1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở việt nam

234 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Văn Hương
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Việt
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 234
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Sự cần thiết của nghiên cứu (14)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu (18)
    • 2.1 Mục tiêu nghiên cứu (18)
    • 2.2. Câu hỏi nghiên cứu (19)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (19)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (19)
    • 3.2. Phạm vi nghiên cứu (19)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (19)
  • 5. Dữ liệu dùng cho nghiên cứu (20)
  • 6. Đóng góp của luận án (21)
    • 6.1. Về mặt học thuật (21)
    • 6.2. Về mặt thực tiễn (22)
  • 7. Kết cấu của luận án (23)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRÌNH BÀY LẠI BCTC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRÌNH BÀY LẠI BCTC TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TỪ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC (25)
    • 1.1. Trình bày lại BCTC và những nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC (25)
    • 1.2. Các nghiên cứu ở nước ngoài về những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán (27)
      • 1.2.2. Những nghiên cứu đề cập đến ảnh hưởng của những đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC. 19 1.2.3. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC (32)
    • 1.3. Các nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của các nhân tố đến trình bày lại BCTC (37)
    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu được các nghiên cứu trước tiếp cận (39)
    • 1.5. Những đóng góp của các nghiên cứu trước (39)
      • 1.5.1. Những đóng góp của các nghiên cứu ở nước ngoài (39)
      • 1.5.2. Những đóng góp của các nghiên cứu ở trong nước (40)
    • 1.6. Hạn chế của các nghiên cứu trước (40)
    • 1.7. Khe hổng nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu của luận án (41)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (44)
    • 2.1. Các khái niệm (44)
      • 2.1.1. Báo cáo tài chính (44)
      • 2.1.2. Trình bày lại báo cáo tài chính (45)
    • 2.2. Các lý thuyết nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu (46)
      • 2.2.1. Lý thuyết đại diện (46)
      • 2.2.2. Lý thuyết cổ đông (51)
      • 2.2.3. Lý thuyết tam giác gian lận (52)
      • 2.2.4. Lý thuyết tín hiệu (53)
    • 2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước (55)
      • 2.3.1. Đặc điểm của HĐQT và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC (55)
      • 2.3.2. Đặc điểm cơ cấu vốn chủ sở hữu và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC (57)
      • 2.3.4. Đặc điểm kinh tế và các đặc điểm khác của công ty và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC (60)
    • 2.4. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng dùng để xem xét trong nghiên cứu này (64)
    • 2.5. Mô hình nghiên cứu thực nghiệm (66)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (70)
    • 3.1. Phương pháp nghiên cứu (70)
      • 3.1.1. Tiếp cận phương pháp nghiên cứu (70)
      • 3.1.2. Thiết kế nghiên cứu (71)
      • 3.1.3. Sự phù hợp của phương pháp nghiên cứu (72)
    • 3.2. Nghiên cứu định lượng (74)
      • 3.2.1. Quy trình (74)
      • 3.2.2. Nội dung nghiên cứu định lượng (77)
        • 3.2.2.1. Trình bày lại BCTC và sự đo lường (77)
        • 3.2.2.2. Phát triển các giả thuyết nghiên cứu (79)
      • 3.2.3. Mô hình hồi quy (94)
      • 3.2.4. Các biến và thang đo (95)
      • 3.2.5. Trình tự nghiên cứu (97)
      • 3.2.6. Mẫu và sự lựa chọn mẫu (99)
        • 3.2.6.1. Lựa chọn mẫu (99)
        • 3.2.6.2. Quy mô mẫu (99)
      • 3.2.7. Dữ liệu cho nghiên cứu (101)
        • 3.2.7.1. Mô tả dữ liệu nghiên cứu (101)
        • 3.2.7.2. Dữ liệu thu thập (101)
      • 3.2.8. Công cụ và phương pháp xử lý số liệu (102)
        • 3.2.8.1. Công cụ sử dụng (102)
        • 3.2.8.2. Phương pháp xử lý số liệu (102)
    • 3.3. Nghiên cứu định tính (104)
      • 3.3.1. Phương pháp và công cụ nghiên cứu (105)
      • 3.3.2. Chọn mẫu cho nghiên cứu (105)
      • 3.3.3. Thu thập và xử lý dữ liệu (108)
        • 3.3.3.1. Kỹ thuật thu thập số liệu (108)
        • 3.3.3.2. Xử lý dữ liệu (110)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (112)
    • 4.1. Xu hướng trình bày lại BCTC (112)
      • 4.1.1. Xu hướng trình bày lại BCTC ở các nước trên thế giới (112)
      • 4.1.2. Trình bày lại BCTC ở Việt Nam (113)
        • 4.1.2.1. Vấn đề về trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam (113)
        • 4.1.2.2. Xu hướng trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 (114)
    • 4.2. Kết quả nghiên cứu định lượng (115)
      • 4.2.1. Kết quả thống kê về việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, giai đoạn 2011 - 2015 (115)
        • 4.2.1.1. Những chỉ tiêu của BCTC thường trình bày lại sau kiểm toán (115)
        • 4.2.1.2. Kết quả thống kê thực tế trình bày lại một số chỉ tiêu ở BCTC sau kiểm toán (117)
        • 4.2.1.3. Kết quả thống kê quy mô số tiền trình bày lại ở chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên BCKQHĐKD sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam (120)
        • 4.2.1.4. Kết quả thống kê trình bày lại BCTC sau kiểm toán theo lĩnh vực ngành nghề kinh doanh (121)
      • 4.2.2. Kết quả hồi quy binary logistic xác định các nhân tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết (123)
        • 4.2.2.1. Kết quả kiểm tra hệ số tương quan của các biến trong mô hình (123)
        • 4.2.2.2. Kết quả tóm tắt xử lý trường hợp của quá trình hồi quy binary logistic (123)
        • 4.2.2.3. Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (124)
        • 4.2.2.4. Kết quả kiểm định mức độ giải thích của mô hình (125)
        • 4.2.2.5. Kết quả kiểm định mức độ dự báo của mô hình (125)
        • 4.2.2.6. Kết quả kiểm định Wald (126)
        • 4.2.2.7. Kết quả kiểm định vai trò ảnh hưởng của các nhân tố (132)
    • 4.3. Kết quả của phần nghiên cứu định tính (135)
    • 4.4. Thảo luận những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán (137)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, CÁC HÀM Ý VÀ KIẾN NGHỊ (150)
    • 5.1. Kết luận (150)
      • 5.1.1. Những nhân tố thuộc về đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty (153)
      • 5.1.2. Những nhân tố thuộc về đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn của công ty (154)
      • 5.1.3. Những nhân tố thuộc về đặc điểm liên quan đến việc kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết (155)
    • 5.2. Những hàm ý từ kết quả nghiên cứu (158)
    • 5.3. Những đóng góp của luận án (160)
    • 5.4. Những hạn chế của luận án (162)
    • 5.5. Những kiến nghị đối với các bên liên quan (163)
      • 5.5.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước (163)
      • 5.5.2. Đối với công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán BCTC các công ty niêm yết (165)
      • 5.5.3. Đối với các đối tượng sử dụng BCTC (166)
      • 5.5.4. Đối với công ty niêm yết (168)
    • 5.6. Kết luận chung (169)

Nội dung

Sự cần thiết của nghiên cứu

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua hơn 15 năm phát triển với nhiều thăng trầm, trong đó yếu tố minh bạch thông tin, đặc biệt là thông tin tài chính của các công ty niêm yết, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững (Trần Thị Phượng, 2017) Gần đây, vấn đề nổi bật là sự khác biệt giữa báo cáo tài chính (BCTC) đã được kiểm toán và BCTC do các công ty tự lập và công bố Việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán không chỉ xảy ra ở một số công ty mà còn chiếm tỷ lệ lớn trong số các công ty niêm yết, với một số công ty có sự chênh lệch lợi nhuận lên tới hàng trăm tỷ đồng so với số liệu công bố trước đó.

