1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ việt nam hiện đại tt

27 79 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 201 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Ở phương Tây cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX hình thànhchủ nghĩa tượng trưng và siêu thực với hệ thống quan niệm và nhữngnguyên tắc sáng tạo mang tầm ảnh hưởng l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở phương Tây cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX hình thànhchủ nghĩa tượng trưng và siêu thực với hệ thống quan niệm và nhữngnguyên tắc sáng tạo mang tầm ảnh hưởng lớn lao, thúc đẩy thơ caphát triển Trong tầm ảnh hưởng của quy luật giao lưu, tiếp nhận cáctrường phái, trào lưu văn học, có thể khẳng định thơ hiện đại ViệtNam có dấu ấn của chủ nghĩa này Từ sau năm 1936 với phong tràoThơ mới, bắt đầu là khuynh hướng tượng trưng sau đó là siêu thực dunhập vào nước ta và từ đó vận động, trải qua nhiều thăng trầm cùngdòng chảy văn học dân tộc Có thể nói trong một bối cảnh rộng mở,cùng với tiền đề là chủ nghĩa hiện đại đang có sự bứt phá, thậm chí là

có tính toàn cầu hóa thì khuynh hướng tượng trưng, siêu thực đã inđậm dấu ấn trong bút pháp, tư tưởng, nguyên tắc sáng tạo của nhiềutác giả.Bởi vậy đứng trước những vấn đề khoa học hấp dẫn đó chúngtôi tập trung vào “Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêuthực trong thơ Việt Nam hiện đại” làm đề tài luận án Đây là đề tài có

ý nghĩa thiết thực đối với nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Namtrong bối cảnh hiện nay

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Những ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu

thực Việt Nam thông qua những biểu hiện cụ thể đến thơ hiện đạiViệt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Thơ Việt Nam hiện đại (từ 1932 đếnnay) và chỉ nghiên cứu những tác giả tiêu biểu, có tính đại diện cao

3 Mục đích nghiên cứu

Luận án làm rõ những biểu hiện đặc trưng cho thấy ảnhhưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đối với thơ Việt Namhiện đại để làm rõ vai trò, đóng góp và hạn chế của khuynh hướng

Trang 4

này trong thơ Việt Nam hiện đại, so sánh mức độ ảnh hưởng giữa cácgiai đoạn, đồng thời khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu, tìmhiểu những ảnh hưởng của khuynh hướng tượng trưng, siêu thực đếnthơ hiện đại Việt Nam trong nghiên cứu và giảng dạy văn học ViệtNam hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chính được sử dụng trong luận án: Phươngpháp lịch sử; phương pháp nghiên cứu tâm lí học sáng tạo; phươngpháp so sánh; phương pháp loại hình; phương pháp nghiên cứutrường hợp (case study); phương pháp nghiên cứu liên văn bản

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án có những đóng góp mới sau: Nghiên cứu và chỉ ranhững biểu hiện cho thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêuthực đến thơ Việt Nam hiện đại qua các giai đoạn: 1932 – 1945, gópphần làm rõ diện mạo thơ Việt Nam trong tiến trình văn học nướcnhà, khẳng định vị thế của văn học Việt Nam trong dòng chảy vănhọc thế giới; ứng dụng lý thuyết về tượng trưng siêu thực, loại hình học,

lý thuyết nghiên cứu trường hợp để tìm hiểu những hiện tượng điểnhình

6 Cấu trúc luận án

Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Sự tiếp nhận chủ nghĩa tượng trưng, siêu thựctrong phong trào Thơ mới (1932 – 1945)

Chương 3 Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêuthực trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975

Chương 4 Những dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng, siêuthực trong thơ Việt Nam sau 1975

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thuyết về chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực

1.1.1 Chủ nghĩa tượng trưng

Luận giải về chủ nghĩa tượng trưng, các nhà nghiên cứu cónhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, dù xuất phát từ cách tiếp cậnnào thì những nội dung chính được các nhà nghiên cứu quan tâm đếncũng tập trung vào khái niệm “tượng trưng”, sự ra đời của chủ nghĩatượng trưng và cơ sở triết học của chủ nghĩa tượng trưng Trong luận ánnày, tượng trưng được hiểu với nội hàm là một phương diện đặc thùcủa sáng tạo nghệ thuật, nó trở thành phương thức khái quát đờisống, nghiêng về tính chất ổn định và đa nghĩa Quan niệm thẩm mỹcủa chủ nghĩa tượng trưng dựa trên tư tưởng triết mỹ của EmmanuelKant, Athur Schopenhauer, thuyết thần cảm của Đức, quan niệm

“nghệ thuật vị nghệ thuật” của Théophile Gautier và phái “thuần vănhọc” của Edgar Allan Poe Tác giả Jean Moréas đưa ra bảy nguyêntắc hoạt động của thơ tượng trưng là: biểu trưng cho sự vật tự nó vàcác ý niệm nằm ngoài giới hạn của sự tri giác cảm tính; vươn tới bảnchất lý tưởng siêu thời gian của thế giới, cái vẻ đẹp siêu nghiệm; bác

bỏ lý tưởng thẩm mỹ: nghệ thuật vị nghệ thuật; phản ứng lại phái ThiSơn

1.1.2.Chủ nghĩa siêu thực

Đây là một trào lưu văn học xuất hiện vào những năm 20 của thế

kỷ XX tại Pháp Năm 1924, André Breton công bố Tuyên ngôn chủ nghĩa

siêu thực, khẳng định cơ sở phương pháp sáng tạo của chủ nghĩa siêu thực

là sự tác động thuần túy nhằm mục đích thể hiện bằng lời nói, hoặc chữviết, hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào khác hoạt động hiện thực của tưtưởng Các tư tưởng được tự do bộc lộ, không phải chịu kỳ một sự kiểmsoát nào của lý trí hay của những thành kiến đạo đức và thẩm mỹ”

Trang 6

1.2.3 Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đối với thơ Việt Nam qua các giai đoạn từ góc nhìn so sánh

Các bài nghiên cứu trong hướng này thường phân chia thơViệt Nam thành các giai đoạn và nghiên cứu ảnh hưởng của tượngtrưng, siêu thực với từng giai đoạn Theo đó, ba giai đoạn được xácđịnh phổ biến nhất là: Thơ mới (1932-1945), giai đoạn 1945 -1975 vàgiai đoạn sau 1975 Trong khi đánh giá về ảnh hưởng của thi pháinày các công trình nghiên cứu không đi theo một hướng thuần nhấtnhất định mà có nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí ngược chiều

1.2.4 Nghiên cứu về tượng trưng, siêu thực ảnh hưởng đến quá trình sáng tác của một số tác giả thơ hiện đại tiêu biểu

Các tác giả tiêu biểu được đề cập đến trong ảnh hưởng củatượng trưng siêu thực chủ yếu là các tác giả trong phong trào thơ mớinhư: Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, XuânDiệu, giai đoạn sau là Hoàng Cầm, Vi Thùy Linh, Mai Văn Phấn…

* Tóm lại qua tổng quan vấn đề nghiên cứu, chúng tôi nhậnthấy rằng, ở mức độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đều đồng thuậnrằng tuy ở Việt Nam không có chủ nghĩa siêu thực, tượng trưngnhưng những ảnh hưởng của siêu thực, tượng trưng đến các nhà thơViệt Nam là không thể phủ nhận

Trang 7

CHƯƠNG 2 SỰ TIẾP NHẬN CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG,

SIÊU THỰC TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI 2.1 Phong trào Thơ mới trong hành trình phát triển tư duy nghệ thuật

