HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---o0o--- DƯƠNG HOÀNG LỘC TÍN NGƯỠNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ AN THỦY HUY
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
DƯƠNG HOÀNG LỘC
TÍN NGƯỠNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ AN THỦY
(HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE) VÀ THỊ TRẤN
SÔNG ĐỐC (HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU)
Chuyên ngành: DÂN TỘC HỌC
Mã số: 62.31.03.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC
Người hướng dẫn khoa học
1 PGS.TS Trần Hồng Liên
2 PGS.TS Huỳnh Ngọc Thu
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
I Tạp chí khoa học
1 Dương Hoàng Lộc (2015) Lễ hội nghinh Ông của cộng đồng
ngư dân An Thủy (huyện Ba Tri-tỉnh Bến Tre) Tạp chí Phát triển Khoa học& Công nghệ, X3/2015.
2 Dương Hoàng Lộc.(2016) Tìm hiểu khái niệm tín ngưỡng từ góc
nhìn văn hóa Việt Nam Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn, số
2/2016
3 Dương Hoàng Lộc (2013) Một số nét chính về quá trình hình
thành và phát triển cộng đồng ngư dân ven biển Bến Tre” Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, số 2/2013.
II Kỷ yếu hội thảo
1 Dương Hoàng Lộc (2014) Tìm hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu ở cộngđồng ngư dân An Thủy-huyện Ba Tri-tỉnh Bến Tre” Nhiều tác giả,
Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam bộ bản sắc và giá trị, thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Đại học Quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh
2 Dương Hoàng Lộc (2014) Lễ hội Nghinh Ông của của cộngđồng ngư dân ven biển Bến Tre-Trường hợp xã An Thủy (huyện
Ba Tri) và xã Bình Thắng (huyện Bình Đại) Nhiều Tác giả (2014),
Lễ hội cộng đồng: truyền thống và biến đổi, thành phố Hồ Chí
Minh, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
3 Dương Hoàng Lộc (2017) Tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫucủa ngư dân thị trấn Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà
Mau) Nhiều tác giả (2017) Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại, Hà
Nội, Nxb.Thế giới
4 Dương Hoàng Lộc (2017) Giao thoa văn hóa Việt-Hoa qua các
cơ sở thờ tự của cộng đồng tại thị trấn Sông Đốc Nhiều Tác giả
(2017), Văn hóa dân gian và giao lưu xuyên văn hóa ở Đông Á (Tập 1: Văn hóa dân gian cho hạt nẩy mầm), thành phố Hồ Chí
Minh, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
5 Dương Hoàng Lộc (2017) Lễ hội nghinh Ông ở Sông Đốc- một
di sản văn hóa phi vật thể cần phát huy giá trị Hội Văn nghệ dângian Việt Nam-Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi
Trang 3DẪN LUẬN
1 Lý do nghiên cứu
Nằm ở hạ lưu sông Mê Kông, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có 7 tỉnhgiáp biển gồm Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và KiênGiang Các tỉnh này thuộc khu vực Nam bộ tiếp giáp với Biển Đông và vùng BiểnTây Nam với chiều dài bờ biển là 732 km Nghiên cứu vùng ven biển, hải đảo ở ViệtNam nói chung cũng như ĐBSCL nói riêng đã được các nhà khoa học đẩy mạnh trongkhoảng hơn một thập niên năm qua Đáng chú ý là những nghiên cứu về văn hóa củacác cộng đồng ngư dân-chủ thể trực tiếp khai thác, đánh bắt thủy hải sản trên biển.Thông qua việc nghiên cứu chủ đề tín ngưỡng sẽ góp phần tìm hiểu những mongmuốn, ước vọng của cộng đồng ngư dân trong cuộc sống, cũng như mối quan hệ giữatín ngưỡng với môi trường sinh thái tự nhiên, sinh kế, lịch sử và văn hóa- xã hội củacộng đồng Vì vậy, để hiểu rõ diện mạo cũng như phân tích đâu là những động tháiđưa đến sự hình thành và tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng, việc gia tăngthực hành tín ngưỡng của ngư dân hiện nay cũng như nhận diện các đặc trưng tín
ngưỡng của cộng đồng ngư dân nơi đây, chúng tôi chọn đề tài Tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long: nghiên cứu trường hợp xã
An Thủy(huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre) và thị trấn Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời, tỉnh
Cà Mau) làm đề tài luận án Tiến sĩ Dân tộc học
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống và phân loại các loại hình tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân An
Thủy và Sông Đốc hiện nay nhằm hiểu rõ nhận thức cũng như niềm tin, suy nghĩ củacộng đồng về các vị thần linh đang được thờ cúng
- Nhận diện các chức năng và đặc điểm chính của từng loại tín ngưỡng, chú
trọng làm rõ vai trò, giá trị và những tác động của tín ngưỡng đối với đời sống cộngđồng ngư dân ĐBSCL nói chung và ở hai khu vực An Thủy, Sông Đốc nói riêng
- Phân tích mối quan hệ giữa tín ngưỡng với các yếu tố như môi trường tự
nhiên, sinh kế, quan hệ tộc người, lịch sử, văn hóa-xã hội của cộng đồng nhằm hiêủ
rõ tính đa dạng của bức tranh tín ngưỡng các cộng đồng ngư dân ven biển ĐBSCLhiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung khảo sát, nghiên cứu các loại hình tín ngưỡng ở phạm vicộng đồng cùng với những sinh hoạt tín ngưỡng gồm các hành vi, hoạt động liên quantrực tiếp như: Cơ sở thờ tự, lễ hội, truyền thuyết, văn hóa nghệ thuật (hát bội và múabóng rỗi)
Chúng tôi cũng nhận thức rằng hai cộng đồng ngư dân ven biển An Thủy vàSông Đốc được chọn khảo sát có đặc điểm là cộng đồng đa nghề nghiệp Vì vậy, đểluận án mang tính tập trung và nổi bật nội dung, chúng tôi chú trọng trình bày, phântích cứ liệu thuộc về tín ngưỡng của nhóm ra khơi đánh bắt thủy hải sản gồm tài công
và ngư phủ cùng với chủ ghe, các chủ đại lý thu mua thủy hải sản là những người liênquan trực tiếp đến hoạt động đánh bắt Nhóm này mang tính đại diện cho đặc điểmkinh tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng
Trang 44 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất luận án đưa ra là: Bản chất hoạt động tín ngưỡng của ngư dân ở đây là gì? Gắn với câu hỏi thứ nhất, có thể đưa ra giả thuyết ngư dân ra
khơi đánh bắt gặp rủi ro về bão tố, sóng gió, áp lực về thu nhập để nuôi sống bản thân.Đồng thời, chủ ghe lại lo lắng về tài sản và nguồn vốn đầu tư cho mỗi chuyến ra khơi
Họ dễ bị lỗ vốn, thậm chí ghe-tài sản lớn nhất của họ bị tịch thu khi vượt sang hải phậnnước khác Một số chủ đại lý thu mua thủy hải sản lo lằng nguồn tiền đầu tư cho ghe màkhông thể thu hồi toàn bộ Vì vậy, họ có các cách thể hiện niềm tin và cúng bái khácnhau Mặt khác, nhờ vào sinh hoạt tín ngưỡng đã tạo nên tính liên kết, thể hiện đặc trưngvăn hóa truyền thống, đồng thời là cách trao truyền giá trị truyền thống giữa các thế hệtrong cộng đồng
Môi trường sinh thái vùng ven biển, biển đã tác động đến văn hóa của cộng đồng
ngư dân Như vậy, câu hỏi nghiên cứu thứ hai của luận án là: Môi trường sinh thái có tác động như thế nào đến tín ngưỡng của ngư dân? Và sự tác động đó chủ yếu ở phương diện nào? Với câu hỏi thứ hai, luận án tiên liệu rằng môi trường sinh thái, đặc biệt là qui
luật gió mùa hoạt động trên biển, tác động nhiều đến sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng,nhất là thời điểm tổ chức lễ hội của cộng đồng, cũng như tạo ra sự biến đổi trong tínngưỡng của họ hiện nay
Câu hỏi nghiên cứu thứ ba là: Trong sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng đâu là không gian thiêng và tục? Liên quan đến câu hỏi thứ ba, dựa vào cách tiếp cận cấu trúc,
có thể cho rằng hai không gian cùng tồn tại song song khi người ta tham gia sinh hoạt tínngưỡng là thiêng và tục Họ vừa có thể thực hành tâm linh đồng thời vừa vui chơi, giải trí
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu định tính (qualitative research) để thu thập dữ liệu phục vụ luận án này: Điền dã dân tộc học,
phỏng vấn sâu, ghi chép thực địa,…
Dựa trên những dữ liệu này, nghiên cứu tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân AnThủy, Sông Đốc nhằm hiểu về chức năng, vai trò, tác động của nó đối với đờisống cộng đồng hiện nay
7 Những đóng góp mới của luận án
- Trên cơ sở dữ liệu khảo sát, điều tra, nghiên cứu tại hai cộng đồng luận án sẽtrình bày hệ thống, đầy đủ các hình thức tín ngưỡng lẫn những sinh hoạt tín ngưỡngliên quan của họ
- Luận án chỉ ra và phân tích những động thái cụ thể, trực tiếp dẫn đến việchình thành, gia tăng thực hành tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân An Thủy, SôngĐốc Mối quan hệ giữa tín ngưỡng với đặc điểm sinh kế, môi trường sinh thái, nguồn
Trang 5gốc lịch sử và quan hệ tộc người được quan tâm xem xét, là tiền đề chính giúp nhậndiện các đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng cộng đồng.
- Luận án nhận diện một số xu hướng biến đổi của tín ngưỡng ở hai trườnghợp được chọn nghiên cứu trong đời sống văn hóa-xã hội của cộng đồng hiện nay
8 Bố cục của luận án
Nội dung chính của luận án được phân chia bố cục thành 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu Nội dung của chương này trình bày các vấn đề liên quan đến tình hình nghiên
cứu, những khái niệm cũng như quan điểm tiếp cận, lý thuyết nghiên cứu, tổng quan
về hai cộng đồng được chọn nghiên cứu
- Chương 2: Các hình thức tín ngưỡng và sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng Nội dung của chương này giới thiệu về niềm tin, việc thờ cúng Cá Ông, thờ
Mẫu và vong linh người mất trên biển thông qua các đặc trưng cụ thể cũng như nhữngthực hành của cộng đồng như cơ sở thờ tự, lễ hội, văn hóa nghệ thuật
- Chương 3: Tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân: Chức năng và đặc điểm Nội
dung chương này tập trung phân tích chức năng tâm lý và chức năng xã hội của tínngưỡng, nhận diện những đặc điểm nổi bật cũng như một số xu hướng biến đổi hiệnnay của tín ngưỡng trong cộng đồng
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
- Trước tiên, liên quan đến những khái niệm được sử dụng nghiên cứu trong luận án này đã có nhiều công trình nghiên cứu công bố trong nhiều năm qua đề cập Cho nên, đây là nguồn tài liệu thiết thực, bổ ích để luận án kế thừa và vận dụng
Các công trình liên quan đến khái niệm tín ngưỡng được tiếp cận, tham khảo
cho việc thực hiện luận án có thể kể đến một số quyển sách tiêu biểu như: Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (2005) của Đặng Nghiêm Vạn, Về tín ngưỡng lễ hội cổ truyền (2007) của Ngô Đức Thịnh và một công trình khác cũng do tác giả này chủ biên là Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam (2001), Nhân học văn hóa con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên của Vũ Minh Chi (2004),…Gần đây, Luật tín ngưỡng, tôn giáo của nhà nước Việt Nam (2017) đã
được ban hành Luật này đã đưa ra khái niệm tín ngưỡng Bên cạnh đó, còn có công
trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng do Ngô Đức Thịnh chủ biên (2001) đã đưa ra
sự khác biệt giữa hai thuật ngữ tín ngưỡng và tôn giáo Vì vậy, luận án kế thừa khái niệm tín ngưỡng từ Luật tín ngưỡng, tôn giáo của nhà nước Việt Nam cũng như quan
điểm tín ngưỡng tích hợp các sinh hoạt, giá trị văn hóa của Ngô Đức Thịnh để tiếpcận lẫn triển khai nghiên cứu
Mặt khác, khái niệm cộng đồng cũng như mối quan hệ giữa cộng đồng vớinhân tố tín ngưỡng, tôn giáo được hai tác giả Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang
nhắc đến trong quyển sách Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng (2000).
