Trong quá trình tổng quan tài liệu, chúng tôi tạm thời phân các nghiên cứu của các nhà khoa học và các tổ chức, cơ quan nghiên cứu của nước ngoài về vấn đề phụ nữ tham gia chính trị theo
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.VŨ MẠNH LỢI
Hà Nội, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở: nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Nam Định” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Ba năm học nghiên cứu sinh đã hoàn thành, trong suốt ba năm vừa qua bên cạnh việc tiếp thu được nhiều kiến thức khoa học, tôi còn nhận được nhiều tình cảm, sự giúp đỡ và ủng hộ quý báu của các thầy cô, người thân và bạn bè
Để hoàn thành chương trình học và luận án của mình, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc của mình tới:
PGS.TS.Vũ Mạnh Lợi, người thầy mà tôi luôn ngưỡng mộ về kiến thức khoa học uyên thâm, tôi đã học hỏi được ở thầy nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý giá, đặc biệt là thái độ nghiêm túc trong khoa học Nhìn lại tất cả những gì thầy đã dành cho tôi, hai chữ “Cảm ơn” là chưa đủ, tôi chỉ biết mượn một câu ngạn ngữ để nói rằng “Gặp được thầy tốt, phúc lành một đời”;
GS.TS Tong Xin, Trường Đại học Bắc Kinh đã có nhiều chia sẻ và giúp đỡ trong quá trình tôi nghiên cứu và hoàn thiện Luận án tại Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc;
Khoa Xã hội học và các phòng ban thuộc Học viện Khoa học xã hội Việt Nam đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án;
Hội LHPN tỉnh Nam Định, Hội LHPN các huyện Hải Hậu, Xuân Trường
và thành phố Nam Định, cán bộ, lãnh đạo tại 9 xã, phường, thị trấn mà Luận án tiến hành khảo sát … đã giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi khảo sát thực địa tại địa phương;
Lãnh đạo Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và các đồng nghiệp đã luôn khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi, sẵn sàng chia sẻ và hỗ trợ trong quá trình tôi học tập và thực hiện luận án;
Bạn bè và các nhà khoa học mà tôi đã có cơ hội được cộng tác, làm việc
đã giúp tôi học hỏi thêm được nhiều kiến thức, kinh nghiệm để tôi có thể hoàn thành luận án của mình;
Trang 4Những người thân yêu trong gia đình đã dành cho tôi sự ủng hộ thầm lặng nhưng vô cùng to lớn trong mọi lĩnh vực để tôi có thể yên tâm theo đuổi con đường học vấn đã lựa chọn
Ba năm chỉ là quãng thời gian ngắn ngủi trong cuộc đời mỗi con người, nhưng với tôi, ba năm qua chính là sự khởi đầu cho một giai đoạn mới, một lựa chọn mới – không ngừng nâng cao năng lực, kiến thức của bản thân, gắn bó với khoa học và cống hiến hết mình cho khoa học
Cuối cùng, tôi xin nguyện chúc cho tất cả các thầy cô, bạn bè, những người thân yêu của tôi luôn có được cuộc sống hạnh phúc viên mãn, sức khỏe dồi dào
Hà Nội, 15 tháng 3 năm 2018
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các sơ đồ
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở nước ngoài 9
1.2 Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở Việt Nam 22
1.3 Đóng góp của các công trình nghiên cứu đã được thực hiện 42
1.4 Những khoảng trống trong nghiên cứu về phụ nữ tham gia chính trị 43
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 47
2.1 Một số vấn đề lý luận trong nghiên cứu sự tham gia chính trị của phụ nữ 47
2.2 Một số lý thuyết và phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu sự tham gia chính trị của phụ nữ 58
2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 68
2.4 Khung phân tích của Luận án 81
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TỈNH NAM ĐỊNH 83
3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 83
3.2 Thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở 90
3.3 Vai trò của phụ nữ trong giải quyết các vấn đề của hệ thống chính trị cấp cơ sở 100
Trang 6CHƯƠNG 4 MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TỈNH
NAM ĐỊNH 105
4.1 Yếu tố thể chế 105
4.2 Yếu tố môi trường làm việc 108
4.3 Quan niệm truyền thống về vai trò của phụ nữ 114
4.4 Ảnh hưởng của gia đình 122
4.5 Các nhân tố từ bản thân phụ nữ 126
4.6 Đánh giá mức độ hưởng của một số nhân tố tới sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở 137
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
PHỤ LỤC 168
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐKCT
HTCTCCS
Hoạt động không chuyên trách
Hệ thống chính trị cấp cơ sở ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
UBQGVSTBPN Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: HTCTCCS ở Việt Nam 50
Sơ đồ 2: Khung phân tích của Luận án 81
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ nữ tham gia cấp Ủy cấp huyện, thành phố và cấp cơ sở (%) 87
Bảng 3.2 Tỷ lệ nữ tham gia HĐND cấp huyện, thành phố và cấp cơ sở (%) 88
Bảng 3.3 Tỷ lệ nữ tham gia chính quyền cấp huyện, thành phố và cấp cơ sở (%) 90
Bảng 3.4 Tỷ lệ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở (%) 92
Bảng 3.5 Vị trí công tác hiện nay của người được hỏi (%) 93
Bảng 3.6 Thực trạng tham gia vào các lĩnh vực công việc ở địa phương (%) 95
Bảng 3.7 Mức độ phù hợp của cá nhân đối với các lĩnh vực công việc (%) 98
Bảng 3.8 Đánh giá về việc phân công công việc hiện nay (%) 100
Bảng 3.9 So sánh “Làm chính” và “Đóng góp chính” của nam giới 102
Bảng 4.1 Mức độ đồng ý của người được hỏi và của người dân địa phương đối với một số quan niệm định kiến giới (%) 115
Bảng 4.2 Quan niệm về vị trí công tác phù hợp với phụ nữ và nam giới (%) 118
Bảng 4.3 Quan điểm về việc phân công các lĩnh vực công việc phù hợp cho nam giới và phụ nữ tại địa phương (%) 120
Bảng 4.4 Ưu thế về phẩm chất của phụ nữ và nam giới trong HTCTCCS (%) 134
Bảng 4.5 Những yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS – tương quan theo giới tính và 139
Bảng 4.6 So sánh mức chênh lệch tỷ lệ giữa nam giới và phụ nữ về mức độ quan trọng của một số nhân tố tới khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ của phụ nữ (%) 141
Bảng 4.7 So sánh mức chênh lệch tỷ lệ giữa nông thôn và thành thị về mức độ quan trọng của một số nhân tố tới khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ của phụ nữ (%) 142
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ được phân công làm các công việc vặt, tạp vụ 96 Biểu đồ 4.1 Mức độ nắm bắt thông tin về ban hành các văn bản liên quan đến công tác bình đẳng giới hoặc công tác cán bộ nữ 107 Biểu đồ 4.2 Thuận lợi trong quá trình công tác tại HTCTCCS 110 Biểu đồ 4.3 Đánh giá về năng lực công tác của phụ nữ 112 Biểu đồ 4.4 Một số yếu tố liên quan tới gia đình tác động đến phụ nữ và nam giới 124 Biểu đồ 4.5 Trình độ học vấn của những người được hỏi 127 Biểu đồ 4.6 Trình độ lý luận chính trị của những người được hỏi 128 Biểu đồ 4.7 Đánh giá về năng lực của phụ nữ và nam giới là CB, công chức, người HĐKCT trong HTCTCCS 130 Biểu đồ 4.8 Đánh giá về năng lực của phụ nữ và nam giới là đại biểu HĐND trong HTCTCCS 131 Biểu đồ 4.9 Trở ngại đối với sự thăng tiến của phụ nữ 136 Biểu đồ 4.10 Một số nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ của phụ nữ 140
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử hơn 4000 năm của Việt Nam, phụ nữ luôn chứng tỏ được vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Phụ
nữ có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong bất kì lĩnh vực nào, ở bất kì giai đoạn lịch sử nào phụ nữ cũng luôn lao động, chiến đấu hết mình, sát cánh cùng nam giới trong sản xuất vật chất, gìn giữ, phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc, giữ gìn và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các tư tưởng thống trị phong kiến, do ảnh hưởng của hệ tư tưởng đạo đức Nho giáo, địa vị phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội luôn bị hạn chế Phụ nữ luôn bị coi là những người phụ thuộc vào nam giới, cho dù nhiều khi trong gia đình họ là người lao động chính, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đời sống kinh tế, vật chất của cả gia đình, nhưng họ thường không có quyền quyết định các công việc lớn Các công việc chăm sóc gia đình, chồng con, đảm bảo cuộc sống ổn định cho gia đình được xem như là thiên chức của phụ nữ Ở chế