Theo thống kê của Vietstock, tỷ lệ công ty niêm yết điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính sau kiểm toán từ năm 2012 đến 2014 lần lượt là 82%, 77% và 72%, trong khi 6 tháng đầu năm 2015 là 52% (Minh An, 2015) Một số công ty, như Công ty cổ phần Địa Ốc Dầu Khí, đã điều chỉnh lỗ năm 2013 tăng thêm 156 tỷ đồng, trong khi Tổng công ty cổ phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam giảm lỗ 487 tỷ đồng sau kiểm toán Nhiều công ty khiến nhà đầu tư bất ngờ khi kết quả kinh doanh từ lãi chuyển thành lỗ và ngược lại Việc điều chỉnh báo cáo tài chính sau kiểm toán cho thấy tính không đáng tin cậy và chất lượng thấp của các báo cáo do công ty tự lập và công bố trước đó.

Trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) không chỉ là vấn đề riêng của Việt Nam mà còn phổ biến ở nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, Trung Quốc, Iran và Malaysia Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng xu hướng trình bày lại BCTC đang gia tăng qua các năm (GAO, 2002; Chen và cộng sự, 2006; GAO, 2007; Abdullah và cộng sự, 2010; COSO, 2010; Rezaei & Mahmoudi, 2013; Abdoli & Nazemi, 2013; Srinivasan, 2013).

Các công ty niêm yết thường phải công bố báo cáo tài chính (BCTC) đã được kiểm toán, và việc trình bày lại các báo cáo này có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của người sử dụng Thông tin trong BCTC là cơ sở để nhà đầu tư xác định giá trị công ty (Ball & Brown, 1968) Khi công ty công bố BCTC với thông tin khác biệt, giá cổ phiếu trên thị trường có thể thay đổi nhanh chóng (Fama, 1970) Nhà đầu tư thường phản ứng tích cực khi công ty công bố thông tin tốt và tiêu cực khi thông tin xấu được công bố (Palmrose & cộng sự, 2001; Anderson & Yohn, 2002; GAO, 2007).

BCTC của các công ty niêm yết có ảnh hưởng lớn đến cổ đông và giao dịch chứng khoán hàng ngày Khi công ty công bố BCTC được kiểm toán với sự thay đổi từ lãi sang lỗ, điều này được coi là tin xấu cho nhà đầu tư (Callen et al., 2002) Việc công bố lại BCTC với lợi nhuận sụt giảm dẫn đến giá cổ phiếu giảm, làm giảm giá trị vốn hóa công ty (Anderson & Yohn, 2002; GAO, 2007) Tại Việt Nam, khi công ty niêm yết công bố BCTC với sự điều chỉnh lợi nhuận, giá cổ phiếu thường giảm (Nguyễn Công Phương, 2015) Ví dụ, công ty cổ phần Hùng Vương đã chứng kiến lợi nhuận giảm gần 309 tỷ đồng trong BCTC năm 2016, dẫn đến giá cổ phiếu giảm sàn liên tiếp trong 4 phiên giao dịch (tháng 2 năm 2017) Điều này đã gây thiệt hại cho nhà đầu tư đã mua cổ phiếu trước khi công bố BCTC Như vậy, việc công bố BCTC được kiểm toán có sự trình bày lại không chỉ ảnh hưởng đến giá trị thị trường của công ty mà còn gây thiệt hại cho nhà đầu tư.

Việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán diễn ra nhiều năm sẽ ảnh hưởng đáng kể đến niềm tin của nhà đầu tư vào thông tin trên BCTC của các công ty niêm yết, cũng như tác động đến thị trường chứng khoán.

Việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán ngày càng phổ biến ở các công ty niêm yết tại Việt Nam, đặt ra câu hỏi về nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng này Nhiều công ty công bố thông tin tài chính không chính xác, dẫn đến sự khác biệt giữa BCTC tự lập và BCTC đã được kiểm toán Điều này có thể xuất phát từ áp lực kinh tế hoặc sự kém hiệu quả trong quản trị công ty Việc nghiên cứu vấn đề này là cần thiết để hiểu rõ hơn về tình hình các công ty niêm yết tại Việt Nam.

Nghiên cứu về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới, cho thấy nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiện tượng này, bao gồm gian lận và sai sót Một số nghiên cứu chỉ ra rằng đặc điểm của Hội đồng quản trị công ty có tác động đáng kể (Beasley, 1996; Srinivasan, 2005; Agrawal & Chadha, 2005; Chen và cộng sự, 2006; Lobo & Zhao, 2013) Bên cạnh đó, các yếu tố liên quan đến kiểm toán BCTC tại các công ty niêm yết cũng đóng vai trò quan trọng (Lazer và cộng sự, 2004; Kinney và cộng sự, 2004; Vivek & Myungsoo, 2013; Tompson & McCoy, 2008; Francis & cộng sự).

Nghiên cứu về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán ở Việt Nam đã được đề cập trong nhiều bài viết, tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu chỉ thống kê các công ty có sự trình bày lại BCTC hoặc chỉ ra những khoản mục cụ thể mà đã được điều chỉnh Một số tác giả cũng đưa ra nhận định về nguyên nhân dẫn đến việc này từ góc độ chủ quan Gần đây, có những nghiên cứu mới nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC trong các công ty niêm yết tại Việt Nam.

Nghiên cứu chỉ ra rằng có bốn yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán trong các công ty niêm yết Theo Nguyễn Văn Hương (2016), các công ty chịu áp lực lợi nhuận có khả năng cao hơn về việc trình bày lại BCTC so với những công ty không bị áp lực này Nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) cũng cho thấy rằng một số đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) có tác động đến sai sót trọng yếu trên BCTC Cuối cùng, nghiên cứu mới nhất của Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương (2017) xác định rằng các yếu tố kinh tế của công ty có ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại chỉ tiêu lợi nhuận trong BCTC sau kiểm toán.

Khi công ty đối mặt với áp lực kinh tế như thua lỗ, nợ cao, hoặc sụt giảm giá cổ phiếu, áp lực này có thể dẫn đến việc trình bày sai lợi nhuận trên báo cáo tài chính (BCTC) tự lập, tăng khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán Ngoài ra, cơ cấu hội đồng quản trị và sở hữu vốn không hợp lý cũng ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát hành vi của nhà quản lý, dẫn đến BCTC không phản ánh đúng thực tế Tại Việt Nam, sự tồn tại của những đặc điểm này ở các công ty niêm yết đặt ra câu hỏi về ảnh hưởng của chúng đến khả năng trình bày lại BCTC sau kiểm toán Hiện tại, chưa có nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này trong bối cảnh các công ty niêm yết tại Việt Nam, do đó, cần thiết tiến hành nghiên cứu để làm rõ.