Thơ mới khởi phát từ những phản ứng với thơ cũ đã lạc điệuvào đầu thế kỷ XX, sau đó đậm đặc khuynh hướng lãng mạn, khaiphá địa hạt tượng trưng và manh nha yếu tố siêu thực Ở Việt Nam,bằng sự nhạy cảm trước thực tiễn xã hội, thế giới quan của họ cũngxuất hiện tâm lí phản ứng với môi trường xã hội, dễ sa vào thoát lyhiện thực Mặt khác, chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực đi sâu vàokhám phá tiềm thức, vô thức, đối lập với sự kể lể, giãi bày và chánghét lối sống tầm thường, toan tính, nhỏ nhen, vì thế những yếu tốnày cũng nhanh chóng được tiếp thu trong phong trào Thơ mới Cóthể nói rằng các thi sĩ Thơ mới đã gặp gỡ tư tưởng phản lí trí củaphương Tây, có xu hướng khai thác vùng thẩm mĩ tâm linh sâu thẳmcủa con người, thức dậy những năng lực tiềm ẩn trong cảm thụ vềvạn vật và con người Điều đáng nói ở đây là việc tiếp nhận nhữngđặc trưng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực phương Tây của cáctác giả Thơ mới không mang tính chất cứng nhắc một chiều mà nóhoàn toàn tự nhiên, vừa xuất phát từ nhu cầu cách tân thơ Việt vừachạm vào những yếu tố tiềm ẩn, nôi sinh sẵn có trong tinh thầnphương Đông

2.2 Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới

2.2.1 Sự tương hợp, tương giao trong cảm nhận về thế giới

Các nhà thơ của phong trào Thơ mới thể hiện sự tương giaogiữa các giác quan và hướng tới khả năng tương hợp giữa các đốitượng của chúng như: âm thanh, màu sắc, hương thơm, ánh sáng hòahợp trong một thực thể Cũng nhờ đó đối tượng phản ánh hiện lên

Trang 8

nhiều chiều, đa sắc thái và quá trình tri giác nghệ thuật trở nên hấpdẫn Thực sự chủ nghĩa tượng trưng với chủ thuyết tương giao không

hề mơ hồ, thiếu căn cứ hay chỉ là những cố gắng tâm linh mà nó thực

sự là một thực tiễn khoa học hỗ trợ con người khắc phục được sự đơnđiệu và phiến diện trong việc nhìn nhận, khám phá đời sống

2.2.2.Sử dụng biểu tượng trong Thơ mới

Biểu tượng nghệ thuật có thế mạnh ở sức gợi liên tưởng sâu xađồng thời khơi dậy nên những cái mơ hồ trừu tượng hay nói đúng hơn

nó hiện hữu tính đa trị, đa nghĩa, mang đến khả năng biểu đạt nhữngliên hệ trong chiều sâu đối tượng mà sự tả thực thuần túy không thựchiện được.Trong Thơ mới đậm đặc những biểu tượng thiên nhiên.Thiên nhiên, vũ trụ, thế giới là cõi rộng lớn vô biên và trường cửunhưng cũng chính là khách thể gần gũi luôn bao bọc, che chở cho conngười nương náu Biểu tượng thiên nhiên được đúc kết sớm nhấttrong nhận thức của nhân loại, tuy nhiên với mỗi thời đại, mỗi dântộc, trong những môi trường văn hóa vận động, phát triển khác nhaunhững biểu tượng ấy lại có sự thay đổi, biến thể phù hợp Để hìnhdung về thế giới, con người tìm ra mối tương thông giữa ba tầng bậckhông gian là cõi thượng giới (thiên đàng), cõi trần gian và địa phủ(địa ngục) Sáng tạo nghệ thuật hay phạm vi khuôn hẹp hơn là sángtác thơ ca hay bất cứ một loại hình nào, cũng phải hướng tới vấn đềminh định về con người Sự khác biệt và giá trị của thơ tượng trưng