độ phong kiến phụ nữ rất ít khi được tham gia vào các hoạt động cộng đồng, thậm chí một số phụ nữ có ý chí và tài năng, đã phải giả trai để tự tạo ra cơ hội được đóng góp năng lực của mình cho đất nước
Kể từ năm 1930, Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam được thành lập, sự nghiệp giải phóng phụ nữ bắt đầu được quan tâm ở Việt Nam, phụ nữ có cơ hội được tham gia vào các hoạt động cộng đồng và tham gia vào đời sống chính trị của đất nước Kể từ đó đến nay, trong các cơ quan của Đảng, trong Quốc hội (QH), các
cơ quan dân cử địa phương, các cơ quan Quản lý nhà nước ở Trung ương (TƯ) và địa phương… đều có sự góp mặt của phụ nữ Nhận thức được vai trò to lớn của phụ
nữ, ĐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách, luật pháp nhằm đảm bảo quyền bình đẳng và phát triển cho phụ nữ trên mọi lĩnh vực, đồng thời nhằm huy động sự tham gia, đóng góp và những tiềm
Trang 122
năng to lớn của phụ nữ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Về cơ bản Việt Nam là một nước có hệ thống cơ sở pháp lý về đảm bảo bình đẳng giới (BĐG) khá toàn diện
Trong vài thập kỷ gần đây, địa vị phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đã được nâng lên khá nhiều, đặc biệt là địa vị chính trị Tuy vậy, trên thực tế, tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp ủy Đảng, tham gia các cơ quan dân cử ở
TƯ và địa phương, tham gia các cơ quan quản lý nhà nước các cấp còn thấp, đặc biệt tỷ lệ nữ giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan này đều rất thấp, chưa tương xứng với những đóng góp, cống hiến của họ cho xã hội và do đó chưa phát huy hết được năng lực, tiềm năng to lớn của lực lượng lao động nữ
Nam Định là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, có trình độ kinh tế,
xã hội tương đối phát triển, trình độ dân trí cao, cách thủ đô Hà Nội – trung tâm chính trị của cả nước không xa Tuy nhiên các số liệu cho thấy, mặc dù tỷ lệ cán
bộ (CB) nữ ở các cấp trên phạm vi toàn quốc thấp, nhưng tỷ lệ CB nữ các cấp của tỉnh Nam Định còn thấp hơn so với tỷ lệ chung của toàn quốc
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các cơ quan,
tổ chức và của các nhà nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ, nhưng còn rất ít các nghiên cứu đi sâu nghiên cứu sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở (HTCTCCS) – cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay Với mong muốn cung cấp thêm các dữ liệu khoa học và thực tiễn để giúp các nhà quản lý và các nhà khoa học có thêm được cái nhìn toàn diện về thực trạng phụ nữ tham gia chính trị trong HTCTCCS, từ đó góp phần làm rõ hơn bức tranh tổng thể về sự tham gia chính trị của phụ nữ nói chung,
nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS:
nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Nam Định” để làm Luận án tiến sĩ của mình
Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh cũng kỳ vọng các kết quả thu được từ quá trình nghiên cứu sẽ giúp khuyến nghị một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của phụ
Trang 132.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài; (2) Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
(3) Phân tích thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tỉnh Nam Định; (4) Phân tích ảnh hưởng của một số nhân tố tới sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tỉnh Nam Định;
(5) Khuyến nghị một số giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS, thúc đẩy BĐG tại tỉnh Nam Định nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Thực trạng phụ nữ tham gia trong HTCTCCS tại tỉnh Nam Định hiện nay như thế nào?
(2) Những nhân tố xã hội nào tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tại tỉnh Nam Định?
(3) Cần có giải pháp gì để tăng cường và nâng cao hiệu quả sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS?
2.4 Giả thuyết nghiên cứu
(1) Tỷ lệ nữ trong HTCTCCS nói chung và tỷ lệ nữ giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong HTCTCCS ở Nam Định hiện nay thấp, khi tham gia công tác trong
Trang 14(3) Thể chế, môi trường công tác, quan niệm về vai trò của phụ nữ, gia đình và các đặc điểm cá nhân là những yếu tố có thể góp phần khuyến khích, thúc đẩy hoặc gây cản trở tới việc thực hiện nhiệm vụ, quá trình thăng tiến của phụ nữ trong HTCTCCS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là “thực trạng và những nhân tố tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS”
3.3 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận án bao gồm: Nam giới và phụ nữ là CB, công chức, người hoạt động không chuyên trách (HĐKCT), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) trong HTCTCCS;
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án dựa trên ba nguyên tắc cơ bản trong phương pháp luận nhận thức của
chủ nghĩa Mác – Lê nin, bao gồm: Thứ nhất, đó là nguyên tắc đảm bảo tính khách
Trang 155
quan, nghiên cứu sự vật, hiện tượng như bản thân chúng đang tồn tại, không phán
đoán chủ quan mà các kết luận phải dựa trên những chứng cứ khoa học tin cậy Thứ
hai, đó là nguyên tắc nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự phát triển Mỗi sự vật,
hiện tượng trong xã hội và tự nhiên đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển
từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ hiện tượng đến bản chất Nguyên tắc này đòi hỏi phải nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong một hệ thống, đặt sự vật, hiện
tượng trong môi trường với những mối liên hệ của nó Thứ ba, trong mối quan hệ
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội thì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý; thực tiễn kiểm chứng nhận thức
Ngoài ra, các nội dung nghiên cứu của Luận án còn được triển khai trên
cơ sở vận dụng các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
CB nữ; vận dụng quan điểm của lý thuyết nữ quyền Mác xít, lý thuyết vị thế - vai xã hội và phương pháp tiếp cận Giới và phát triển (GAD) để triển khai các nội dung nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để có được các dữ liệu khoa học và thực tiễn, góp phần trả lời cho câu hỏi nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã được đặt ra, Luận án đã sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, thông qua các phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật thu thập thông tin và phân tích thông cụ thể bao gồm: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp theo biểu mẫu thống kê; phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi; phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả đã tiến hành thu thập và
nghiên cứu, phân tích thông tin từ các tài liệu có sẵn bao gồm: các văn bản của Đảng, Nhà nước, của tỉnh Nam Định về công tác CB nữ; các tài liệu viết về một
số lý thuyết xã hội học, phương pháp tiếp cận GAD ; các báo cáo và số liệu thống kê về tình hình công tác CB nữ trong phạm vi toàn quốc và của tỉnh Nam Định; các công trình nghiên cứu và các bài báo khoa học của các tác giả trong và
Trang 166
ngoài nước về vấn đề phụ nữ tham gia chính trị Tác giả đã sử dụng phương pháp tổng hợp và so sánh để xử lý và phân tích các thông tin có được từ nguồn tài liệu này
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp theo biểu mẫu thống kê: Ba biểu
mẫu thống kê số liệu đã được thiết kế và gửi cho các địa phương được khảo sát (bao gồm một biểu mẫu dành cho cấp tỉnh; một biểu mẫu dành cho cấp huyện, thành phố (TP); một biểu mẫu dành cho cấp xã, phường, thị trấn) nhằm thu thập các thông tin cụ thể về: số lượng, tỷ lệ CB nữ cấp cơ sở (tham gia cấp ủy, tham gia HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND); tỷ lệ CB nữ giữ các chức danh cụ thể); trình độ, độ tuổi của đội ngũ CB nữ trong HTCTCCS
- Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi: được sử dụng để phỏng vấn các đối tượng
