét đường dọn ngõ chẳng dầu chẳng e

Nay thì lên ngựa xuống xe

Đường mây thanh thản mái che mát đầu

3 Kiếp nay ăn mặc sang giàu

Nhiễu, lon, gấm vóc đủ màu thỏa thê

Là vì kiếp trước lo bề

Cúng dường Tam Bảo áo đề mũ ban

4 Kiếp nay tiền của đề huề,

Dung nhan đoan chính nhiều bề tốt tươi,

Vì xưa tâm đức thương người,

Đỡ nghèo giúp khó vẹn mười thiện căn

5 Kiếp nay gác tía lầu son,

Nhà cao cửa rộng vuông tròn trước sau,

Vì xưa tiến gạo, cúng dầu,

Đưa vào Tam Bảo đề cầu phúc lai

6 Kiếp xưa xây quán dựng trường,

Trồng cây, đào giếng, sửa đường, dọn ao,

Đời nay khỏe mạnh thọ cao,

Hồng da trắng tóc hạc nào dám đương

7 Đời nay diện mạo đoan trang,

Hình dung hòa dịu thế gian mấy người,

Trang 20

20

Bởi xưa mua hái hoa tươi,

Cúng dường Tam Bảo vẹn mười thanh cao

8 Kiếp nay linh lợi sáng tinh,

Làm hay học giỏi thông minh khác thường,

Vì xưa dọn dẹp đèn hương,

Tụng kinh niệm Phật là đường quả lai

9 Kiếp xưa Tam Bảo cúng dường,

Hoành phi, câu đối cùng hàng phướn phan,

Kiếp nay hạnh phúc chan chan,

Vợ chồng sung túc hòa an trọn đời

10 Kiếp nay cha mẹ song toàn,

Anh em hòa hợp chứa chan sum vầy,

Bởi xưa yêu mẹ quý Thầy,

Giúp người cô độc thương bầy trẻ côi

11 Đời xưa thương xót chúng sinh,

Phóng sinh thả cá cứu tình si mê,

Kiếp nay con cháu đề huề,

Hưởng thường ngũ phúc thọ bề như non

12 Đời xưa cậy sức tú bà,

Coi thường khinh miệt chồng là rác rơm,

Kiếp nay quả phụ cô đơn,

Ruột rầu đứt đoạn nguồn cơn não lòng

Trang 21

21

13 Kiếp nay chịu cảnh nô tỳ,

Hầu trên hạ dưới bù trì chủ nhân,

Bởi xưa bội nghĩa vong ân,

Qua sông phụ sóng quả thân tôi đòi

14 Kiếp nay mắt sáng uy nghi,

Dung nhan thông tuệ là vì làm sao,

Do xưa chẳng quản tiền hao,

Dầu đèn, nến sáp cúng vào Thế Tôn

15 Đời xưa chửi mẹ mắng cha,

Rủa lời tục tĩu cùng là ác tâm,

Nay thì mồm méo miệng câm,

Rụng răng thụt lưỡi tính hâm tỷ ngàn

16 Kiếp xưa bài lễ bác kinh,

Cười người tin Phật chê tình đạo chung,

Đời nay nghẹo cổ gù lưng,

Gối chùn mắt lác trông chừng lừa con

17 Kiếp nay làm giống ngựa trâu,

Đem thân cày kéo vọt đâu đã chừa,

Bởi xưa không trả nợ xưa,

Vay mà ăn quỵt làm bừa bỏ không?