- Tiếp theo, các nghiên cứu về cộng đồng ngư dân được tiếp cận cả những nghiên cứu trong lẫn ngoài nước rất hữu ích và làm cơ sở tiếp cận nghiên cứu cộng đồng cho luận án
Nhiều quyển sách giới thiệu về cộng đồng ngư dân nhiều nơi trên thế giới đãđược nhiều nhà nhân học nước ngoài công bố Đầu tiên, không thể không nhắc đến
quyển Argonauts of Western Pacific (Những người hùng của Tây Thái Bình Dương)
được xuất bản năm 1922 bởi nhà nhân học Malinowski Bên cạnh đó, Cynthia Chou
xuất bản công trình Những người du cư trên biển Indonesia: Tiền bạc, ma thuật và sự
sợ hãi của Orang Suku Laut (Indonesian sea Nomands: Money, magic and fear of the
Orang Suku Laut) vào năm 2003 Tác giả nghiên cứu tộc người Orang Suku Laut ở
quần đảo Riau Ngoài ra, về lĩnh vực nhân học biển, chúng tôi tiếp cận sách Những người sống trên biển: Nghiên cứu Nhân học biển (Those who live from the sea: Study
in Maritime Anthropology) do Estellie M.Smith tập hợp xuất bản ở Mỹ năm 1980.Đây là một tuyển tập cung cấp những dữ liệu dân tộc học về cộng đồng nghề cá ởchâu Mỹ như Canada, Venezuela, Mỹ, Ecuador,…
Ở Việt Nam, quyển sách Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam (2002) của Nguyễn
Duy Thiệu đã giới thiệu một cách tổng thể về quá trình hình thành và phát triển cácnhóm ngư dân ở nước ta và đối tượng được đề cập là các cộng đồng ngư dân chuyênnghiệp tức là những người lấy hoạt động ngư nghiệp làm nguồn sống duy nhất hoặc
chủ yếu cho gia đình mình Quyển Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam bộ do Trần Hồng
Liên (chủ biên) (2004) là một nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn Đây là một một nghiêncứu dân tộc học theo phương pháp nghiên cứu trường hợp hai cộng đồng ngư dânPhước Tỉnh (Huyện Đất Đỏ, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) và Vàm Láng (Huyện Gò Công
Trang 7Đông, Tỉnh Tiền Giang) Đặc biệt, quyển sách Đời sống xã hội-kinh tế văn hóa của ngư dân và cư dân ven biển Nam bộ được xuất bản năm 2014 của Phan Thị Yến Tuyết
là một công trình quan trọng, có giá trị khoa học lẫn thực tiễn trong nghiên cứu cộngđồng ngư dân, cư dân ven biển Nam bộ dưới góc nhìn Nhân học biển (MaritimeAnthropology) Những đúc kết quan trọng về đời sống kinh tế-xã hội-văn hóa của cáccộng đồng ngư dân và cư dân Nam bộ rất có ý nghĩa tham khảo Phạm Thanh Duy đã
hoàn thành luận án tiến sĩ năm 2013 tại Đại học Hải Dương Tokyo (Nhật Bản) Những vấn đề xã hội-văn hóa và sự phát triển ở một cộng đồng ngư dân miền Nam Việt Nam: Trường hợp tại cộng đồng Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (Socio-cultural issue and development in a fishing community of southern Vietnam: A case stuydy of Song Doc communityin Tran Van Thoi district, Ca mau province) Luận
án này đã góp một cái nhìn về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với văn hóa, xã hộicũng như sự phát triển bền vững của cộng đồng này trong thời gian tiếp theo
Nhìn chung, qua một số tài liệu nghiên cứu trong, ngoài nước về cộng đồngngư dân giúp cho luận án kế thừa việc tiếp cận, nghiên cứu cộng đồng cần chú trọngđến các nhân tố môi trường sinh thái, văn hóa-xã hội, nhất là sinh kế tác động và hìnhthành nên diện mạo, đặc điểm mỗi cộng đồng Ngoài ra, các nghiên cứu này nhấnmạnh tầm quan trọng của nghề đánh bắt hải sản-sinh kế chủ đạo của cộng đồng Mặtkhác, qua hầu hết các công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy hai cộng đồng ngưdân An Thủy, Sông Đốc cần được nghiên cứu một cách tổng thể, đầy đủ hơn nữa
Bên cạnh đó, các công trình liên quan đến lý thuyết nhân học được chúng tôi tiếp cận nhằm rút ra những luận điểm quan trọng của từng lý thuyết mà luận án này vận dụng nghiên cứu Bộ Từ điển Nhân học (The Dictionary of Anthropology) (2 tập)
của Thomas Barfield (1998) đã ghi nhận tên tuổi, sự nghiệp cũng như các luận điểmchính của các nhà nhân học thuộc trường phái Cấu trúc, Chức năng cũng như Sinhthái học văn hóa như Claude Levi Strauss, Bronislaw Malinowski, Arthur Reginald
Radcliffe Brown, Julien Steward,… Quyển Nhập môn lý thuyết nhân học(An Introdution to theory in Anthropology) (2007) của Robert Layton, sách Những vấn đề Nhân học tôn giáo (2006) do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam thực hiện có trích bài
“Ma thuật, khoa học và tôn giáo” của nhà nhân học Bronislaw Malinowski, sách Cấu trúc và chức năng trong xã hội nguyên thủy (Structure and funtion in primitive society) (1965) của A.R.Radcliffe-Brown,… được tham khảo Các tài liệu này đã