là CB, công chức, người HĐKCT và đại biểu HĐND trong HTCTCCS nhằm thu thập các thông tin định lượng về: (1) thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS; (2) phân tích ảnh hưởng của một số nhân tố đến sự tham gia của CB nữ trong HTCTCCS; (3) những điều kiện và giải pháp cần thiết góp phần tăng cường hiệu quả
sự tham gia của đội ngũ CB nữ trong HTCTCCS tại tỉnh Nam Định Các kết quả khảo sát định lượng được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS Version 22.0 dành cho các nghiên cứu khoa học xã hội để đảm bảo được tính khách quan, khoa học
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng
đối với: CB, công chức, người HĐKCT, đại biểu HĐND trong HTCTCCS để thu thập những thông tin định tính nhằm lý giải cho các số liệu, những thông tin đã thu được từ quá trình phân tích tài liệu và từ các thông tin định lượng Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện sau khi có kết quả xử lý và phân tích số liệu định lượng một cách sơ bộ
4.3 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu
- Luận án đã tiến hành thu thập thông tin sơ cấp tại 3 huyện, TP, đại diện cho 3 vùng của tỉnh Nam Định, việc chọn danh sách các huyện, TP được thực hiện ngẫu nhiên bằng phương pháp bốc thăm:
Trang 177
+ Vùng trung tâm công nghiệp, dịch vụ: TP Nam Định
+ Vùng đồng bằng ven biển: huyện Hải Hậu
+ Vùng đồng bằng thấp trũng: huyện Trực Ninh
- Luận án đã tiến hành khảo sát trực tiếp tại 9 xã, phường, thị trấn Để đảm bảo tính đại diện giữa các vùng nông thôn và thành thị, tại TP Nam Định, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 2 phường và 1 xã, tại huyện Hải Hậu và huyện Trực Ninh nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 1 thị trấn và 2 xã/1 huyện để tiến hành khảo sát Như vậy, luận án đã tiến hành khảo sát trực tiếp tại 5 xã và 4 phường, thị trấn Việc chọn các xã, phường, thị trấn để khảo sát được chọn ngẫu nhiên dựa trên cơ sở danh sách các xã, phường, thị trấn do các địa phương cung cấp
Danh sách các xã, phường, thị trấn được khảo sát cụ thể như sau:
+ TP Nam Định: phường Trường Thi, phường Quang Trung, xã Mỹ Xá; + Huyện Hải Hậu: xã Hải Long, xã Hải Phong, thị trấn Thịnh Long;
+ Huyện Trực Ninh: xã Trung Đông, xã Trực Chính, thị trấn Cổ Lễ
- Mẫu tham gia phỏng vấn bảng hỏi là toàn bộ CB, công chức, người HĐKCT, đại biểu HĐND tại 9 xã, phường, thị trấn được khảo sát Tổng số mẫu tham gia trả lời phỏng vấn bằng bảng hỏi là 360 người
- Mẫu tham gia phỏng vấn sâu: tại mỗi xã, phường, thị trấn phỏng vấn 2 người, trong đó có 1 nam giới và 1 phụ nữ Tổng số 2 người/xã x 9 xã = 18 người
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã phân tích và chỉ ra ba khía cạnh ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển của xã hội khi phụ nữ tham gia hoạt động trong hệ thống chính trị
- Luận án đã tập trung phân tích sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tại một địa phương cụ thể - tỉnh Nam Định, góp phần cung cấp cái nhìn chi tiết, nhiều chiều cạnh hơn cho bức tranh chung về sự tham gia chính trị của phụ nữ Việt Nam nói chung
Trang 18- Luận án đã góp phần làm rõ vai trò của phụ nữ trong HTCTCCS;
- Luận án đã tiến hành phân tích về sự tham gia trong HTCTCCS của phụ
nữ, luận giải những nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án góp phần cung cấp các luận chứng khoa học và thực tiễn để đưa ra những khuyến nghị nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS, thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực chính trị tại tỉnh Nam Định nói riêng và ở Việt Nam nói chung
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và đề xuất giải pháp, nội dung của Luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 3 Thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp
cơ sở tỉnh Nam Định
Chương 4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Nam Định
Trang 199
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở nước ngoài
Rất nhiều nước ở tất cả các châu lục khác nhau trên thế giới đã quan tâm đến
sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động chính trị Sự quan tâm này được thể hiện ở hai khía cạnh: (i) Chính phủ và các Đảng phái ở các nước đã ban hành các quy định
cụ thể nhằm thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị, (ii) các nhà nghiên cứu và các cơ quan, tổ chức khác nhau đã tiến hành nhiều nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này Trong quá trình tổng quan tài liệu, chúng tôi tạm thời phân các nghiên cứu của các nhà khoa học và các tổ chức, cơ quan nghiên cứu của nước ngoài về vấn đề phụ nữ tham gia chính trị theo một số nội dung sau:
- Thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị của một số nước;
- Chính sách của các chính phủ trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ;
- Những khó khăn và các nhân tố ảnh hưởng tới phụ nữ khi tham gia chính trị;
- Vai trò và những đóng góp của phụ nữ khi tham gia chính trị
1.1.1 Nghiên cứu về thực trạng sự tham gia chính trị của phụ nữ
Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995 đã đặt ra mục tiêu: trước năm
2025, nghị viện các nước sẽ đạt tỷ lệ 30% phụ nữ Tuy nhiên, theo xu hướng hiện nay cho thấy mục tiêu này khó có thể đạt được
Theo Lương Thu Hiền [169], bản đồ tham chính của phụ nữ thế giới năm
2014 của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) và Quỹ phụ nữ Liên hiệp quốc (UN Women) cho thấy, phụ nữ đang tham gia ngày càng sâu rộng hơn trong đời sống chính trị, xã hội của các nước Đáng ngạc nhiên là Rwanda - quốc gia nghèo ở châu Phi đã chịu bao đau thương từ nạn diệt chủng 20 năm trước có tỷ lệ nữ trong QH cao nhất thế giới, lên tới 63,8% IPU gọi QH Rwanda là cơ quan lập pháp thân thiện với nữ giới nhất Tỷ lệ phụ nữ trong QH các nước Bắc Âu chiếm 42,11% Trên toàn cầu chỉ có 29 quốc gia có tỷ lệ nữ trong QH trên 30%; 24 quốc gia nằm trong nhóm
Trang 2010
gần đạt đến tỷ lệ 30% (từ 25% đến 29%) Châu Á- Thái Bình Dương và Trung Đông vẫn là những khu vực có tỷ lệ nữ tham gia QH thấp hơn các khu vực khác (châu Á 18,4%, Thái Bình Dương 16,2%, Trung Đông 16%)
Trong danh sách xếp hạng về tỷ lệ nữ tham chính năm 2014, số lượng phụ
nữ ở các cơ quan ra quyết định chưa nhiều Chỉ có 25 nữ nguyên thủ trên tổng số
195 quốc gia trên thế giới, 36 nước có tỷ lệ phụ nữ giữ chức vụ bộ trưởng trong nội các Chính phủ trên 30% Có 31 nước có tỷ lệ nữ Bộ trưởng dưới 10% và 8 quốc gia châu Á Thái Bình Dương không có nữ Bộ trưởng nào [169] Mặc dù Nghị quyết quan trọng 1325 của Hội đồng Bảo an LHQ năm 2000 đã công nhận phụ nữ phải giữ vai trò trung tâm trong gìn giữ hòa bình, nhưng từ năm 1992 đến 2011 chỉ có 9% những người tham gia các bàn đàm phán hòa bình là phụ nữ Tính đến tháng 8 năm 2015, chỉ có 22% đại biểu, nghị sĩ quốc hội là phụ nữ [79] Những con số này
đã mô tả hết sức rõ nét bức tranh bất BĐG sâu sắc trong chính trị đang diễn ra tại tất
cả các khu vực và vùng lãnh thổ Thế giới vẫn đang khan hiếm lãnh đạo nữ trong toàn bộ hệ thống quản trị nhà nước từ cấp địa phương tới cấp quốc gia
Handbook of Gender and Work, SAGE Publications [149] là công trình mang tính học thuật của nhiều tác giả khác nhau Trong chương 9, với chủ đề “Gender influences on performance evaluations - Những ảnh hưởng Giới đối với công việc”, tác giả Kathryn M Barton cho rằng: Mặc dù trong ba thập kỷ vừa qua đã chứng kiến
sự gia tăng số lượng lớn phụ nữ giữ những chức vụ quản lý, tuy nhiên vẫn còn tồn tại
cơ cấu giới tính trong các tổ chức Phụ nữ vẫn có rất ít đại diện trong các cấp độ quản
lý cao hơn Trong Chương 11 của cuốn sách này với chủ đề “Gender Effects on Social Ifluence and Emergent Leadership - Những tác động giới đối với Ảnh hưởng
xã hội và Tiềm năng lãnh đạo” thông qua việc nghiên cứu vị thế của phụ nữ trong các
tổ chức, các tác giả phát hiện rằng mặc dù phụ nữ sở hữu 50% bằng cử nhân và 42% bằng cấp cao hơn và chiếm 46% lao động, nhưng phụ nữ vẫn tiếp tục bị phân biệt đối
xử tại nơi làm việc, thiếu đại diện trong hầu hết các vị trí quyền lực (giữ ít hơn 5% quản lý cấp cao và các vị trí điều hành), lương thấp hơn nam giới
