1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của việt nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

182 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu hút và sử dụng oda từ các tổ chức quốc tế của việt nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
Tác giả Nguyễn Hữu Dũng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Xuân Dũng, TS. Lưu Đức Hải
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này dấy lên những lo ngại về hiệu quả sử dụng vốn ODA của Việt Nam nói chung, trong đó ODA của WB và ADB luôn giữ tỷ trọng lớn trong tổng vốn ODA của Việt Nam Do vậy, cần thiết phải

Trang 1

ii

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỮU DŨNG

THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA TỪ CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ

SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 9 31 01 06

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS TS Nguyễn Xuân Dũng

2 TS Lưu Đức Hải

Hà Nội - 2018

Trang 2

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực Kết quả nghiên cứu luận án chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm Tác giả luận án

Nguyễn Hữu Dũng

Trang 3

1.1 Một số trường phái, mô hình lý thuyết và cách tiếp cận 8

1.5 Kinh nghiệm thu hút và sử dụng ODA của các nước trên thế giới 20 1.6 Các nhận xét rút ra từ tình hình nghiên cứu của các đề tài liên quan 22

2.2.2 Công tác quy hoạch ngành, lĩnh vực ưu tiên kêu gọi ODA 35 2.2.3 Quản lý, giám sát và quy trình thủ tục thu hút và sử dụng ODA 36

2.5.1 Khái niệm thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế 40

2.5.4 Lĩnh vực viện trợ ODA từ các tổ chức quốc tế 45

Trang 4

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA TỪ CÁC

TỔ CHỨC QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM SAU KHỦNG HOẢNG TÀI

CHÍNH VÀ SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU

3.2.4 Đánh giá cam kết, ký kết và giải ngân ODA của Việt Nam trước và

sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

71

3.3 Thực trạng thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt

Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

72

3.3.1 Thực trạng thu hút ODA từ các tổ chức quốc tế 72 3.3.2 Thực trạng sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế 77 3.3.3 Yếu tố ảnh hưởng đến thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế

của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

Trang 5

vi

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA TỪ CÁC TỔ

CHỨC QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

116

4.2 Chiến lược viện trợ ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam 118

4.3 Quan điểm và định hướng của Việt Nam về thu hút và sử dụng ODA từ

4.4.6 Hài hòa các thủ tục giữa các đối tác và của Việt Nam 140 4.4.7 Kiện toàn bộ máy quản lý ODA và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ

chuyên trách về ODA

141

4.4.8 Tăng cường vốn đối ứng, đặc biệt vốn đối ứng cho công tác giải

phóng mặt bằng và tái định cư đối với các dự án đầu tư xây dựng

142

PHỤ LỤC

Trang 6

vii

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VÀ HỘP

Bảng 2.2 Các khoản tiền nhận thực phẩm thông qua GARIOA 50 Bảng 3.1 Các diễn đàn vận động ODA của Việt Nam qua các thời kỳ 61 Bảng 3.2 ODA cam kết, ký kết và giải ngân từ 2006-2015 68 Bảng 3.3 Cơ cấu ODA ký kết theo ngành và lĩnh vực thời kỳ 2006 – 2010 69 Bảng 3.4 ODA ký kết theo ngành và lĩnh vực thời kỳ 2011-2015 71 Bảng 3.5 ODA cam kết của các TCQT cho Việt Nam thời kỳ 1994 - 2007 73 Bảng 3.6 ODA cam kết của các TCQT cho Việt Nam thời kỳ 2008 - 2015 74 Bảng 3.7 ODA giải ngân của các TCQT cho Việt Nam thời kỳ 1994 - 2007 75 Bảng 3.8 ODA giải ngân của các TCQT cho Việt Nam thời kỳ 2008 - 2015 76 Bảng 3.9 Cơ cấu ngành được tài trợ của WB cho Việt Nam giai đoạn 2006-

Bảng 3.18 Thời gian từ khi nhà tài trợ phê duyệt đến khi dự án có hiệu lực của một số nhà tài trợ

111

Hình 4.1 Tỷ lệ nợ công của Việt Nam giai đoạn 2010-2015 132 Hộp 3.1 Những thành quả phát triển từ các dự án do ADB tài trợ tại Việt Nam giai đoạn 2004–2010

87

Trang 7

viii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á

CAS Country Assistance Strategies Chiến lược hỗ trợ quốc gia

CG Consulting Group Hội nghị Nhóm tư vấn các

nhà tài trợ cho Việt Nam CPS Country partnership strategies Chiến lược đối tác quốc gia

DAC Development Assistance

IBRD International Bank for

Reconstruction and Development

Ngân hàng phát triển và tái thiết quốc tế

IDA International Development

Association

Hiệp hội phát triển quốc tế

IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

MDGs Millennium Development Goals Mục tiêu thiên niên kỷ

OCR Ordinary Capital Resources Vốn vay thương mại

ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức

OECD Organization for Economic

Co-operation and Development

Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế

PPP Private public partnership Hợp tác công tư

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, các quốc gia phát triển hoặc đang phát triển đều cần đến các nguồn lực cơ bản là đất đai, nhân lực, vốn và khoa học công nghệ để phát triển kinh tế - xã hội Trong đó vốn là yếu tố quan trọng và trở nên cấp bách hơn đối với các quốc gia đang phát triển Từ thực tế đó nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ra đời đã giúp các nước đang phát triển giải quyết tình trạng thiếu vốn Nguồn vốn này chủ yếu được đầu tư vào những lĩnh vực giữ vai trò đầu tàu của nền kinh tế như: cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực; từ đó kéo theo sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cả về chất và lượng Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, nhờ vào nguồn vốn viện trợ của Mỹ, châu Âu đạt được sự tăng trưởng ngoạn mục, thậm chí còn phát triển hơn trước Bên cạnh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng là những minh chứng rõ nét nhất về vai trò của nguồn vốn ODA đối với phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Kết quả là sau một khoảng thời gian nhất định, Nhật Bản và Hàn Quốc đều trở thành những nước công nghiệp phát triển ở châu Á và trên thế giới, trở thành quốc gia viện trợ ODA ngược trở lại cho các nước khác

Đối với Việt Nam, sau một thời gian bị gián đoạn, từ năm 1993 đến nay các nhà tài trợ ODA bắt đầu tái khởi động lại cung cấp ODA cho Việt Nam Tính đến hết năm 2015 các nhà tài trợ đã ký kết cho Việt Nam 74.368 triệu USD và giải ngân được 52.689 triệu USD [38], trong đó ODA của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) chiếm tỷ trọng khá lớn, đặc biệt WB và ADB luôn là những nhà tài trợ lớn nhất và sát cánh cùng Việt Nam suốt chặng đường từ 1993 đến nay Những dự án của các tổ chức quốc tế này tập trung chủ yếu vào giải quyết những vấn đề lớn có tính chiến lược quốc gia như: phát triển

hạ tầng cơ sở, xóa đói giảm nghèo; cải cách thể chế, cải cách hành chính; cải

Trang 9

2

thiện y tế, giáo dục; biến đổi khí hậu; phát triển nguồn nhân lực Do đó, hiệu quả của ODA từ các dự án/chương trình này đã giúp Việt Nam hoàn thành các mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà điển hình như chuyển từ một nước nông nghiệp, lạc hậu thành một nước có thu nhập trung bình thấp năm 2010, thực hiện thành công và trước thời hạn một số mục tiêu thiên niên kỷ, trở thành thành viên của nhiều tổ chức lớn trong khu vực và trên thế giới, giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Bước sang giai đoạn khủng hoảng từ 2008 đến nay, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến đổi, khiến cho việc thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam cũng thay đổi theo Đó là nguồn cung ODA của thế giới sẽ bị tác động từ cuộc khủng hoảng, dẫn đến sự cung cấp ODA của các nước sẽ bị ảnh hưởng Quá trình thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ sắp hoàn thành và đặt nền tảng vững chắc cho việc thực hiện Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc vì sự phát triển bền vững (SDGs) Đồng thời chiến lược viện trợ của đối tác mà điển hình như WB, ADB và UNDP cũng luôn thay đổi để thích ứng với sự thay đổi của Việt Nam Khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình vào năm 2010, việc tiếp nhận ODA có sự thay đổi cả về cách thức, mục tiêu, cơ cấu nguồn vốn

và các lĩnh vực viện trợ Chuyển đổi căn bản từ quan hệ viện trợ phát triển sang quan hệ đối tác ODA của WB sẽ chuyển từ nguồn cung cấp của IDA sang IBRD hoặc vốn vay của ADB cũng chuyển từ ADF sang OCR Với mức vay ưu đãi kém hơn có thể gây một số khó khăn cho Việt Nam trong việc sử dụng ODA trong một số lĩnh vực như y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo…mà trước đây sử dụng nhiều vốn ODA ưu đãi lớn Việc chuyển đổi từ nước có thu nhập thấp sang nước có thu nhập trung bình thấp khiến cho nguồn vốn ODA của các nhà trợ như

WB, ADB chưa giải ngân hết và bị ứ đọng trong khi Việt Nam luôn coi nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng Điều này được khẳng định rõ ràng và mạnh mẽ trong Đề án

“Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vốn vay

ưu đãi khác của các nhà tài trợ thời kỳ 2011 – 2015 và 2016 - 2020”

Trang 10

3

Tuy nhiên, việc ứ đọng nguồn vốn IDA của WB không chỉ do quá độ sang nền kinh tế thu nhập trung bình mà còn nhiều nguồn vốn ODA chưa được giải ngân hết do năng lực hấp thu, công tác giải ngân, hài hòa thủ tục với đối tác của Việt Nam còn nhiều bất cập và hạn chế Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), tính đến hết năm 2015, vốn ODA đã ký nhưng chưa giải ngân hiện còn khoảng 22 tỷ USD Điều này dấy lên những lo ngại về hiệu quả sử dụng vốn ODA của Việt Nam nói chung, trong đó ODA của WB và ADB luôn giữ tỷ trọng lớn trong tổng vốn ODA của Việt Nam

Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu để định hướng chính sách và đề ra những giải pháp đảm bảo huy động và sử dụng ODA của các tổ chức quốc tế như WB, ADB, UNDP, góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 -

2020 Trong bối cảnh đó, vấn đề: “Thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu” được chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sỹ kinh tế mang tính lý

luận và thực tiễn cao

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở luận giải các cơ sở khoa học và phân tích thực trạng thu hút và

sử dụng ODA từ tổ chức quốc tế của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, từ đó luận án có mục tiêu đề xuất định hướng và giải pháp nhằm thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam đến 2025 và tầm nhìn đến 2030

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam

+ Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

Trang 11

4

+ Đề xuất giải pháp thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam đến 2025 và tầm nhìn đến 2030

* Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1 Thực trạng thu hút ODA từ các tổ chức của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu như thế nào?