là ở khía cạnh khám phá và trình hiện con người với tinh chất nguyên

sơ, bản năng, không bị kiềm tỏa hay uốn nắn bởi luân lý, đạo đức

2.2.3 Nhạc tính trong Thơ mới

Trên cơ sở nối tiếp truyền thống “thi trung hữu nhạc” củaphương Đông và tận dụng lợi thế của tiếng Việt là thứ ngôn ngữ giàuthanh điệu, cùng với việc tiếp nhận quan niệm thẩm mĩ của thi pháitượng trưng Pháp, các thi sĩ Thơ mới đã thực sự phổ vào thơ những

Trang 9

cung đàn mới mẻ, hiện đại Âm nhạc của thơ tượng trưng không cứngnhắc, vô hồn, “trống rỗng” mà luônlinh động, tiềm ẩn khả năng khơigợi, tạo sinh nghĩa Nó góp phần khải thị thế giới bí ẩn, thống nhất,tương giao và thể hiện những rung động sâu thẳm trong hồn người

2.3 Những biểu hiện của chủ nghĩa siêu thực trong Thơ mới

Về thực tiễn sáng tạo của các nhà thơ đã chứng minh rằng ởgiai đoạn này siêu thực và thậm chí cả tượng trưng cũng không tồntại như một chủ nghĩa, trào lưu rộng lớn mà chỉ có dấu ấn của khuynhhướng sáng tác tượng trưng, siêu thực mà thôi Các nhà thơ củatrường thơ Loạn như Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê và saunày nhóm Dạ Đài với tên tuổi Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ HoàngChương, Vũ Hoàng Địch, Đinh Hùng; Xuân Thu Nhã Tập có ĐoànPhú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh đây đó trong sáng tác của họ thấp thoángsắc thái siêu thực Điển hình nhất cho cách khai thác yếu tố siêu thực

có lẽ là trường hợp Hàn Mặc Tử

2.3.1 Khám phá hiện thực tuyệt đối bằng giấc mơ

Giấc mơ là một trong những miền đến mong ước mà các tácgiả siêu thực hướng đến Hiện thực hiện hữu trong thế giới của cácnhà thơ chỉ là hiện thực khiếm khuyết, là hiện thực mà họ muốn chối

bỏ để đi tìm một hiện thực khác toàn bích hơn Giấc mơ trong sángtác của các tác giả Thơ mới có dấu ấn siêu thực là một thế giới thựctại của chiêm bao Nó không phải sản phẩm của trí tưởng tượng mà làsản phẩm của hoạt động vô thức, tiếng nói của những ẩn ức, ám ảnhvốn bị đè nén bên trong mà chưa có dịp để bùng phát Nó không đốilập với thực tại mà chính là thực tại ở chiều sâu và xa hơn.Nó là mộtthế giới đa diện trùng phức chứ không phải thế giới phẳng như thơlãng mạn gợi ra Điều đặc biệt là, trong thế giới mộng mị ấy, nhân vậttrữ tình hay “tôi” cũng ở trong trạng thái vô thức, mê sảng Dườngnhư sự nguyên phiến bị phá vỡ thành những thực thể li hợp bất định

Trang 10

Khoảnh khắc làm thơ các nhà thơ là người của cõi mộng - là mộtthực thực khác hội tụ của những khao khát lớn lao nhất – là conngười thực theo đúng nguyện vọng của họ Nó là sự nhập thân tuyệtđối của nhà thơ vào cõi mộng mị Trạng thái ấy được Đinh Hùng,Chế Lan Viên và đặc biệt là Hàn Mặc Tử nói đến nhiều trong sángtác