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam Mục tiêu là xác định những yếu tố tác động đến việc trình bày lại BCTC và hiểu rõ hơn về vấn đề này, từ đó giải đáp câu hỏi tại sao có sự xuất hiện của các lỗi trong BCTC.

Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán ở các công ty niêm yết tại Việt Nam rất quan trọng Nghiên cứu này giúp kế toán tìm ra giải pháp khắc phục sai sót trong lập và trình bày BCTC chưa kiểm toán, từ đó giảm thiểu khả năng trình bày lại BCTC trong tương lai Đồng thời, thông tin từ nghiên cứu sẽ hỗ trợ nhà đầu tư trong việc ra quyết định khi mua bán cổ phiếu, cũng như cảnh báo các bên sử dụng BCTC về rủi ro liên quan đến thông tin chưa được kiểm toán, giúp họ có những quyết định kinh tế chính xác hơn và giảm thiểu thiệt hại do việc trình bày lại BCTC gây ra.

Dựa trên phân tích, nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Từ năm 2011 đến 2015, việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trở thành một vấn đề quan trọng tại Việt Nam Do đó, tác giả đã chọn nghiên cứu về "Các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam" cho luận án tiến sĩ của mình.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015 Để đạt được mục tiêu này, luận án sẽ thực hiện các mục tiêu cụ thể.

+ Mục tiêu thứ nhất: Phân tích thực trạng việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam;

+ Mục tiêu thứ hai: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán

Mục tiêu thứ ba của nghiên cứu là xây dựng mô hình phân tích các yếu tố tác động đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam, đồng thời đưa ra các giả thuyết nghiên cứu liên quan.

Mục tiêu thứ tư là khám phá và phân tích các nhân tố mới tác động đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

Để hoàn thành luận án, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

(1) Thực trạng việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam như thế nào?

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam bao gồm quy định pháp lý, chất lượng kiểm toán, và tính minh bạch trong quản lý tài chính Mỗi nhân tố có mức độ ảnh hưởng khác nhau, trong đó quy định pháp lý đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định cách thức và thời điểm trình bày lại BCTC Chất lượng kiểm toán cũng ảnh hưởng đến độ tin cậy của báo cáo, trong khi tính minh bạch giúp tăng cường niềm tin của nhà đầu tư và các bên liên quan.

Ngoài các nhân tố đã được xác định qua kiểm định, vẫn có những nhân tố mới cần được khám phá có ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gắn kết, trong đó phương pháp định lượng đóng vai trò chính và phương pháp định tính hỗ trợ Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu.

Trong luận án này, tác giả sử dụng bảy phương pháp nghiên cứu chính nhằm đạt được mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán Các phương pháp này bao gồm việc dựa trên lý thuyết và nghiên cứu trước đó để xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết liên quan Đặc biệt, phương pháp hồi quy binary logistic được áp dụng để kiểm định các giả thuyết, từ đó xác định và đánh giá vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu định tính trong nghiên cứu này đóng vai trò hỗ trợ cho phương pháp định lượng, nhằm khám phá các nhân tố mới ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại BCTC sau kiểm toán ở các công ty niêm yết tại Việt Nam Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống và phỏng vấn sâu các kế toán trưởng, kế toán phụ trách lập và trình bày BCTC, cũng như nhà quản lý của các công ty niêm yết Đồng thời, nghiên cứu cũng khảo sát ý kiến của các kiểm toán viên thực hiện kiểm toán BCTC Kết quả từ phần nghiên cứu định tính này, kết hợp với phần nghiên cứu chính, giúp xác định những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam.

Dữ liệu dùng cho nghiên cứu

Việc thu thập dữ liệu cho nghiên cứu là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả nghiên cứu Tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp cho phần định lượng, bao gồm cả dữ liệu tài chính và phi tài chính, được công bố bởi các công ty niêm yết trên HOSE và HNX.

Dữ liệu tài chính: Thu thập từ BCTC năm chưa được kiểm toán và BCTC năm được kiểm toán

Tác giả đã thu thập dữ liệu báo cáo tài chính chưa được kiểm toán và báo cáo tài chính đã được kiểm toán của tất cả các công ty niêm yết trên sàn HOSE và HNX tại Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2015.

Dữ liệu này được các công ty niêm yết công bố trên trang web của chính công ty, hoặc trên trang web của HOSE và HNX

Số lượng báo cáo tài chính (BCTC) năm chưa kiểm toán và năm đã được kiểm toán được thu thập cho từng công ty và từng năm Nghiên cứu sẽ cung cấp số liệu về BCTC chưa kiểm toán và BCTC đã kiểm toán của tất cả các công ty niêm yết tại HOSE và HNX, ngoại trừ các đơn vị trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng.

Tác giả đã thu thập dữ liệu giá trị thị trường của từng công ty từ bảng giá đóng cửa vào ngày giao dịch cuối cùng của năm, được công bố bởi Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).

- Đối với dữ liệu phi tài chính:

Tất cả dữ liệu phi tài chính liên quan đến đặc điểm của hội đồng quản trị và các đặc điểm khác của công ty đã được thu thập từ các công ty niêm yết tại HOSE và HNX ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 đến 2015 Dữ liệu này được lấy từ các báo cáo thường niên của các công ty trong khoảng thời gian này, được công bố hàng năm trên trang web của HOSE và HNX.

Cuối cùng, dữ liệu được thu thập từ phỏng vấn kế toán trưởng và kế toán phụ trách lập Báo cáo tài chính (BCTC) tại các công ty niêm yết, cùng với ý kiến từ kiểm toán viên (KTV) thực hiện kiểm toán BCTC của những công ty này, đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và chất lượng báo cáo tài chính.

Đóng góp của luận án

Về mặt học thuật

Luận án này giới thiệu một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu công bố thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết tại Việt Nam, tập trung vào việc phân tích các tình huống trình bày lại BCTC sau kiểm toán.

Nghiên cứu này xác định mười một (11) nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam, trong đó một (1) nhân tố được xác định qua phương pháp thống kê và ba (3) nhân tố mới được khám phá Những phát hiện này tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC.

Nghiên cứu này đã chỉ ra những hàm ý quan trọng về quản trị công ty và cơ cấu sở hữu vốn, đồng thời giúp nhận diện các đặc điểm của công ty có khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam.

Về mặt thực tiễn

Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về thực trạng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc này tại các công ty niêm yết ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015 Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ trong việc hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán đã nhận diện thực trạng việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam, cùng với những yếu tố ảnh hưởng Từ đó, cơ quan này đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trong các công ty niêm yết.

Nhà quản lý các công ty niêm yết cần nhận diện những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán Điều này giúp họ hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến việc trình bày lại BCTC, từ đó tìm ra các giải pháp quản trị hiệu quả nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra tình trạng này trong tương lai Việc cải thiện quy trình quản lý không chỉ giảm thiểu rủi ro mà còn tăng cường niềm tin của người sử dụng BCTC vào công ty.