Câu hỏi 2 Thực trạng sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu như thế nào?

Câu hỏi 3 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu như thế nào?

Câu hỏi 4 Việt Nam có định hướng và giải pháp gì để thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế trong thời gian tới?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

- Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào 02 nội dung chính: (i) Thu hút ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; (ii) Sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

+ Phạm vi không gian: ODA của các tổ chức quốc tế gồm: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam

+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu 02 giai đoạn 1994 – 2007, 2008 – 2015 và tầm nhìn đến 2030, trong đó trọng tâm là giai đoạn 2008 - 2015 Năm 2008 là năm đánh dấu bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới, làm ảnh hưởng đến các nước có tự do hóa thương mại cao Điều này có ảnh hưởng đến nguồn cung cấp ODA cho các nước nhận và các tổ chức đa phương Ngoài ra, giai đoạn này đánh dấu mốc quan trọng khi Việt Nam thoát

Trang 12

5

khỏi nước thu nhập thấp và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp từ năm

2010

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

- Nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp định tính bao gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phân tích thống kê, phân tích kinh tế Các phương pháp được sử dụng và cho ra kết quả cụ thể như sau:

+ Chương 1: Sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu thứ cấp, phân tích tìm ra những nội dung đã nghiên cứu trong các công trình trong và ngoài nước

có liên quan đến đề tài Kết quả đạt được: Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã

có trong và ngoài nước và tìm ra khoảng trống nghiên cứu cho luận án

+ Chương 2: Sử dụng các phương pháp tiếp cận về hỗ trợ phát triển chính thức; sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp, so sánh và đối chiếu các quan điểm, khái niệm khác nhau của các nhà khoa học và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến ODA Đồng thời phân tích, chọn lọc những vấn đề mang tính thực tiễn gắn với cơ sở lý luận của luận án; qua đó thể hiện tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn tại Việt Nam Kết quả đạt được: (i) Xây dựng một khung lý luận về ODA của các tổ chức quốc tế; (ii) Kinh nghiệm thành công của Nhật Bản và Hàn Quốc trong thu hút và sử dụng ODA; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Những nội dung này làm cơ sở định hướng và dẫn dắt nghiên cứu phân tích thực trạng và các đề xuất giải pháp ở các chương sau

+ Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích kinh tế, phân tích thống

kê, mô tả, so sánh và tổng hợp Kết quả đạt được: Mô tả bức tranh thực trạng

về thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam nói chung và ODA từ các tổ chức quốc tế nói riêng; phân tích và chỉ rõ những kết quả tốt cần được kế thừa, những hạn chế cần khắc phục, các vấn đề đặt ra cần giải quyết để thu hút và

sử dụng trong thời gian tới

Trang 13

6

+ Chương 4: Sử dụng phương pháp dự báo, quy nạp, khái quát, kết hợp phân tích và tổng hợp các tài liệu thứ cấp, các nhận định, đánh giá từ các công trình khác, các văn bản pháp luật của các cơ quan chức năng, các tổ chức liên quan về ODA Kết quả đạt được: Dự báo bối cảnh trong nước và quốc tế; định hướng, giải pháp thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế trong thời gian tới

- Nguồn dữ liệu và số liệu được thu thập trong giai đoạn 2008 và dữ liệu từ

1994 – 2007 nhằm đánh giá, chỉ ra sự thay đổi, khác biệt giữa trước và sau giai đoạn 2008 – 2015 Các số liệu và dữ liệu này được thu thập từ:

+ Các văn bản pháp luật, văn kiện liên quan đến ODA;

+ Các tài liệu về ODA của các nhà tài trợ tại Việt Nam như ADB, WB, UNDP

+ Báo cáo, kết quả thực hiện của các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội của Việt Nam ở các cấp quốc gia, cấp ngành, khu vực

+ Các văn bản, tài liệu về hợp tác của các nhà tài trợ đối với Việt Nam như Chiến lược đối tác với Việt Nam của ADB, WB, Kế hoạch phát triển chung của UNDP, báo cáo thường niên của ADB, WB; báo cáo phát triển con người thường niên của Liên hợp quốc

+ Kết quả nghiên cứu của một số công trình đã công bố liên quan đến luận án

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Về mặt lý luận: Luận án chỉ ra: (i) các nhân tố tác động đến thu hút và

sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, trong đó phải kể đến các điều kiện cho vay của từng tổ chức khác nhau khi các điều kiện mới phát sinh như khi Việt Nam chuyển từ một nước có thu nhập thấp sang nước có thu nhập trung bình, hoặc khi suy thoái kinh tế thế giới tác động đến nguồn cung ODA của các tổ chức quốc tế; (ii) hệ thống các chỉ tiêu đánh giá sử dụng ODA

- Về mặt thực tiễn: Luận án: (i) trình bày và phân tích chính sách thu hút và

sử dụng ODA của Việt Nam qua các thời kỳ nhằm thích ứng với những biến đổi

Trang 14

7

của đất nước; (ii) đánh giá thực trạng thu hút ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; (iii) đánh giá thực trạng sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; (iii) đánh giá những thành công và hạn chế trong quá trình thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc

tế của Việt Nam sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (iv) đề xuất các giải pháp nhằm thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc

tế của Việt Nam trong thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa về mặt lý luận: Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh sau cuộc khủng hoảng tài chính

và suy thoái kinh tế toàn cầu

- Ý nghĩa về thực tiễn: Luận án cung cấp luận cứ khoa học cho các nhà quản lý, nhà làm chính sách tham khảo trong việc đưa ra các chính sách, chủ trương thu hút ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam như WB, ADB, UNDP trong thời gian tới Ngoài ra, luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu lĩnh vực ODA nói riêng và kinh

tế quốc tế nói chung

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án gồm 04 chương

Chương 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế

Chương 3 Thực trạng thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

Chương 4 Giải pháp thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới

Trang 15

8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN

1.1 Một số trường phái, mô hình lý thuyết và cách tiếp cận

Các mô hình lý thuyết và cách tiếp cận về ODA

- Khi nghiên cứu về ODA, một số mô hình lý thuyết đã được sử dụng để chứng minh rằng ODA có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và qua đó giúp mang lại sự phát triển ở các nước tiếp nhận Các nước đang phát triển chấp nhận dòng tài chính này bởi vì phần lớn họ bị thiếu vốn mà nguyên nhân do không có khả năng tiết kiệm đủ Tiếp nhận nguồn vốn ODA sẽ giúp các nước này tránh khỏi thắt nút cổ chai về vốn trong đầu tư

Các mô hình được sử dụng phổ biến là mô hình Harrod – Domar Mô hình này ban đầu được dùng để giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước phát triển Sau đó nó được sử dụng để giải thích về tăng trưởng kinh tế dựa trên tiết kiệm và đầu tư, nhất là vấn đề các nước nghèo có thể huy động vốn từ bên ngoài để phát triển kinh tế Tiếp theo là mô hình Hai khoảng cách (Two gap model) của Chenery B.H & A.M Strout (1966): Hai khoảng cách ở đây là khoảng cách giữa đầu tư và tiết kiệm (thiếu hụt tiết kiệm)

và khoảng cách giữa lượng ngoại tệ xuất khẩu và lượng ngoại tệ cho nhu cầu nhập khẩu (thiếu hụt thương mại) Mô hình Hai khoảng cách cho rằng nếu muốn đạt được tỷ lệ tăng trưởng dự kiến thì phải thu hút dòng vốn từ nước ngoài lấp đầy các khoảng cách trên [31]

Mô hình Harrod – Domar và mô hình Hai khoảng cách được đề cập bởi

Chenery B.H & A.M Strout (1966), Foreign Assistance and Economic

Development; Conchesta K (2008), Foreign Aid and Economic Growth: the Case of Tanzania; Ajayi Ayobami Elizabeth (2013), Foreign aid and economic development in Sub Saharan Africa: the Role of institutions (1996-2010);

Nguyễn Thị Huyền (2008), Khai thác nguồn vốn ODA trong sự nghiệp công

Trang 16

9

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam; Lê Thanh Nghĩa (2009), Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam

Tuy nhiên, Conchesta K (2008), Foreign Aid and Economic Growth: the

Case of Tanzania bổ sung thêm một mô hình nữa là mô hình Ba khoảng cách

(Three gap model) Mô hình này đề cập đến khoảng cách đầu tư – tiết kiệm, thâm hụt thương mại và thâm hụt tài chính (Conchesta, 2008) Thâm hụt tài chính đề cập đến thâm hụt giữa thu và chi tiêu chính phủ Để khỏa lấp khoản thâm hụt này chính phủ cần huy động nguồn lực tài chính bên ngoài để bù đắp vào ngân sách chính phủ Nhưng viện trợ nước ngoài không làm tăng tổng mức tiết kiệm và làm giảm đầu tư trong nước (Ajayi Ayobami Elizabeth, 2013)

- ODA được tiếp cận/hiểu theo nhiều cách khác nhau Cơ bản chia thành

các trường phái, quan điểm sau Shahriar Rahman Kibriya (2011), Aid and

Peace: A critique of foreign assistance, conflict and development, đã đưa ra cách

hiểu về ODA theo ba quan điểm chính, đó là quan điểm lạc quan (optimistics), thực dụng (realistic) và bi quan (pessimistic) Quan điểm lạc quan nhấn mạnh đến tác động tích cực của ODA đối với phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội ở các nước đang phát triển Gương mặt tiêu biểu cho quan điểm này là Jeffrey Sachs,

với cuốn sách có tiêu đề: “The end of poverty: Economic possibilties for our time