Trang 2111
Theo International IDEA [141], phụ nữ chỉ chiếm 16% ghế trong QH tính
trên toàn thế giới Trong nghiên cứu này, International IDEA đã phân tích thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ ở một số quốc gia và khu vực để so sánh sự khác biệt như Arab, Indonesia hay khu vực Mỹ La tinh… Sự tham gia vào chính trường của phụ nữ bản địa ở khu vực Mỹ La tinh được International IDEA (2005) đánh giá như là một hiện tượng
Một nghiên cứu khác của International IDEA [140] về tình hình phụ nữ tham gia chính trị tiếp tục khẳng định: Mặc dù mỗi nước lại khác nhau, nhưng khu vực Arab nói chung đều có tỉ lệ phụ nữ tham gia chính trị rất thấp Đầu phiếu phổ thông dù đã trở nên phổ biến ở nhiều nước, nhưng vẫn có những phụ nữ ở Arab bị từ chối quyền đó Tỉ
lệ phụ nữ tham gia vào lập pháp của phụ nữ Arab là thấp nhất trên thế giới Tỉ lệ trung bình của thế giới vào tháng 1/2005 là 15,7%, trong khi ở Arab chỉ là 6,7%
Với đất nước Indonesia, sự xuất hiện trong Nghị viện QH là một quá trình đấu tranh lâu dài của phụ nữ, tuy nhiên cho đến nay số lượng nữ giới trong QH Indonesia vẫn là con số khiêm tốn và ít ỏi
Tại Trung Quốc, vào năm 2001, có 14 nữ thứ trưởng, tỷ lệ CB nữ chiếm 36,7% tổng số CB của cả nước Năm 2005, tỷ lệ CB nữ cấp Vụ, Cục chiếm 29%
so với tổng số CB lãnh đạo cùng cấp của cả nước Tại Hàn Quốc, vào năm 2002
tỷ lệ nữ công chức chiếm 32,9% tổng số công chức cả nước, nhưng chỉ có 1,3% công chức nữ thuộc đối tượng có thể tham gia vào các quyết định chính sách quan trọng từ cấp 3 trở lên Tại Nhật Bản, vào năm 2000, tỷ lệ nữ trong Tham nghị viện (Thượng viện) là 17,1%, Chúng nghị viện (Hạ viện) là 7,5% và ở Chính phủ các địa phương, tỷ lệ nữ đạt cao nhất là 19,7% [162]
1.1.2 Chính sách của các Chính phủ trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc áp dụng các hạn ngạch giới là một trong những giải pháp quan trọng được chính phủ, các đảng phái của một số quốc gia áp dụng có hiệu quả trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ
Trang 2212
Tại Trung Quốc, tháng 7 năm 1990, Ban Tổ chức TƯ ĐCS Trung Quốc
và Hội Liên hiệp phụ nữ (Hội LHPN) toàn quốc Trung Quốc đã tổ chức hội nghị bàn về vấn đề bồi dưỡng CB nữ, tỷ lệ CB nữ trong các cơ quan thấp và tình trạng già hóa của đội ngũ CB nữ Hội nghị đã đưa ra hai mục tiêu: đến năm 1995, 100% các huyện và 50% các xã có CB chủ chốt là nữ; các đơn vị làm công tác tổ chức CB cần ưu tiên quan tâm đến CB nữ [162]
Tại Indonesia, các nhà hoạt động phong trào ở Indonesia đã phải đấu tranh rất nhiều để có thể đưa hạn ngạch cho phụ nữ vào như một điều luật ở Indonesia và
đã thành công Khoảng 30% hạn ngạch tự nguyện cho mỗi bên đã được quy định ở trong Điều luật số 12 (năm 2003), có hiệu lực một năm trước khi cuộc bầu cử năm
2004 được tổ chức Một điều khoản trong mục 65 Điều luật số 12 nêu ra là: mỗi đảng phái chính trị trong cuộc bầu cử được phép đề cử ứng viên làm thành viên của nghị viện cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp địa phương cho mỗi khu vực bầu cử với tỷ
lệ hiện diện của phụ nữ ít nhất là 30% Tuy nhiên, hệ thống hạn ngạch này là không bắt buộc và không có các chế tài để đảm bảo rằng các hạn ngạch này cần phải đạt được trong thực tế, việc triển khai trên thực tế phụ thuộc rất nhiều vào ý muốn của các đảng phái chính trị Không có hình phạt hay hình thức kỷ luật nào dành cho các bên không áp dụng hạn ngạch [156]
Tại Ấn Độ, Bản Hiến pháp sửa đổi có hiệu lực năm 1992, quy định bắt buộc phải có ít nhất 1/3 số ghế trong các cơ quan dân cử địa phương của Ấn Độ dành cho phụ nữ Các chỉ tiêu giới được đánh giá là đã góp phần giảm sự phân biệt giới về dài hạn thay vì tạo ra phản ứng chống lại phụ nữ [151] Trong các khu vực không xác định trước hạn ngạch, tỷ lệ tham gia của ứng viên nữ rất thấp Khi cho phép có các lãnh đạo nữ ở các khu vực nhất định, sự tham gia của phụ
nữ như một ứng viên gia tăng đáng kể: trong cuộc bầu cử năm 1997 có tới trung bình 7,5% ứng viên nữ ở các khu vực định trước hạn ngạch, ở các khu vực không chỉ định trước hạn ngạch tỷ lệ này là 5% Ở những khu vực chỉ định trước hai lần (không phải chỉ định 1 lần) như Panchayats ở vùng Tây Bengal, số lượng
Trang 2313
ứng viên nữ được bầu chọn tăng hơn gấp đôi khi được chỉ định 2 lần (10,1%) Việc gia tăng tỷ lệ nữ trong hệ thống chính trị có vẻ như góp phần gia tăng tỷ lệ phụ nữ phát biểu trong các cuộc họp ở các làng Ấn Độ: khi có phụ nữ đứng trong hàng ngũ lãnh đạo chính trị, tỷ lệ này lên tới 25% Sự gia tăng này rất có thể là kết quả trực tiếp của chính sách ra chỉ tiêu cho nữ lãnh đạo tham gia vào hội họp, hoặc gián tiếp dẫn đến sự thay đổi trong thiết lập xã hội có lãnh đạo nữ Dù bất
kể thế nào đi chăng nữa thì chính sách đặt ra trước chỉ tiêu cũng sẽ có vai trò quan trọng trong việc gia tăng sự tham gia của công dân nữ trong hệ thống chính trị (Bhavani, 2009, dẫn lại từ Panda,R và Ford,D 2011, [151])
Tại Argentina, các hoạt động tích cực đã được triển khai từ năm 1991, đến năm 1994, Hội đồng loại trừ mọi hình thái phân biệt đối xử chống phụ nữ đã được xây dựng và đưa vào trong nội dung của Hiến pháp quốc gia Ở cấp độ quốc gia họ
đã xây dựng được hạn ngạch là 30% đại biểu và thượng nghị sĩ trong QH, 22/24 tỉnh có luật về hạn ngạch giới trong chính trị Các luật này đã được áp dụng và đạt được các kết quả khác nhau, tùy thuộc vào hệ thống bầu cử ở mỗi địa phương [137] Vào năm 2005, trong Đại hội theo thông lệ lần đầu tiên của ĐCS (24-25/6, 2005) đã thông qua Hiến chương trong đó điều 3 đảm bảo nguyên tắc công bằng hiệu quả giữa nam và nữ trong Đảng với một số nội dung cụ thể: Mọi sự lãnh đạo, ra quyết định và cơ quan đại diện trong Đảng đều có sự đại diện ngang bằng của nam và nữ; Danh sách các ứng viên cho các vị trí bầu cử ở tất cả các cấp phải có sự tham gia như nhau; Trong trường hợp các vị trí chỉ có một thành viên, phải có sự luân phiên
về giới tính; Thúc đẩy bất kỳ biện pháp nào cho phép sự tham gia công bằng của nam và nữ vào các vị trí lãnh đạo và ra quyết định ở cấp quốc gia, tỉnh và huyện, cũng như trong các liên đoàn công nhân và trí thức, các cơ quan tư pháp và giáo dục; Thúc đẩy việc trình những dự luật cho phép thực hiện các biện pháp chủ động hướng đến sự tuân thủ có hiệu quả những nguyên tắc này [144]
Trong việc thúc đẩy tỷ lệ nữ tham gia chính trị, châu Phi nổi lên so với phần còn lại của thế giới nhờ việc áp dụng hai loại hạn ngạch: đặt chỗ và tự nguyện của
Trang 24Bên cạnh việc đưa ra và áp dụng các hạn ngạch giới, các Đảng phái và Chính phủ các nước còn áp dụng nhiều biện pháp khác nhằm nâng cao tỷ lệ đại diện của phụ nữ Tại Indonesia, các biện pháp như: tuyên truyền vận động lãnh đạo các đảng phái chính trị để tăng cường nhận thức về sự cần thiết của một khối biểu quyết cụ thể (voting block); tăng cường tiếp cận của phụ nữ với các phương tiện truyền thông như một công cụ để tập hợp ý kiến công chúng; trao quyền cho phụ nữ thông qua giáo dục, đào tạo và khả năng tiếp cận thông tin là các biện pháp đã được áp dụng [141]
Pakistan đã thành lập mạng lưới các nữ chính trị gia bao gồm các nữ ủy viên và sau đó đã trở thành một liên minh trong bầu cử Đã có tới hơn 500 phụ
nữ tham gia vào liên minh đó và tham gia tranh cử, 13 người trong số họ tranh
cử cho các vị trí lãnh đạo hội đồng và gần 65% trong số họ đã thắng cử Nhóm
nữ giới này giữ một vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước hiện tại [157]
Thông qua nghiên cứu tại Tây Bengal, Ấn Độ, Pande, R và Cirone, A [148] cho rằng sự tiếp xúc liên tục với các lãnh đạo nữ làm giảm thành kiến của cử tri đối với họ, và điều này giúp cải thiện một cách đáng kể kết quả bầu cử cho phụ nữ
Trang 2515