Nhà đầu tư chứng khoán, ngân hàng và các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính (BCTC) cần nhận diện các công ty có khả năng trình bày lại BCTC sau kiểm toán Điều này giúp họ thận trọng hơn trong việc sử dụng thông tin từ BCTC chưa được kiểm toán, từ đó đưa ra quyết định kinh tế phù hợp.

Nghiên cứu này mang lại bằng chứng quan trọng để xác định các công ty có khả năng điều chỉnh báo cáo tài chính, giúp kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán một cách hiệu quả hơn.

Kết cấu của luận án

Để đạt được mục tiêu của luận án, ngoài phần mở đầu, nội dung của luận án được trình bày ở 5 chương như sau:

Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này trong các công ty niêm yết, dựa trên các nghiên cứu trước đây Việc trình bày lại BCTC không chỉ phản ánh tính chính xác và minh bạch của thông tin tài chính mà còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố như quy định pháp lý, yếu tố nội bộ của doanh nghiệp và các tác động từ thị trường Các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng, việc hiểu rõ những nhân tố này là cần thiết để nâng cao chất lượng và độ tin cậy của BCTC trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng tăng.

Chương này tổng quan các nghiên cứu trước về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) và các nguyên nhân cũng như nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc này sau kiểm toán trong các công ty niêm yết Nội dung chương bao gồm: trình bày lại BCTC và nguyên nhân của nó; các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước về nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC; phát hiện của các nghiên cứu trước; phân tích và đánh giá các đóng góp và hạn chế của những nghiên cứu liên quan; và cuối cùng là xác định khe hổng nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu của luận án.

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết xác định những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) trong các công ty niêm yết Dựa trên các lý thuyết đã tổng hợp và kết quả nghiên cứu trước đó, chương sẽ làm rõ các yếu tố tác động đến khả năng trình bày lại BCTC sau kiểm toán Những thông tin này sẽ tạo nền tảng cho nghiên cứu, đồng thời giới thiệu mô hình nghiên cứu thực nghiệm của luận án.

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, với nghiên cứu định lượng là phương pháp chủ yếu Chương này sẽ trình bày nội dung liên quan đến phương pháp nghiên cứu được sử dụng.

Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày về dung và quy trình nghiên cứu định lượng, bao gồm mô hình nghiên cứu, các biến và thang đo của các biến Ngoài ra, quy mô mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu cho nghiên cứu định lượng sẽ được đề cập, cùng với các phương pháp xử lý số liệu Cuối cùng, chúng tôi cũng sẽ trình bày trình tự thực hiện phần nghiên cứu định tính.

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam qua các năm Nghiên cứu đã sử dụng cả phương pháp định lượng và định tính để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC, đồng thời phân tích mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố Ngoài ra, chương cũng thảo luận về các kết quả đạt được và so sánh với các nghiên cứu trước đó, làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt trong việc xác định các nhân tố này.

- Chương 5: Kết luận, các hàm ý và kiến nghị

Chương này tóm tắt các kết luận từ luận án, bao gồm những mục tiêu đã đạt được và chưa đạt được, cùng với những đóng góp và hạn chế của nghiên cứu Đồng thời, chương cũng đưa ra các hàm ý và gợi ý chính sách nhằm giảm thiểu khả năng trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam, cũng như kiến nghị cho các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính chưa được kiểm toán.

TỔNG QUAN VỀ TRÌNH BÀY LẠI BCTC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRÌNH BÀY LẠI BCTC TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TỪ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Trình bày lại BCTC và những nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC

Theo FASB, việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) được coi là một bản sửa đổi nhằm khắc phục lỗi trong BCTC đã phát hành trước đó Sự phát hành lại BCTC với các sửa đổi so với bản trước diễn ra phổ biến ở nhiều quốc gia và đã được nhiều nghiên cứu đề cập.

Trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân, theo các nghiên cứu của Plumlee & Yohn (2010), GAO (2007) và DeZoort (2011) Plumlee & Yohn (2010) chỉ ra bốn nguyên nhân chính: lỗi hệ thống nội bộ, cố ý thao túng, giao dịch phức tạp và đặc điểm của chuẩn mực kế toán GAO (2007) nhấn mạnh rằng trình bày lại BCTC có thể là do nhầm lẫn hoặc gian lận DeZoort (2011) đề cập đến các nguyên nhân tiềm ẩn như sự phức tạp của chuẩn mực kế toán, yếu kém trong kiểm soát tài chính, gia tăng sự bảo thủ của kiểm toán, áp dụng mức trọng yếu rộng, thiếu minh bạch và gian lận.

Theo Tompson & McCoy (2008), sự trình bày lại báo cáo tài chính thường xảy ra do lỗi kế toán và thay đổi trong kiểm toán Cụ thể, các nguyên nhân bao gồm mua bán, sáp nhập, thay đổi phương pháp kế toán, các hoạt động bị ngừng hoạt động hoặc hủy bỏ, cũng như sai sót, thay đổi trong cách trình bày và điều chỉnh các ước tính kế toán.

Trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) thường xuất phát từ những lý do gian lận, nhưng chủ yếu là do nhầm lẫn của kế toán và việc áp dụng sai các nguyên tắc kế toán được chấp nhận Nghiên cứu này sẽ làm rõ một số nguyên nhân chính dẫn đến việc trình bày lại BCTC.

Lỗi trong kế toán xảy ra khi một công ty phải trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) đã phát hành trước đó để sửa chữa những sai sót Những sai lầm này thường do kế toán viên không tuân thủ các tiêu chuẩn kế toán hoặc thiếu hiểu biết về chúng Điều này cho thấy rằng sự nhầm lẫn trong kế toán có thể xuất phát từ trình độ của nhân viên hoặc sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn nghề nghiệp.

Hệ thống kiểm soát nội bộ yếu có thể dẫn đến việc công ty phải trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) trước đó Theo PCAOB, điểm yếu trong kiểm soát nội bộ được định nghĩa là sự thiếu hụt có thể khiến lỗi trong BCTC không bị phát hiện Kiểm soát nội bộ bao gồm các hướng dẫn từ lãnh đạo cấp cao nhằm ngăn ngừa tổn thất do lỗi, sự cố công nghệ, sự bỏ sót của nhân viên hoặc trộm cắp Do đó, việc có một hệ thống kiểm soát nội bộ yếu sẽ gia tăng khả năng trình bày lại BCTC của công ty.

+ Gian lận: Là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban

Giám đốc và nhân viên có thể thực hiện hành vi gian dối để thu lợi bất chính, với hai loại gian lận chính là lập báo cáo tài chính (BCTC) gian lận và biển thủ tài sản Trong nghiên cứu này, trọng tâm là lập BCTC gian lận, diễn ra khi Ban Giám đốc cố ý điều chỉnh BCTC để gây hiểu lầm về tình hình tài chính, kinh doanh và khả năng sinh lời của công ty Do đó, việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán là một vấn đề quan trọng tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.