giúp ích rất nhiều cho việc thực hiện luận án trên mặt tiếp cận những lý thuyết đượcvận dụng nghiên cứu, giúp trả lời những câu hỏi nghiên cứu đặt ra
- Kế đó, các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng của ngư dân vùng biển ở Việt Nam nói chung cũng như ở Nam bộ và ĐBSCL nói riêng Cho đến nay, việc nghiên cứu về tín ngưỡng ngư dân vùng biển đã có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu trong nước xuất bản Tiêu biểu có thể kể đến như: Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa của Lê Quang Nghiêm (1970), Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền của Ngô Đức Thịnh (2007), Tín ngưỡng dân gian những góc nhìn (2014), Tín ngưỡng thờ thủy thần ở Nam bộ (2015) của Nguyễn Thanh Lợi, Luận án tiến sĩ Tôn giáo tín ngưỡng của cư dân vùng biển Bạc Liêu do Trương Thu Trang thực hiện (2017), Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam Đà Nẵng của Nguyễn Xuân Hương (2009), Luận án tiến sĩ Biến đổi tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa của Lê Thị Thu Hiền (2007)… những công trình này mang giá trị tham khảo
về mặt tư liệu, phương pháp tiếp cận cũng như những đánh giá, phân tích, lý giải vềnguồn gốc, thực trạng các loại hình tín ngưỡng được người dân vùng biển nước ta thờ
cúng Đáng chú ý là các nghiên cứu như sách Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa của Lê Quang Nghiêm, sách Tín ngưỡng thờ Thủy thần ở Nam bộ của Nguyễn Thanh
Trang 8Lợi, sách Văn hóa dân gian làng ven biển do Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian thực hiện, sách Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa-Vũng Tàu (2004),…,Với cách tiếp cận
hệ thống, các hình thái tín ngưỡng này không chỉ dừng lại ở niềm tin mà còn có cả cáchình thức gắn liền với nó như lễ hội, diễn xướng dân gian, cơ sở thờ tự mang tính chấtđặc thù ở từng loại hình khác nhau Cho nên, cách tiếp cận này được tác giả luận án
kế thừa, vận dụng nghiên cứu vào từng loại hình tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân
nghĩ, các nghiên cứu này, ở phạm vi một bài viết, nên nội dung chỉ ở mức độ riêng rẽtừng hình thức, từng sinh hoạt tín ngưỡng hoặc ở một hướng tiếp cận nào đó Tuynhiên, cũng cần nói rằng, những tư liệu ở các bài viết cung cấp nguồn tư liệu quantrọng, mang tính tiền để luận án kế thừa và tiếp tục đi sâu tìm hiểu Tuy có đề cập đếncác chức năng cũng như đặc điểm của tín ngưỡng ở hai cộng đồng này nhưng các tácgiả chỉ đề cập mức độ đơn giản, chưa đi sâu phân tích, nhất là gắn với hoạt động khaithác, tiêu thụ nguồn tôm cá đánh bắt được Vì thế, đây là vấn đề mà tác giả tiếp tụctriển khai nghiên cứu trong luận án này
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Các khái niệm
Qua nhiều công trình lẫn văn bản pháp luật đã công bố, đặc biệt qua phân loạicủa một số tài liệu nghiên cứu, có thể tạm chia hai nhóm quan điểm khác nhau về kháiniệm tín ngưỡng Thứ nhất là nhóm quan điểm cho rằng tín ngưỡng là trạng thái tâm
lý của con người đối với thế lực thiêng, là một bộ phận của tôn giáo và không thể táchrời khỏi tôn giáo, đồng thời trở thành tiền đề quan trọng hình thành nên tôn giáo Tiêubiều là Đặng Nghiêm Vạn, Vũ Minh Chi, E.B Tylor, G.J Frazer,… Nhóm thứ hai(Phan Hữu Dật, Trần Ngọc Thêm,…) có quan điểm khác, xem tín ngưỡng hoàn toànkhác và thậm chí còn độc lập với tôn giáo Từ cách hiểu về khái niệm tín ngưỡng đãnêu, dựa vào bối cảnh nghiên cứu văn hóa Việt Nam, có thể đi đến một số nhận địnhsau:
- Thứ nhất, tín ngưỡng là một hình thức văn hóa phi vật thế mang tính độc
đáo, góp phần biểu hiện đời sống vật chất, tinh thần của con người Việt Nam Ngoài
ra, tín ngưỡng còn đóng góp việc hình thành nên các giá trị truyền thống của văn hoá
Trang 9và tính cách dân tộc, kết nối cộng đồng thông qua sự cộng mệnh và cộng cảm, thúcđẩy việc bảo tồn bản sắc văn hóa
- Thứ hai, tín ngưỡng không những đơn thuần là niềm tin mà còn là cách thể
hiện những niềm tin ấy bằng những hành động cụ thể của họ đối với một hiện tượngsiêu nhiên hoặc một sự vật, cá nhân liên quan đến cuộc sống thực tại của con người
đã được thiêng hóa để cầu mong sự che chở, giúp đỡ Những hành động thể hiện niềmtin được gọi là sinh hoạt tín ngưỡng, hoạt động tín ngưỡng
- Thứ ba, tín ngưỡng cần được nhìn nhận là một hiện tượng văn hóa - xã hội.