Từ kết quả nghiên cứu ở một số quốc gia châu Phi, Ballington, J [128] cho rằng những thành công điển hình đã được thấy ở những nước mà phong trào phụ nữ kết hợp với các nữ (và nam) chính trị gia, từ các đảng chính trị hoặc trong các cơ quan QH Nhiều tổ chức phụ nữ cũng tích cực hỗ trợ các ứng viên nữ qua việc thành lập các cơ quan và các mạng lưới gây quỹ, cung cấp đào tạo và phát triển các kỹ năng, gây áp lực lên các đảng chính trị để đưa nhiều phụ nữ hơn vào các thứ bậc và danh sách ứng cử viên để bầu Bên cạnh đó, áp lực của các phong trào phụ nữ quốc tế và các tổ chức quốc tế cũng có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ nữ tham gia chính trị Sự kết hợp các đề xuất của các tổ chức quốc tế và cảm hứng từ những thành công của mỗi quốc gia và các liên minh xuyên quốc gia có ảnh hưởng tiềm tàng lớn
Ở châu Phi, những thành tựu đáng chú ý còn đạt được do kết quả của việc phụ nữ sử dụng chiến lược các cửa sổ đối với cơ hội chính trị Ở một số ít nước nơi hệ thống lập pháp, bầu cử hay những cải cách trong đảng chính trị được thực hiện, phụ nữ đã nhân đó tạo áp lực để tham gia nhiều hơn vào các quá trình cải cách Trường hợp này cũng xảy ra trong một số kiến thiết sau xung đột
Một số quốc gia vừa trải qua nội chiến hoặc đấu tranh vì tự do, bao gồm Eritrea, Mozambique, Namibia, Rwanda, Somalia, Nam Phi và Uganda đã xây dựng các dự thảo hiến pháp và khuôn khổ luật pháp mới, cũng như việc xây dựng lại các cơ quan luật pháp, tạo cho phụ nữ cơ hội chính trị quan trọng
Trên cơ sở nghiên cứu các kinh nghiệm của Rwanda, Ấn Độ và Nam Phi nhằm đề xuất cải cách luật pháp và các nỗ lực vận động dân sự để khuyến khích
sự tham gia lớn hơn của phụ nữ vào chính trị ở Liberia, Cole, S [134] cho rằng, trong thời gian gần, Liberia cần thiết phải có những nỗ lực cụ thể, thông qua giáo dục và vận động nhân dân, tạo điều kiện cho tất cả các nhân tố chính trị và thể chế trong lồng ghép giới, tạo ra một tương lai nơi nam giới và phụ nữ được đại diện bình đẳng
Trong nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữ trong các đảng chính trị ở châu
Mỹ Latinh, Llanos, B và Sample, K [144] đã cung cấp thông tin chia sẻ hàng loạt
Trang 2616
kinh nghiệm của các nước thuộc khu vực này trong việc nâng cao tỷ lệ và cải thiện vai trò của phụ nữ trong hệ thống chính trị: Argentina đã thông qua Hiến chương trong đó điều 3 đảm bảo nguyên tắc công bằng hiệu quả giữa nam và nữ trong đảng; một số khu vực ở Costa Rica đã phát triển những Ban Thư ký cho phụ nữ; Costa Rica và Panama đã thiết lập được nghĩa vụ pháp lý phân bổ một phần kinh phí cho sự phát triển của phụ nữ; Một số tổ chức đã lựa chọn tự nguyện hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho phụ nữ, trang bị để nâng cao năng lực cạnh tranh cho những nhà hoạt động nữ của họ; Đảng Cộng hòa Trung Mỹ và Dominica đã thúc đẩy các hiệp hội phụ nữ ở địa phương; Ở vài nước, phụ nữ đã đoàn kết lại quanh một nghị trình chung – để tạo ra những thay đổi trong luật bầu cử nhằm có sự tham gia chính trị nhiều hơn; Tại Honduras, một liên đoàn các nữ đại biểu QH từ tất cả các đảng đã kết hợp với các nhà hoạt động xã hội dân sự để khôi phục lại sáng kiến hạn ngạch được đưa ra bởi Ủy ban QH về các vấn đề phụ nữ
Trong cuốn “Tổng hợp những thực tiễn tốt nhất được sử dụng bởi các đảng chính trị để thúc đẩy phụ nữ trong chính trị”, dựa trên thông tin đầu vào từ các chuyên gia và thành viên trên toàn thế giới, iKNOW Politics [139] đã tổng hợp và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của các đảng chính trị nhằm thúc đẩy phụ
nữ trong chính trị bao gồm: Thiết lập các nhóm và các ủy ban cho phụ nữ trong các đảng chính trị; Phân bổ quỹ cho đào tạo phụ nữ; Cung cấp những ưu đãi và
hỗ trợ về tài chính cho các ứng viên nữ; Thiết lập diễn đàn về vận động và thảo luận chính sách cho phụ nữ; Sự cân bằng giới trong các hoạt động của đảng; Tạo
ra động lực cho các đảng chính trị để thúc đẩy phụ nữ
Nghiên cứu những bài học từ Trung Mỹ, Clulow, M [133] đã tổng kết một số bài học trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong chính trị ở khu vực này bao gồm: Thực hiện các chiến lược vận động của phong trào phụ nữ; Hành chính địa phương đảm bảo nguyên tắc “từ, với, vì phụ nữ”; Thúc đẩy hoạt động của các tổ chức của phụ nữ và chính quyền địa phương
Trang 2717
Theo LHQ, các quốc gia cần có những thay đổi sâu rộng về pháp lý và lập pháp để bảo đảm quyền của phụ nữ trên toàn thế giới Đến năm 2014, hiến pháp của 143 quốc gia đã đảm bảo công bằng giữa phụ nữ và nam giới, tuy nhiên vẫn còn 52 nước chưa thực hiện được điều này [79]
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia chính trị của phụ nữ
Mặc dù đã có những tiến bộ về trình độ, năng lực nhưng phụ nữ vẫn tiếp tục bị phân biệt tại nơi làm việc Một lý giải cho sự thăng tiến của phụ nữ trong công việc thiếu tương xứng với những thành tích giáo dục của họ và số lượng tham gia vào lực lượng lao động là phụ nữ đang đối mặt với một bức trần kính những rào cản phân biệt [149]
Các định kiến về khuôn mẫu giới là một trong những rào cản đối với sự tham gia chính trị của phụ nữ ở nhiều nước Khuôn mẫu “nghĩ đến quản lý, nghĩ đến nam giới” dường như còn khá phổ biến Vào đầu những năm 1970 nhà tâm
lý học Virginia E.Schein đã xác định khuôn mẫu giới trong quản lý như là rào cản tâm lý chủ yếu đối với sự tiến bộ của phụ nữ ở Mỹ Sự toàn cầu hóa của quản lý đã đặt ra nhu cầu hàng đầu cần xem xét mối quan hệ giữa các khuôn mẫu vai trò giới và những tính cách cần có trong quản lý trên phạm vi quốc tế Sau đó, các nghiên cứu của tác giả đã được nhân rộng ở Mỹ, Anh, Đức, Trung Quốc và Nhật Bản Dựa trên việc đánh giá lại các nghiên cứu này, tác giả đã cung cấp một góc nhìn nền tảng về hiện tượng “nghĩ đến quản lý, nghĩ đến nam giới” trên phạm vi toàn cầu
Dựa trên kết quả tổng hợp từ nhiều nghiên cứu trước đó, Sabine Sczesny [154] chỉ ra rằng có ảnh hưởng của khuôn mẫu giới toàn cầu trong việc cảm nhận
sự lãnh đạo bởi nam và nữ Trong việc tự đánh giá, phụ nữ và nam giới không khác nhau trong những kỹ năng cá nhân và định hướng công việc Họ cũng không khác nhau trong việc đánh giá tầm quan trọng của việc có những kỹ năng đó
Mô hình thực hành quyền lực cho nam giới cũng là một trong những khía cạnh của khuôn mẫu định kiến giới Theo mô hình này, vai trò sinh sản và chăm
Trang 2818
sóc được giao cho người phụ nữ và nó có những ảnh hưởng nhất định đến công việc Điều này có nghĩa là các đảng chính trị cần quan tâm đến những khía cạnh đời sống riêng của phụ nữ, hay nói cách khác, các đảng chính trị cần chú trọng đến “vai trò giới riêng biệt” này của phụ nữ để có những khu vực/ những phạm
vi công việc chỉ dành riêng cho nữ giới, giúp cho nữ giới chỉ tập trung hoạt động
ở đó và có thể hoàn thành tốt các vai trò giới của mình [144]
International IDEA [138] đã xác định ba nhóm rào cản để trúng cử vào
QH mà phụ nữ nói chung đang phải đối mặt bao gồm:
(i) Các rào cản về chính trị: Sự hiện hành/phổ biến của mô hình chính trị
và bộ máy nhà nước mang tính chất “nam trị”; Thiếu sự hỗ trợ của các đảng phái,
tổ chức Ví dụ: thiếu ngân sách hỗ trợ cho các ứng viên nữ; hạn chế trong việc kết nối với các mạng lưới chính trị và các tiêu chuẩn hà khắc hơn áp dụng cho phụ nữ; Thiếu sự duy trì trong liên lạc và hợp tác với các tổ chức công cộng khác như các tổ chức, công đoàn hay nhóm/hội phụ nữ; Điều đã tồn tại gần như tự nhiên trong hệ thống bầu cử: có thể thiên hay không thiên về các ứng viên nữ; Hạn chế trong tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến cho khả năng lãnh đạo của nữ giới nói chung; và định hướng cho nữ giới trẻ tuổi kế cận nói riêng
(ii) Rào cản kinh tế, xã hội: Sự phổ biến của nạn mù chữ và giới hạn trong tiếp cận với giáo dục của phụ nữ so với nam giới; Sự lựa chọn nghề nghiệp theo khuôn mẫu giới của phụ nữ và nam giới; Gánh nặng kép về cả các trách nhiệm trong gia đình và nghĩa vụ công việc
(iii) Trở ngại tư tưởng và tâm lý: Tư tưởng về giới, mô hình văn hóa và những định kiến xã hội gán cho nam giới và phụ nữ; phụ nữ thiếu sự tự tin để đứng ra tranh cử; Quan niệm của phụ nữ về chính trị như một cuộc chơi “bẩn”; Cách mà các kênh truyền thông đa phương tiện mô tả về phụ nữ