Nghiên cứu này xem xét 14 yếu tố liên quan đến lý do lập báo cáo tài chính gian lận, bao gồm việc Ban Giám đốc có thể cố tình điều chỉnh báo cáo tài chính quý 4 nhằm đánh lừa người sử dụng Hệ quả là, báo cáo tài chính năm sau khi được kiểm toán đã bị KTV phát hiện và yêu cầu trình bày lại.

Chuẩn mực kế toán có những đặc điểm quan trọng ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) Plumlee và Yohn (2010) nhấn mạnh rằng các đặc điểm này đóng góp đáng kể vào cách thức mà thông tin tài chính được thể hiện và hiểu rõ hơn trong BCTC.

Thiếu rõ ràng trong việc áp dụng chuẩn mực kế toán, sự gia tăng tài liệu do chuẩn mực ban đầu không rõ ràng, cùng với việc sử dụng phán đoán trong áp dụng và áp dụng sai các nguyên tắc chi tiết, đã dẫn đến nhiều vấn đề trong lĩnh vực kế toán.

Sự phức tạp của các giao dịch tài chính có thể dẫn đến việc trình bày lại báo cáo tài chính, như Plumlee & Yohn (2010) đã chỉ ra Các yếu tố như vốn chủ sở hữu, mua sắm và đầu tư thường liên quan đến sự phức tạp này Ngoài ra, những tình huống như hợp nhất kinh doanh, sử dụng công cụ tài chính phái sinh, thuế thu nhập trong tương lai, hợp nhất báo cáo tài chính và các giao dịch nội bộ cũng có thể làm gia tăng tính phức tạp của các giao dịch trong doanh nghiệp.

Nghiên cứu này tập trung vào việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết sau kiểm toán, bất kể nguyên nhân là do nhầm lẫn kế toán, gian lận hay lý do khác Tác giả tổng hợp các nghiên cứu trước đây liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận BCTC, sai sót trọng yếu, quản lý lợi nhuận và việc trình bày lại BCTC Mục tiêu là xác định các nhân tố tác động đến việc trình bày lại BCTC, từ đó phát triển giả thuyết và kiểm định ảnh hưởng của chúng đối với BCTC sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.

Các nghiên cứu ở nước ngoài về những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán

Nghiên cứu về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) và gian lận BCTC đã được thực hiện rộng rãi ở nhiều quốc gia như Mỹ, Úc, Canada, Trung Quốc, Iran và Malaysia Các nghiên cứu này, như của Beasley (1996), Chen và cộng sự (2006), cùng Ahmed & Goodwin (2007), đã chỉ ra những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến tính minh bạch và độ tin cậy của BCTC.

Nhiều nghiên cứu, bao gồm GAO (2007), Abdullah và cộng sự (2010), và COSO (2010), đã tìm kiếm bằng chứng về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) và gian lận BCTC trong các công ty niêm yết, nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiện tượng này Các nghiên cứu này đã áp dụng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung có ba hướng nghiên cứu chính, như được thể hiện trong sơ đồ 1.1.

Sơ đồ 1.1 trình bày các hướng tiếp cận nghiên cứu từ những nghiên cứu trước về các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại Báo cáo tài chính (BCTC) Nguồn thông tin được tổng hợp bởi tác giả, phản ánh sự đa dạng trong cách tiếp cận và phân tích các nhân tố này.

Hướng nghiên cứu đầu tiên tập trung vào mối liên hệ giữa đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) và cơ cấu sở hữu vốn công ty, cũng như ảnh hưởng của những yếu tố này đến việc trình bày lại Báo cáo tài chính (BCTC) hoặc gian lận BCTC Nghiên cứu này đã được thể hiện qua các công trình như của Beasley.

(1996), COSO (2010), Lobo & Zhao (2013), Srinivasan (2005), Abbot và cộng sự

(2004), Agrawal & Chadha (2005), Abdullah và cộng sự (2010)

HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn công ty

Những đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết Đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty

Hướng nghiên cứu thứ hai tập trung vào các đặc điểm liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) tại các công ty niêm yết, với sự đóng góp của nhiều tác giả như Lazer và cộng sự (2004), Vivek & Myungsoo (2013), Tompson & McCoy (2008), và Stanley & DeZoort (2007).

Hướng tiếp cận nghiên cứu cuối cùng tập trung vào các đặc điểm kinh tế và những yếu tố khác của công ty niêm yết Các nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực này bao gồm những công trình của Kinney & McDaniel (1989), GAO (2007), COSO (2010) và Ahmed & Goodwin.

Dưới đây, tác giả khảo lược những nghiên cứu đề cập đến những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC:

1.2.1 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn công ty đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC

Nghiên cứu trước đây tại các quốc gia như Mỹ, Úc, Trung Quốc và Malaysia đã xem xét tác động của đặc điểm Hội đồng Quản trị (HĐQT) và cơ cấu sở hữu vốn đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) cũng như gian lận BCTC Nổi bật trong số đó là nghiên cứu của Beasley.

(1996), Abbott và cộng sự (2001), Agrawal & Chadha (2005), Chen và cộng sự

Nhiều nghiên cứu (2006, GAO 2007, COSO 2010, Abdullah và cộng sự 2010, Zhizhong và cộng sự 2011, Abdoli & Nazemi 2013) đã tập trung vào việc tìm kiếm bằng chứng về ảnh hưởng của đặc điểm Hội đồng quản trị (HĐQT) đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) hoặc gian lận BCTC Các nghiên cứu này thiết kế dựa trên các đặc điểm của HĐQT và cấu trúc vốn chủ sở hữu của công ty, bao gồm quy mô HĐQT, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT, sự độc lập của HĐQT, tỷ lệ sở hữu công ty của ban giám đốc, cũng như tỷ lệ sở hữu công ty của ban giám đốc và HĐQT, và sự tham gia của giám đốc điều hành thuộc về gia đình.

Sự độc lập của Hội đồng Quản trị (HĐQT) được xác định bởi tỷ lệ thành viên bên ngoài Nghiên cứu của Zhizhong và cộng sự (2011) chỉ ra rằng sự độc lập này ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC), trong khi Beasley (1996) và Chen cùng cộng sự (2006) cho thấy mối liên hệ giữa sự độc lập của HĐQT và gian lận BCTC Các công ty có tỷ lệ thành viên bên ngoài cao trong HĐQT thường giảm thiểu rủi ro liên quan đến các vấn đề tài chính này.

Nghiên cứu cho thấy rằng sự độc lập của Hội đồng quản trị (HĐQT) có thể giảm thiểu khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) hoặc gian lận BCTC Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại không phát hiện mối liên hệ giữa tỷ lệ thành viên bên ngoài trong HĐQT và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC, như được chỉ ra trong các nghiên cứu của Abbott và cộng sự (2001), Agrawal & Chadha (2005), Abdullah và cộng sự (2010), và Ahmadabadi và cộng sự (2014).