(2005)”, cùng với thông điệp của ông là "chấm dứt nghèo đói" khi các nước phát

triển cung cấp thêm ODA với mức bình quân 135-195 tỷ USD cho thập kỷ tới Quan điểm thực dụng nhấn mạnh đến yếu tố hiệu quả trong viện trợ, do đó đòi hỏi phải có sự lựa chọn kỹ càng hơn khi cung cấp viện trợ cho bên hưởng lợi

và đưa ra các đề xuất để tạo ra một thị trường viện trợ hiệu quả hơn Trong “Aid,

Policies, and Growth”, Burnside và Dollar (2000) phát hiện ra rằng viện trợ có

tác động tích cực đến tăng trưởng ở các nước đang phát triển mà có chính sách tài chính, tiền tệ và thương mại tốt Trong khi thực hiện chính sách tồi, viện trợ không có tác dụng tích cực đối với sự phát triển

Quan điểm bi quan cho rằng cải cách và thực hiện các khoản viện trợ là vô

ích và bị tham những Trong cuốn sách “The White man’s burden: Why the

West’s efforts to aid the rest have done so much III and so little good” của

Trang 17

10

Easterly (2006) đặt ra câu hỏi liệu những đồng tiền viện trợ thực sự đến được tay người nghèo khơng Lí do đưa ra quan điểm này vì ơng cảm thấy đĩ là do quản

lý khơng dân chủ và chính quyền tham nhũng tại các nước nhận viện trợ này

Theo Jin-Wook Choi (2011), “From A Recipient To A Donor

State:Achievements And Challenges Of Korea’s ODA”, ODA được hiểu dưới

gĩc độ lý tưởng và thực dụng Theo cách tiếp cận lý tưởng, coi viện trợ ODA xuất phát từ lợi ích của nước tiếp nhận hơn là nước viện trợ (Lumsdaine và Schopf, 2007) Điều này phù hợp với bản chất của ODA là nhằm mục đích nhân đạo (Maizels và Nissanke, 1984) Cịn cách tiếp cận thực dụng cĩ xu hướng tập trung vào lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia của nước cung cấp viện trợ ODA (Arnold, 1985; Morgenthau, 1962; Noël và Thérien, 1995)

Theo Anne Maurits van der Veen (2000), “Ideas and In terests in Foreign

Policy: The Politics of Official Development Assistance”, ODA hiểu theo bốn

cách khác nhau Cách thứ nhất hiểu ODA theo cách thực dụng (realist) giống với quan điểm của của Jin-Wook Choi (2011); cách thứ hai hiểu ODA theo thuyết thể chế (institutionalist), nhấn mạnh vai trị của các tổ chức quốc tế như DAC trong việc đưa ra các nguyên tắc, chuẩn mực để ràng buộc các nước cùng chấp nhận và chia sẻ cùng nhau về các vấn đề quốc tế như: viện trợ ODA; cách thứ ba

là hiểu ODA theo thuyết tự do (liberal), tập trung vào nhĩm lợi ích trong nước

để tối đa hĩa ảnh hưởng và lợi ích riêng của họ; cách thứ tư là hiểu ODA theo thuyết kiến tạo (constructivist), nĩi đến đa mục tiêu trong viện trợ ODA như: ổn định quốc tế, thúc đẩy dân chủ, và bảo vệ mơi trường tồn cầu

1.2 Lợi ích và vai trị của ODA

Theo Whitaker (2006), cĩ một mối quan hệ tích cực giữa viện trợ nước ngồi và tăng trưởng kinh tế đặc biệt là ở những nước cĩ chính sách hợp lý tạo điều kiện cho thương mại và nền kinh tế Điều này cũng được hỗ trợ bởi Burnside và Dollar (2000, 2004), Farah Abuzeid (2009) và Durbarry và cộng

sự (1998) Viện trợ nước ngồi cũng dẫn đến tăng trưởng kinh tế nếu các chính sách tài chính tốt và các thể chế mạnh cùng tồn tại Theo World Bank (1998), Assessing Aid: What Works, What Doesn't, and Why, các nước cĩ chính sách

Trang 18

11

tiền tệ, tài chính và thương mại tốt (gọi chung là môi trường chính sách tốt) ghi nhận tác động tích cực của viện trợ cao

Điều này thể hiện rất rõ trong các công trình như: Chenery B.H & A.M

Strout (1966), Foreign Assistance and Economic Development; Burnside, C., và Dollar, (2000), Aid, Policies, and Growth; SIMON FEENY (2005), The Impact

of Foreign Aid on Economic; Arjun Chandar (2007), Aid Effectiveness and Growth in the Developing World: Does Institutional Quality Matter?;

Conchesta K (2008), Foreign Aid and Economic Growth: the Case of Tanzania; Tun Lin Moe (2008), An empirical investigationof relationships between official

development assistance (ODA) and human and educational development; Sang

Ki Jin And Cheol H Oh (2012), Revising effects and strategies ofofficial

development assistance (ODA): A panel analysis; Ajayi Ayobami Elizabeth

(2013), Foreign aid and economic development in sub saharan africa: the Role

of institutions (1996-2010); Ömer EROĞLU và Ali YAVUZ, The role of foreign aid in economic development of developing countries; Vũ Ngọc Uyên (2007), Tác động của ODA đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam; Nguyễn Thị Huyền

(2008), Khai thác nguồn vốn ODA trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

hóa ở Việt Nam; Phạm Thị Túy (2008), Thu hút và sử dụng ODA vào phát triển

hạ tầng ở Việt Nam; Hà Thị Thu (2014), Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam:

Nghiên cứu tại vùng duyên hải miền Trung, đặc biệt trong bài viết “Nhìn lại 20

năm thu hút vốn ODA” của Hương Giang (2013) nêu bật vai trò của ODA đối

với phát triển kinh tế Việt Nam, góp phần quan trọng trong việc đưa Việt Nam ra khỏi danh sách những nước kém phát triển trở thành nước có thu nhập trung bình thấp Các công trình này nêu bật vai trò của ODA đối với các nước tiếp nhận trên các khía cạnh: Bổ sung nguồn vốn, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, quản lý, xóa đói giảm nghèo, cải cách thể chế, bảo vệ môi trường

Điều đáng chú ý là nhiều công trình như: Sumi, Kazuo (1990) ODA Enjo

no Genjitsu (A Reality of ODA); Alberto Alesina and David Dollar (1998), Who

gives foreign aid to whom and why?; Fuke, Yôsuke and Fujibayashi, Yasushi

Trang 19

12

(eds) (1999), Nihonjin no Kurashi no Tame Datta ODA (ODA was in Aid of

Japanese livelihoods); Zhang, Guang (2002), Foreign aid, national interest, and economic development, the case of China, 1949-2000; Geon Woo Park (2014), A Study on the Determinants of FDI from Korea: Does ODA Attract FDI? đã nhìn

nhận vai trò của ODA không chỉ mang lại lợi ích cho nước nhận viện trợ mà cho

cả chính nước viện trợ Lợi ích này là động lực để các nước phát triển bỏ ra nguồn vốn khá lớn cho các nước nghèo Đó là khả năng sinh lời từ ODA như:

mở rộng thị trường, sự ủng hộ về chính trị, nâng cao vai trò của nước cung cấp viện trợ

Bên cạnh những tác động tích cực của ODA, có ý kiến cho rằng ODA cũng

có thể có tác động tiêu cực đến tăng trưởng/phát triển kinh tế của nước nhận vì

nó khuyến khích tham nhũng, khuyến khích các hành vi lợi dụng và làm xói mòn thể chế quản lý (Knack, 2001) nếu như những nước này thực thi những chính sách tồi Điển hình là công trình của Boone (1995) phát hiện ra rằng trong những năm 1970 và năm 1980, các nước châu Phi nhận nhiều viện trợ mà không đạt được sự tăng trưởng kinh tế nào Hậu quả là ODA đã trở thành gánh nặng nợ nần, lệ thuộc vào ODA, làm suy yếu nền kinh tế Đặc biệt, cần cảnh giác với những ODA có ràng buộc thường đi kèm những điều kiện bất lợi cho nước tiếp

nhận Điều này được các tác giả nghiên cứu trong các công trình như: Boone, P

(1994), The Impact of Foreign Aid on Savings and Growth; Lerrick, A (2005), The debt of the poorest nations: A gold mine for development aid; Easterly, W (2006), The White Man’s Burden: Why the West’s efforts to aid the rest have done so much ill and so little good?; Riddell, Roger (2007), “Does Foreign Aid Really Work?”; Richard Ilorah (2013), Is Africa trapped between foreign aid

dependency and failed growth initiatives?); Đức Hạnh (2006), Đừng để vốn ODA trở thành gánh nặng tương lai; Ngô Thế Chi (2014), Vốn ODA với nguy

cơ Việt Nam vỡ nợ

1.3 Viện trợ ODA của các tổ chức quốc tế

Luận văn “Thu hút và sử dụng ODA của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam”

của Nguyễn Hữu Dũng năm 2008 Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, kinh

Trang 20

13

nghiệm quốc tế về thu hút và sử dụng vốn ODA (Hỗ trợ phát triển chính thức) của Ngân hàng thế giới ở một số nước và bài học cho Việt Nam Phần cơ sở lý luận nhấn mạnh đến đặc điểm ODA của WB với tư cách là ODA đa phương, khác với ODA song phương Các đặc điểm như ODA mang tính toàn cầu, chung mục đích và tôn chỉ, không yêu cầu chỉ định nhà thầu vì là ODA đa phương… Ngoài ra, Luận văn đưa ra bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng ODA với tư cách nước tiếp nhận Các tiêu chí như phù hợp với kế hoạch mục tiêu phát triển của nước nhận, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, làm chất xúc tác thúc đẩy thu hút FDI… Từ việc đánh giá thực trạng về thu hút và sử dụng ODA của WB, Luận văn đề xuất nhóm giải pháp ODA của Ngân hàng thế giới, cụ thể là: Việt Nam cần nắm bắt và hiểu rõ những thay đổi trong chiến lược hỗ trợ của WB trong từng giai đoạn; tăng cường quan hệ với WB, không chỉ coi WB đơn thuần

là nguồn hỗ trợ tài chính vào Việt Nam mà WB còn là nguồn kiến thức và tư vấn chính sách; chủ động, có những nỗ lực cần thiết để cùng WB tháo gỡ, giải quyết khó khăn về tốc độ cải cách; xây dựng hệ thống thông tin liên lạc giữa Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan đến quản lý, sử dụng ODA và tốc độ giải ngân ODA; tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật, đảm bảo quản lý, sử dụng ODA của WB; tăng cường hiệu quả của các đầu mối quản lý và điều phối ODA … nhằm nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng ODA của WB thời gian tới