18 Kiếp nay khỏe mạnh hào hùng,

Thân hình tráng kiện nhan dung phi thường,

Bởi xưa tâm đức nhiều phương,

Giúp người tật bệnh tìm đường thuốc thang

Trang 22

22

19 Đời nay khổ cực lang thang,

Chết không đất táng sống không cửa nhà,

Bởi xưa bắt nạt người ta,

Lấn già, hiếp trẻ, nộ bà, rẻ ông

20 Kiếp xưa giảng pháp in kinh,

Vô lượng công đức vào mình ấy vay,

Cúng dường Tam Bảo vật tài,

Nay phần phúc lộc hưởng hoài cao sang

21 Đời nay Phúc Lộc Thọ toàn,

Gia đình êm ấm thần quan nể vì,

Bởi xưa kính lão mến nhi,

Trọng hiền, yêu thiện vậy thì mới nên

22 Kiếp xưa kính trọng Tăng Ni,

Giúp người đơn chiếc đỡ thì gian nan,

Nay thì vợ thảo dâu ngoan,

Cháu con tôn kính mọi đàng hiển vinh

23 Đời nay con cháu khó nuôi,

Chết non quặt quẹo chẳng xuôi bề nào,

Vì xưa thù hận dâng cao,

Mắt giương tóc dựng chân cào tay giơ

24 Kiếp nay cô độc suốt đời,

Năm canh vò võ ai thời nhìn trông,

Bởi xưa phạm lỗi tà dâm,

Ngó trông, lén lút mà xâm nhà người

Trang 23

23

25 Đời xưa xem sách dâm thư,

Bói nhằng phán cuội tính hư mọi đường,

Kiếp này mù mắt lang thang,

Mó sờ, rờ rẫm biết đường nào đi

26 Kiếp xưa đâm thọc chuyện người,

Khua môi múa lưỡi làm người nát tan,

Đời nay sù sụ ho khan,

Dãi đờm hôi hám máu chan dầm dề

27 Kiếp xưa Phật Pháp không tin,

Báng đường Nhân quả, phỉ kinh Luân hồi,

Kiếp nay điếc đặc than ôi,

Mũi mồm ngơ ngáo ai dôi chuyện mình

28 Đời xưa ngược đãi súc sinh,

Đánh, lôi, giết, chẳng nể tình si mê,

Kiếp này chốc ghẻ nan y,

Hắc lào, phong hủi ê chề hám hôi

29 Kiếp xưa ganh ghét người tài,

Ác tâm hãm hại úm chài kẻ hay,

Nay bệnh bướu cổ mề đay,

Thân hình hôi hám ruồi bay hàng đàn

30 Đời xưa lắm sự dèm pha,

Gươm đưa hai lưỡi giáo khoa hai đầu,

Kiếp này sứt miệng răng vâu,

Nói lời quang quác ai hầu muốn nghe

Trang 24

24

31 Kiếp xưa đánh đập Mẹ Cha,

Hung hăng bất hiếu như là sài lang,

Đời nay dị tật phải mang,

Tay chân teo quắp rõ ràng thảm thương

32 Ngày xưa đập quán phá đường,

Hủy cầu lấp cống xem thường thiện tâm,

Đời nay què cụt hai chân,

Đi bằng đôi nạng muôn phần xót xa

33 Ngày xưa thấy kẻ cháy nhà,

Thấy người vấp ngã cười mà đứng xem,

Ngày nay tật ách kiêng khem,

Ốm o yếu đuối lại kèm cô đơn

34 Kiếp xưa gạt kẻ mù lòa,

Lừa người điếc lác để mà lợi thân,

Nay làm chó ngựa khổ tâm,

Làm loài thú vật trả dần tội xưa

35 Thấy người nguy hiểm làm ngơ,

Tai ương, cơ nhỡ lại chờ xem chơi,

Nay thì tật bệnh suốt đời,

Một mình thui thủi kêu trời ích chi

36 Kiếp xưa nói xấu người ta,

Tự dưng gắp lửa bỏ qua tay người,

Nay nhầm thuốc độc chết tươi,

Dãi đờm máu mủ eo ơi thảm buồn

Trang 25

25

37 Kiếp nay xương vẹo lưng gù,

Thân hình xấu xí hôi mù than ôi,

Xưa khinh đầy tớ mất rồi,

Đọa hành con ở xử tồi kẻ nô

38 Kiếp xưa buôn bán hại người,

Lợi to mình hưởng chỉ thời biết ta,

Nay thì tự chết trầm kha,

Treo thân lè lưỡi trông mà sởn gai

39 Kiếp xưa ngăn kẻ đi chùa,

Báng chê Tam Bảo nhớt đùa thiện nhân,

Nay thì sét đánh tung thân,

Lửa thiêu khét thịt điện tần khô xương

40 Ngày xưa kết oán gieo thù,

Hung hăng đâm chém lộn mù xát xô,

Ngày nay rắn cắn, hổ vồ,

Mèo điên, chó dại hết đồ hung hăng

41 Đời xưa chê kẻ ăn mày,

Cười người nghèo khó nhạo bầy tha hương,

Ngày nay chết rục ngoài đường,

Ruồi bâu kiến đục hết phường vô nhân

42 Kiếp xưa bạc ác vợ con,

Chân dần, tay tát mồm còn lu loa,

Ngày nay cô độc đến già,

Chó mèo cũng ghét lợn gà cũng khinh 

Trang 26

26

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! 

(Tiếp theo tụng phần III: CÚNG CƠM VÀ HỒI HƯỚNG trang 70)

Tôi bạch Phật rằng: Lạy Đức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi, chí Tôn, chí Quý, Thầy cả ba cõi, cha lành bốn loài, thiên thượng nhân gian, thảy điều tôn kính, sao Ngài lại lễ, đống xương khô kia