2.3.2 Khám phá siêu thực bằng trực giác

Các nhà thơ đề cao trực giác và cho rằng thi sĩ hòa nhập tuyệtđối, trở thành những siêu nhân của cuộc đời như: khách lạ, người mơ,người say, người điên Họ tiềm ẩn những năng lượng bất thường vàbáo hiệu những bùng nổ phá cách trong thơ, sáng tạo trong trạng tháiđiên loạn như những kẻ lên đồng, nhập thần Nó là những trạng

thái “điên”, “mơ”, “say” được đẩy đến tột cùng – sáng tạo nằm

ngoài hành lang kiểm duyệt của ý thức Từ 1936 đến 1945, Thơ mới

đã hình thành những quan niệm thực sự đứt gãy so với thơ lãng mạn giaiđoạn trước, thể hiện trong quan niệm của Trường thơ Loạn, nhóm XuânThu Nhã Tập, nhóm Dạ Đài Có thể tìm thấy những điểm gần gũi với tưduy và phương pháp sáng tác thơ siêu thực trong các bài thơ văn xuôi

của Hàn Mặc Tử (Quan niệm thơ, Chơi giữa mùa trăng, Chiêm bao và

sự thật,…), tựa tập Thơ điên và tựa tập Điêu tàn do chính hai tác giả

Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên tự viết, tuyên ngôn Thơ của Xuân Thu Nhã Tập và Tuyên ngôn tượng trưng của Dạ Đài

2.3.3 Phương thức tạo hình độc đáo của các nhà thơ siêu thực

Có nhiều phương thức được các nhà thơ mới dùng để tạohình: sử dụng những nét chấm phá, tạo hình thiên về cảm xúc…Trong đó, cách thức tạo hình phổ biến nhất là đặt những hình ảnh vốn

rất xa nhau lại cạnh nhau để tạo nên những “va đập chói lòa của

hình ảnh” Những va đập này sẽ giúp nhà thơ bổ sung hoặc sáng tạo

ra những lớp ngữ nghĩa mới cho hình ảnh Ta thấy sự kết hợp hình

Trang 11

ảnh theo lối siêu thực trên nhiều cấp độ, không dễ cảm nhận, chẳng

hạn cách tạo tác “nhạc trầm mi”, “hồn xanh ngát”, “trái xuân sa”,

“vai suối tươi”, “ngàn mày tràng giang”, “vây tóc mưa” … trong

thơ Nguyễn Xuân Sanh Xuân Thu Nhã Tập đã chớm chạm

đến “ngôi đền” siêu thực bằng cách cắt dán lắp ghép để tạo nên

những hình ảnh lạ lẫm

* Mức độ ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thựcgiai đoạn này tuy chưa mạnh mẽ nhưng lại có ý nghĩa quyết định đốivới sự lên ngôi của khuynh hướng này trong thơ ca hiện đại ViệtNam những giai đoạn tiếp theo Nó khẳng định sự bứt phá mạnh mẽcủa các nhà thơ để thoát ly khỏi những khuôn mẫu, quy ước, ước lệtrong thơ ca giai đoạn trước Điều đó lý giải vì sao nhắc đến tượngtrưng, siêu thực trong văn học Việt Nam, Thơ mới luôn luôn được đặt

ở vị trí ưu tiên và được quan tâm nhiều nhất

Trang 12

CHƯƠNG 3 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

1945 – 1975

Giai đoạn 1945-1975 là giai đoạn hoàng kim của thơ cakháng chiến Thơ ca tượng trưng, siêu thực trong giai đoạn này chỉtồn tại một cách âm thầm và mạnh mẽ trong sáng tác của một số nhàthơ do hoàn cảnh lịch sử.Trong bối cảnh đó, chúng tôi tìm đến ảnhhưởng của những tác giả điển hình trong thơ ca Việt Nam cho tượngtrưng, siêu thực