Cho nên, qua tìm hiểu tín ngưỡng của cá nhân lẫn cộng đồng giúp nhận diện được bốicảnh văn hóa-xã hội nơi mà họ đã và đang tồn tại
- Thứ tư, tín ngưỡng không tồn tại một cách đơn lẻ mà có sự tích hợp với
nhiều hình thức văn hóa khác nhau để bộc lộ các khía cạnh của niềm tin của conngười thông qua các hành vi cụ thể
- Thứ năm, tín ngưỡng và tôn giáo còn khác biệt ở các yếu tố thuộc về khía
cạnh tổ chức tôn giáo: Giáo chủ, giáo lý, giáo qui và giáo hội mà ở tín ngưỡng không
có Ngoài ra, ở Việt Nam, tín ngưỡng và tôn giáo còn có sự giao thoa lẫn nhau do đặctính dung hợp-một đặc điểm truyền thống văn hóa dân tộc Vì vậy, không thể bỏ quaviệc tìm hiểu đến sự hiện diện của các yếu tố tôn giáo trong niềm tin, sinh hoạt tínngưỡng và ngược lại
- Thứ sáu, phân loại tín ngưỡng hiện có nhiều cách thức khác nhau bởi các nhà
nghiên cứu ở nước ta Theo đó, gắn với luận án này cần giới thiệu qua khái niệm tínngưỡng cộng đồng, tín ngưỡng nghề nghiệp Tín ngưỡng cộng đồng là những hìnhthức thờ phụng thần linh ở phạm vi cộng đồng dân cư (chẳng hạn như thôn xã củangười Việt) để bảo vệ, che chở cho cuộc sống của họ Ngoài ra, tín ngưỡng nghềnghiệp được hiểu là tín ngưỡng của những nhóm, những cộng đồng nghề nghiệp khácnhau trong xã hội với chức năng phù hộ hoạt động nghề nghiệp của họ được thuận lợi,phát triển
1.2.2 Quan điểm tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu
* Quan điểm tiếp cận
Quan điểm tiếp cận từ cộng đồng: Từ quan điểm này sẽ giúp cho người
nghiên cứu chọn cách thâm nhập cộng đồng phù hợp để điền dã dân tộc học thuận lợi,hơn nữa đó là những dữ liệu trung thực, khách quan để trả lời câu hỏi nghiên cứu mộtcách chính xác Mặt khác, nó còn góp phần nói lên tiếng nói của cộng đồng và của các
Trang 10chủ thể khác nhau trong cùng một cộng đồng, tránh đi những phán đoán, nhận địnhchủ quan của nhà nghiên cứu, xem xét nhiều góc độ khi nhìn nhận một vấn đề nào đó.
* Những lý thuyết nghiên cứu
Để làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu và trả lời những câu hỏi nghiên cứu đãđặt ra, chúng tôi sử dụng những lý thuyết nghiên cứu của ngành nhân học: ThuyếtChức năng, thuyết Cấu trúc và thuyết Sinh thái học văn hóa Thiết nghĩ, trong việc tìmhiểu các lý thuyết này, việc kế thừa một số luận điểm cơ bản gắn liền đề tài là hết sứccần thiết Đồng thời, việc sử dụng nhiều lý thuyết trong một nghiên cứu sẽ giúp chonghiên cứu này có một cái nhìn đa chiều, toàn diện để khám phá, lý giải nhiều vấn đề
mà mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra
- Lý thuyết Chức năng: Trường phái Chức năng luận gắn với hai nhà nhân học
B.Malinowski (1884-1942) và A R.Radcliffe - Brown (1881-1955) Cả hai ông cùnghướng đến việc tìm hiểu các thiết chế góp phần vào việc duy trì đời sống văn hóa-xãhội, cùng phản ứng lại quan niệm của thế kỉ XIX cho rằng có thể phân thứ bậc các xãhội đang tồn tại theo các giai đoạn mà chúng đã đạt đến trong sự tiến hóa xã hội Tuyvậy, Malinowski và Radcliffe – Brown đều có những hướng đi riêng của mình Điềunày tạo ra hai nhánh trong cùng một trường phái, đó là chức năng tâm lý gắn vớiMalinowski và chức năng cấu trúc thuộc về Radcliffe –Brown Malinowski đã nhắcđến chức năng của tín ngưỡng, tôn giáo là nhằm đáp ứng việc thỏa mãn nhu cầu tâm
lý của con người, giúp họ tránh đi những sợ hãi, lo lắng bởi những rủi ro, bất trắc khólường trong cuộc sống Malinowski đưa ra giả thuyết môi trường tự nhiên càng bấttrắc thì những lo lắng tâm lý càng tăng và buộc người ta có khuynh hướng dùng đến
ma thuật, lễ nghi Mặt khác, Radcliffe –Brown chủ trương tìm hiểu vai trò của các thểchế văn hóa, cấu trúc xã hội trong việc duy trì sự cân bằng, ổn định của một xã hội.Ông cũng khẳng định chức năng của việc thực hiện nghi lễ có một chức năng xã hộiđặc biệt: Điều chỉnh, duy trì và chuyển giao thế hệ này sang thế hệ khác những cảmxúc và niềm tin
- Lý thuyết Cấu trúc: Cấu trúc luận (Structuralism) xuất hiện vào cuối Chiến
tranh thế giới thứ nhất, được phổ biến ở Pháp, Anh và ảnh hưởng không lớn ở Mỹ.Trường phái này do Claude Lévi Strauss đề xướng Lévi-Strauss tìm cách xây dựngngữ pháp phổ quát của văn hóa, những cách thức các đơn vị của diễn ngôn văn hóađược tạo ra (theo nguyên tắc đối lập nhị nguyên), các qui tắc sắp xếp và kết hợp cácđơn vị đó (các cặp đối lập) tạo ra những sản phẩm văn hóa thực sự (thần thoại, các quiđịnh hôn nhân, sự sắp đặt vật tổ của các thị tộc,…) mà các nhà nhân học ghi chép.Theo đó, mô hình cấu trúc luận trong nhân học cho thấy cấu trúc của hệ nhận thứccon người ở mọi nền văn hóa đều tồn taị theo hình thức đối lập nhị nguyên với nhữngcặp tương phản như tối-sáng, đen-trắng, nam-nữ, sống-chín, trên-dưới, tự nhiên-vănhóa…