Quy mô Hội đồng quản trị (HĐQT) có ảnh hưởng đến khả năng gian lận báo cáo tài chính (BCTC), với nghiên cứu của Beasley (1996) cho thấy quy mô HĐQT lớn hơn làm tăng khả năng gian lận Điều này phù hợp với lập luận của Jensen (1993) rằng HĐQT nhỏ hơn có chức năng kiểm soát tốt hơn Mặc dù một số nghiên cứu khác không tìm thấy mối liên hệ giữa quy mô HĐQT và khả năng trình bày lại BCTC (Agrawal & Chadha, 2005; GAO, 2007; Abdullah và cộng sự, 2010; COSO, 2010), hay sai sót trọng yếu BCTC (Abbott và cộng sự, 2001) Đặc điểm thành viên HĐQT, đặc biệt là sự hiện diện của các thành viên có chuyên môn tài chính, đã được chứng minh là giảm khả năng xảy ra trình bày lại BCTC (Abbott và cộng sự, 2004; Agrawal & Chadha, 2005; Lary & Taylor, 2012), nhờ vào khả năng giám sát tốt hơn của họ Số cuộc họp của HĐQT trong năm cũng được xác định là yếu tố ảnh hưởng đến gian lận BCTC (Chen và cộng sự, 2006) và sai sót trọng yếu BCTC (Abbott và cộng sự, 2001), với Chen và cộng sự (2006) phát hiện mối tương quan thuận giữa số cuộc họp và khả năng gian lận, trong khi Abbott và cộng sự (2001) cho thấy số cuộc họp nhiều hơn làm giảm khả năng xảy ra sai sót trọng yếu Cuối cùng, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT cũng là một yếu tố quan trọng được nhiều nghiên cứu xác định.

Nghiên cứu của Efendi và cộng sự (2007) chỉ ra rằng sự trình bày sai trọng yếu báo cáo tài chính (BCTC) thường xảy ra ở những công ty có CEO kiêm chủ tịch HĐQT Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác (Beasley, 1996; Abbott và cộng sự, 2001; Agrawal & Chadha, 2005; Chen và cộng sự, 2006; Abdullah và cộng sự, 2010; Zhizhong và cộng sự, 2011) không tìm thấy mối liên hệ giữa sự kiêm nhiệm này và việc trình bày lại BCTC Agrawal & Chadha (2005) cho thấy các công ty do gia đình sáng lập có nguy cơ cao hơn về trình bày lại BCTC Về ủy ban kiểm toán độc lập, Abbott và cộng sự (2001) phát hiện rằng sự tồn tại của ủy ban này giúp giảm thiểu sai sót trọng yếu BCTC, mặc dù Agrawal & Chadha (2005) không đồng tình Cả hai nghiên cứu đều thống nhất rằng công ty có HĐQT hoặc ủy ban kiểm toán với giám đốc độc lập có chuyên môn tài chính sẽ giảm khả năng trình bày lại BCTC Đối với tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn bên ngoài, một số nghiên cứu (Abdullah và cộng sự, 2010; Zhizhong và cộng sự, 2011) cho rằng tỷ lệ này có thể ngăn chặn sai sót trọng yếu, trong khi Wang & Wu (2011) chỉ ra rằng các công ty có trình bày lại BCTC thường có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức thấp và có cổ đông nhà nước kiểm soát Cuối cùng, mặc dù nhiều nghiên cứu đã xem xét tỷ lệ sở hữu vốn của ban giám đốc và HĐQT (Beasley, 1996; Agrawal & Chadha, 2005; Chen và cộng sự, 2006; Abdullah và cộng sự, 2010; Ahmadabadi và cộng sự, 2014; Aziz và cộng sự, 2017), rất ít nghiên cứu tìm thấy mối liên hệ rõ ràng giữa tỷ lệ này và việc trình bày lại BCTC Aziz và cộng sự (2017) đã phát hiện ra bằng chứng về ảnh hưởng của chủ sở hữu quản lý đối với vấn đề này.

Chủ sở hữu quản lý có vai trò quan trọng trong việc giảm khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC), nhờ vào việc giám sát và kỷ luật các nhà quản lý hiệu quả Điều này giúp đảm bảo rằng các khoản mục trong BCTC được trình bày một cách chính xác và không bị sai sót.

Tóm lại , có nhiều nghiên cứu tìm thấy bằng chứng một số đặc điểm của

Hội đồng quản trị của công ty đóng vai trò quan trọng trong việc trình bày lại báo cáo tài chính, bao gồm cả các vấn đề liên quan đến gian lận và sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính (Beasley, 1996; Chen và cộng sự, 2006; Zhizhong và cộng sự).

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự ảnh hưởng của các đặc điểm của Hội đồng quản trị (HĐQT) đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán, như tỷ lệ giám đốc bên ngoài và thành viên có chuyên môn tài chính trong HĐQT hoặc ủy ban kiểm toán Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác không tìm thấy bằng chứng rõ ràng cho mối liên hệ này Tại Việt Nam, với đặc điểm môi trường kinh tế - xã hội khác biệt so với các nước phát triển, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn đến việc trình bày lại BCTC của các công ty niêm yết là rất cần thiết.

Các nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của các nhân tố đến trình bày lại BCTC

Tại Việt Nam, có nhiều bài viết đề cập đến sự chênh lệch số liệu giữa trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết, nhưng chủ yếu chỉ thống kê các công ty có báo cáo tài chính (BCTC) trình bày lại sau kiểm toán mà chưa đi sâu vào phân tích Một số nghiên cứu gần đây đã thực hiện phân tích định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sai sót trọng yếu trên BCTC Chẳng hạn, nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) cho thấy đặc tính của Hội đồng Quản trị như quy mô và tỷ lệ thành viên không điều hành có tác động đến sai sót này Ngoài ra, Nguyễn Văn Hương (2016) phát hiện rằng các công ty chịu áp lực lợi nhuận có khả năng trình bày lại BCTC cao hơn Nghiên cứu mới nhất của Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương (2017) chỉ ra rằng những công ty gặp khó khăn kinh tế, như thua lỗ trước đó và tỷ số nợ cao, có khả năng điều chỉnh lại chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán cao hơn so với các công ty khác.

Nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) chỉ ra rằng quy mô Hội đồng Quản trị (HĐQT) có mối quan hệ thuận với sai sót trọng yếu trên Báo cáo tài chính (BCTC) Ngược lại, tỷ lệ thành viên không điều hành trong HĐQT lại có mối tương quan nghịch với sai sót trọng yếu Họ cũng phát hiện rằng các công ty có thành viên HĐQT có quan hệ gia đình có khả năng xảy ra sai sót trọng yếu cao hơn, trong khi các thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính giúp giảm thiểu khả năng sai sót Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy nhiệm kỳ của HĐQT cũng ảnh hưởng đến sai sót trọng yếu trên BCTC.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các đặc điểm kinh tế và phi kinh tế của công ty niêm yết ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) Cụ thể, Nguyễn Văn Hương (2016) cho thấy các công ty chịu áp lực lợi nhuận trong năm hiện tại có xu hướng trình bày lại chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán cao hơn so với những công ty không bị áp lực này Hơn nữa, Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) nhấn mạnh rằng các công ty có tỷ số nợ cao cũng có khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên BCTC, dẫn đến việc trình bày lại lợi nhuận cao hơn so với các công ty khác.