Này A Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia, theo Ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, đã rộng rãi đâu, những sự nghe thấy, đống xương khô ấy, hoặc là ông bà, hay là mẹ cha, của Ta thân trước, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay Ta, chí thành kính lễ Ông đem xương này, chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho Ta

Bạch Đức Thế Tôn! Con xem ở đời, phàm là con trai, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới; Những người con gái, ai cũng nhận ra, đó

là giới nữ; người chết quá khứ, xương lẫn lộn nhau, chúng con biết đâu mà phân biệt được

Đức Phật dạy rằng:

Trang 27

27

“Này A Nan con! Về bên nam giới, thì xương sắc trắng, nhấc

thấy nặng hơn Còn như nữ giới, trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh

nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc

trong mình, chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu,

sữa ở trong thân, giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc

đen.”

Tôi nghe Phật nói, thương xót vô cùng, mẹ tôi đã từng, hao

mòn như thế, nghĩ mà rơi lệ, liền bạch Phật rằng:

Lạy Đức Thế Tôn! Công ơn cha mẹ, như non như bể, thăm

thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Đức Phật rủ lòng thương

xót, dạy bảo chúng con

Đức Phật liền dạy: Này A Nan ơi! Về ân đức mẹ, trong vòng

mười tháng, đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không kể xiết:

- Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương, dính

trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng; trưa đã tiêu tan, khó lòng giữ được

- Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã

chắc gì đâu

- Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông

đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác

- Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người

- Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ năm hình, chân

tay đầu tóc

- Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ, mắt tay

mũi lưỡi, thân hình và ý

Trang 28

28

- Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi, những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn nghìn chân lông

- Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông

- Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người, ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thực tạng hướng lên, có một dãy núi, gồm

có ba quả: Một là Tu Di, hai là núi Nghiệp, ba là núi Máu, núi này đồng thời, hoá ra dòng máu, rót vào trong miệng

Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần vẹn toàn, mới đến ngày sinh Nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà

ra, không đau lòng mẹ, nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi, buốt chói từng hồi, khiến đau lòng mẹ, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, mẹ khổ vô cùng, nói sao cho xiết, sinh được thân này, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay!

- Hai nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, đau đớn vô cùng

- Ba nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, quên cả lo âu

- Bốn nhớ ơn mẹ ta, mẹ ăn miếng đắng, lại nhả miếng ngọt, dành dụm cho con

- Năm nhớ ơn mẹ ta, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo xê con

Trang 29

29

- Sáu nhớ ơn mẹ ta, ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang,

trong khi sài đẹn

- Bảy nhớ ơn mẹ ta, giặt giũ hong phơi, áo quần dơ dáy, ô uế

tanh hôi, mẹ đành cam chịu

- Tám nhớ ơn mẹ ta, khi đi đâu xa, vì thương nhớ con, trong

lòng cầy cậy, một chút không ngơi

- Chín nhớ ơn mẹ ta, vì sinh nuôi con, mà mẹ cam lòng, tạo

bao ác nghiệp

- Mười nhớ ơn mẹ ta, lòng rất thương con, trọn đời yêu dấu,

không chút nào ngơi

THỨ NHẤT ƠN:

CHÍN THÁNG MƯỜI NGÀY CƯU MANG NẶNG NHỌC

Bao kiếp duyên cùng nợ Ngày nay mới vào thai Đầy tháng sinh phủ tạng Bảy bảy sáu tinh khai Thân trọng như non Thái Động tĩnh sợ phong thai

Áo the đành xốc xếch Gương lược biếng trang đài

THỨ HAI ƠN:

KHI GẦN SINH NỞ

Khi gần ngày sinh nở Nặng nhọc khổ sở thay Cưu mang trong mười tháng Vất vả biết bao ngày

Trang 30

THỨ BỐN ƠN:

ĂN ĐẮNG NHẢ NGỌT

Mẹ ta lòng thành thực Thương con chẳng chút ngơi Nhả ngọt nào có tiếc

Ăn đắng nói cùng ai Yêu dấu như vàng ngọc Nâng niu tay chẳng rời Những mong con no ấm

Mẹ đói rét cũng vui

Trang 31

31

THỨ NĂM ƠN:

XÊ CON TỰ THẤP

Tự mình nằm chỗ ướt Chỗ ráo để xê con Hai vú phòng đói khát Hai tay ủ gió sương Thâu đêm nằm chẳng ngủ Nâng niu tựa ngọc vàng Những mong con vui vẻ Lòng mẹ mới được yên

THỨ SÁU ƠN:

BÚ MỚM NUÔI NẤNG

Đức mẹ dày như đất Công cha thẳm tựa trời Chở che coi bình đẳng Cha mẹ cũng thế thôi Chẳng quản câm, mù, điếc Chẳng hiềm quắp chân tay Bởi vì con ruột thịt

Trọn đời dạ chẳng khuây

THỨ BẢY ƠN:

TẮM GỘI GIẶT GIŨ

Vốn người có nhan sắc, Lại thêm phấn sáp xông Mày xanh như liễu lục

Trang 32

32

Má đỏ tựa sen hồng Giặt giũ khăn cùng tã Dáy dơ chẳng quản công Cốt sao quần áo sạch Búi tóc gọn là xong

THỨ TÁM ƠN:

ĐI XA LÒNG MẸ NHỚ THƯƠNG

Từ biệt lòng khôn nhẫn Sinh ly dạ đáng thương Con đi đường xa cách

Mẹ ở chốn quê hương Ngày đêm thường tưởng nhớ Sớm tối vẫn vấn vương

Như vượn thương con đỏ Khúc khúc đoạn can trường

THỨ CHÍN ƠN:

VÌ SINH CON MÀ CAM LÒNG TẠO BAO ÁC NGHIỆP

Mẹ trải bao gian khổ Công lao tựa vực trời Bồng bế cùng nuôi nấng Mong sao con ăn chơi Nhường cơm cùng xẻ áo

Mẹ đói rách cũng vui Khôn lớn tìm đôi lứa Gây dựng cho nên người

Trang 33

33

THỨ MƯỜI ƠN:

MẸ TRỌN ĐỜI THƯƠNG YÊU CON

Công cha cùng đức mẹ Cao sâu tựa biển trời Vắt cạn kiệt dòng sữa

Để cho con tươi cười

Mẹ già hơn trăm tuổi Vẫn thương con tám mươi Bao giờ ân oán hết

Tắt nghỉ cũng chẳng thôi

Có những người con, mang tâm bất hiếu, chẳng nghĩ công ơn,

cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa thu mùa đông, rét run

bức bối, chẳng lo sớm tối, ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng

thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt

mười non, dầy vò chửi giả, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình,

luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng,

năm canh vò võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, con nào hỏi

han, gái trai tránh né, mặc thây cha mẹ, đêm ngày thở than

Nếu là con trai, mang tâm bất hiếu, khi đem thức ăn, dâng lên

cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng rằng e, sợ kẻ cười chê, ví đem

quà bánh, cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy, không hề xấu hổ, vợ

con dặn bảo, vâng đúng như lời, cha mẹ hết hơi, không hề hối cải

Nếu là con gái, mang tâm bất hiếu, khi chưa gả chồng, hãy còn

ở chung, tỏ ra hiếu thảo, khi đã gả bán, về ở nhà người, một ngày

một lười, nhà ngoại không thiết, những ngày giỗ tết, có đảo về qua,

ví dụ mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận giữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng

Trang 34

mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm

Khi ấy đại chúng, nghe Phật mới ra, công đức cha mẹ, cao tầy non Thái, nghe rồi sợ hãi, hối hận vô cùng, cảm động rưng rưng, khôn cầm nước mắt, lòng đau như cắt, tâm trí rối bời, đang từ chỗ ngồi, cùng nhau đứng dậy, hướng Phật mà lạy, rồi nói lời này: Khổ thay! Khổ thay! Đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối, ngày nay biết hối, thì sự đã rồi, đau đớn lòng tôi, trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ơn đức

- Hai vì mẹ cha, đọc tụng kinh này, hàng ngày chớ bỏ

- Ba vì mẹ cha, làm chay sám hối, sớm tối ăn năn

- Bốn vì mẹ cha, cúng dàng Tam Bảo, tùy ý sở dùng

- Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày trai, phải nên nhớ giữ

- Sáu vì mẹ cha, thường hay bố thí, làm mọi việc lành

Làm được như thế, thực là con hiếu, cứu được mẹ cha

Khi ấy A Nan, liền bạch Thế Tôn: Con lạy Đức Phật! Đây là Kinh gì? Chúng con muốn trì, tụng được hay chăng?

Trang 35

35

Đức Phật dạy rằng: Chúng con nên biết, Kinh này là Kinh: Đại

Báo Phụ Mẫu Trọng Ân Chi Kinh Tất cả chúng sinh, thảy đều nên

tụng, khi ấy đại chúng, nghe Phật nói rồi, tin kính phụng hành, lễ

tạ mà lui 

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! 

(Tiếp theo tụng phần III: CÚNG CƠM VÀ HỒI HƯỚNG trang 70)

 NGÀY TU TẬP THỨ 3

BÀI KINH: CỘI PHƯỚC

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 3, phẩm Nhỏ, phần Sự có mặt, VNCPHVN

ấn hành, 1996, tr.268)

Một thời, Thế Tôn trú tại Go-mang-ga, trong khu rừng

Sim-sa-pa, dạy các Tỷ kheo:

Do sự có mặt của ba pháp, này các Tỷ kheo, một thiện nam tử

có lòng tin tạo ra nhiều phước Thế nào là ba?

Do sự có mặt của lòng tin, này các Tỷ kheo, một thiện nam tử

có lòng tin tạo ra nhiều phước

Do sự có mặt của vật bố thí, này các Tỷ kheo, một thiện nam

tử có lòng tin tạo ra nhiều phước

Do sự có mặt của các vị xứng đáng cúng dường, này các Tỷ

kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước

Do sự có mặt của ba pháp này, này các Tỷ kheo, một thiện nam

tử có lòng tin tạo ra nhiều phước 

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! 

(Tiếp theo tụng phần III: CÚNG CƠM VÀ HỒI HƯỚNG trang 70)

Trang 36

36

 NGÀY TU TẬP THỨ 5

BÀI KINH: BỐ THÍ VÀ CÚNG DƯỜNG NHƯ PHÁP

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ III, phẩm Chư Thiên, phần Bố thí, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.91)

Một thời, Thế Tôn trú ở thành Xá Vệ, tại Kỳ Viên, khu vườn của ông Cấp Cô Độc Lúc bấy giờ, mẹ của Nan-đà, nữ gia chủ người Ve-lu-kan-da-ki làm một thí vật gồm có sáu phần cúng dường chúng Tăng Bấy giờ, Thế Tôn với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhiên thấy mẹ của Nan- đà làm một thí vật gồm có sáu phần liền bảo các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, có ba phần thuộc về người bố thí và có ba phần thuộc về người nhận vật phẩm bố thí Thế nào là ba phần thuộc về người bố thí?