3.1 Bối cảnh thơ khu vực miền Bắc giai đoạn 1945 - 1975

Thực sự giai đoạn này không có tác giả nào rẽ vào địa hạttượng trưng, siêu thực nhưng xét ở phương diện ảnh hưởng một cách

tự nhiên yếu tố này không mất đi hoàn toàn mà vẫn âm thầm tồn tạitrong một số sáng tác, trong đó chúng tôi nhận thấy rõ nhất đối vớicác trường hợp tác giả Trần Dần và Hoàng Cầm Hai tác giả trêncũng là những nghệ sĩ tiên phong của thơ kháng chiến, nhưng trongsáng tác của họ đã xuất hiện những biểu hiện tượng trưng, siêu thực

vì nhiều lí do khác nhau

3.2 Những biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng, siêu thực trong thơ Trần Dần

3.2.1 Ngôn từ thơ giàu sức gợi cảm và nhạc tính

Tác giả đưa ngôn từ vượt thoát ra khỏi chức năng giao tiếpthông thường, triệt tiêu dần ý nghĩa tiêu dùng đưa ngôn ngữ trở vềvới chính bản thể thuần khiết của nó Chữ trở thành trung tâm phátsinh nghĩa trong mối liên hệ tuyến tính với các đơn vị ngôn từ lâncận Thơ Trần Dần, ngay từ buổi đầu đã lựa chọn con đường độc đáo,nhà thơ ứng xử với chữ thật khác lạ, muốn khám phá và đào sâu đếntận cùng năng lực của nó, đưa chữ bứt phá lên khỏi những quy chuẩnthông thường Chữ cựa quậy như một sinh thể đang phập phồng

Trang 13

sống, mà trạng thái sống nào cũng bạo liệt, khắc khoải ít xuất hiện sựbằng phẳng, nhàn nhạt.Với quan điểm thực hành âm thanh trên ngôn

từ, thơ Trần Dần không chỉ ấn tượng bởi tính chất thị giác mà cònmang tiết tấu mới lạ, giao hòa giữa âm và nghĩa, bám sát vần điệu dồidào của tiếng Việt, đưa yếu tố láy mô phỏng nhiều âm thanh nghe rất

lạ tai

3.2.2 Thơ Trần Dần sử dụng biểu tượng đầy ám ảnh

Thơ Trần Dần hay xuất hiện những hình ảnh mang tính chấtliên thông, kết chuỗi tạo nên nhiều ám gợi thân phận, mật độ dàynhất có lẽ là biểu tượng không gian.Biểu tượng phố bộc lộ rõ nhất cáitôi của Trần Dần, nó không bao giờ tĩnh tại mà luôn vận động trongtrạng thái chất vấn, hoài nghi, đối thoại với chính mình và với cuộcđời

3.3 Những biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng, siêu thực trong thơ Hoàng Cầm

3.3.1 Lối viết tự động

Lối viết tự động (automatic writing) là khái niệm quan trọngcủa chủ nghĩa siêu thực Mục đích của nó là giải thoát khỏi sự ràngbuộc của ý thức, khai phá nguồn vô thức phi logic, đầy tính trực giác,chủ nghĩa siêu thực đề xướng tư tưởng mĩ học phản lí tính, phản đốiquyết liệt chủ nghĩa hiện thực.Cốt lõi của phương pháp sáng tác tựđộng trong thơ Hoàng Cầm là nhà thơ ghi lại lập tức từ ngữ, hìnhảnh, dòng ý tưởng chợt xuất hiện trong đầu, tác phẩm nhiều khi đượcsáng tạo trong trạng thái nửa thức nửa tỉnh, thậm chí như “nhậpđồng”, người viết bị ngòi bút thôi miên không thể kiểm soát Có đượcđiều ấy là do kết quả của vô thức, kiểu ghi chép này đưa thơ trở vềbản thể nguyên sơ, thuần khiết nhất, bởi thế ranh giới hay – khônghay trong nghệ thuật bị xóa nhòa mà chỉ còn duy nhất sự chân thật.Đặc điểm này phù hợp với tư duy nghệ thuật thơ Hoàng Cầm, ông

Ngày đăng: 29/05/2021, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w