Theo United Nation, Division for the Advancement of Women (DAW) [157], trong thời đại thế giới phẳng như hiện nay, các nhân tố bên ngoài như toàn cầu hóa, thông thương quốc tế và chính sách kinh tế đều có ảnh hưởng đến các
Trang 2919
chính sách phát triển của từng quốc gia Do đó việc tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự tham gia của phụ nữ vào chính trị và phát triển cần được nhìn nhận ra ngoài phạm vi một quốc gia; nó cần được kết nối với các nhân tố toàn cầu Trách nhiệm tạo lập ra một môi trường thuận lợi để hỗ trợ cho BĐG và cho sự tiến bộ của phụ nữ là trách nhiệm chung của các quốc gia và cộng đồng quốc tế
Một nhân tố quan trọng khác trong tạo môi trường thuận lợi cho phụ nữ có liên quan đến bản chất của dân chủ và mức độ dân chủ trong xã hội Một phong trào phụ nữ và xã hội dân sự mạnh là điều kiện để tạo dựng môi trường thuận lợi, tạo ảnh hưởng đến định hướng chính trị và phát triển cho quyền lợi của nữ giới Việc tiếp cận với giáo dục, sức khỏe và công việc có mối quan hệ trực tiếp với nâng cao năng lực, để phụ nữ tự tìm chỗ đứng cho mình trong chính trị Một nhân tố khác chính là ý thức của phụ nữ trong quyền tham gia vào chính trị - đó
là một yếu tố quan trọng cho cá nhân phụ nữ nói riêng và tập thể nói chung
Phân tích tình trạng số lượng ít ỏi của nữ giới trong QH Indonesia, International IDEA [141] đã chỉ ra 8 nguyên nhân dẫn đến tình trạng này bao gồm: (i) Bối cảnh văn hóa gia trưởng; (ii) Nhận thức về BĐG và công lý vẫn còn thấp; (iii) Các ghế trong cơ quan lập pháp của các đảng phái thường được chia cho các ứng viên nam – những người thường được xếp thứ hạng cao hơn trong danh sách bầu cử của đảng đó; (iv) Công tác truyền thông trong đánh thức nhận thức của công chúng về sự quan trọng của đại diện phụ nữ trong QH còn thiếu hiệu quả; (v) Mối quan hệ gắn kết mạng lưới của các tổ chức phi chính phủ và đảng phái chính trị cho mục tiêu tăng cường vai trò của phụ nữ trong QH không hiệu quả; (vi) Nạn nghèo đói và trình độ giáo dục thấp của phụ nữ; (vii) Phụ nữ
đã có gia đình thường đối diện với nhiều rào cản hơn, đặc biệt khi họ ở thế đối lập với chồng mình; (viii) Các hoạt động chính trị đòi hỏi có sự đầu tư lớn về cả tiền bạc, thời gian và phụ nữ thì thường bị hạn chế, đặc biệt là hạn chế trong đầu
tư tài chính
Trang 3020
Cũng nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ phụ nữ trong QH Indonesia rất thấp, tác giả Siregar, W.Z.B [156] lập luận rằng trở ngại lớn nhất đối với bầu cử cho phụ nữ được tìm thấy trong thiết kế tổ chức của hệ thống bầu
cử và cấu trúc của các đảng chính trị Luật cho bầu cử chung của nước này yêu cầu người muốn ứng cử tham gia vào QH trước tiên phải là thành viên của một đảng phái chính trị, được chứng minh qua thẻ thành viên (điều 62, Điều luật 12, 2003) Kết quả là, các đảng phái chính trị trở nên chiếm ưu thế trong quá trình lựa chọn ứng viên Danh mục ứng viên cho cấp quốc gia ở tỉnh Đông Java và Sidoarjo cho thấy hầu như các bên chỉ đề cử dưới 30% là phụ nữ
Trong khi đó, hệ thống danh sách bán mở rộng của tỷ lệ đại diện trong cuộc bầu cử năm 2004 góp phần vào sự lưỡng lự, e ngại của các đảng phái chính trị trong thực hiện hạn ngạch, càng làm cho phụ nữ khó khăn hơn trong việc được bầu cử Trong hệ thống bầu cử của Indonesia thứ tự của ứng viên trong danh sách có vai trò quan trọng trong việc quyết định xem người đó có được trúng cử hay không Quy tắc này dẫn đến sự cạnh tranh mãnh liệt trong các đảng phái để giành lấy vị trí dễ thắng cử trong danh sách Những nhân vật nổi bật trong các đảng phái chính trị - những người mà phần lớn là đàn ông, đều được đặt ở các vị trí dễ chiến thắng
Những thách thức mà phụ nữ Bangladesh đang phải đối mặt khi muốn tham gia chính trị xuất phát từ các yếu tố về xã hội, văn hóa và tôn giáo đặc thù của quốc gia này Bên cạnh đó sự “phớt lờ” bởi các đồng nghiệp nam cũng là một trong những cản trở đối với phụ nữ [150]
Việc tham gia vào quá trình ra quyết định công của phụ nữ khu vực Trung
Mỹ đang gặp phải một số trở ngại như: Văn hóa gia trưởng và nam quyền; Ảnh hưởng tiêu cực đáng kể của nhà thờ, bởi vì nó có xu hướng gạt người phụ nữ ra khỏi đời sống chính trị và chống lại nghị trình nữ quyền; Các cơ chế cho sự tham gia công cộng hoặc xã hội thường được thiết kế nhằm giới hạn khả năng của phụ
nữ tham gia một cách hiệu quả; Phụ nữ ít tiếp cận với các nguồn lực kinh tế cần
Trang 3121
thiết để chi trả các chi phí cho các chiến dịch bầu cử; Phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị là đối tượng của những hành vi chỉ trích và những lời đồn, trong khi khả năng và các ý kiến của họ bị nghi vấn và chê cười Thậm chí khi được bầu họ cũng phải đối mặt với sự chống đối gay gắt, đặc biệt từ nam giới, những người cũng được bầu và những nhân viên khác, cả từ chính các đảng của họ và
từ đảng đối lập Thêm vào đó, họ có xu hướng bị đặt ra ngoài lề các vị trí quan trọng, cả trong đảng của họ và trong chính quyền địa phương hay quốc gia [133]
Ban, R and Rao, V [130] nhấn mạnh đến vai trò của người bạn đời trong việc tham gia chính trị của phụ nữ Theo các tác giả phần lớn phụ nữ nếu không nhận được sự ủng hộ của bạn đời họ sẽ không tham gia ứng cử
1.1.4 Vai trò, đóng góp của phụ nữ khi tham gia chính trị
Sự tham gia chính trị của phụ nữ được đánh giá như một thước đo quan trọng của BĐG ở mỗi quốc gia Theo International IDEA [141], việc hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào việc đưa ra quyết định cũng phần nào hạn chế sự phát triển kinh tế, xã hội, chính trị theo hướng BĐG Bởi khi nam giới độc quyền trong bộ máy chính trị, đưa ra các đạo luật chính sách ảnh hưởng đến số đông cộng đồng xã hội thì quá trình đưa ra quyết định sẽ không đảm bảo được yếu tố cân bằng lợi ích cho cả nam giới và phụ nữ
Các phát hiện của Lori Beaman, L at all [145] gợi ý rằng tăng quyền năng chính trị cho phụ nữ có thể đem lại những lợi ích quan trọng cho trẻ em Việc đầu tư nhiều hơn vào nước uống sạch có thể dẫn tới những cải thiện lớn cho sức khỏe của trẻ
em bởi vì các bệnh từ nước và bệnh tiêu chảy (trong đó có bệnh tả) hàng năm giết chết hơn 1,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi Theo cuộc Khảo sát Sức khỏe Gia đình Toàn quốc lần thứ hai (1998), 58% trẻ em ở Ấn Độ (ở giai đoạn 12-23 tháng tuổi) không được miễn dịch hoàn toàn Trong hoàn cảnh đó điểm nổi bật mà tác giả phát hiện ra là chính sách của các nhà lãnh đạo nữ tăng khả năng trẻ em được miễn dịch hoàn toàn
Chattopadhyay, R and Duflo, E [132] nghiên cứu tác động của việc phụ
nữ lãnh đạo đối với các quyết định chính sách Nghiên cứu chỉ ra rằng việc đặt chỉ tiêu một ghế trong hội đồng tác động đến loại hình sản phẩm công được cung
Trang 3222
cấp Cụ thể, các nhà lãnh đạo đầu tư nhiều hơn cho hạ tầng liên quan trực tiếp đến nhu cầu của bản thân giới mình (phụ nữ đầu tư vào nước, nhiên liệu và đường xá, trong khi nam giới đầu tư hơn vào giáo dục)
1.2 Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ
1.2.1.1 Nghiên cứu về thực trạng tỷ lệ nữ tham gia hoạt động chính trị
Khi nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị các cấp, hầu hết các nghiên cứu đều quan tâm đến việc mô tả thống kê về tỷ lệ, số lượng CB nữ trong các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn khảo sát Các số liệu được đưa ra có thể là những số liệu thống kê chung, nhưng cũng có thể là những số liệu thống kê riêng cho từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương và từng nhiệm kỳ, từng giai đoạn, tùy thuộc vào phạm vi, mục tiêu nghiên cứu cụ thể của từng công trình [63], [72], [76], [77], [79], [80], [82], [83], [87], [88], [94], [98], [107], [114], [115]
Việc mô tả các số liệu thống kê trong các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học đã giúp cho độc giả có được cái nhìn đầy đủ hơn về thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ Các tác giả đã rất thống nhất với nhau khi chỉ ra rằng: tỷ lệ nữ tham gia cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp rất thấp, chưa tương xứng tới tiềm năng của lực lượng lao động nữ và chưa đảm bảo chỉ tiêu đặt ra trong các văn bản của Đảng và Nhà nước Trong những nhiệm kỳ gần đây, tỷ lệ