Báo cáo “Ngân hàng thế giới đồng hành cùng Việt Nam trên chặng đường

phát triển” năm 2011 Báo cáo đã đánh giá toàn bộ quá trình hợp tác của Việt

Nam với Ngân hàng thế giới từ năm 1976 đến 2011

Ngân hàng Thế giới là một trong những định chế tài chính quốc tế có uy tín cao trên thế giới với sứ mạng giúp các nước xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là thông qua con đường cải cách chính sách, thể chế, điều chỉnh cơ cấu phát triển kinh tế và xã hội, cũng như tài trợ các chương trình, dự án đầu tư phát triển… Hoạt động tại Việt Nam trong thời gian qua, Ngân hàng Thế giới đã đồng hành với Việt Nam trên đường phát triển với những đóng góp to lớn không những cho các nỗ lực của Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình từ một nước nghèo, thu nhập thấp, mà còn hỗ trợ Việt Nam thực hiện được hai phần ba

Trang 21

14

chặng đường để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ngay từ năm

2010 Báo cáo đánh giá tổng thể mối quan hệ đối tác giữa hai bên trong suốt chiều dài lịch sử phát triển quan hệ song phương trong hơn ba thập kỷ vừa qua, chỉ ra những tác động tích cực của quan hệ đối tác này đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam, và trên cơ sở đó tổng kết những kinh nghiệm, rút ra những bài học hữu ích cho việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam và Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam

Báo cáo “Ngân hàng Thế giới đồng hành cùng Việt Nam trên đường phát

triển” được xây dựng dựa trên những kết quả nghiên cứu và tổng hợp các văn

bản, tài liệu, phân tích và đánh giá những hoạt động của Ngân hàng tại Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và một số bộ, cơ quan và địa phương, của Ngân hàng Thế giới cũng như Văn phòng quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, và những ý kiến tham vấn của chuyên gia về mối quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Ngân hàng Thế giới

Bài tạp chí “Kết quả hợp tác giữa Việt Nam và Chương trình phát triển

Liên hợp quốc (UNDP)” của tác giả Nguyễn Hải Lưu năm 2012 đã khái quát hóa

qúa trình hợp tác giữa Việt Nam và UNDP từ năm 1978 đến 2012 Trong giai đoạn này, UNDP đã thông qua 7 chương trình viện trợ, trị giá 560 triệu USD Đặc biệt, nguồn viện trợ của UNDP có tính chất không hoàn lại nên nó không có nguy cơ trở thành gánh nặng nợ công cho Việt Nam Tuy nhiên, tỷ trọng giải ngân của nguồn viện trợ này khá khiêm tốn so với nguồn viện trợ khác cùng loại (giai đoạn 2006 – 2010 chiếm chưa đầy 0,6%) Cuối cùng bài viết rút ra một số bài học kinh nghiệm từ việc thu hút và sử dụng viện trở của UNDP; trên cơ sở

đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị và phương hướng hợp tác giữa Việt Nam và UNDP nhằm thu hút và và sử dụng viện trợ từ UNDP

Luận án “Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức Liên hợp quốc (LHQ) tại

Việt Nam” của Lê Hải Hà được bảo vệ năm 2016 Luận án này đã đánh giá viện

trợ ODA của LHQ cho Việt Nam giai đoạn 2006-2013 Các tổ chức LHQ tham gia bao gồm UNDP, FAO, ILO, IOM, UNAIDS, UNESCO, UNFPA, UNICEF,

Trang 22

15

UNIDO, UNIFEM, UNODC, WHO Luận án làm rõ cơ sở lý luận về viện trợ không hoàn lại Trước hết luận án đưa ra các lý thuyết về quan hệ quốc tế, giải thích việc viện trợ quốc tế như viện trợ không hoàn lại là có căn cứ khoa học và thực tiễn Các lý thuyết đưa ra gồm lý thuyết quan hệ quốc tế và lý thuyết kinh

tế phát triển Lý thuyết quan hệ quốc tế được thể hiện qua thuyết chức năng, thuyết hiện thực, thuyết phụ thuộc Lý thuyết về kinh tế phát triển chủ yếu luận giải về nguồn gốc, bản chất và những nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, kinh tế phát triển cổ điển và hiện đại như các lý thuyết tăng trưởng kinh tế cổ điển (thế kỷ XVII) của A.Smith và D.Ricardo; lý thuyết tăng trưởng của K.Marx (thế kỷ XIX); lý thuyết tăng trưởng của trường phái Keynes (những năm 30 của thế kỷ XX); mô hình Harrod-Domar (những năm 40 của thế kỉ XX)

và một số mô hình và lý thuyết khác Bên cạnh đó, luận án làm rõ khái niệm, bản chất, phân loại của viện trợ không hoàn lại Viện trợ không hoàn lại được coi như một nguồn thu của ngân sách nhà nước dùng để phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Chương 3 về thực trạng nhấn mạnh đến sáng kiến Một Liên hợp quốc, viện trợ của các tổ chức LHQ tập trung hỗ trợ hoàn thành các Mục tiêu Thiên niên kỷ, thúc đẩy phát triển bền vững, hội nhập quốc tế của Việt Nam Lợi thế này cần được khai thác và sử dụng hiệu quả, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang thiếu vốn và nợ công tăng cao Nhờ đó nguồn viện trợ không hoàn lại này đã giúp Việt Nam đạt được nhiều các thành tựu kinh tế - xã hội như trở thành nước có thu nhập trung bình, thực hiện thành công một số mục tiêu Thiên niên kỷ trước thời hạn, tham gia ngày càng hiệu quả hơn vào hoạt động của LHQ tại Việt Nam thông qua sáng kiến cải tổ LHQ, giúp LHQ đẩy nhanh để phê duyệt đề cương dự

án Ngoài ra, luận án cũng chỉ ra một số hạn chế trong việc thu hút và sử dụng vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức LHQ Các hạn chế bao gồm chưa nhận thức hết vai trò, vị trí của nguồn viện trợ đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, dẫn đến hiệu quả sử dụng chưa cao; năng lực hấp thụ nguồn vốn như giải ngân còn chậm; đặc biệt một số lĩnh vực nhạy cảm như cải cách thế chế, quản trị dân chủ cũng được đưa vào nội dung viện trợ

Trang 23

16

Luận án “Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh châu Âu cho châu

Phi từ năm 2000 đến nay (2013)” của Kiều Thanh Nga bảo vệ năm 2016 Luận

án làm nổi bật cơ sở thực tiễn về viện trợ ODA của Liên minh châu Âu (EU) cho châu Phi Cơ sở thực tiễn cho việc cung cấp viện trợ này là sự ra đời của Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) MDGs gồm 8 mục tiêu cần đạt được Để đạt được các mục tiêu này cần có sự chung sức đóng góp của công đồng quốc tế, cụ thể nhóm nước thuộc OECD Cơ sở thứ 2 là xu hướng hợp tác với châu Phi ngày càng tăng Nguyên nhân bởi châu Phí không những giàu có về tài nguyên thiên nhiên mà các nước lớn đều muốn gây ảnh hưởng và cần tiếng nói ủng hộ từ châu Phi về nhiều vấn đề có tính quốc tế và khu vực Đặc biệt, các nước như Mỹ, châu

Âu, Nhật Bản đều đầu tư lớn vào châu Phi thông qua các dự án hợp tác Điển hình gần đây là Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn vượt qua cả Mỹ

và Nhật Bản Cơ sở thứ ba đó là châu Phi có vị trí tiếp giáp với châu Âu Các vấn đề kinh tế, chính trị của châu Phi nếu không được giải quyết sẽ tác động trực tiếp đến EU như vấn nạn di cư, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, bệnh truyền nhiễm, chiến tranh Vừa qua vấn nạn di cư từ châu Phi đã làm rung chuyển châu Âu do các cuộc nội chiến, xung đột gây ra từ Syria, Lybi, Somalia, Ethiopia

Trên cơ sở thực tiễn đó, luận án cũng trình bày các khuôn khổ chính sách viện trợ, nội dung chính sách viện trợ Khuôn khổ chính sách thể hiện rõ trong các văn kiện chính thức bao gồm Hiệp định Cotonou giai đoạn 2000-2020 giữa

EU và các nước châu Phi, Caribean, Thái Bình Dương; Chiến lược chung EU - Châu Phi năm 2007 được coi là cách tiếp cận mới trong quan hệ EU với toàn châu Phi Từ căn cứ pháp lý đó, nội dung các chính sách hướng đến thúc đẩy an ninh, hòa bình, dân chủ và nhân quyền; thúc đẩy xóa đói giảm nghèo , phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập khu vực ở châu Phi; thúc đẩy việc giải quyết các vấn

đề di cư, biến đổi khí hậu, chủ nghĩa khủng bố và hợp tác khoa học EU viện trợ cho châu Phi dưới các hình thức khác nhau trong từng giai đoạn Cụ thể, giai đoạn 1960-1980 hỗ trợ theo dự án, giai đoạn 1981-1999 hỗ trợ chương trình và

từ 2000 đến 2013 nhấn mạnh vào hỗ trợ ngân sách Điểm đáng lưu ý là luận án

Trang 24

17

chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt khi so sánh ODA của EU cho Việt Nam và châu Phí; từ đó hàm ý chính sách cho Việt Nam Điểm tương đồng bao gồm thời điểm viện trợ, chính sách viện trợ; còn điểm khác biệt tập trung vào hướng ưu tiên trong chính sách viện trợ, sự tham gia của các nhà tài trợ trong hoạch định chính sách

1.4 Thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam

Thời gian vừa qua có nhiều công trình đề cập đến tình hình thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam Trong quá trình thu hút và sử dụng ODA các công trình đề cập đến khối lượng, cơ cấu, lĩnh vực tài trợ, nhà tài trợ, khu vực được viện trợ Lĩnh vực, ngành nghề được thu hút và sử dụng chủ yếu vào phát triển

cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, xóa đói giảm nghèo, cải cách thể chế Những lĩnh vực này giống như đầu tàu của nền kinh tế để thúc đẩy cả nền kinh tế tăng trưởng và phát triển theo Đồng thời, qua đó các công trình cũng chỉ ra những mặt hạn chế làm giảm hiệu quả thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam Các hạn chế chủ yếu tập trung vào công tác quản lý và phân bổ ODA, hài hòa thủ tục, vốn đối ứng…