Này các Tỳ-kheo, người bố thí, trước khi bố thí, ý được vui lòng; trong khi bố thí, tâm được tịnh tín; sau khi bố thí, cảm thấy hoan hỉ Đây là ba phần của người bố thí

Thế nào là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, những người nhận phẩm vật bố thí, đã được ly tham hay đang thực hành hạnh ly tham; đã được ly sân hay đang thực hành hạnh ly sân; đã được ly si hay đang thực hành hạnh

ly si Đây là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí

Như vậy, này các Tỳ-kheo, đây là thí vật có sáu phần

– Này các Tỳ-kheo, công đức của thí vật sáu phần thật vô lượng: “Là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, món ăn an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả

lạc, khả hỷ, hạnh phúc và an lạc” 

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! 

(Tiếp theo tụng phần III: CÚNG CƠM VÀ HỒI HƯỚNG trang 70)

Trang 37

37

 NGÀY TU TẬP THỨ 7

CHUYỆN NGẠ QUỶ NGOẠI BỨC TƯỜNG

(Kinh Tạng Nam Truyền, Tiểu Bộ Kinh 3, Ngạ Quỷ Sự, Phẩm Con Rắn,

Chuyện Ngạ Quỷ Ngoại Bức Tường)

Bậc Đạo sư kể chuyện này trong khi đang trú tại Vương Xá

Chín mươi hai kiếp về trước, có một kinh thành tên là

Ka-si-pu-ri Vua Jay-a-se-na ngự trị nơi ấy có chánh hậu là Si-ri-ma, vương tử

Phất Sa chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, tức là đức Cổ Phật

thứ mười tám sau đức Phật Nhiên Đăng

Bấy giờ, Đại Vương Jay-a-se-na sinh tâm ngã mạn, suy nghĩ:

“Vì vương tử của ta sinh ra đời làm đức Phật, đã thành tựu đại sự

xuất thế, chỉ riêng ta có Phật, chỉ riêng ta có Pháp, chỉ riêng ta có

Tăng chúng” Do đó nhà vua luôn luôn hầu cận bên đức Phật và

không dành cơ hội cho kẻ khác

Ba hoàng đệ của đức Thế Tôn ấy do bà mẹ khác sinh ra, bèn

suy nghĩ: “Quả thật chư Phật ra đời vì lợi ích của quần sinh khắp

thế gian này, chứ không phải vì riêng một ai Nay Phụ vương ta

không dành cơ hội cho người khác Làm thế nào ta có thể phụng

sự đức Thế Tôn và Tăng chúng? Nào chúng ta hãy thi hành một

chiến thuật”

Thế là chư vị gây rối tại vùng biên địa Sau đó khi nhà vua

nghe tin về vụ rối loạn này, liền phái ba vương tử đi bình định biên

thùy Ba vị tuân lệnh và khi trở về, nhà vua hài lòng ban chư vị một

điều ước, phán bảo:

– Hãy chọn thứ gì các vương nhi muốn

Ba vị tâu:

Trang 38

– Bạch Thế Tôn, chúng đệ tử ước mong phụng sự đức Thế Tôn

ba tháng Xin đức Thế Tôn hoan hỉ an cư ba tháng mưa với chúng

Vào dịp ấy, có một số người bất mãn trong lòng, sau khi ngăn cản những vật đóng góp, chính họ lại ăn các phẩm vật và nổi lửa đốt trai đường