nữ đại biểu QH đang có xu hướng giảm, cho thấy tính không ổn định của tỷ lệ
nữ đại biểu QH và đi ngược lại so với xu hướng chung của thế giới [79] Tỷ lệ
nữ đại biểu HĐND các cấp tăng dần, nhưng mức tăng chậm trong những nhiệm
kỳ gần đây [66], [78], [80], [114] Hầu hết các tỉnh đều có hiện tượng cơ cấu nữ
“hình phễu”: tỷ lệ nữ giảm dần từ cấp tỉnh tới cấp huyện và thấp nhất là cấp xã [108] Tỷ lệ nữ tham gia HĐND, tham gia cấp ủy Đảng có sự khác biệt theo vùng miền, địa phương [66], [82]
Trang 33có năng lực, có những thế mạnh riêng, có khả năng hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao Đội ngũ CB nữ đã và đang có sự biến đổi về chất, số lượng và chất lượng CB nữ không ngừng phát triển, có đóng góp nhất định trong công tác lãnh đạo, quản lý đất nước [62], [63], [75], [107]
Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến những thế mạnh thuộc về phẩm chất cá nhân của phụ nữ như phẩm chất đạo đức tốt, lối sống giản dị, có tinh thần trách nhiệm cao, cần cù, chịu khó, không nề hà vất vả, nghiêm túc, chịu khó nghiên cứu, không la
cà, nhậu nhẹt, trung thực, thẳng thắn, khiêm tốn, biết lắng nghe, ứng xử hòa nhã, dân chủ trong lãnh đạo, quản lý, có khả năng thuyết phục, tác phong sâu sát, liêm khiết, tiết kiệm, ít tham nhũng, tạo được niềm tin với xã hội [47], [54], [61], [66], [94]
So sánh trong mối tương quan với đội ngũ CB nam, nhiều tác giả cùng có chung nhận định, CB nữ hiện nay ngày càng có đầy đủ năng lực, có khả năng sáng tạo, hiện đang có mặt trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội: trong hệ thống dân cử, trong các cấp ủy Đảng, trong hệ thống chính quyền, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và phụ nữ đã có đại diện ở vị trí lãnh đạo trong nhiều ngành, nhiều cấp [62], [63], [73] [107] Tác giả Trương Thị Minh Thông [103] khẳng định, dù trong lĩnh vực hoạt động nào, đội ngũ CB nữ cũng đều phát huy được năng lực, phần lớn chị em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần
to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế, xã hội của đất nước Phụ nữ ngày càng khẳng định vị thế của mình trong sự bình đẳng với nam giới [98]
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Phan Thanh Trâm và các cộng sự [107] còn nhấn mạnh: Qua thực tiễn, CB nữ đã chứng tỏ họ không thua kém nam
Trang 34Thông qua việc phân tích số liệu từ cuộc Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản năm 2006, tác giả Vũ Mạnh Lợi [82] phát hiện ra rằng, các
nữ Bí thư Đảng ủy xã có học vấn cao hơn các nam Bí thư Đảng ủy xã, để đạt được vị trí Bí thư Đảng ủy xã, phụ nữ phải có trình độ học vấn cao hơn để giành được sự tín nhiệm trong các đảng viên ở địa phương
1.2.1.3 Nghiên cứu về vị trí, chức danh của phụ nữ trong hệ thống chính trị
Một khía cạnh khác cũng được các tác giả quan tâm nghiên cứu đó là vị trí, chức danh thực tế của phụ nữ trong các cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, không chỉ có tỷ lệ tham gia thấp mà phụ
nữ cũng rất ít giữ các vị trí, chức danh chủ chốt trong các cấp ủy, các ban Đảng,
QH và HĐND các cấp và thường ở vị trí cấp phó Để đưa ra được các kết luận, nhận định về vấn đề này, các tác giả thường dựa trên các số liệu thống kê chung
về tình hình tỷ lệ nữ giữ các vị trí chủ chốt trong các cấp ủy Đảng, QH và HĐND các cấp [66], [79], [82], [86], [87], [98], [103], [104], [109], [114]
Theo Vương Thị Hanh [61], hầu hết phụ nữ trong thường vụ Đảng ủy các cấp đều phụ trách công tác dân vận hoặc kiểm tra Phụ nữ ít có thực quyền trong bộ máy lãnh đạo và quyền lực Quyền lực chính trị thường tập trung vào nam giới Trong bộ máy lãnh đạo Đảng, chính quyền và trong cơ quan dân cử, đa số phụ nữ chỉ ở vị trí lãnh đạo cấp phó, là cấp giúp việc cho thủ trưởng Tỷ lệ phụ nữ giữ vị trí quyết định cao nhất trong hệ thống Đảng, HĐND, UBND các cấp chỉ dưới 5% Vũ Mạnh Lợi [82] chỉ ra rằng tỷ lệ nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Đảng thấp hơn nhiều
so với tỷ lệ Đảng viên nữ nói chung Nguyễn Phương Thảo [98] cho rằng, phụ nữ
Trang 3525
tham gia vào các cơ quan dân cử ít hơn nhiều so với nam giới và số phụ nữ đảm nhận chức vụ cao trong các cơ quan này lại càng ít hơn, phụ nữ thường chỉ làm cấp phó, giúp việc cho cấp trưởng là nam giới Trương Thị Minh Thông [103] cũng khẳng định, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành từ TƯ đến cơ sở còn thấp Thậm chí ở nhiều cấp ủy, chính quyền, các cơ quan lãnh đạo, quản lý không có nữ tham gia Võ Thị Mai [86] cũng đồng tình với quan điểm trên khi cho rằng, ở những vị trí chủ chốt của cả 3 cấp (tỉnh/huyện/xã) như bí thư và phó bí thư thì tỉ lệ nữ đều thấp Trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Hạt [66] nhấn mạnh: Số lượng CB nữ tham gia Thường vụ cấp ủy, HĐND, UBND các cấp vừa thấp lại vừa thiếu tính bền vững, ổn định, chưa đảm bảo chỉ tiêu tỷ lệ
CB nữ của nhiệm kỳ sau cao hơn nhiệm kỳ trước Nhiều Ban Thường vụ cấp ủy các cấp chưa có sự tham gia của CB nữ, đặc biệt ở cấp tỉnh
Trong báo cáo năm 2016 của LHQ tại Việt Nam còn đưa ra nhận định: Tại Việt Nam, số phụ nữ nắm vị trí lãnh đạo đang giảm Tỷ lệ phụ nữ nắm giữ vị trí
bộ trưởng và tương đương đã giảm từ 12% trong giai đoạn 2007-2011 xuống còn 4,5% trong giai đoạn 2011-2016 Những vị trí cao trong lĩnh vực thực thi pháp luật như công an, kiểm sát và tóa án phần lớn vẫn do nam giới nắm giữ [79] Trong năm 2015, trong số 281 vị trí thứ trưởng và tương đương thì chỉ có 36 vị trí
do phụ nữ đảm nhận (11%) [80] Trong một báo cáo khác của LHQ cũng khẳng định, mặc dù có tỷ lệ đại diện tham gia hoạt động chính trị cao nhưng phụ nữ vẫn không xuất hiện nhiều ở vai trò lãnh đạo; tỷ lệ nữ công chức của Việt Nam cũng cao, nhưng chỉ có một tỷ lệ nhỏ phụ nữ nắm cương vị đưa ra quyết định [80]
1.2.1.4 Nghiên cứu về vai trò và đóng góp của phụ nữ khi tham gia chính trị
Một số tác giả còn quan tâm nghiên cứu về vai trò và những đóng góp thực tế của phụ nữ khi tham gia các cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp, tuy nhiên chủ đề này chưa được các tác giả tập trung, đầu tư nghiên cứu nhiều Trong Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯ của Ban Bí thư TƯ
Trang 36UNDP cũng cho rằng, mặc dù hiện chỉ có chưa tới 30% tổng số đại biểu
QH là nữ, song sự hiện diện, tiếng nói, ý kiến, quan điểm của họ đang ngày càng trở nên quan trọng Nữ đại biểu QH trình bày về các vấn đề của phụ nữ, đứng ra bênh vực và bảo vệ cho quyền lợi của phụ nữ nhiều hơn so với các đại biểu QH là nam giới Việc tăng cường sự hiện diện của phụ nữ trong các cơ quan dân cử sẽ góp phần cải thiện chất lượng quản trị nhà nước (dẫn lại từ UNDP, 2015 [114])
Tác giả Võ Thị Mai [88] có những nhận định trái chiều so với đánh giá của Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯ của Ban Bí thư TƯ Đảng khóa VII (2004) [47] và của Phan Trung Lý [70] về vai trò, đóng góp của
CB nữ: trong nhiều cơ quan như QH vai trò tư vấn và ra quyết định của nữ CB còn nhiều hạn chế và yếu kém
Có thể thấy, trong những năm qua nhiều tổ chức, cơ quan nghiên cứu và nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề phụ nữ tham gia các cấp ủy Đảng,
QH và HĐND các cấp Các công trình nghiên cứu, các bài viết về chủ đề này thường dựa trên những số liệu thống kê để đưa ra bức tranh chung về thực trạng tình hình tham gia cũng như thực trạng về vai trò của phụ nữ trong những cơ quan này, đồng thời một số tác giả còn dựa trên các kết quả khảo sát định lượng và định
Trang 3727