Luận án “Thu hút và sử dụng ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt

Nam” của Phạm Thị Túy năm 2008 Luận án nêu vai trò của ODA đối với phát

triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam, với tư cách là một nước đang phát triển cần nhiều vốn cho nhiệm vụ này ODA là nguồn vốn bổ sung quan trọng để xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng Từ đó luận án đánh giá các thành tựu, hạn chế thu hút và sử dụng ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam Kết cấu hạ tầng tập trung vào các lĩnh vực giao thông, năng lượng, bưu chính viễn thông, Đây là những ngành lĩnh vực đầu tàu của nền kinh tế Bên cạnh thành tựu, vẫn còn nhiều hạn chế sau đó luận án đưa ra các kiến nghị giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả ODA trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng ở Việt Nam Luận án chia nhóm giải pháp thành giải pháp thu hút và sử dụng Đối với giải pháp thu hút, luận án nhấn mạnh đến nhận thức đúng đắn ODA, nghĩa là ODA không phải là của “cho không”, quà “biếu tặng” từ các nước phát triển, cùng với

đó là cần xây dựng cơ chế vận động hiệu quả, phù hợp với tình hình mới Đối

Trang 25

18

với giải pháp sử dụng, luận án tập trung vào công tác quản lý, theo dõi, đánh giá dựa trên các nguyên tắc chặt chẽ, có tính pháp lý cao nhằm tránh lãng phí, thất thoát ODA

Luận án “Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

vào phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam: Nghiên cứu tại vùng duyên hải miền Trung” của Hà Thị Thu năm 2014 về cơ sở lý luận đã chỉ ra vai trò của

ODA đối với nông nghiệp và nông thôn, quy trình và tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng Phần thực trạng luận án chỉ ra ODA dành cho lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 18% (tương đương số vốn ký kết khoảng 8,85 tỷ USD giai đoạn 1993-2012), thấp hơn nhiều so với các lĩnh vực giao thông vận tải – bưu chính viễn thông, năng lượng và công nghiệp Trong tổng số vốn ký kết đó

số vốn của WB 27%, tương đương 1.592,3 triệu USD, của ADB chiếm tỷ lệ 28%, tương đương 1.653,7 triệu USD Như vậy, hai tổ chức này (WB và ADB) vẫn luôn là những tài trợ lớn nhất cho Việt Nam về ODA nói chung và ODA trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng Tuy nhiên, ODA dành cho duyên hải miền Trung trong nông nghiệp chỉ chiếm 15% trong tổng vốn ODA của cả nước về lĩnh vực này, đứng thứ 4 (tương đương 884 triệu USD ký kết), sau vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, và Đồng bằng sông Cửu Long Trên cơ sở đánh giá thành công và hạn chế của việc thu hút và sử dụng ODA vào duyên hải miền Trung vào nông nghiệp, luận án đưa ra hai nhóm giải pháp gồm giải pháp vĩ mô và giải pháp về tổ chức, thực hiện, cùng với đó là đưa ra kiến nghị về phía Nhà nước, và nhà tài trợ

Luận án “Hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

tại khu vực Tây Bắc, Việt Nam” của Nguyễn Thị Lan Anh năm 2015 đã sử dụng

02 mẫu phiếu khảo sát dành cho đối tượng thụ hưởng (480 phiếu) và cán bộ quản

lý (185 phiếu) tại 03 tỉnh Tây Bắc gồm Điện Biên, Lai Châu và Sơn La Nội dung phiếu khảo sát tập trung đánh giá hiệu quả sử dụng ODA tại khu vực Tây Bắc với 05 tiêu chí đánh giá gồm tính phù hợp, tính hiệu quả, tính hiệu suất, tính tác động và tính bền vững Trong đó, tính bền vững được đánh giá ở mức cao nhất cho các dự án ODA, lần lượt 3,64 và 3,68 điểm; tiếp theo là mức phù hợp

Trang 26

19

với điểm trung bình là 3,59 và 3,66; tính tác động tích cực được đánh giá ở mức 3,57 điểm; tính hiệu suất đạt dược là 3,5 và 3,64 điểm Các mức điểm đánh giá chỉ đạt mức trung bình khá, điều này cho thấy đánh giá chung của các cán bộ quản lý dự án về 05 yếu tố thể hiện sự hiệu quả của các dự án ODA là chưa cao, đặc biệt tính hiệu suất đang có mức điểm thấp trong số các yếu tố

Luận án “Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn ưu đãi khi Việt Nam

trở thành nước có mức thu nhập trung bình” của Bùi Đình Viên (2016) đã

chỉ ra tác động của nguồn vốn ưu đãi đến một số ngành, lĩnh vực quan trọng của kinh tế Việt Nam, trong đó phải kể đến giao thông vận tải, y tế giáo dục, môi trường và phát triển đô thị, năng lượng và công nghiệp Đây là những ngành mũi nhọn, đầu tàu của nền kinh tế, kéo theo các ngành lĩnh vực khác phát triển Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ưu đãi trong luận án còn được đánh giá theo năm tiêu chí Các tiêu chí này được thực hiện thông qua phỏng vấn, phát phiếu khảo sát từ kết quả thực hiện của Bộ Tài chính Bộ số liệu thứ cấp này đã thể hiện rõ tính hiệu quả, tác động và bền vững từ các dự án sử dụng nguồn vốn ưu đãi Quan trọng hơn, luận án đã phản ánh bối cảnh khi Việt Nam thành nước thu nhập trung bình Đây là một quá trình chuyển biến về chất của Việt Nam trong quá trình phát triển từ một nước có thu nhập thấp, kém phát triển Thành quả này có sự đóng góp quan trọng từ hiệu quả sử dụng nguồn vốn ưu đãi của Việt Nam [45b]

Tương tự, luận án “Viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong bối cảnh

Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình (MIC)” của Trần Thị Hồng

Thủy (2015) đã nêu rõ các đặc điểm mới trong việc huy động và sử dụng vốn ODA trong điều kiện quốc gia có thu nhập trung bình (MIC), theo đó việc chuyển từ quan hệ viện trợ sang quan hệ đối tác phát triển, đòi hỏi sự nỗ lực với tinh thần chủ động của Việt Nam để sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn này mà không chịu sức ép “khát vốn” và đi tới “từ chối” ODA ưu đãi trong tương lai Ngoài ra, Luận án đã làm rõ nội hàm của viện trợ phát triển chính thức trong điều kiện Việt Nam là nước thu nhập trung bình (MIC) không chỉ bao

Trang 27

20

gồm vốn ODA không hoàn lại và vốn ODA vay ưu đãi mà còn bao gồm các khoản vay kém ưu đãi (nhưng vẫn có tính ưu đãi hơn vay thương mại) Đồng thời, Luận án đã xác định được quy luật của ODA cùng với quá trình phát triển của một quốc gia đưa vào trường hợp cụ thể là Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực trạng, những vấn đề nảy sinh và các bài học kinh nghiệm từ các quốc gia có bối cảnh chuyển sang nước có thu nhập trung bình như Việt Nam, luận án đề ra 4 nhóm khuyến nghị chính sách như sau: (1) Xây dựng lộ trình “tốt nghiệp” ODA cho Việt Nam; (2) Đảm bảo an toàn nợ bền vững; (3) Có tư duy mới về quan hệ đối tác và (4) Xây dựng cơ chế tăng cường

sự tham gia ODA của người dân [40, 145]

1.5 Kinh nghiệm thu hút và sử dụng ODA của các nước trên thế giới

Thu hút và sử dụng ODA của các nước trên thế giới có hiệu qủa không? Đây là câu hỏi đang nổi lên, thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều nước bao gồm cả nước viện trợ, nước nhận viện trợ, nhiều học giả nghiên cứu, nhiều tổ chức quốc tế đa phương như: Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế Từ những kinh nghiệm này sẽ rút ra các bài học cho các nước khác nhằm nâng cao hiệu quả và giá trị của ODA, của nguồn vốn viện trợ nước ngoài Cho đến nay

đã có những nước thành công nhiều, thành công ít, chưa thành công hoặc đã thất bại trong việc thu hút và sử dụng ODA Những thành công và thất bại này được bàn luận khá nhiều trong các công trình nghiên cứu về thu hút và sử dụng ODA của các nước

Jane Harrigan and Chengang Wang, A New Approach to the Allocation of

Aid Among Developing Countries: Is the USA Different from the Rest? đưa ra

nhiều ví dụ về các nước mà dường như sử dụng viện trợ có hiệu quả tốt trong việc giúp tạo ra tăng trưởng kinh tế: Đài Loan trong những năm 1950, Botswana

và Hàn Quốc trong những năm 1960, Bolivia và Ghana trong những năm 1980,

và Uganda và Việt Nam trong những năm 1990 Mặt khác, có bằng chứng cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp, và ở nhiều quốc gia, viện trợ không hiệu quả (Boone, 1994) Cùng với những câu chuyện thành công đã đề cập ở trên, có nhiều quốc gia đã nhận được một số lượng lớn các khoản viện trợ nước ngoài,

Trang 28

21

nhưng không đạt được về tăng trưởng kinh tế, ví dụ, Zambia, Zaire, Niger, Jamaica, Nepal, trong số những nước khác (Mosley, 1987a) trong khi các nước như: Trung Quốc, Algeria, và Costa Rica nhận viện trợ ít, nhưng cho đến nay, thực hiện tốt nên đã đạt được nhiều chỉ số phát triển khác nhau

Jerker Carlsson, Gloria Somolekae and Nicolas van de Walle (1997),

Foreign Aid in Africa: Learning from country experiences, dẫn ra kinh nghiệm

của các nước như: Botswana, Burkina Faso, Ghana, Kenya, Mali, Senegal, Tanzania

Alina Rocha Menocal and Sarah Mulley (2006), Learning from experience?