Các nghiên cứu trong nước đã xem xét ảnh hưởng của nhiều yếu tố đến sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính (BCTC) và việc trình bày lại BCTC Một số nghiên cứu tập trung vào đặc tính của Hội đồng quản trị (HĐQT) (Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương, 2016), trong khi các nghiên cứu khác lại phân tích ảnh hưởng của đặc điểm kinh tế và các yếu tố khác của công ty (Nguyễn Văn Hương, 2016) Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tổng hợp đầy đủ ảnh hưởng của tất cả các yếu tố như đặc điểm HĐQT, cấu trúc sở hữu, đặc điểm kinh tế và liên quan đến kiểm toán BCTC trong các công ty niêm yết Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố này đến khả năng trình bày lại BCTC sau kiểm toán là rất cần thiết trong bối cảnh các công ty niêm yết tại Việt Nam.

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam Mục tiêu chính là xác định xác suất xảy ra hoặc không xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán Phương pháp đo lường trong nghiên cứu này chỉ đơn giản là xác định tình trạng trình bày lại BCTC, khác biệt so với các nghiên cứu trước đó về chất lượng thông tin trên BCTC của các công ty niêm yết, mà nhiều nghiên cứu trong nước đã đề cập Do đó, nghiên cứu này không tổng hợp các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng BCTC.

Phương pháp nghiên cứu được các nghiên cứu trước tiếp cận

Tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu đều áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Dựa trên các lý thuyết hiện có, các nhà nghiên cứu phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu thực nghiệm, kiểm định chúng thông qua nguồn dữ liệu định lượng từ quá khứ Phương pháp hồi quy logistic đã được sử dụng để kiểm định giả thuyết trong tất cả các nghiên cứu trước đó; chi tiết về hướng nghiên cứu, phương pháp và xử lý dữ liệu được trình bày trong phụ lục 1.

Những đóng góp của các nghiên cứu trước

1.5.1 Những đóng góp của các nghiên cứu ở nước ngoài

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính, bao gồm cả gian lận và sai sót trong báo cáo tài chính.

Nghiên cứu cho thấy rằng một số đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) công ty có tác động đến khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) hoặc gian lận BCTC, như được chỉ ra bởi các tác giả Dechow và cộng sự (1995), Beasley (1996), và Chen cùng cộng sự (2006).

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) liên quan đến các đặc điểm kiểm toán của các công ty niêm yết Những yếu tố này bao gồm uy tín của công ty kiểm toán, phí kiểm toán, nỗ lực của kiểm toán viên, các dịch vụ bổ sung mà công ty kiểm toán cung cấp, và sự thay đổi đơn vị kiểm toán của công ty niêm yết (Lazer và cộng sự, 2004; Kinney và cộng sự, 2004; Francis & Yu, 2009; Ahmadabadi và cộng sự, 2014).

Nghiên cứu cho thấy rằng các đặc điểm kinh tế của công ty niêm yết, như quy mô nhỏ, lợi nhuận thấp, tỷ lệ nợ cao, giá trị thị trường/giá trị sổ sách thấp và việc ghi nhận lỗ trong năm trước, có ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (Kinney & McDaniel, 1989; Ahmed & Goodwin, 2007; Rezaei & Mahmoudi, 2013).

Tất cả các nghiên cứu đều áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và sử dụng hồi quy logistic để kiểm định các giả thuyết liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính.

1.5.2 Những đóng góp của các nghiên cứu ở trong nước

Trong những năm qua, các bài viết trong nước đã chỉ ra thực trạng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam Nghiên cứu định lượng gần đây đã tiếp cận vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC Các nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) cũng như Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương (2017) đã tập trung vào ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quản trị và đặc điểm kinh tế của công ty Cả hai nghiên cứu đều sử dụng phương pháp hồi quy logistic để xử lý dữ liệu, đóng góp quan trọng cho phương pháp nghiên cứu trong luận án này.

Hạn chế của các nghiên cứu trước

Nhiều nghiên cứu đã không tìm thấy bằng chứng cho thấy đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) và cơ cấu sở hữu vốn của công ty ảnh hưởng đến việc trình bày lại Báo cáo Tài chính (BCTC) (Agrawal & Chadha, 2005; Abdullah và cộng sự, 2010; Abdoli & Nazemi, 2013; Ahmadabadi và cộng sự, 2014; Abbott và cộng sự, 2002) Sự khác biệt trong quốc gia và thời gian nghiên cứu có thể là nguyên nhân cho điều này Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ giám đốc bên ngoài và thành viên HĐQT hoặc ủy ban kiểm toán có chuyên môn tài chính có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC.

Chưa có sự đồng thuận rõ ràng về mối liên hệ giữa đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) và khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) Sự khác biệt này có thể xuất phát từ môi trường kinh doanh đa dạng giữa các quốc gia hoặc từ các giai đoạn nghiên cứu khác nhau Có thể rằng trong giai đoạn sau, các công ty đã thực hiện điều chỉnh trong quản trị công ty, dẫn đến việc các nghiên cứu sau này không tìm thấy mối liên hệ như trước.

Nghiên cứu về đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) cho thấy sự khác biệt trong không gian và thời gian nghiên cứu dẫn đến kết quả không đồng nhất Các nghiên cứu hiện có tập trung vào nhiều hướng tiếp cận khác nhau, như ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT đến công ty, tác động của các yếu tố liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) ở các công ty niêm yết, và ảnh hưởng của các đặc điểm kinh tế khác Tại Việt Nam, số lượng nghiên cứu về việc trình bày lại hay không trình bày lại BCTC sau kiểm toán còn hạn chế, với một số nghiên cứu tiêu biểu như của Nguyễn Văn Hương (2016) và các tác giả khác Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn chưa xem xét đầy đủ tất cả các yếu tố, bao gồm đặc điểm HĐQT, cơ cấu sở hữu vốn và các yếu tố liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết.

Khe hổng nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu của luận án

Các nghiên cứu trước đây đã tổng hợp và chỉ ra nhiều khía cạnh khác nhau ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC).

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) và cấu trúc sở hữu vốn của công ty có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) hoặc gian lận BCTC, cũng như sai sót trọng yếu trên BCTC Cụ thể, Beasley (1996), Agrawal & Chadha (2005), Chen và cộng sự (2006), Abdullah và cộng sự (2010) đã nhấn mạnh mối liên hệ này Ngoài ra, các nghiên cứu khác cho thấy khả năng xảy ra trình bày lại BCTC còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết, như được chỉ ra bởi Kinney và cộng sự (2004), Lazer và cộng sự (2004), Vivek & Myungsoo (2013), Francis & Yu (2009), Lobo & Zhao (2013), và Ahmadabadi và cộng sự (2014).

Nghiên cứu cho thấy rằng các đặc điểm kinh tế và những yếu tố khác của công ty có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Các tác giả như Kinney & McDaniel (1989), Ahmed & Goodwin (2007), Rezaei & Mahmoudi (2013), cùng với Nguyễn Văn Hương (2016) và Nguyễn Việt, đã chỉ ra rằng những yếu tố này cần được xem xét kỹ lưỡng trong bối cảnh quản lý tài chính.

Mô hình nghiên cứu nào có thể xác định đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) trong các công ty niêm yết? Đây là câu hỏi được Hiệp hội Kế toán Mỹ (AAA-2014) đặt ra khi tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Hiện tại, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến một mô hình nghiên cứu toàn diện cho tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC.

Các nghiên cứu về trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) thường được thực hiện ở các quốc gia phát triển với mức độ minh bạch thông tin cao Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng đến việc này có thể thay đổi theo từng giai đoạn nghiên cứu và khác nhau giữa các quốc gia, như Dechow và cộng sự (2011) cùng Abdullah và cộng sự (2010) đã chỉ ra Điều này cho thấy rằng các nhân tố tác động đến trình bày lại BCTC không đồng nhất ở mọi quốc gia và giai đoạn phát triển kinh tế Đặc biệt, tại Việt Nam - một nền kinh tế mới nổi với mức độ minh bạch thông tin còn hạn chế và môi trường kinh doanh khác biệt, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC là một vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn.

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam là rất cần thiết, nhằm hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động và cải thiện quy trình kiểm toán.

- Nghiên cứu này sẽ chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam

Nghiên cứu này bổ sung thêm bằng chứng cho các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC), xác nhận những phát hiện từ các nghiên cứu trước đó.

Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt rõ rệt về các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) giữa các công ty niêm yết tại Việt Nam và các công ty ở các quốc gia khác.

- Bổ sung vào mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong công ty niêm yết tại Việt Nam

Việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán là vấn đề phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc này, bao gồm đặc điểm của Hội đồng quản trị, cơ cấu sở hữu vốn và các yếu tố kinh tế của công ty Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu khác nhau giữa các quốc gia Từ việc phân tích và đánh giá các nghiên cứu trước, tác giả đã xác định được khoảng trống trong nghiên cứu và đề xuất vấn đề nghiên cứu cho luận án này.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 29/05/2021, 10:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài Chính, 2006. Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 Về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ề "vi"ệ"c ban hành ch"ế độ "k"ế "toán doanh nghi"ệ
4. Bộ Tài chính, 2012. Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/4/2012 Hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Sách, tạp chí
Tiêu đề: H"ướ"ng d"ẫ"n v"ề "công b"ố "thông tin trên th"ị "tr"ườ"ng ch"ứ
7. Bộ Tài chính, 2015. Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 Hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Sách, tạp chí
Tiêu đề: H"ướ"ng d"ẫ"n v"ề "công b"ố "thông tin trên th"ị "tr"ườ"ng ch"ứ
10. Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, 2017. Kiểm toán. Nhà xuất bản Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán
Nhà XB: Nhà xuất bản Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh
11. Hằng Phương và Ngọc Nhi, 2016. Báo động tính minh bạch của doanh nghiệp niêm yết. Truy cập ngày 25/05/2017 từ http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/bao-dong-tinh-minh-bach-cua-doanh-nghiep-niem-yet-163062.html12.Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), 2013. Chương trình kiểmtoán mẫu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo động tính minh bạch của doanh nghiệp niêm yết." Truy cập ngày 25/05/2017 từ http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/bao-dong-tinh-minh-bach-cua-doanh-nghiep-niem-yet-163062.html 12. Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), 2013. "Chương trình kiểm
14. Lương Bằng, 2015. Tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 thấp nhất kể từ năm 2000. Truy cập ngày 25/05/2017 từhttp://www.baohaiquan.vn/Pages/Tang-truong-GDP-giai-doan-2011-2015-thap-nhat-ke-tu-2000.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 thấp nhất kể từ năm 2000
15. Minh An., 2015. Liên tục chênh lệch sau kiểm toán: Doanh nghiệp đang vẽ gì?. Truy cập ngày 23/05/2016 từ http://vietstock.vn/2015/10/lien-tuc-chenh-lech-sau-kiem-toan-doanh-nghiep-dang-ve-gi-737-441594.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên tục chênh lệch sau kiểm toán: Doanh nghiệp đang vẽ gì
18. Nguyễn Đình Thọ, 2012. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. NXB Lao động- Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Nhà XB: NXB Lao động- Xã hội
19. Nhuệ Mẫn, 2014. Soi những điểm yếu trong quản trị doanh nghiệp Việt Nam. Truy cập ngày 25/05/2016 từ http://tinnhanhchungkhoan.vn/thuong-truong/soi-nhung-diem-yeu-trong-quan-tri-doanh-nghiep-viet-93789.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soi những điểm yếu trong quản trị doanh nghiệp Việt Nam
20. Nguyễn Văn Hương, 2016. Áp lực lợi nhuận và báo cáo tài chính được trình bày lại: Bằng chứng ở Việt Nam. Tạp chí kinh tế & phát triển, 229, 35 - 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí kinh tế & phát triển, 229
23. Trần Thị Giang Tân & Trương Thùy Dương, 2016. Ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 27(8), 42-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Giang Tân & Trương Thùy Dương, 2016. Ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam. "Tạp chí Phát triển Kinh tế, 27
24. Trần Thị Phượng, 2017. Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh mới. Truy cập ngày 25/05/2017 từ http://tapchitaichinh.vn/thi-truong-tai-chinh/chung-khoan/phat-trien-thi-truong-chung-khoan-viet-nam-trong-boi-canh-moi-113013.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Phượng, 2017. "Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh mới
25. Vị Xuyên., 2015. Chênh lệch lợi nhuận sau kiểm toán phổ biến, vì sao? Truy cập ngày 23/05/2016 từ http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/chenh-lech-loi-nhuan-sau-kiem-toan-pho-bien-vi-sao-116678.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chênh lệch lợi nhuận sau kiểm toán phổ biến, vì sao
26. Xavier Potier., 2017. Công ty niêm yết: Đừng ngại thiết lập hệ thống kiểm toán nội bộ. Truy cập ngày 03/06/2017 từ http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/cong-ty-niem-yet-dung-ngai-thiet-lap-he-thong-kiem-toan-noi-bo-187319.htmlTài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty niêm yết: Đừng ngại thiết lập hệ thống kiểm toán nội bộ
2. Abbott, J., Parker, S., & Peters, F., 2004. Audit committee characteristics and restatements. Auditing A Journal of Practice & Theory, 23(1), 69-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Auditing A Journal of Practice & Theory, 23
1. Abbott, J.L., Parker, S., & Peters, F.G., 2002. Audit Committee Characteristics and Financial Misstatement: A Study of the Efficacy of Certain Blue Ribbon Committee Recommendations. Available atSSRN: https://ssrn.com/abstract=319125 Link
56. DeZoort, T., 2011. What Are the Leading Causes of Financial Restatements? http://www.qfinance.com/contentFiles/QF02/g1xtn5q6/12/3/what-are-the-leading-causes-of-financial-restatements.pdf Link
58. Dictionary. Restatement. Truy cập ngày 25/05/2016 từ http://financial- dictionary.thefreedictionary.com/restatement Link
81. Investorwords. Restatement. Truy cập ngày 25/05/2016 từ http://www.investorwords.com/6906/restatement.html Link
100. MURYA, H., 2010. The efectiveness of corporate governace and external audit on constraining earning management practice in the UK. Truy cập ngày 20/05/2016 từ http://etheses.dur.ac.uk/448/ Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w