tính để khái quát nên những đặc điểm, phẩm chất, năng lực chung và những đóng góp thực tế của phụ nữ khi tham gia cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp Tuy nhiên, trong số các đầu tài liệu mà tác giả thu thập được, chỉ có rất ít các tài liệu quan tâm đến chủ đề về những đóng góp thực tế của phụ nữ khi tham gia cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp Ngoài một vài công trình, bài viết trích dẫn lại những nhận định, đánh giá trong Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯ của Ban Bí thư TƯ Đảng khóa VII (2004) ([66], [76]) thì chỉ có rất ít tác giả khác quan tâm đến chủ đề này, tuy nhiên những kết luận, nhận định của các tác giả dường như chưa có được sự thống nhất ([83], [88])
1.2.2 Nghiên cứu về những nhân tố tác động đến sự tham gia hoạt động chính trị của phụ nữ
Các nghiên cứu đã chỉ ra năm nhóm nhân tố chính có tác động đến tỷ lệ
nữ tham gia chính trị ở nước ta bao gồm: (1) Các nhân tố liên quan đến cơ chế, chính sách của Đảng và nhà nước; (2) Các nhân tố liên quan đến việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác CB của các cấp, các ngành; (3) Các nhân tố liên quan đến nhận thức giới, nhận thức về vai trò của phụ nữ của CB lãnh đạo các cấp và toàn xã hội; (4) Các nhân tố liên quan đến gia đình của CB nữ và (5) Các nhân tố
từ đặc điểm cá nhân người phụ nữ
1.2.2.1 Các nhân tố liên quan đến cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước
LHQ đánh giá Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc xây dựng khung chính sách và pháp luật cho công tác thúc đẩy BĐG và quyền của phụ nữ [80] Tuy nhiên, việc triển khai chính sách và pháp luật còn yếu do thiếu cơ chế trách nhiệm giải trình và thiếu nguồn nhân lực, năng lực kỹ thuật và ngân sách, cũng như nhận thức chưa đầy đủ về khái niệm BĐG thực chất của các nhà làm luật, chính sách và nhân viên chính phủ (Ủy ban CEDAW, CEDAW/C/VNM/CO/7-8.(2015), Nhận xét kết luận về báo cáo kết hợp báo cáo định kỳ lần thứ 7 và 8 của Việt Nam, ngày 6-24/7/2015, trích lại từ báo cáo của LHQ [80]) LHQ cũng cho rằng khung pháp lý hiện hành của Việt Nam không
Trang 38Trong một số công trình nghiên cứu khác, các tác giả đã dành thời gian để
rà soát lại các văn bản chính sách, chỉ thị, nghị quyết, các quy định của luật pháp của Đảng và nhà nước về những vấn đề có liên quan đến công tác CB nữ nói chung và trực tiếp là những quy định về tăng tỷ lệ nữ tham gia các cấp Ủy Đảng,
QH và HĐND các cấp Tùy theo mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, có những tác giả tiến hành rà soát các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước kể từ những năm 1930 – khi ĐCS Việt Nam mới bắt đầu được thành lập [66], [107], nhưng cũng có những tác giả chỉ đi sâu rà soát các văn bản, quy định trong những giai đoạn nhất định [45], [88], [89]
Tác giả Phạm Thu Hiền [67] lại đi sâu phân tích yếu tố Giới trong các quy định về hoạt động của HĐND Trong một nghiên cứu khác của Hội LHPN Việt Nam [46] đã chuyên khảo về các quy định có liên quan đến công tác bầu cử QH
và HĐND các cấp Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Việt Nam là nước có môi trường pháp lý thuận lợi, ủng hộ phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị của đất nước, Việt Nam là nước làm tốt công tác CB nữ, thể hiện không chỉ trên nhận thức mà bằng những hành động cụ thể trong khuôn khổ pháp lý và công tác xã hội hóa… [62], [66] So với nhiều nước thì có vẻ điều này đúng, tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại những chính sách, những quy định cản trở phụ nữ vươn lên địa vị quản lý cấp cao Nổi bật nhất là chính sách phụ nữ về hưu trước nam giới 5 tuổi Điều này khiến cho con đường sự nghiệp của phụ nữ bị nén lại, ngắn hơn nam giới 5 năm [114]
Trang 3929
Bên cạnh việc rà soát các văn bản về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước, một số tác giả còn đi sâu phân tích, đánh giá về tính hiệu quả của việc thực thi các quy định này trong thực tế Một nhận định chung được phần lớn các nhà nghiên cứu đồng tình đó là: mặc dù quan điểm, chủ trương, chính sách và quy định của pháp luật đã thể hiện rõ quan điểm giới, ủng hộ và tạo điều kiện cho đội ngũ CB nữ tham gia hoạt động chính trị, tuy nhiên trên thực tế, các văn bản chưa đưa ra được những quy định cụ thể về tỷ lệ nữ, chưa có được cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện, chưa có các biện pháp cụ thể phù hợp với thực tiễn… nên hiệu quả thực thi trên thực tế chưa cao và tỷ lệ nữ trong các cấp ủy Đảng, QH và HĐND các cấp chưa đảm bảo, chưa tương xứng với tiềm năng của lực lượng lao động nữ nói chung [46], [67], [107], [109]
Theo Phạm Thu Hiền [67]: mặc dù nguyên tắc bình đẳng nam nữ đã được khẳng định trong hệ thống pháp luật về hoạt động của HĐND, nhưng nguyên tắc này lại chưa được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật, dẫn đến những bất lợi cho phụ nữ trên thực tế Các quy định trong văn bản dưới luật còn thiếu cụ thể về giới, như thiếu hướng dẫn về tỷ lệ nữ tham gia ứng cử, tham gia hoạt động HĐND… Nghiên cứu của Hội LHPN Việt Nam [46] chỉ ra rằng: hầu hết các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về bầu cử và HĐND các cấp đều có yêu cầu lồng ghép giới, thể hiện thông qua việc đảm bảo thích hợp tỷ lệ nữ tham gia đại biểu QH và HĐND các cấp, tuy nhiên chưa quy định tỷ lệ một cách cụ thể, hoặc chưa có những biện pháp để bảo đảm việc thực thi trên thực tế Nghiên cứu này đã tập trung phân tích và chỉ ra những khoảng trống trong các văn bản quy định của Đảng và nhà nước và từ đó đưa ra những khuyến nghị sửa đổi một cách cụ thể
1.2.2.2 Các nhân tố liên quan đến việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác cán bộ của các cấp, các ngành
Một nhân tố khác tác động đến tỷ lệ nữ tham gia các cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp được nhiều tác giả đề cập đến đó là vấn đề chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác CB của các cấp, các ngành Theo ý kiến của nhiều tác giả, nhiều cấp,
Trang 4030
nhiều ngành còn chưa đảm bảo tính nhạy cảm giới trong việc thực hiện tất cả các khâu liên quan đến công tác CB, từ quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, đánh giá CB… và điều này có ảnh hưởng đến việc tạo nguồn cho các cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp [46], [58], [76], [77], [88], [89], [107], [109] Các chủ trương, chính sách chung về CB nữ đã và đang thực hiện ở những mức độ nhất định, song trên thực tế, hiệu quả thực hiện chính sách chưa cao [123], thiếu
sự quyết tâm và cam kết trách nhiệm của thủ trưởng các cấp, các ngành [62] Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, thậm chí công tác CB nữ của Đảng và nhà nước còn chưa thể hiện được tính chiến lược, thiếu tính đồng bộ, nhiều văn bản còn mang tính chung chung, cào bằng, chưa có những quy định đặc thù, thiếu nhạy cảm giới, thiếu tính đột phá, khả thi [45], [86], [107]
Báo cáo của LHQ trích lại kết quả nghiên cứu của UNDP cho rằng, rào cản đối với sự thăng tiến của phụ nữ bao gồm: thiếu sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách cấp cao - là người bổ nhiệm, thực hiện đánh giá hiệu quả làm việc của công chức và đưa ra các quyết định khác liên quan đến thăng tiến tại nơi làm việc; phụ nữ ít có các cơ hội thuyên chuyển nghề nghiệp và đào tạo hơn [80]
Các tác giả Trần Thị Vân Anh [42], Võ Thị Mai [88], Nguyễn Hữu Minh
và Trần Thị Vân Anh [89] đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người đứng đầu cơ quan hoặc những người có trách nhiệm trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác CB nữ Theo các tác giả, người lãnh đạo có tâm, thực sự chăm lo đối với công tác CB nữ, nếu có cách nhìn vượt ra khỏi khuôn mẫu cũ, đánh giá đúng năng lực đội ngũ CB nữ, thì sẽ tìm được nguồn và xây dựng được đội ngũ CB nữ
có chất lượng Tuy nhiên, trên thực tế nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền chưa thực
sự quan tâm đến CB nữ, chưa hiểu hết những khó khăn riêng của phụ nữ nên chưa tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi, một số nơi còn hẹp hòi, khắt khe trong việc đánh giá, bố trí, sử dụng CB nữ [46], [74], [58], [103]
Tác giả Thanh Xuân [123], đã chỉ ra hàng loạt những nguyên nhân có liên quan đến việc thực hiện công tác CB của các cấp các ngành dẫn đến tình trạng tỷ