A review of recipientgovernment efforts to manage donor relations and improve the quality of aid giới thiệu các mô hình thu hút, quản lý và sử dụng ODA như:

Afghanistan, Mozambique, Tanzania, Uganda, Việt Nam

Ba công trình nghiên cứu về sự thành công trong thu hút và sử dụng ODA của Nhật Bản; trên cơ sở đó đưa ra các bài học kinh nghiệm của Nhật Bản cho các nước khác và Nhật Bản dùng những kinh nghiệm này trong việc hoạch định chiến lược, triết lý cung cấp ODA của riêng mình Các công trình đó là Shinji

Takagi (1995), From recipient to donor: Japan’s official Aid flows, 1945 to

1990 and beyond; Kira N Meadus (2003), The Enjo Balance: An Examination

of Japanese Foreign Aid; Fumitaka FURUOKA, Mikio OISHI, and Iwao

KATO (2010), From Aid Recipient to Aid Donor, Tracing the Historical

Transformation of Japan's Foreign Aid Policy

Trong Jin-Wook Choi (2011), From A Recipient To A Donor

State:Achievements And Challenges Of Korea’s ODA cũng cho biết sự thành

công của Hàn Quốc trong sử dụng ODA và chuyển từ nước nhận thành nước cung cấp ODA giống như trường hợp Nhật Bản ở trên Tương tự, đối với Đài

Loan trong công trình Ming-liang LEE (2012), From Recipient to Donor: How

Taiwan transformed its healthcare system; Ministry of Foreign Affairs,

Republic of China (Taiwan) (2014), International Cooperation and

Development Report 2013

Trang 29

22

Các tài liệu trong nước cũng đề cập nhiều đến kinh nghiệm thu hút và sử dụng ODA của các nước từ đó gợi ý chính sách cho Việt Nam Nguyễn Thị

Huyền (2008), Khai thác nguồn vốn ODA trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa ở Việt Nam nói về kinh nghiệm sử dụng viện trợ của Thái lan,

Maylaysia, Trung Quốc, Ba Lan, Rumani; Nguyễn Thị Hoàng Oanh (2006),

Những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng trên địa bàn Hà Nội

phân thành bài học thành công và thất bại của các nước Bài học thành công bao gồm các nước Philipines, Bostwana, Malaysia và Srilanka; bài học thất bại bao gồm các nước Dawmbia, Cộng hòa dân chủ Cônggô, Tandania, Senegal Tương

tự, tác giả Tôn Thanh Tâm (2004), Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn

vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam cũng đề cập nội dung như

nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Oanh (2006) Các công trình này nghiên cứu kinh nghiệm của các nước theo bề ngang, nghĩa là theo kinh nghiệm của từng nước riêng rẽ

Ngược lại, Phạm Thị Túy (2008), Thu hút và sử dụng ODA vào phát triển

hạ tầng ở Việt Nam và Hà Thị Thu (2014), Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam: Nghiên cứu tại vùng duyên hải miền Trung, nghiên cứu kinh nghiệm của các

nước về thu hút và sử dụng ODA theo chiều dọc, nghĩa là nghiên cứu từng vấn

đề như: Về xác định đúng đắn mục tiêu, chiến lược về ODA cho từng ngành lĩnh vực, hoặc phân định rõ đối tượng thụ hưởng và trả nợ; từ đó đề ra các biện pháp quản lý và sử dụng sẽ hiệu quả hơn và gắn với trách nhiệm

1.6 Các nhận xét rút ra từ tình hình nghiên cứu của các đề tài liên quan

- Những thành công và kết quả của các công trình trên

+ ODA đã được luận giải/nghiên cứu tương đối đầy đủ, có hệ thống về các vấn đề lý luận liên quan đến ODA, đặc biệt đưa ra các mô hình lý thuyết chứng minh cho việc cung cấp ODA là có căn cứ và cơ sở khoa học

+ Các công trình nghiên cứu lý luận, thực tiễn và thực nghiệm đã chỉ ra được các mối liên hệ giữa ODA với tăng trưởng/phát triển kinh tế Các kết quả

Trang 30

từ đó rút ra bài học thành công và thất bại của nước này cho nước khác

- Bên cạnh những kết quả và đóng góp của các nghiên cứu trên đây, các nghiên cứu này còn đang để lại một số “khoảng trống” cơ bản sau đây:

+ Một số công trình nghiên cứu về các tổ chức quốc tế như ADB, WB hay UNDP nhưng các công trình này nghiên cứu ở các thời kỳ khác nhau, dưới góc

độ nghiên cứu, quan điểm, đánh giá khác nhau

+ Trong bối cảnh kinh thế giới có nhiều biến động, nhất là sau khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến ODA sẽ có nhiều thay đổi Do vậy, việc kịp thời nghiên cứu bổ sung lý luận và thực tiễn về ODA, trong đó có ODA của các tổ chức quốc tế là hết sức cần thiết và luôn có tính thời sự

+ ODA của các tổ chức tài chính quốc tế ở Việt Nam, trong đó có WB, ADB, UNDP thời gian qua chưa được bàn luận một cách có hệ thống việc nắm bắt đầy đủ bản chất, cách thức hoạt động ODA của các tổ chức này Điều này cho phép nhận biết rõ hơn về những đặc điểm, điều kiện và khác biệt ODA của các đối tác

Từ việc khái quát tình hình nghiên cứu trên, có thể thấy rằng việc lựa chọn nghiên cứu vấn đề thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu sẽ góp phần tiếp tục làm rõ hơn bằng chứng thực trạng ODA của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, nhất là sau giai đoạn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

Trang 31

24

1.7 Khung nghiên cứu của luận án

nghiên cứu chính

Kết quả quả đạt được

Tổng quan nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án

Xác định khoảng trống cần nghiên cứu

Cơ sở lý luận về thu hút

và sử dụng ODA từ các

tổ chức quốc tế

Khung lý thuyết về thu hút và sử dụng ODA từ các TCQT

Phân tích, khái quát và

Kinh nghiệm thu hút và sử dụng ODA của Nhật Bản

và Hàn Quốc; rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Phân tích thống kê, phân

tích kinh tế, so sánh và

tổng hợp

Thực trạng thu hút

và sử dụng ODA của các TCQT sau KHTC & STKTTC

sử dụng ODA từ các TCQT

Hình 1.1 Khung nghiên cứu của luận án

Trang 32

25

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 01 luận án đã đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài dưới các khía cạnh về một số trường phái, mô hình lý thuyết, cách tiếp cận về ODA kể từ khi ODA ra đời đến nay Các mô hình lý thuyết này được vận dụng thành công ở nước này nhưng có thể khó thành công ở nước khác; do đó sau mỗi thời kỳ, ở mỗi quốc gia lại ra đời một mô hình khác nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn Đồng thời cũng chỉ ra vai trò và lợi ích của ODA đối với bên cung cấp và bên tiếp nhận, trong đó có những tác động tích cực và tiêu cực Đồng thời Chương này tập trung đánh giá khái quát một số công trình nghiên cứu về ODA đa phương như của WB, ADB, UNDP cũng như về thu hút,

sử dụng và giải pháp về ODA cho Việt Nam thời gian vừa qua, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực và hạn chế trong việc huy động và sử dụng ODA của Việt Nam Ngoài ra, quá trình thu hút và sử dụng ODA được xem xét dưới sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Cuối cùng chỉ ra được những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu Điều này gợi mở cho luận án giải quyết các vấn đề phát sinh trong bối cảnh mới mà các công trình trước chưa đề cập Trên cơ sở phân tích, đánh giá đó, luận án đã đưa ra khung nghiên cứu của luận án

Trang 33

2.1.1 Khái niệm ODA

Hợp tác phát triển như chúng ta biết ngày nay nó có nguồn gốc ngay từ thời sau chiến tranh thế giới thứ 2 Hầu hết các nhà quan sát đồng ý rằng nó được lấy cảm hứng từ sự kết hợp của một số lí do khác nhau: an ninh quốc tế, việc theo đuổi sự ổn định toàn cầu và thị trường xuất khẩu mới bằng cách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và sự cần thiết phải tiếp tục cung cấp hỗ trợ cho các thuộc địa cũ khi quá trình phi thực dân hóa trở thành trào lưu Các tổ chức quốc tế là những người đầu tiên theo đuổi một cách rõ ràng các mục tiêu phát triển cho tất

cả các quốc gia như là một lợi ích chung Ví dụ, mặc dù ban đầu tập trung vào sự phục hồi của các nước châu Âu, Ngân hàng Thế giới sớm mở rộng hoạt động của mình sang phát triển kinh tế trên toàn thế giới Tương tự như vậy, năm 1945 Hiến chương Liên hợp quốc kêu gọi các nước thành viên để "sử dụng công cụ quốc tế để thúc đẩy tiến bộ kinh tế và xã hội của tất cả các dân tộc" Chương trình viện trợ của Liên hợp quốc cụ thể đầu tiên, chương trình mở rộng hỗ trợ kỹ thuật, bắt đầu hoạt động vào năm 1950 Các chương trình viện trợ song phương được thực hiện cùng thời gian đó, với các cường quốc thực dân đi đầu Ví dụ, trong năm 1945, Vương quốc Anh đã thông qua một 'Đạo luật về Phúc lợi và Phát triển cho các nước thuộc địa (Tiếp nối một đạo luật trước như vậy từ năm

1929 đến 1940), tổ chức lại viện trợ phát triển của Anh Dòng viện trợ cho các thuộc địa của Hà Lan từ 1946-1951 đạt tổng số 1,46 tỷ USD, và kế hoạch mười năm của Bỉ cho Congo cung cấp luôn 500 triệu USD trong những năm 1950

Nỗ lực viện trợ song phương của Hoa Kỳ có nguồn gốc với hai chương trình riêng biệt Đầu tiên, trong diễn văn khai mạc năm 1947 tại Đại học Harvard, Ngoại trưởng George Marshall công bố một sáng kiến phục hồi nhằm

Trang 34

27

mục đích chủ yếu vào các quốc gia châu Âu Chương trình 13 tỷ USD phần lớn được coi như là một nguồn cảm hứng lớn cho các chương trình viện trợ phát triển sau này, cũng như một động lực cho các nước thụ hưởng tuyên truyền về lợi ích tương tự như cho các thuộc địa cũ vừa mới giành độc lập Nền tảng thứ hai về nỗ lực viện trợ của Mỹ có nguồn gốc từ Bốn điểm trong bài diễn văn nhậm chức năm 1949 của Tổng thống Truman: "Chúng ta phải tham gia vào một chương trình mới đầy táo bạo để mang lại lợi ích của tiến bộ khoa học và tiến bộ công nghiệp sẵn có của chúng ta cho việc cải thiện và tăng trưởng của các khu vực kém phát triển" Năm 1952, viện trợ Hoa Kỳ đặt nền móng lâu dài thông qua Đạo luật An ninh cùng nhau, theo đó những nước nhận trợ cấp chính là Hàn Quốc và Đài Loan Cùng thời gian này, Hội đồng tương trợ kinh tế cùng nhau do Liên Xô lãnh đạo (Comecon) đã bắt đầu chương trình viện trợ của riêng mình, nhấn mạnh vai trò của Chiến tranh Lạnh trong sự xuất hiện và phát triển của viện trợ nước ngoài

Quan tâm hỗ trợ kinh tế cho các nước thuộc khối thịnh vượng chung mới giành độc lập bắt đầu vào năm 1950 với kế hoạch Colombo, một sáng kiến về hợp tác kỹ thuật ở Nam và Đông Nam Á Thành viên sáng lập là Australia, Canada, New Zealand, và Vương quốc Anh là các nhà tài trợ, và Ấn Độ, Pakistan và Ceylon là các nước tiếp nhận Các sáng kiến đa phương khác đi theo ngay sau đó Đặc biệt, một tổ chức phân phối viện trợ cho Ấn Độ được thành lập vào năm 1958, theo đề xuất của Chủ tịch Ngân hàng thế giới Tổ chức này hoạt động theo mô hình cho các sáng kiến tương tự nhằm vào các nước khác bao gồm Pakistan, trong vài năm tới Năm 1960, sự độc lập của 17 nước châu Phi khiến Ngân hàng Thế giới thành lập Cơ quan Phát triển Quốc tế (IDA) để cung cấp nguồn vốn vay ưu đãi cho các nước đang phát triển nghèo hơn

Những năm 1960 đánh dấu việc thể chế hoá các chương trình viện trợ song phương của các cường quốc thuộc địa và thiết lập các chương trình mới của các quốc gia mà không có một nền đô hộ Năm 1960, Canada đã lập ra Văn phòng giúp đỡ bên ngoài của mình, mà sau này đã trở thànhCơ quan Phát triển

Trang 35

28

Quốc tế Canada (CIDA) Năm tiếp theo, Pháp trở thành nước đầu tiên trong một

số nước tài trợ để thành lập Bộ Hợp tác, chịu trách nhiệm hỗ trợ cho các nước đang phát triển mới giành độc lập Năm 1962, một vài quốc gia khác giới thiệu chương trình phát triển sâu rộng hơn: Bỉ lập ra một Văn phòng Hợp tácphát triển (DOS), Quốc hội Đan Mạch đã thông qua một "Đạo luật về Hợp tác kỹ thuật với các nước đang phát triển", và Na Uy thành lập một Ban thư ký hỗ trợ phát triển

Tại LHQ, những năm 1960 đã được chỉ định là "Thập kỷ Phát triển' Cùng với sự xuất hiện của khẩu hiệu này là, lần đầu tiên, chấp nhận các mục tiêu cho các dòng viện trợ Tuyên bố chính thức của Thập kỷ phát triển kêu gọi sự tăng lên đáng kể về dòng hỗ trợ và nguồn vốn quốc tế cho các nước đang phát triển,

“Để đạt được mức tăng càng sớm càng tốt xấp xỉ 1% GNI của các nước có nền kinh tế phát triển" Trong suốt thập kỷ qua, các mục tiêu viện trợ như vậy ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng Mục tiêu 1% được lặp lại bởi Hội nghị của LHQ về thương mại và phát triển (UNCTAD) vào năm 1964 và chính thức được thông qua bởi DAC trong năm 1965 Các nước khác cũng giới thiệu mục tiêu viện trợ như một phần của kế hoạch ngân sách của họ, và vấn đề đã được nêu ra thường xuyên trong các cuộc tranh luận quốc gia về chính sách viện trợ

Cuối những năm 1960 nổi lên mối quan tâm về chất lượng của hỗ trợ phát triển chính thức Kết quả, Ngân hàng Thế giới giao cho một nhóm các chuyên gia quốc tế để xem xét những thành tựu của viện trợ cho đến nay và để phát triển một chương trình mới cho hỗ trợ, dưới sức ép của dư luận ngày càng tăng về sự thiếu hiểu biết về các kết quả từ viện trợ Báo cáo được phổ biến rộng rãi của Ủy ban đề xuất một mục tiêu đóng góp ODA là 0,7% của GNI, và lập luận rằng viện trợ cho đến lúc đó thường được dựa trên "những giả định không chính xác,không thực tế, và không may mắn” Ví dụ, báo cáo thừa nhận rằng "thỏa thuận viện trợ song phương tốt thực sự đã được phân phối để đạt ủng hộ chính trị ngắn hạn, đạt được lợi thế chiến lược, hoặc thúc đẩy xuất khẩu từ các nhà tài trợ " Trả lời cho những quan ngại về chất lượng của viện trợ, các quốc gia tài trợ đã bắt đầu các cuộc thảo luận về mong muốn giảm mức độ ảnh hưởng của các ràng buộc viện

Trang 36

29

trợ (bắt buộc mua hàng hóa và dịch vụ từ các nước tài trợ) DAC cũng đã thông qua nghị quyết thúc đẩy các kênh viện trợ thông qua tổ chức đa phương như các chương trình khác nhau của LHQ, càng tăng lên, Cộng đồng châu Âu (EEC)

Vào thời kỳ đầu của thập kỷ Phát triển của Liên hợp quốc thứ hai, Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức thông qua các mục tiêu 0,7% GNI trong ODA,

dự kiến đạt được vào năm 1975 Ngoài ra, dưới sự lãnh đạo của chủ tịch McNamara của Ngân hàng Thế giới, một mối quan tâm với 'Nhu cầu cơ bản của con người' trở thành phổ biến Điều này dẫn đến sự nhấn mạnh nhiều hơn vào các dự án chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nhà ở, trái ngược với tập trung trước đây vào các sáng kiến phát triển nguồn vốn quy mô lớn Ngoài ra, DAC thông qua điều khoản đặc biệt để hỗ trợ các nước kém phát triển nhất vào năm 1972, và bắt đầu nghiên cứu làm thế nào đưa viện trợ tốt nhất đến các nhóm yếu thế nghèo hơn (bao gồm cả phụ nữ) ở các kém phát triển nhất (LDCs) Hạn hán ở Sahel đưa cứu trợ nhân đạo vào chương trình nghị sự từ giữa những năm 1970 Chính trị trở nên nổi bật hơn nữa, như một số các nhà tài trợ, bao gồm cả Hà Lan và Na Uy, đã viện trợ không chỉ cho các nước mới giành độc lập thuộc thế giới thứ ba mà còn cho các phong trào giải phóng dân tộc đấu tranh chống lại chế độ thực dân

Đối với nhiều nhà tài trợ, những năm 1980 là một giai đoạn phản ánh (và đánh giá lại) chính sách viện trợ Hầu hết các quốc gia mà vẫn chưa đạt được mục tiêu ODA quốc tế 0,7% của GNI bây giờ chính thức cam kết sẽ đáp ứng được mục tiêu này, nhưng ngày mà điều này dự kiến đạt được cần liên tục đẩy

về phía trước Trong thực tế, rất ít quốc gia đã thay đổi lớn trong chương trình hỗ trợ của mình để những thay đổi này sát gần hơn với nhiều mục tiêu của DAC Italy là một ngoại lệ chính của hầu hết các năm 1980, triển khai mở rộng liên tục trong chương trình hỗ trợ của mình, được thúc đẩy bởi quan tâm của công chúng

và các nhà hoạt động chính trị Những năm 1980 và 1990 cũng mang lại quan tâm lớn hơn đến khía cạnh đặc biệt của sự phát triển và viện trợ Hầu hết các nhà tài trợ hiện đã tách riêng các chương trình để hỗ trợ vai trò của phụ nữ trong phát

Trang 37

để phản ánh lợi ích kinh tế trong nước chặt chẽ hơn

Trong những năm gần đây, khối lượng viện trợ đã giảm đáng kể Ngoài

ra, ngày càng tăng quan tâm đến hiệu quả viện trợ, quản trị tốt, và nhắm mục tiêu đến những nhóm người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất trong xã hội đã tạo

ra một sự miễn cưỡng trong số các nhà tài trợ để tiếp tục tự do giải ngân viện trợ cho chính quyền độc tài hay áp bức Những gì tương lai nắm giữ là không rõ ràng Năm 1996, DAC xuất bản sách trắng về viện trợ, Định hình cho thế kỷ 21:

Sự đóng góp của Hợp tác Phát triển, mà đặt ra mục tiêu và các tiêu chuẩn cho chính sách hiện hành Trong đó, các nước thành viên DAC đã bày tỏ một tầm nhìn về "Hợp tác phát triển như một sự đầu tư trọng điểm trong tương lai", và tuyên bố rằng họ "Vẫn giữ cam kết tạo ra nguồn lực đáng kể cho hợp tác phát triển" Sách tắng kêu gọi đầu tư vào phát triển xã hội, tham gia nhiều hơn của phụ nữ, quản trị tốt, và thực tiễn viện trợ mà đưa môi trường vào danh mục đầu

tư [49]

Từ việc rõ về nguồn gốc của ODA ở trên, trong phần tiếp theo, luận án điểm lại những cách hiểu khác nhau về ODA thông qua các khái niệm sau:

Khái niệm ODA được Uỷ ban Viện trợ phát triển (DAC) của OECD

chính thức đề cập năm 1969 và sửa đổi năm 1972: ODA là nguồn vốn dành

Trang 38

31

cho các nước đang phát triển và các tổ chức đa phương/nhiều bên, được các

cơ quan chính thức gồm các chính quyền trung ương và địa phương hoặc các

cơ quan thừa hành của chính phủ Khoản vay này gọi là ODA phải thoả mãn các điều kiện sau: (a) Nó nhằm mục đích chính để thúc đẩy phát triển kinh tế

và phúc lợi ở các nước đang phát triển, và (b) vốn vay có yếu tố cho không chiếm ít nhất 25% (OECD) [64, tr 21, 24]

Năm 1998 trong tác phẩm “Assessing Aid: What Works, What Doesn't, and

Why”, Ngân hàng thế giới đưa ra định nghĩa: “ODA là một phần của ODF (Tài chính phát triển chính thức – official Development Finance), trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% Còn ODF là tất cả các nguồn tài chính mà chính phủ các nước phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển” [90, tr 6]

Ở Việt Nam, ODA được định nghĩa lại nhiều lần trong các Nghị định về quản lý và sử dụng hỗ trợ phát triển chính thức sau mỗi thời kỳ nhất định và gần đây nhất là tại Điều 1 và Điều 3 của Nghị định số 16/2016/NĐ-CP của Chính

phủ Việt Nam quy định: “Vốn ODA là nguồn vốn của chính phủ nước ngoài, tổ

chức quốc tế, tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, tổ chức chính phủ được chính phủ nước ngoài ủy quyền (sau đây gọi chung là nhà tài trợ nước ngoài) cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để

hỗ trợ phát triển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, bao gồm: (a) Vốn ODA viện trợ không hoàn lại là loại vốn ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài; (b) Vốn vay ODA là loại vốn ODA phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài với mức ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc và 25% đối với khoản vay không ràng buộc” [11]

Căn cứ vào khái niệm ODA của DAC và của Việt Nam, nghiên cứu sinh nhận thấy về cơ bản nội dung khái niệm ODA không thay đổi nhiều so với định nghĩa ban đầu mà DAC đưa ra Do vậy, nghiên cứu sinh đưa ra khái niệm ODA

như sau: ODA là nguồn vốn dành cho các nước đang phát triển, kém phát triển

Trang 39

Từ định nghĩa mà nghiên cứu sinh nêu trên, ODA được hiểu dưới dạng triết tự như sau: ODA là từ viết tắt của tiếng Anh là “Official Development Assistance”, dịch sang tiếng Việt: Hỗ trợ Phát triển Chính thức, trong đó hỗ trợ nói về các khoản đầu tư này thường bao gồm các khoản cho vay ưu đãi về lãi suất thấp, thời gian vay và ân hạn dài hơn so với các khoản vay ưu đãi hay thương mại khác, đặc biệt các khoản viện trợ không hoàn lại; phát triển nói về mục tiêu của các hỗ trợ này để phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao phúc lợi ở các nước được đầu tư (nước nghèo và đang phát triển); từ khoản hỗ trợ này trở thành đầu tàu thúc đẩy cho nền kinh tế tăng trưởng, phát triển; chính thức là do các khoản hỗ trợ vay này được cung cấp bởi các cấp chính phủ, liên chính phủ,

tổ chức phi chính phủ hoặc được chính phủ ủy quyền

2.1.2 Phân loại ODA

Hỗ trợ nước ngoài có thể được tài trợ song phương hoặc đa phương Các nhà tài trợ song phương là các chính phủ riêng lẻ Các nhà tài trợ đa phương là tổ chức tài chính quốc tế (IFI) như Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hoặc các ngân hàng trong khu vực như Ngân hàng Phát triển Châu Phi và Ngân hàng Phát triển châu Á

2.1.2.1 Căn cứ vào nguồn vốn viện trợ

Căn cứ theo tiêu chí này, ODA có hai loại gồm ODA song phương và ODA

đa phương:

- ODA song phương (Bilateral ODA flows): ODA song phương là nguồn vốn được cung cấp trực tiếp bởi một nước viện trợ cho một nước nhận viện trợ [78]

Trang 40

33

- ODA đa phương (Multileteral ODA flows): ODA đa phương là nguồn vốn được cung cấp thông qua các cơ quan đa phương (OECD) Cơ quan đa phương là các tổ chức quốc tế mà thành viên của tổ chức này là chính phủ các nước, thực hiện tất cả hoặc một phần đáng kể các hoạt động của mình trong việc ủng hộ phát triển đối với các nước nhận viện trợ Chúng bao gồm ngân hàng phát triển đa phương (ví dụ Ngân hàng Thế giới, ngân hàng phát triển khu vực), các

cơ quan của Liên hợp quốc, và tổ chức khu vực (ví dụ các cơ quan thuộc Cộng đồng châu Âu và Ả Rập) Sự đóng góp bởi một thành viên thuộc DAC cho một

cơ quan như vậy được coi là đa phương nếu nó được gộp lại với các đóng góp khác và giải ngân theo quyết định của cơ quan đó [78]

WB và IMF cung cấp cho hầu hết các hỗ trợ phát triển đa phương Các thỏa thuận Bretton Woods vào năm 1944 đã lập ra hai tổ chức mà chức năng chủ yếu để giải quyết các nhu cầu của nền kinh tế toàn cầu và các khu vực kém phát triển của thế giới IMF đóng vai trò như một "người bảo vệ một hệ thống tỷ giá"

cố định, nhưng có thể điều chỉnh nhằm ngăn chặn chính sách thương mại kiểu

“ăn xin hàng xóm "của mình và sự phá giá đồng tiền để cạnh tranh mà những điều này được cho là góp phần vào độ dài và mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng” Ngân hàng Thế giới là các nỗ lực phối hợp của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) và Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) [60a]

2.1.2.2 Phân loại theo hình thức viện trợ

Theo cách phân loại này, hỗ trợ phát triển gồm hai loại chính: viện trợ dự

án và viện trợ chương trình

Chương trình là một tập hợp các hoạt động, các dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi có liên quan đến nhau và có thể liên quan đến một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều vùng lãnh thổ, nhiều chủ thể khác nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện trong một hoặc nhiều giai đoạn [11]

Dự án là tập hợp các đề xuất sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi, vốn đối ứng của Việt Nam có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục

Ngày đăng: 29/05/2021, 10:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Lan Anh (2015), “Hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại khu vực Tây Bắc, Việt Nam” Luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại khu vực Tây Bắc, Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh
Năm: 2015
6. Bộ Tài chính (2006), Công khai kết quả kiểm toán, http://www.mof.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công khai kết quả kiểm toán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
7. Ngô Thế Chi (2014), Vốn ODA với nguy cơ Việt Nam vỡ nợ, http://baodatviet.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn ODA với nguy cơ Việt Nam vỡ nợ
Tác giả: Ngô Thế Chi
Năm: 2014
12. Dangcongsan (2013), UNDP –Đối tác quan trọng trong việc hỗ trợ các nước đang phát triển, http://dangcongsan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: UNDP –Đối tác quan trọng trong việc hỗ trợ các nước đang phát triển
Tác giả: Dangcongsan
Năm: 2013
13. Bích Diệp (2017), Cao tốc Hà Nội – Hải Phòng: Thu phí 5,5 tỷ đồng, trả lãi 8 tỷ đồng/ngày, dantri.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao tốc Hà Nội – Hải Phòng: Thu phí 5,5 tỷ đồng, trả lãi 8 tỷ đồng/ngày
Tác giả: Bích Diệp
Năm: 2017
14. Nguyễn Hữu Dũng (2008), Thu hút và sử dụng ODA của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút và sử dụng ODA của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2008
15. Hương Giang (2013), Nhìn lại 20 năm thu hút vốn ODA, http://baodientu.chinhphu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại 20 năm thu hút vốn ODA
Tác giả: Hương Giang
Năm: 2013
16. Nguyễn Hà (2012), Điểm danh các dự án ODA có sai phạm, tiêu cực, vietnamnet.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm danh các dự án ODA có sai phạm, tiêu cực
Tác giả: Nguyễn Hà
Năm: 2012
17. Lê Hải Hà (2016), “Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức Liên hợp quốc (LHQ) tại Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức Liên hợp quốc (LHQ) tại Việt Nam
Tác giả: Lê Hải Hà
Năm: 2016
18. Đức Hạnh (2006), “Đừng để vốn ODA trở thành gánh nặng tương lai”, Tạp chí Thương mại, số 33/ 2006, trang: 15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đừng để vốn ODA trở thành gánh nặng tương lai”, "Tạp chí Thương mại
Tác giả: Đức Hạnh
Năm: 2006
19. Tiến Hiếu (2015), Nhiều dự án giao thông thiếu vốn đối ứng, http://www.baomoi.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều dự án giao thông thiếu vốn đối ứng
Tác giả: Tiến Hiếu
Năm: 2015
20. Nguyễn Hương (2016), Kế hoạch chiến lược chung 2017-2021, ttp://www.mpi.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch chiến lược chung 2017-2021
Tác giả: Nguyễn Hương
Năm: 2016
21. Nguyễn Thị Huyền (2008), Khai thác nguồn vốn ODA trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác nguồn vốn ODA trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Huyền
Năm: 2008
22. Nguyễn Hải Lưu (2012), “Kết quả hợp tác giữa Việt Nam và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP)”, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu No5 (140), 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả hợp tác giữa Việt Nam và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP)”, "Tạp chí Nghiên cứu châu Âu
Tác giả: Nguyễn Hải Lưu
Năm: 2012
23. Nguyễn Hải Lưu (2014), Hoạt động của chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam: Kết quả, kinh nghiệm và những giải pháp của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác trong thời gian tới, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam: Kết quả, kinh nghiệm và những giải pháp của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác trong thời gian tới
Tác giả: Nguyễn Hải Lưu
Năm: 2014
24. Kiều Thanh Nga (2013), “Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh châu Âu cho châu Phi từ năm 2000 đến nay (2013)”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện trợ phát triển chính thức của Liên minh châu Âu cho châu Phi từ năm 2000 đến nay (2013)
Tác giả: Kiều Thanh Nga
Năm: 2013
31. Lê Thanh Nghĩa (2009), Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam
Tác giả: Lê Thanh Nghĩa
Năm: 2009
32. Trung Nghĩa (2015), Bức tranh nợ công của Việt Nam qua góc nhìn BVSC, http://ndh.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh nợ công của Việt Nam qua góc nhìn BVSC
Tác giả: Trung Nghĩa
Năm: 2015
64. Helmut FĩHRER (1996), A history of the development assistance committee and the development co-operation directorate in dates, names and figures, tr 21 và 24, http://www.oecd.org Link
97. IDA Term - effective as of October 1, 2014, trên https://ida.worldbank.org Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w