- Lý thuyết Sinh thái học văn hóa: Sinh thái học văn hóa chỉ ra mối quan hệ
gắn bó giữa môi trường tự nhiên và văn hóa, trong đó yếu tố tự nhiên là cơ sở choviệc hình thành các mô hình văn hóa khác nhau Nhân vật đại diện tiêu biểu củatrường phái này là Julian Steward-nhà nhân học người Mỹ Điều cần nhấn mạnh làJulian Steward đã đưa ra phương pháp sinh thái văn hóa Theo đó, bước thứ nhất phảiphân tích sự tương liên giữa môi trường tự nhiên và các kỹ thuật sử dụng để khai thác
và xử lý nguồn tài nguyên này, bước thứ hai sẽ phân tích cách xã hội tổ chức côngviệc (làm việc cá nhân hay nhóm) liên quan đến các hoạt động sinh tồn và kinh tế gắnvới nguồn tài nguyên và bước thứ ba là truy nguồn sự ảnh hưởng qua lại giữa hai hiệntượng này tới các yếu tố khác của văn hóa Theo Steward, môi trường sinh thái tác
Trang 11động đến văn hóa ở các yếu tố nòng cốt như tổ chức xã hội, chính trị, tôn giáo lànhững yếu tố chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường
1.3 DIỆN MẠO CÁC CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN ĐBSCL
Vùng ven biển ĐBSCL trải dài qua các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh,Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Ở các địa phương này đã hình thànhnên những cộng đồng đánh bắt thủy hải sản ven biển khá lâu Ngày nay, việc đánh bắt
xa bờ của họ không ngừng được đầu tư với nhiều ghe tàu được trang thiết bị hiện đại
đã vươn ra khơi xa đánh bắt Có nhiều địa phương ven biển nơi đây trở thành nhữngcộng đồng đánh bắt với qui mô lớn về ghe tàu và sản lượng tôm cá Chính điều này đãđem lại nguồn thu nhập nói riêng cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội của người dânnói chung trong thời gian qua Vì vậy, để tập trung và có cái nhìn cụ thể, việc giớithiệu diện mạo của các cộng đồng đánh bắt tiêu biểu ở ven biển ĐBSCL rất cần thiết
Đó là thị trấn Vàm Láng (huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), xã An Thủy (huyện
Ba Tri, tỉnh Bến Tre), xã Bình Thắng (huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre), thị trấn Định An(huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh), thị trấn Trần Đề (huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng), thịtrấn Gành Hào (huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu), thành phố Rạch Giá (tỉnh KiênGiang), thị trấn Cái Đôi Vàm (huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau), thị trấn Sông Đốc(huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau) Qua khảo sát một số cộng đồng ngư dân tiêubiểu ở các địa phương ven biển ĐBSCL đã cho thấy một đặc điểm nổi bật là nghềđánh bắt thủy hải sản giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế địaphương, là tiền đề phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá để đáp ứng nhu cầu ra khơi, giảiquyết việc làm cho lao động địa phương Hai mươi năm qua, hoạt động đánh bắt đãđược nhà nước đầu tư bằng hình thức cho vay vốn đóng tàu, xây dựng hệ thống cảng
cá đã góp phần thúc đẩy ngư dân ngày một tiến ra khơi xa đánh bắt trên biển Đôngcũng như vùng biển Tây Nam Tuy vậy, ngày nay, thách thức về sụt giảm trữ lượngtôm cá, thiếu nhân lực lao động nghề cá, bị nước ngoài tịch thu cũng như giam giữthuyền viên đang là vấn đề mà các cộng đồng này gặp phải
1.4 TỔNG QUAN VỀ HAI CỘNG ĐỒNG NGHIÊN CỨU
Hai cộng đồng ngư dân An Thủy, Sông Đốc được tiếp cận phương diện địabàn cư trú, hoạt động kinh tế, đời sống văn hóa-xã hội Qua việc giới thiệu diện mạocủa cộng đồng ngư dân Sông Đốc và An Thủy, có thể đi đến một số đúc kết như sau:
- Nghề đánh bắt thủy hải sản là sinh kế chính của hai cộng đồng này và cóchung quá trình phát triển, mở rộng phạm vi đánh bắt từ trong bờ, ven bờ và cho đếnnay là xa bờ Nghề này đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội địa phươnghiện tại Bên cạnh đó, với đặc điểm là cộng đồng đa nghề nghiệp, nên hai cộng đồngnày còn có nhiều nghề khác tồn tại như: Nghề nuôi trồng thủy hải sản, nghề trồng lúa,nghề làm muối và nghề kinh doanh, nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân địaphương cũng như sự phát triển toàn diện của kinh tế-xã hội Vì vậy, mô hình cơ cấukinh tế của xã An Thủy gồm: Ngư-nông-lâm-diêm, còn mô hình của thị trấn SôngĐốc là ngư-nông-lâm kết hợp
- Trong quá trình hình thành, phát triển của hai cộng đồng này, không thểkhông nhắc đến vai trò của người Hoa đến đây khai thác, tổ chức mua bán thủy hảisản, góp phần rất lớn cho việc phát triển kinh tế địa phương, đồng thời chắc chắn sẽ
để lại những dấu ấn văn hóa của tộc người này ở xã An Thủy, thị trấn Sông Đốc hiệnnay
- Tuy hai cộng đồng ngư dân An Thủy và Sông Đốc có mối liên hệ qua lạithường xuyên, đều thuộc loại hình ngư dân bãi dọc, nhưng không thể bỏ qua sự khác
Trang 12biệt giữa hai nơi này Thứ nhất, nghề đánh bắt thủy hải sản truyền thống của họ trướcđây phụ thuộc vào qui luật gió mùa hoạt động trên biển Đông Do nằm phía đông namcủa biển Đông nên mùa gió nam (gió mùa tây nam) là thời điểm thích hợp để ngư dân
An Thủy đánh bắt Ngược lại, mùa gió chướng (gió mùa đông bắc) thích hợp để ngưdân ở thị trấn Sông Đốc ra khơi khai thác trên vùng biển Tây Nam Về cách thức đánhbắt, ngư dân An Thủy chuyên đóng đáy song cầu, đáy rạo ngày trước và nay thì thiên
về loại hình ghe cào có thể đánh bắt hàng tháng trên biển Trước kia, ngư dân SôngĐốc phát triển nghề nò xiêm, chà chim Hiện tại, họ chuyên đánh bắt bằng ghe câu
mực, ghe lưới đèn và ra khơi theo qui luật “con trăng” hàng tháng Tại thị trấn Sông
Đốc, nguồn gốc cư dân cũng như ngư dân địa phương mang tính đa dạng, thậm chí làphức tạp hơn xã An Thủy rất nhiều vì lý do thị trấn này thu hút đông ghe tàu từ nhiềutỉnh, thành đến lưu trú cũng như nhiều người đi về đây tìm kiếm việc làm Thị trấnSông Đốc có qui mô về sản lượng khai thác lẫn ghe tàu đánh bắt xa bờ hơn hẳn xã AnThủy
Tiểu kết chương 1
Đầu tiên, chương này tập trung phân tích các khái niệm tín ngưỡng, cộng đồng
và ngư dân để làm công cụ phục vụ nghiên cứu Kết quả phân tích còn làm cơ sở đểlựa chọn những nội dung phù hợp, quan trọng, nổi bật ở từng khái niệm nhằm tiếp cận
dễ dàng, phù hợp với bối cảnh, cách tiếp cận lẫn đối tượng nghiên cứu
Đồng thời, những luận điểm chính của các Lý thuyết Chức năng (Chức năngtâm lý, chức năng xã hội), Lý thuyết Cấu trúc, Lý thuyết Sinh thái học văn hóa cũngđược trình bày để làm cơ sở xây dựng khung phân tích của luận án Từ đó việc vậndụng những luận điểm chính của các lý thuyết vào việc trả lời từng câu hỏi nghiêncứu, giả thiết nghiên cứu đã đặt ra Điều này góp phần rất lớn vào chất lượng cơ sở lýluận của luận án
Hai cộng đồng ngư dân Sông Đốc, An Thủy có một diện mạo riêng về môitrường sinh thái, quá trình hình thành và phát triển, đời sống văn hóa-xã hội lẫn hoạtđộng kinh tế của họ Đặc biệt, qua việc trình bày phương thức đánh bắt thủy hải củangư dân cho thấy đây là sinh kế quan trọng, ảnh hưởng và chi phối đến toàn bộ nềnkinh tế-xã hội của cộng đồng
Trang 13Chương 2 CÁC HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG VÀ SINH HOẠT TÍN NGƯỠNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN
2.1 TÍN NGƯỠNG VÀ SINH HOẠT TÍN NGƯỠNG CÁ ÔNG
2.1.1 Tín ngưỡng Cá Ông: Nguồn gốc và niềm tin
Tín ngưỡng Cá Ông được ngư dân ven biển Miền Trung rất tin tưởng nên họthờ cúng thần phổ biến từ Thanh Hóa trở vào đến tận Kiên Giang Về bản chất, tínngưỡng Cá Ông thuộc tín ngưỡng vật linh (Animalism) Niềm tin về Cá Ông của ngưdân ven biển ĐBSCL rất lớn, sâu sắc vì họ xác tín Thần cứu giúp họ vượt qua nhữnglúc sóng to, gió lớn ở ngoài khơi cũng như mang lại sự sung túc cho ngư nghiệp Kếtquả khảo sát tại hai cộng đồng ngư dân An Thủy và Sông Đốc cho thấy niềm tin ThầnNam Hải của ngư dân có nhiều nét độc đáo Trước nay, người làm nghề đánh bắt thủyhải sản xã An Thủy và thị trấn Sông Đốc rất tôn kính Cá Ông Vì vậy, họ gọi Cá Ôngbằng Ông Nam Hải, Nam Hải Tướng Quân, nhưng nhiều và phổ biến nhất là Ông.Nhìn chung, những đặc trưng nổi bật trên phương diện niềm tin về Cá Ông tại hai địaphương này được biểu hiện như sau:
-Thứ nhất, từ những ngư dân cao tuổi cho đến các thành phần ngư nghiệp gồm
các chủ ghe tàu, ngư phủ, chủ đại lý thu mua thủy hải sản hiện nay đều tin tưởng vàoquyền năng cứu người mỗi khi gặp nạn trên biển của Thần Nam Hải
- Thứ hai, ngư dân An Thủy và Sông Đốc đã hình thành tri thức nhận diện
Thần Nam Hải nếu tình cờ gặp trên biển hoặc thi hài bị trôi dạt vào bờ Điều này tránh
đi sự nhầm lẫn với một số loài cá tương tự như cá giông (dông), cá xà trên vùng biểnNam bộ ngày trước
- Thứ ba, trước đây, tại An Thủy và Sông Đốc, mỗi khi thấy Ông trôi dạt vào
bờ, việc tổ chức tang lễ cho Thần long trọng để tỏ lòng kính tiếc Phong tục mai táng
và việc lưu giữ hài cốt Cá Ông vẫn được lưu truyền cho đến hiện nay ở địa phương,tuy có biến đổi đôi chút Ngoài ra, đây là biểu hiện về sự kế tục nghi thức tang matruyền thống của Cá Ông giữa các thế hệ ngư dân địa phương
- Thứ tư, mối quan hệ giữa ngư dân và Cá Ông mang tính hai chiều, thể hiện
qua sự giúp đỡ lẫn nhau với tình cảm sâu sắc, đồng thời cho thấy sự gắn bó giữa conngười với môi trường biển cả
- Thứ năm, ngày nay, ở xã An Thủy và thị trấn Sông Đốc, các ngư dân cao
tuổi vẫn còn nhắc đến việc Cá Ông hiển linh giúp vua Gia Long bằng cách đưa thuyềnvào bờ nên ông đã thoát nạn bão tố trên biển trong lúc còn bôn ba ở Nam bộ để phụcnghiệp
Như vậy, tín ngưỡng Cá Ông chính là tín ngưỡng đặc trưng của nghề đánh bắtthủy hải sản của ngư dân An Thủy, Sông Đốc Trong niềm tin của họ, Thần Nam Hảiluôn luôn phù hộ cho ghe tàu ra khơi được bình an, cứu giúp họ thoát khỏi tai nạn nênrất được ngư dân tin tưởng Ngoài ra, thần còn phù hộ nghề đánh bắt được thịnhvượng, sung túc Mặt khác, qua tìm hiểu lẫn phân tích, sự xuất hiện thêm yếu tố Nhogiáo, Đạo giáo đã cho thấy tục thờ Cá Ông ở đây có nét độc đáo, thể hiện chiều sâuvăn hóa tinh thần của người dân địa phương
2.1.2 Sinh hoạt tín ngưỡng Cá Ông
Trang 14Sinh hoạt tín ngưỡng Cá Ông chính là những biểu hiện của ngư dân nhằm bày
tỏ niềm tin, tấm lòng thành kính của họ đối với Thần Nam Hải Cụ thể, đó là việc xâydựng nơi thờ cúng-lăng Ông, tổ chức lễ hội nghinh Ông và trình diễn hát bội cho thầnthưởng thức Mục tiêu của những việc làm này còn hướng đến việc cầu mong ThầnNam Hải phù hộ bình an, giúp cho ngư nghiệp địa phương được sung túc, thịnhvượng
* Lăng Ông
Tại An Thủy và Sông Đốc, nơi thờ Thần Nam Hải được gọi là Lăng Ông NamHải Qua khảo sát cho thấy: Hai lăng Ông này không đồng nhất về kiến trúc lẫn bài tríthờ tự Ngoài ra, nét tương đồng của hai Lăng Ông Nam Hải ở An Thủy và Sông Đốc
là được trùng tu nhiều lần Đây là thời điểm mà nghề đánh bắt thủy hải sản ở địaphương bắt đầu phát triển do ngư dân được nhà nước đầu tư vốn để đóng tàu lớn rakhơi đánh bắt Vì thế, nhiều chủ ghe có điều kiện tài chánh đã ủng hộ nguồn kinh phílớn để tiến hành trùng tu lăng Tóm lại, lăng Ông là một địa điểm linh thiêng của cộngđồng vì đây là nơi gửi gắm niềm tin, ước vọng của người dân qua nhiều thế hệ Ngoài
ra, đây còn là một thiết chế văn hóa đặc trưng của cộng đồng ngư dân địa phươngđược giữ gìn và phát triển qua nhiều thế hệ nhằm góp phần mang lại niềm tin tưởng
về quyền năng của Ông Nam Hải sẽ phù hộ cho công việc ra khơi đánh bắt của họđược thuận lợi, sản lượng tôm cá dồi dào, ngư nghiệp sung túc
* Lễ hội nghinh Ông
Xét về tính chất, lễ hội nghinh Ông thực ra là lễ hội cầu ngư mong cho cuộcsống của ngư dân sung túc và phản ánh ước vọng bình an, cầu mong thuận lợi mỗi khi
ra khơi đánh bắt Qua lễ hội nghinh Ông ở Thị trấn Sông Đốc và Xã An Thủy chothấy việc tổ chức các lễ hội nghinh Ông là một nét văn hóa độc đáo, một hình thứcsinh hoạt tín ngưỡng mang tính chất đặc trưng của nghề đánh bắt thủy hải sản, đượcchính cộng đồng bảo lưu, sinh hoạt rộng rãi trước nay Nhìn chung, công việc tổ chứcrất chặt chẽ, bài bản và chu đáo góp phần cho thấy tính chất quan trọng lẫn niềm tintưởng mạnh mẽ của cộng đồng vào Thần Nam Hải
* Hát bội
Trong lễ hội nghinh Ông, hát bội mục đích trước để cúng Thần Nam Hải, sau
là phục vụ nhu cầu giải trí của cộng đồng Trong Lễ hội nghinh Ông ở An Thủy vẫnduy trì sân khấu hát bội với ba suất hát Tối ngày mười sáu tháng giêng, nhiều ngườidân địa phương tập trung đứng xung quanh gian võ ca đợi đoàn hát trình diễn Nhiềuđàn ông và đàn bà, có cả trẻ em, ngồi xem trong tiếng trống, tiếng nhạc, họ say sưatheo các điệu bộ của diễn viên Hát bội kết thúc vào giữa khuya của đêm cuối cùng(tức đêm mười bảy âm lịch) với việc tôn vương Hiện nay, Lễ hội nghinh Ông ở thịtrấn Sông Đốc không còn tổ chức hát bội
2.2 TÍN NGƯỠNG VÀ SINH HOẠT TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
Tại An Thủy và Sông Đốc, qua khảo sát, các hình thức tín ngưỡng thờ Mẫucủa cộng đồng gồm có: Tín ngưỡng Bà Chúa Xứ, tín ngưỡng Bà Thủy Long, tínngưỡng Bà Cậu, tín ngưỡng Quan Âm Nam Hải, tín ngưỡng Thiên Hậu Bên cạnh đó,các lễ hội kỳ yên, lễ vía cùng với những ngôi miếu thờ và diễn xướng múa bóng rỗitrở thành những sinh hoạt tín ngưỡng mang tính đặc thù của cộng đồng nhằm biểuhiện niềm tin của họ đối với các vị thánh mẫu
2.2.1.Các hình thức tín ngưỡng thờ Mẫu
* Tín ngưỡng Bà Chúa Xứ