Trang 39

39

Sau khi ba vương tử cùng đoàn tùy tùng đã cúng dường đức

Thế Tôn và từ giã Ngài xong, ba vị đi thẳng đến phụ vương

Khi trở về, đức Thế Tôn đắc Niết-bàn vô dư y, ba vương tử và

người cai quản tỉnh ấy, vị thủ kho báu hoàng gia dần dần theo thời

gian đều từ trần và cùng với quần chúng ở đó được tái sanh thiên

giới, còn số người bất mãn trong tâm bị tái sanh địa ngục

Chín mươi hai kiếp trôi qua như vậy, trong lúc hai hạng người

trên cứ lần lượt tái sanh từ thiên giới này đến thiên giới khác và

từ địa ngục này đến địa ngục khác Rồi đến hiền kiếp này, vào thời

đức Thế Tôn Ca-Diếp (Kassapa), đám người bất mãn trong tâm tái

sanh vào loài ngạ quỷ

Vào thời ấy, loài người thường cúng dường vì lợi ích của đám

quyến thuộc quá cố của họ và nêu rõ: “Lễ vật này xin dành cho

quyến thuộc của chúng tôi” Do đó, các vong linh được an lạc Thế

rồi, chính các vong linh ấy cũng nhận biết điều này, nên sau khi

đến gần đức Phật Ca-Diếp, các vị ấy hỏi:

– Bạch Thế Tôn, giờ đây làm thế nào chúng con có thể đạt

được an lạc như vầy?

Đức Thế Tôn đáp:

– Hiện nay chư vị chưa có thể đạt được an lạc ấy, nhưng thời

gian về sau, sẽ có một đức Phật ở thế gian tên gọi là Go-ta-ma Vào

thời của đức Thế Tôn ấy, sẽ có một vị vua tên là Bình-Sa, trong chín

mươi hai kiếp nữa kể từ đây sẽ là quyến thuộc của chư vị Vua ấy

sẽ dâng lễ cúng dường đức Phật và sẽ hồi hướng công đức ấy đến

chư vị, sau đó chư vị sẽ được an lạc

Thời bấy giờ, khi điều này được phát biểu, thì cũng như thể

ta nói với các vong linh ấy: “Ngày mai chư vị sẽ được an lạc”

Trang 40

40

Về sau, khi thời kỳ có đức Phật này đã qua, đức Thế Tôn ta-ma giáng sanh vào cõi đời, ba vương tử cùng với một ngàn người từ thiên giới tái sanh vào quốc độ Ma-kiệt-đà trong các gia đình Bà-la-môn

Go-Theo thời gian, sau khi từ giã đời thế tục, ba vị trở thành các nhà khổ hạnh bện tóc, trú tại đỉnh núi Gay-a, người trước kia cai quản tỉnh thành ấy trở thành vua Bình Sa; người thủ khố hoàng gia, con của vị gia chủ, trở thành đại phú trưởng nghiệp đoàn có tên Vi-sa-kha; vợ vị ấy trở thành con gái của một vị đại phú trưởng nghiệp đoàn và được đặt tên Đam-ma-đin-na, còn đám quần chúng được tái sanh làm các vị cận thần của vua

Bấy giờ đức Thế Tôn Go-ta-ma giáng sanh cõi trần, sau bảy tuần Giác Ngộ, Ngài đến Ba-la-nại chuyển Pháp luân Ngài giáo hóa

ba vị đạo sĩ bện tóc, sau khi Ngài đã khởi đầu giáo hóa năm vị khổ hạnh và thâu nhận cả ngàn đệ tử Sau đó Ngài đi đến Ma-kiệt-đà và

an trú vua Bình-Sa vào Sơ quả Dự Lưu cùng với hơn một vạn la-môn và cư sĩ ở tại xứ Ương-già và Ma-kiệt-đà

Bà-Tuy nhiên các ngạ quỷ ở quanh cung vua suy nghĩ: “Giờ đây nhà vua sẽ làm lễ cúng tế cho chúng ta được hưởng phước” Trong lúc nhà vua làm tế lễ, nhà vua suy nghĩ: “Ta không biết bây giờ đức Thế Tôn đang trú ở đâu?” Do vậy, nhà vua không hồi hướng công đức đến ai cả Vì các ngạ quỷ không nhận được thí vật nào cả, chúng rất thất vọng thốt tiếng kêu thảm thiết mỗi đêm ở hoàng cung

Rạng ngày, nhà vua hoảng sợ trình đức Thế Tôn về chuyện đã xảy ra và hỏi:

Ngày đăng: 29/05/2021, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm