TCCSĐ, trong đó Luận án chỉ tập trung nghiên cứu loại hình TCCSĐ ở xã,phường, thị trấn, trên các nội dung: Công tác giáo dục chính trị tư tưởng;xây dựng về tổ chức; xây dựng đội ngũ cán
Trang 1trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, kết quả nêu trong luận
án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thế Thái
Trang 2công bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết 25
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
NGHỆ AN VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở
2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về
xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn (2005 - 2010) 31 2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng tổ chức cơ
sở đảng ở xã, phường, thị trấn (2005 - 2010) 452.3 Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở
xã, phường, thị trấn (2005 - 2010) 52
Chương 3 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN VỀ XÂY
DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ
3.1 Những yếu tố mới tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Nghệ An về xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị
3.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng tổ chức cơ
sở đảng ở xã, phường, thị trấn (2010 - 2015) 90 3.3 Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở
xã, phường, thị trấn (2010 - 2015) 98
4.1 Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng
tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn (2005 - 2015) 124 4.2 Một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo
xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn (2005 - 2015) 144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Biểu đồ 4.1: So sánh chất lượng cán bộ xã, phường, thị trấn của
Đảng bộ tỉnh Nghệ An năm 2005 với năm 2015 133Bảng 4.1: Chất lượng đảng viên mới kết nạp ở xã, phường, thị
Biểu đồ 4.2 Kết quả phân loại đảng viên ở xã, phường, thị trấn của
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, dù ở giai đoạn nào của cách mạngViệt Nam do Đảng lãnh đạo, các TCCSĐ luôn là gốc rễ, là nền tảng củaĐảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở, bảo đảm cho đường lối của Đảng
đi vào cuộc sống, đồng thời là cấp trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựngnội bộ Đảng Vì vậy, xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn là nhiệm vụ đặcbiệt quan trọng,là công tác xây dựng nền tảng của Đảng, xây dựng “hạt nhânchính trị”, bảo đảm sự tồn tại, phát triển và giữ vững vai trò lãnh đạo trực tiếptoàn diện của Đảng ở cơ sở Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) của Đảng khẳngđịnh: “Toàn Ðảng phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để nâng cao năng lực lãnhđạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; bảo đảm sự lãnh đạo của Ðảng trêntất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội ở cơ sở, nhất là ở những địabàn, lĩnh vực trọng yếu, có nhiều khó khăn” [67, tr.94-95]
Từ khi thành lập, Đảng bộ tỉnh Nghệ An luôn quan tâm, chăm lo xâydựng Đảng ở các cấp, nhất là TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn TSVM về chínhtrị, tư tưởng và tổ chức, có đủ năng lực và trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụcách mạng, lãnh đạo Nhân dân trong tỉnh thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm
vụ chính trị, góp phần vào thắng lợi chung của toàn Đảng và toàn dân tộc Tuynhiên, bước vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới đất nước đến trước năm
2005, với đặc điểm của một tỉnh nông nghiệp, ít giao thương, công nghiệp,thương mại chậm phát triển, nên cách nghĩ, cách làm còn nhiều hạn chế, tưtưởng bảo thủ, khép kín, ngại đổi mới, nguyên tắc, máy móc, chủ quan, duy ýchí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Cùng với đó, tình hình thế giới cónhiều biến động phức tạp, khó lường đã tác động tiêu cực tới hoạt động của tổchức đảng Chất lượng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn nhiều nơi suy giảm, hoạtđộng mang tính hình thức, không giữ được vai trò hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở;một bộ phận đảng viên có tư tưởng chán nản, thậm chí tiêu cực, bỏ sinh hoạt
Trang 7đảng Tình hình đó đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Nghệ An nhiệm vụ có tính then chốt
là phải đầu tư trí tuệ, thời gian và công sức chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng,trong đó xây dựng, củng cố TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn thực sự TSVM lànhiệm vụ quan trọng, cấp bách
Trước yêu cầu cấp bách đó, quán triệt chủ trương, sự chỉ đạo của Trungương giai đoạn 2005 - 2015, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã tập trung công sức lãnhđạo, chỉ đạo, thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp nhằm đổi mới, chỉnh đốn,nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn và
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy còn những hạn chế, thiếu sót, songnhững thành tựu đạt được của Đảng bộ trong công tác này là một trong nhữngnhân tố giữ vai trò quyết định đưa tỉnh Nghệ An từng bước thoát nghèo đói,hướng tới một tỉnh khá trong khu vực cũng như cả nước
Hiện nay, Đảng bộ tỉnh Nghệ An cùng với toàn Đảng đang quyết liệttriển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghịquyết Hội nghị Trung ương bốn khóa XI và Nghị quyết Hội nghị Trung ươngbốn khóa XII, gắn với “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,phong cách Hồ Chí Minh” Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác xâydựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, trong
đó có những hạn chế, yếu kém gây bức xúc, làm suy giảm lòng tin của Nhândân đối với Đảng Vì vậy, nghiên cứu công tác xây dựng TCCSĐ ở xã,phường, thị trấn nhằm làm sáng tỏ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnhNghệ An, từ đó đúc kết những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, góp phần
bổ sung chủ trương, giải pháp nhằm xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấnTSVM đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Đến nay, đã có những công trình khoa học nghiên cứu công tác xây dựngTCCSĐ nói chung, TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn nói riêng trên phạm vi cả nước và
ở một số đảng bộ địa phương, dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, dưới góc độkhoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam thì chưa có công
Trang 8trình nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống, chuyên sâu về sự lãnh đạo xây dựngTCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2005 - 2015.
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015” làm luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng TCCSĐ
ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015, trên cơ sở đó đúc kết một sốkinh nghiệm có giá trị tham khảo, vận dụng vào giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ
An về xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015
Hệ thống, phân tích, luận giải làm rõ chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ
An về xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015
Làm rõ quá trình chỉ đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn củaĐảng bộ tỉnh Nghệ An từ năm 2005 đến năm 2015
Nhận xét, đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộtỉnh Nghệ An về xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm
2015
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng TCCSĐ ở
xã, phường, thị trấn
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng
Trang 9TCCSĐ, trong đó Luận án chỉ tập trung nghiên cứu loại hình TCCSĐ ở xã,phường, thị trấn, trên các nội dung: Công tác giáo dục chính trị tư tưởng;xây dựng về tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ cấp ủy, đảng viên; đổi mớiphương thức lãnh đạo của cấp Đảng ở cơ sở; công tác kiểm tra, giám sát,thi hành kỷ luật Đảng
Về không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An
Về thời gian: Tập trung trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm
2015 Nghiên cứu sinh chọn mốc thời gian 2005 và 2015 vì: Năm 2005 lànăm diễn ra Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVI, năm 2015 là năm kếtthúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XII Chọn mốc thờigian như vậy sẽ thể hiện rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xâydựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn qua hai kỳ đại hội Đảng bộ Tuy nhiên,
để vấn đề nghiên cứu có tính hệ thống, luận án có đề cập một số vấn đề liênquan đến xây dựng TCCSĐ trước và sau mốc thời gian trên
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
tế của nghiên cứu sinh trên địa bàn tỉnh Nghệ An)
Phương pháp nghiên cứu
Trang 10Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và
sự kết hợp của hai phương pháp đó Đồng thời, còn sử dụng phương phápthống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp,… Các phương pháp được sử dụng phùhợp với yêu cầu của từng nội dung luận án Trong đó: Phương pháp thống kê,
phân tích, tổng hợp được sử dụng nhiều trong chương 1 khi tổng quan các công
trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, nhận xét đánh giá kết quả củacác công trình khoa học đã công bố, tìm ra khoảng trống để luận án tập trung
giải quyết Phương pháp lịch sử được sử dụng để phục dựng, tái hiện những yếu
tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng TCCSĐ ở
xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015 Quá trình phát triển nhận thức,
đề ra chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn củaĐảng bộ tỉnh Nghệ An qua hai giai đoạn 2005 - 2010 và 2010 - 2015 Phươngpháp logic được sử dụng để nghiên cứu tổng quát sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnhNghệ An lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn trong những năm
2005 - 2015, đưa ra nhận xét, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của
ưu điểm, hạn chế, từ đó đúc rút những kinh nghiệm giá trị tham khảo, vận dụng
5 Những đóng góp mới của luận án
Về tư liệu: Luận án cung cấp khối lượng tư liệu khá phong phú, cập nhậtđáng tin cậy về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựngTCCSĐ ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015 Nguồn tài liệu thamkhảo, phụ lục của luận án có thể đóng góp cho việc nghiên cứu một số vấn đề vềxây dựng Đảng, xây dựng HTCT ở cơ sở trong thời kỳ mới
Về nội dung khoa học
Góp phần hệ thống hóa, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnhNghệ An về xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015
Đưa ra những nhận xét, đánh giá có cơ sở khoa học về quá trình Đảng bộtỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005đến năm 2015, trên cả 2 bình diện ưu điểm và hạn chế, làm rõ nguyên nhân ưu
Trang 11điểm, hạn chế Đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo, vận dụngtrong lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn trong những năm tới
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), kết luận, danh mục công trìnhkhoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
Đon Phay Vông (2008), “Một số vấn đề về củng cố tổ chức cơ sở đảng”[76] Tác giả đã làm rõ vai trò của TCCSĐ, đánh giá thực trạng công tác xâydựng TCCSĐ của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Trên cơ sở đó, tác giả nêulên các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng xây dựng TCCSĐ: Tổchức quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quy định và hướng dẫn về việc củng cố
cơ sở đảng, nhất là tiêu chuẩn và cách xây dựng chi bộ mạnh - biết lãnh đạo toàndiện; coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp ủyđảng; phải gắn với xây dựng bản và cụm bản phát triển, xóa đói, giảm nghèo
Chu Chí Hòa (2010), Đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn
[88] Nội dung cuốn sách tập trung bàn về công tác xây dựng TCCSĐ ở nôngthôn Trung Quốc, trong đó nêu lên một số nội dung cần phải tập trung đổimới như: Cơ cấu tổ chức; công tác giáo dục, quản lý, giám sát đảng viên;công tác lựa chọn, bổ nhiệm bí thư tổ chức đảng nông thôn; phương thức lãnhđạo của TCCSĐ ở nông thôn Theo tác giả, trong giai đoạn hiện nay cần pháthuy tối đa vai trò hạt nhân lãnh đạo, là thành lũy chiến đấu của TCCSĐ ở nôngthôn Đồng thời, nâng cao tố chất tư tưởng, đạo đức, văn hóa, khoa học, thể chất
và phát huy vai trò tiền phong, cốt cán đi đầu của cán bộ, đảng viên ở nông thôn;đoàn kết và lãnh đạo nông dân tích cực triển khai công tác nông thôn của Đảng,thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ
Vũ Huyền (2013), “Cu-ba tăng cường vai trò các tổ chức cơ sở đảng”[93] Tác giả đã làm rõ vai trò to lớn của TCCSĐ của Đảng Cộng sản Cu-ba.Theo tác giả, “Sự trưởng thành của hệ thống TCCSĐ và đảng viên đã tạo tiền
đề quan trọng để cách mạng Cu-ba vượt qua những thách thức gay gắt bướcvào giai đoạn mới: phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước Cu-ba ngày
Trang 13càng giàu đẹp” [93, tr.62] Với vị trí, vai trò quan trọng của TCCSĐ, ĐảngCộng sản Cu-ba đặc biệt quan tâm công tác xây dựng và củng cố hoạt độngcủa TCCSĐ, bằng các nhiệm vụ: Thực hiện tốt công tác chính trị, tư tưởng;phòng ngừa đấu tranh với các biểu hiện vi phạm trật tự xã hội, bất hợp pháp,tham nhũng; củng cố mối quan hệ mật thiết với Nhân dân; hoàn thiện côngtác tổ chức, đặc biệt chú trọng vai trò của bí thư các TCCSĐ.
Đon Phay Vông (2014), “Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sởđảng ở Lào” [77] Theo tác giả, bước vào thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế tựnhiên, tự túc, khép kín sang nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thịtrường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước Đảng Nhân dân Cáchmạng Lào tiếp tục khẳng định: “Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức
là nhiệm vụ then chốt…, trong đó nâng cao chất lượng TCCSĐ là một nhiệm vụquan trọng” [77, tr.63] Để tiếp tục củng cố năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu củaTCCSĐ, theo tác giả cần tăng cường củng cố, xây dựng TCCSĐ vững mạnh,biết lãnh đạo toàn diện gắn với phong trào “3 xây” (xây dựng tỉnh thành đơn vịchiến lược, xây dựng huyện thành đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng bảnthành đơn vị phát triển toàn diện); thực hiện đúng chức năng của TCCSĐ; nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ;gắn xây dựng TCCSĐ với xây dựng các tổ chức khác trong HTCT
Trường Lưu (2017), “Công tác xây dựng Đảng của Đảng Cộng sảnTrung Quốc trong giai đoạn hiện nay” [109] Theo tác giả, để nâng cao chấtlượng toàn diện công tác xây dựng Đảng cần thực hiện các nội dung: Phảikiên định niềm tin lý tưởng, giữ vững lý tưởng của người cộng sản Trungthành với chủ nghĩa Mác, niềm tin đối với CNXH và chủ nghĩa cộng sản làlinh hồn chính trị của người cộng sản ; phải đổi mới công tác xây dựngĐảng ở cơ sở, tăng cường và cải tiến việc giáo dục quản lý đội ngũ đảng viên;kiên quyết chống tham nhũng, giữ gìn bản lĩnh liêm khiết trong sạch củangười cộng sản; phải nghiêm minh về kỷ luật của Đảng, tự giác bảo vệ sựthống nhất tập trung của Đảng
Trang 14Khăm Phủi Chăn Tha Va Đy (2018), “Xây dựng và nâng cao chất lượng
tổ chức cơ sở đảng ở tỉnh Luông-Pha-Băng” [99] Theo tác giả, thực hiện sự chỉ
đạo Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng bộ tỉnh Luông-Pha-Băng đã tăngcường lãnh đạo xây dựng TCCSĐ bằng nhiều chủ trương, giải pháp hợp lý vàđạt được kết quả khá vững chắc, đến năm 2018, tỉ lệ chi bộ đạt vững mạnh, biếtlãnh đạo toàn diện 74,9% Tuy nhiên, tỉ lệ chi bộ đạt trung bình còn cao, chiếm3% Để nâng cao chất lượng xây dựng TCCSĐ trong giai đoạn tiếp theo, tác giả
đề xuất: Kiện toàn các cấp ủy, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chủ chốt;đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của cấp ủy; coi trọng công tác phát triểnđảng viên; phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị; tăng cường sự chỉ đạo,hướng dẫn, kiểm tra của cấp trên [99, tr.66]
Mai Thu Quyên (2020), “Một số kinh nghiệm xây dựng tổ chức cơ sởđảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc” [125] Theo tác giả, Đảng Cộng sảnTrung Quốc không ngừng hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định về chức năng,nhiệm vụ và chế độ công tác của TCCSĐ Với hệ thống văn bản đầy đủ, chặtchẽ, toàn diện, nên công tác xây dựng TCCSĐ đã đạt được những kết quả quantrọng, để lại một số kinh nghiệm: Thường xuyên bổ sung, điều chỉnh chức năng,nhiệm vụ của TCCSĐ phù hợp với yêu cầu của tình hình mới; tìm tòi sáng tạonhững mô hình mới về tổ chức và hoạt động; quy định rõ trách nhiệm phục vụNhân dân của TCCSĐ và đảng viên; xây dựng cơ chế nhằm bảo vệ đảng viên;
cụ thể hóa trách nhiệm chỉ đạo xây dựng chi bộ; chăm lo xây dựng và đào tạo bíthư chi bộ; bảo đảm kinh phí cho hoạt động của TCCSĐ
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài
Các nghiên cứu chung về xây dựng TCCSĐ trên phạm vi cả nước
Hoàng Chí Bảo (2005), “Đảng bộ xã lãnh đạo việc xây dựng hệ thốngchính trị ở cơ sở nông thôn hiện nay” [51] Tác giả đã chỉ rõ: “Cơ sở (xã,phường, thị trấn) là hình ảnh của xã hội thu nhỏ”; là nơi trực tiếp, nắm bắt,giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tế Trong HTCT cơ sở, tổ chức đảng
Trang 15xã, phường, thị trấn có vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì, tổ chức đảng vừa làmột bộ phận của HTCT vừa là hạt nhân lãnh đạo và chịu trách nhiệm hiệu quảhoạt động của HTCT Tác giả nhấn mạnh, “công tác lãnh đạo xây dựng hệthống chính trị cơ sở của đảng bộ, chi bộ nông thôn được đặt ra như một côngtác có tầm quan trong đặc biệt và lâu dài” [51, tr.33].
Dương Trung Ý (2006), “Về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổchức cơ sở đảng ở xã” [201] Tác giả khẳng định: TCCSĐ ở xã trực tiếp lãnhđạo Nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước, nhất là chủ trương, đường lối, chính sách về phát triển nôngnghiệp, nông thôn Sự nghiệp đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,trước hết là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn có trở thànhhiện thực sinh động, đem lại diện mạo và bước phát triển mới cho nền nôngnghiệp, nông thôn và đời sống nông dân Việt Nam hay không, phần rất lớn là dovai trò, trách nhiệm và khả năng lãnh đạo của các đảng bộ xã [201, tr.20-22]
Ngô Kim Ngân (2006), “Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng” [118] Theo tác giả, để nâng cao năng lựclãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ hiện nay cần tập trung vào một sốgiải pháp sau: Xác định đúng nhiệm vụ chính trị, chú trọng nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác tư tưởng; đổi mới phương thức, phong cách làm việccủa tổ chức đảng; cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, chi ủy, đảng
ủy, mở rộng dân chủ trong sinh hoạt Đảng; coi trọng công tác quy hoạch, đàotạo, bồi dưỡng cán bộ; đẩy mạnh công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng; tăng cường
sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy cấp trên đối với cơ sở [118, tr.17-19]
Cao Văn Thống (2009), “Một số giải pháp tăng cường công tác giámsát của chi bộ Đảng” [144] Tác giả đã nêu rõ 4 giải pháp: Nâng cao nhậnthức cho cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò của chi bộ nói chung, của công tácgiám sát nói riêng; tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ, theo dõi, kiểm tra chi bộ thựchiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ giám sát của các cấp ủy tỉnh, huyện, cơ sở
từ điểm đến diện; tăng cường công tác giám sát của chi bộ, trước hết là chi ủy,
Trang 16đặc biệt là bí thư chi bộ đối với cán bộ, đảng viên; phát huy trách nhiệm củaNhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên.
Nguyễn Đức Hà (2010), Một số vấn đề về xây dựng tổ chức cơ sở đảng hiện nay [81] Cuốn sách bàn về những vấn đề về nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên Trên cơ sở đánh giáthực trạng, tác giả đã nêu và phân tích các nhiệm vụ và giải pháp: Giáo dục
chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; hoàn thiện mô hình tổ chức trong các loại hình TCCSĐ, chăm lo phát triển đảng viên; thực hiện mạnh
mẽ chủ trương trẻ hoá, tiêu chuẩn hoá, thể chế hoá và từng bước nhất thể hoáchức danh cán bộ; nâng cao chất lượng, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phươngthức hoạt động, chất lượng sinh hoạt của TCCSĐ; tăng cường công tác chỉ đạo,
kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên, dựa vào dân để xây dựng Đảng.
Đức Lượng (chủ biên, 2011), Xây dựng đội ngũ đảng viên ở nông thôn vững mạnh [108] Cho thấy, xây dựng đội ngũ đảng viên nông thôn trong điều
kiện hiện nay cần phải: Nhận thức đúng vai trò, vị trí đội ngũ đảng viên nôngthôn; bảo đảm đường lối, chủ trương, chính sách đúng đối với nông nghiệp, nôngdân, nông thôn; phát huy tính chủ động tự nguyện, tự giác của đảng viên; làm tốtcông tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ đảngviên; nâng cao chất lượng sinh hoạt của các TCCSĐ ở nông thôn
Dương Trung Ý (2013), Nâng cao chất lượng đảng bộ xã trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn [202] Tác giả đã xây
dựng các tiêu chí, đánh giá thực trạng, nguyên nhân, xác định phương hướng,nhiệm vụ giải pháp nâng cao chất lượng các đảng bộ xã Từ thực tiễn tác giả
đã rút ra những kinh nghiệm: 1- Nắm vững, chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước; 2- Thực hiện tốt công tác giáo dục chínhtrị tư tưởng; 3- Phát huy nội lực, tinh thần chủ động, sáng tạo ở cơ sở; 4- Kếthợp chặt chẽ hoạt động xây dựng tổ chức cơ sở đảng với lãnh lạo phát triểnKT-XH; 5- Coi trọng công tác cán bộ, đảng viên; 6- Xây dựng và thực hiệntốt quy chế làm việc; 7- Đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt các chi bộ; 8-
Trang 17Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo dứt điểm từng nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểmtheo kế hoạch, coi trọng và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát.
Phạm Mạnh Khởi (2013), “Nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức cơ sởđảng cấp xã” [100] Theo tác giả, TCCSĐ cấp xã là loại hình chiếm tỉ lệcao trong hệ thống TCCSĐ, với số lượng đảng viên chiếm 61,4% đảng viên
và lãnh đạo trên 80% dân số cả nước [42, tr.26] Vì vậy, muốn nâng caonăng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trước hết phải chú trọng nângcao chất lượng hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng cấp xã Trên cơ sởkhảo sát thực tiễn chất lượng hoạt động của TCCSĐ cấp xã, tác giả rút ranhững kinh nghiệm: Coi trọng công tác chính trị, tư tưởng; đổi mới phươngthức lãnh đạo, phong cách công tác của cấp ủy; xây dựng và nâng cao chấtlượng cán bộ, công chức cơ sở; tăng cường kiểm tra, giúp đỡ các chi bộ,đảng viên hạn chế, khuyết điểm [100, tr.27]
Đỗ Phương Đông (2013), “Nâng cao năng lực lãnh đạo của cơ sở đảng xã,phường, thị trấn” [78] Tác giả đã phân tích, làm rõ vị trí đặc biệt quan trọng củaTCCSĐ trong HTCT ở xã, phường, thị trấn Từ đó, tác giả khẳng định nâng caonăng lực lãnh đạo của TCCSĐ xã, phường, thị trấn là nhiệm vụ quan trọng,thường xuyên và cấp bách Để nâng cao năng lực lãnh đạo của TCCSĐ xã,phường, thị trấn, theo tác giả cần: Tiếp tục quán triệt và thực hiện các chỉ thị,nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng TSVM, xây dựng quy chế làm việc củacấp ủy, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinhhoạt, giữ nghiêm kỷ luật, tăng cường đoàn kết trong Đảng; nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ, đảng viên; dựa vào dân để xây dựng Đảng
Võ Văn Đức, Đinh Ngọc Giang (đồng chủ biên, 2014), Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên [79] Đã rút ra những kinh nghiệm về sự chỉ đạo của cấp uỷ cấp trên đối với TCCSĐ: Một là, quán triệt kịp thời, đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của tỉnh; Hai là, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ và đảng viên; Ba là, thường xuyên
quan tâm củng cố kiện toàn tổ chức cơ sở đảng cho đồng bộ, thống nhất với tổ
Trang 18chức của HTCT cơ sở; Bốn là, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt và cấp
uỷ viên; Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát cơ sở [79, tr.160-164].
Phạm Thanh Tùng (2017), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
ở xã, phường, thị trấn” [194] Tác giả đã đề xuất một số nội dung cần tập
trung thực hiện để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở xã, phường, thịtrấn: 1- Nâng cao chất lượng lãnh đạo bằng nghị quyết, quy chế làm việc củacấp ủy; 2- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình nhất thể hóa bí thư cấp ủyđồng thời là chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn; 3- Đổi mới phương thứclãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ; 4- Lãnh đạo thông qua kiểm tragiám sát và sự gương mẫu của đảng viên; 5- Lãnh đạo nâng cao chất lượngchi bộ - hạt nhân chính trị lãnh đạo việc thực hiện nghị quyết của Đảng ởthôn, tổ dân phố [194, tr.25-26, 32]
Các nghiên cứu về xây dựng TCCSĐ ở các vùng miền, địa phương
Trần Trung Trực (2005), “Thái Bình xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong
sạch, vững mạnh” [192] Tác giả đã đi sâu phân tích, làm rõ thực trạng, chủ
trương, sự chỉ đạo và những kết quả đạt được trong công tác xây dựng TCCSĐ
từ năm 2001 đến 2005 Từ thực tiễn xây dựng TCCSĐ của các cấp ủy đảng ởThái Bình, tác giả đã rút ra 5 kinh nghiệm: 1- Các cấp ủy đảng phải xác định rõnội dung, tiêu chuẩn TCCSĐ TSVM, xây dựng chương trình, kế hoạch vớimục tiêu và giải pháp cụ thể; 2- Phải kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục tưtưởng, chính trị với công tác tổ chức và công tác kiểm tra đảng; 3- Phải coi xâydựng chi bộ TSVM, giữ vững vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; 4- Mở rộng vàphát huy dân chủ trong Đảng đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật; 5- Đổi mới
và tăng cường sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên đối với cơ sở [192, tr.14]
Phạm Quang Vịnh (2006), “Để nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến
đấu của tổ chức cơ sở đảng ở Tây Nguyên” [197] Theo tác giả, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng HTCT
cơ sở, hoạt động của TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở Tây Nguyên có những
Trang 19chuyển biến đáng kể Nhiều TCCSĐ đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ,lãnh đạo phát triển toàn diện các lĩnh vực ở địa phương Tuy nhiên, TCCSĐđang gặp nhiều khó khăn: Mặt bằng dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu,
cơ sở hạ tầng thấp kém; TCCSĐ còn lúng túng trong lãnh đạo toàn diện, chưaphát huy rõ vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, trình độ kiến thức của đội ngũcán bộ còn thấp, công tác phát triển đảng gặp nhiều khó khăn, Do đó, nănglực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ xã, phường, thị trấn còn nhiều mặtbất cập, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới Để nâng cao năng lựclãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở các tỉnh TâyNguyên, tác giả nêu lên các giải pháp cơ bản: Đảng bộ, chi bộ thực hiện đúngchức năng là hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo toàn diện; thường xuyên làmtốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân;quan tâm phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh; đổi mới phươngthức lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ; quan tâm xây dựng HTCT và đội ngũ cán
bộ, đảng viên, cấp ủy viên vững mạnh [197, tr.14-16]
Ngô Đức Vượng (2008), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ
sở đảng ở Phú Thọ” [199] Tác giả đã rút ra 4 kinh nghiệm: Một là, đổi mới
phương thức lãnh đạo của TCCSĐ phải đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới
chính đốn Đảng; Hai là, phải trên cơ sở kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; Ba là, phải giữ vững những nguyên tắc cơ bản của công tác xây dựng Đảng; Bốn là, phải gắn với việc đổi mới phong cách, lề lối làm
việc của các cấp ủy đảng và đảng viên [199, tr.17]
Sùng Chúng (2009), “Lào Cai xây dựng tổ chức cơ sở đảng và pháttriển đội ngũ đảng viên” [56] Đã xác định 6 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu:
Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; Hai là, thực hiện
tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ công chức xã, bí thư, cấp ủy; Ba là, xác định rõ chức năng,
nhiệm vụ của từng loại hình TCCSĐ để xây dựng quy chế làm việc rõ
ràng, cụ thể; Bốn là, cải tiến nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; Năm
Trang 20là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đánh giá chất lượng TCCSĐ, đảng viên; Sáu là, chú trọng công tác kết nạp đảng viên và phát triển tổ chức
điểm, đồng thời rút ra 4 kinh nghiệm: Một là, vận dụng đúng đắn, sáng tạo
đường lối, quan điểm của Đảng vào điều kiện cụ thể của thành phố Hà Nội,nắm vững và phát huy thế mạnh, lợi thế, tiềm năng, khắc phục hạn chế, đề ra
chủ trương, giải pháp phù hợp đẩy mạnh công tác xây dựng TCCSĐ; Hai là,
đổi mới phương thức lãnh đạo, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ
thị của Trung ương, Thành ủy về TCCSĐ; Ba là, khẳng định vai trò hạt nhân
lãnh đạo chính trị của tổ chức đảng ở cơ sở, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của TCCSĐ; Bốn là, nhận thức đúng tầm quan trọng của mối quan
hệ gắn bó mật thiết giữa TCCSĐ với Nhân dân [85, tr.184-195]
Đỗ Ngọc Ninh, Đinh Ngọc Giang (2013), “Những kinh nghiệm của tỉnh ủyBắc Giang về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng”[121] Các tác giả đã khái quát sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Bắc Giang và rút ra nhữngkinh nghiệm: Tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động trong cấp ủy cáccấp, cán bộ, đảng viên về đánh giá, phân loại TCCSĐ và đảng viên; tập trung cao
độ củng cố các TCCSĐ yếu kém; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất
là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng bộ cơ sở
và sinh hoạt chi bộ trực thuộc; tăng cường công tác tư tưởng trong đảng bộ vàtrong Nhân dân; tăng cường sự chỉ đạo, giúp đỡ của Tỉnh ủy, sự kiểm tra giám sátcủa cấp ủy huyện, thành phố, đảng ủy khối đối với TCCSĐ [121, tr.79-80]
Vũ Thị Duyên (2016), Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010 [59] Luận án đã hệ thống hóa
Trang 21chủ trương và quá trình chỉ đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh HưngYên từ năm 1997 đến năm 2010, trên các nội dung chủ yếu: Về tư tưởngchính trị; về tổ chức; về phát triển đảng viên; về công tác cán bộ; về công táckiểm tra Nhận xét thành công, hạn chế, khuyết điểm và rút ra một số kinhnghiệm: 1- Nhận thức đúng vai trò tầm quan trọng và nhiệm vụ chính trị củaTCCSĐ trong từng giai đoạn lịch sử; 2- Các cấp ủy đảng chú trọng và thườngxuyên nâng cao chất lượng công tác đánh giá, phân loại TCCSĐ và đảng viên;3- Luôn chú trọng nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ đảng viên ở cơ sởngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển KT-XH của địa phương; 4- Sự lãnhđạo chỉ đạo của các cấp ủy cấp trên có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng caochất lượng của TCCSĐ; 5- Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng,coi trọng công tác tư tưởng trong đảng bộ và Nhân dân.
Nguyễn Thị Thanh Bình (2016), Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng
tổ chức cơ sở đảng từ năm 1997 đến năm 2010 [53] Luận án đã rút ra những kinh
nghiệm trong công tác lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từnăm 1997 đến năm 2010: Đảng bộ tỉnh lãnh đạo TCCSĐ xây dựng nghị quyếthiệu quả gắn với việc nâng cao đời sống Nhân dân, vị thế của địa phương; Đảng
bộ tỉnh lãnh đạo phát huy dân chủ thực chất trong tổ chức và hoạt động củaTCCSĐ HTCT cơ sở và xã hội; Đảng bộ tỉnh lãnh đạo xây dựng khối đoàn kết,thống nhất trong TCCSĐ nhằm củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhândân; Đảng bộ tỉnh luôn chú trọng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên,nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở có chất lượng tốt; Đảng bộ tỉnhphát huy vai trò của HTCT cơ sở và Nhân dân trong xây dựng TCCSĐ
Trần Văn Rạng (2018), Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị tấn của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1998 đến năm 2005 [126].
Luận án đã hệ thống, khái quát hóa chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnhThái Bình về xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn từ năm 1998 đến năm 2005,đánh giá, nhận xét và đúc kết 5 kinh nghiệm: Bám sát chủ trương, chỉ đạo củaTrung ương, nắm chắc tình hình, phát huy trí tuệ của Đảng bộ và Nhân dân để
Trang 22xác định chủ trương xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn; chủ động, nhạybén, tập trung các nguồn lực “hướng mạnh về cơ sở” để thực hiện công tác tưtưởng; tiến hành đồng bộ các giải pháp về tổ chức, cán bộ, đảng viên ở cơ sở vớinhững bước đi thích hợp; dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dântrong xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn; giải quyết đúng đắn mối quan hệgiữa xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn với giữ vững ổn định chính trị ở địaphương.
Các nghiên cứu liên quan đến xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An
Lê Doãn Hợp (2005), “Kinh nghiệm đánh giá cán bộ ở Nghệ An” [90] Từthực tiễn đánh giá cán bộ ở Nghệ An, tác giả rút ra một số kinh nghiệm: Các cấp
ủy đảng, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, tầm quan trọng của việc đánh giácán bộ hằng năm đối với vấn đề quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bố trí cánbộ; đánh giá cán bộ phải toàn diện, công tâm, khách quan, bằng trí tuệ, tráchnhiệm của tập thể; đánh giá cán bộ phải trên cơ sở nắm chắc thông tin, thận trọng,chính xác, nhất là đánh giá mặt yếu, làm cho người được đánh giá xem đó là sựtôn trọng của tập thể cấp ủy, tự giác tiếp nhận ý kiến của cấp ủy [90, tr.11, 26]
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2008), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập 3 (1975 - 2005) [1] Cuốn sách cho thấy, Đảng bộ tỉnh Nghệ An chú trọng công
tác xây dựng Đảng và đã thu được những kết quả to lớn: Đảng bộ đã phát huy đượctruyền thống kiên cường, bất khuất, giữ vững lập trường giai cấp công nhân, trungthành với lý tưởng cộng sản, từ thời kỳ Xôviết Nghệ - Tĩnh, qua hai cuộc khángchiến trường kỳ gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Sau sự kiện chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ ở những năm 90 của thế kỷ XX, đại
bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong tỉnh vẫn kiên định, không hoangmang dao động và luôn tỉnh táo, đề cao ý thức cảnh giác cách mạng, ra sức xâydựng, phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng - an ninh, góp phần bảo vệ vữngchắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tưtưởng và tổ chức được tiến hành thường xuyên và không ngừng đổi mới [1, tr.290]
Trang 23Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉđạo công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh: 1- Tuyệt đối trung thành với
lý tưởng cộng sản và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kiên địnhlập trường chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chống mọi biểuhiện hoang mang, dao động, cơ hội, hữu khuynh và tả khuynh; 2- Thực hiệndân chủ, đảm bảo và phát huy quyền làm chủ thực sự của Nhân dân; 3- Tăngcường lãnh đạo HTCT, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; 4-Thường xuyên sàng lọc đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tất cả các loại hình tổchức đảng gắn với việc chăm lo công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ;trong đó, chú ý cán bộ nữ, cán bộ dân tộc ít người, cán bộ trẻ; 5- Các cấp ủyđảng và chính quyền phải không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo để luônluôn thích ứng với điều kiện, hoàn cảnh thực tế [1, tr.292-297]
Hoàng Anh Thắng (2009), “Đảng ủy Bộ đội Biên phòng Nghệ An đưađảng viên về sinh hoạt chi bộ ở vùng giáo ven biển” [137] Tác giả cho thấy:Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Đảng ủy Bộ đội Biênphòng tỉnh đã giới thiệu các đồng chí cán bộ, đảng viên có năng lực, trình độ
về sinh hoạt tại các chi bộ của các xã, phường vùng giáo ven biển Qua thực
tiễn, tác giả rút ra một số kinh nghiệm: Một là, cần phối hợp chặt chẽ với cấp ủy,
chính quyền địa phương trong việc lựa chọn địa bàn thích hợp nhằm phát huyđược năng lực, sở trường và kinh nghiệm của cán bộ, đảng viên Biên phòng về
tham gia sinh hoạt; Hai là, các đơn vị cử người đi phải lựa chọn những cán bộ,
đảng viên có kinh nghiệm dân vận, am hiểu phong tục, tập quán địa phương, amhiểu sinh hoạt tôn giáo, có quan hệ tốt với đội ngũ cán bộ tại chỗ, với cốt cán giáo
và các chức sắc, chức việc; Ba là, mỗi đơn vị Biên phòng phải xác định đây
không chỉ là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên được giới thiệu mà còn là trách
nhiệm của cấp ủy, chỉ huy đơn vị; Bốn là, bản thân mỗi cán bộ, đảng viên được cử
đi tham gia sinh hoạt tại vùng giáo phải nỗ lực phấn đấu, phát huy mặt mạnh, khắcphục hạn chế để hoàn thành tốt nhiệm vụ [137, tr.22-23]
Trang 24Phúc Sơn (2011), “Những chuyển biến về nâng cao chất lượng sinh hoạtchi bộ ở Nghệ An” [131] Tác giả cho thấy: Sau 4 năm thực hiện Chỉ thị 10-CT/
TW của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, ở Nghệ An đã cónhững chuyển biến tích cực: Chế độ sinh hoạt, đảng viên tham gia sinh hoạt tỉ lệcao; nội dung sinh hoạt cụ thể, thiết thực hơn; hình thức sinh hoạt đa dạng hơn,dân chủ và trách nhiệm đảng viên được nâng lên; năng lực lãnh, vai trò của cấp
ủy được khẳng định và nâng cao Từ những chuyển biến tích cực đó, tác giả rút
ra một số kinh nghiệm trong nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ: 1- Cần quántriệt đầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung Chỉ thị của Ban Bí thư về nâng cao chấtlượng sinh hoạt chi bộ; 2- Phải xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, xácđịnh mục tiêu, giải pháp nhằm cụ thể hóa nội dung Chỉ thị phù hợp; 3- Chăm lobồi dưỡng, nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác, phẩmchất lối sống cho đội ngũ cấp ủy viên, nhất là bí thư chi bộ; 4- Coi trọng chỉ đạo,hướng dẫn gắn với kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp trên; 5- Đổi mới và nângcao chất lượng sinh hoạt chi bộ, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng chi bộ TSVM [131, tr.25, 58]
Phan Thanh Đoài (2013), “Củng cố, phát huy vai trò hệ thống chính trịtrong vùng đồng bào có đạo ở Nghệ An” [74] và “Xây dựng hệ thống chính trị cơ
sở vùng dân tộc thiểu số ở Nghệ An” [75] Tác giả đã luận giải làm rõ những đặcđiểm vùng đồng bào có đạo, dân tộc thiểu số ở Nghệ An, đánh giá rõ thực trạngxây dựng HTCT trong đó tập trung làm rõ công tác xây dựng tổ chức đảng và vaitrò của tổ chức đảng trong vùng đồng bào có đạo, vùng dân tộc thiểu số Theo tácgiả, trong những năm qua Tỉnh ủy Nghệ An đã chỉ đạo các cấp ủy tập trung xâydựng HTCT cơ sở vùng giáo, vùng dân tộc thiểu số, bằng các giải pháp đồng bộ,trong đó nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ, đã tập trung làm tốt công tác phát triển đảngviên, tăng cường đảng viên về sinh hoạt tại các xóm chưa có hoặc chưa đủ đảngviên để thành lập chi bộ; chú trọng tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ là người
có đạo, người dân tộc thiểu số Để củng cố nâng cao chất lượng HTCT nói chung
và xây dựng TCCSĐ vùng giáo, vùng dân tộc thiểu số nói riêng, tác giả đề xuất
Trang 25những giải pháp chủ yếu: 1- Kiên trì, quyết liệt hơn trong vận động, nắm chắc cácđối tượng chức sắc, cốt cán, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong vùng; 2-Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, thực hiện tốt quy hoạch cán bộ, tăngcường đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, công giáo; 3-Đổi mới phương thức hoạt động, phong cách làm việc của cấp ủy cơ sở
Trần Cao Nguyên (2013), “Phát triển đảng trong đồng bào dân tộc thiểu
số ở các huyện miền Tây Nghệ An” [119] Trên cơ sở thực trạng và công tácphát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi phía
Tây của tỉnh Nghệ An, tác giả đề xuất các giải pháp: Một là, giải quyết tốt vấn
đề nhận thức, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong
đồng bào dân tộc thiểu số; Hai là, quy hoạch và bồi dưỡng nguồn phát triển đảng viên phù hợp với điều kiện cụ thể của đồng bào dân tộc; Ba là, tăng cường
sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác vận động quần chúng và công
tác xây dựng các đoàn thể quần chúng VMTD; Bốn là, thực hiện tốt quy trình kết nạp và quản lý đảng viên ở các thôn, bản; Năm là, thực hiện tốt các chính
sách xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số [119, tr.92-96]
Vũ Hồng Đào (2015), “Nghệ An thực hiện đề án sắp xếp tổ chức cơ
sở đảng” [72] Tác giả đã đánh giá thực trạng TCCSĐ ở Nghệ An thời gian
từ 2013 đến 2015, phân tích rõ mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc trong quátrình thực hiện đề án sắp xếp TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Nghệ An; nêu lênnhững kết quả sau 3 năm (2013 - 2015), chỉ đạo thực hiện của Ban Thường
vụ Tỉnh ủy Để tiếp tục nâng cao chất lượng sắp xếp, củng cố TCCSĐ tácgiả đề xuất: 1- Tiếp tục chỉ đạo nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy cơ sởtrong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, trọng tâm là phát triển KT-XH; 2-Theo dõi, kiểm tra, giám sát nắm chắc tình hình hoạt động của các TCCSĐ;3- Chú trọng nâng cao chất lượng công tác cán bộ; 4- Tiếp tục triển khaithực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xâydựng Đảng hiện nay” [72, tr.21-23]
Trang 26Trần Cao Nguyên (2017), Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2015 [120] Luận án đã rút ra 5 kinh nghiệm
trong lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Nghệ An:
Một là, để xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có chất lượng, hiệu
quả, không chỉ quán triệt đúng đắn chủ trương của Trung ương Đảng mà cònvận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương của Đảng phù hợp với đặc điểm tình
hình của địa phương; Hai là, vai trò của các Đảng bộ cơ sở có vai trò quan
trọng, quyết định thành công trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ người dân
tộc thiểu số; Ba là, chú trọng nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của đội ngũ
cán bộ người dân tộc thiểu số và tầm quan trọng của công tác xây dựng độingũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi cho cấp ủy, chính
quyền, đến từng cán bộ, đảng viên; Bốn là, chú trọng xây dựng đội ngũ cán
bộ dân tộc thiểu số tại chỗ cả về số lượng và chất lượng và sự đồng thuận củađồng bào các dân tộc thiểu số là một trong những nhân tố quan trọng góp
phần xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; Năm là, các cấp, các ngành
cần có sự phối hợp chặt chẽ từ nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng đến
sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số phù hợp
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết
1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài
Một là, về tư liệu
Các công trình nghiên cứu về xây dựng TCCSĐ nói chung, TCCSĐ ở
xã, phường, thị trấn nói riêng ở trên phạm vi cả nước cũng như ở các vùngmiền, địa phương khá đa dạng về tài liệu Bao gồm: Sách chuyên luận,chuyên khảo, đề tài khoa học các cấp, bài báo khoa học và đề tài luận án.Công tác xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn đã được các nhà khoa họcnghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, phạm vi không gian và
Trang 27thời gian khác nhau Kết quả nghiên cứu của các công trình đã cung cấp chonghiên cứu sinh những thông tin khoa học khá sâu rộng liên quan đến xâydựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn trấn để nghiên cứu sinh tham khảo, kếthừa, vận dụng vào quá trình nghiên cứu đề tài luận án của mình Tuy nhiên,với tư cách là luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sảnViệt Nam, nghiên cứu về công tác lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phườngthị trấn trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2015thì đây đang là khoảng trống, chưa được nghiên cứu.
Hai là, về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về xây dựng TCCSĐ được tiếp cận dưới nhiều góc
độ và phương pháp khác nhau, nhưng tập trung chủ yếu tiếp cận và sử dụng cácphương pháp chuyên ngành như: Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng, Chính trị học…, và
sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác như: Phân tích, tổng hợp, so sánh,….Cách tiếp cận và phương pháp đa dạng với nhiều mức độ và phạm vi nghiên cứu khácnhau đã cung cấp cho nghiên cứu sinh những kiến thức khá phong phú về công tác xâydựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn, giúp nghiên cứu sinh lựa chọn cách tiếp cận vấn
đề nghiên cứu đa dạng phù hợp với khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sảnViệt Nam về xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Nghệ An
Ba là, về nội dung nghiên cứu
Thứ nhất, các nghiên cứu chung về xây dựng TCCSĐ trên phạm vi cả
nước đều thống nhất khẳng định vị trí, vai trò then chốt của TCCSĐ nói chung,TCCSĐ ở xã, phường thị trấn nói riêng trong HTCT ở cơ sở, trong lãnh đạophát triển KT-XH và giữ vững ổn định chính trị - xã hội Coi TCCSĐ ở xã,phường, thị trấn là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng,nắm bắt và giải quyết những vấn đề thực tiễn diễn ra ở cơ sở Một số công trình
đi sâu phân tích làm rõ đặc điểm, xác định các tiêu chí đánh giá TCCSĐ ở xã,phường, thị trấn Một số công trình đề cập đến chủ trương, giải pháp của Đảng
về xây dựng Đảng nói chung, xây dựng TCCSĐ nói riêng Một số công trình
Trang 28đã đánh giá thực trạng chất lượng TCCSĐ, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế,khuyết điểm, xác định nguyên nhân, đề xuất những giải pháp củng cố, xâydựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn TSVM, trên các mặt như: chính trị - tưtưởng, tổ chức - cán bộ, đảng viên, kiểm tra, giám sát Một số công trình đã đúcrút được kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở một số địa phương,
có giá trị vận dụng vào trong công tác xây dựng TCCSĐ hiện nay Nhóm côngtrình này đã mang lại cho nghiên cứu sinh cái nhìn tổng quát về xây dựngTCCSĐ xã, phường, thị trấn
Thứ hai, các nghiên cứu xây dựng TCCSĐ ở các đảng bộ vùng miền,
địa phương Đã tập trung làm rõ đặc điểm TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn củatừng vùng miền, địa phương nhấn mạnh những khó khăn trong công tác xây dựngTCCSĐ ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, đề xuất những giải pháp cụ thểcủa từng vùng miền, địa phương trong củng cố, xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thịtrấn Một số công trình nghiên cứu xây dựng TCCSĐ dưới góc độ chuyên ngànhLịch sử Đảng ở một số địa phương như Hà Nội, Hà Nam, Hưng Yên, Thái Bình đãlàm rõ chủ trương, sự chỉ đạo, nhận xét, rút ra kinh nghiệm xây dựng TCCSĐ củađảng bộ cấp tỉnh, thành phố Trong đó công trình nghiên cứu về xây dựng TCCSĐ
xã, phường, thị trấn ở Đảng bộ tỉnh Thái Bình, đã đi sâu đánh giá thực trạng, đặcđiểm riêng, làm rõ những cách làm, bước đi trong củng cố, kiện toàn, xây dựngTCCSĐ của địa phương có tính chất đặc thù Từ đó đúc rút kinh nghiệm quý báu,
đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn
VMTD Điều này cho thấy, các công trình ở nhóm này khá đa dạng, cung cấp
những thông tin có giá trị tham khảo tốt
Thứ ba, các nghiên cứu có liên quan đến công tác xây dựng TCCSĐ ở xã,
phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã đề cập một số khía cạnh, kiếnnghị giải pháp và bước đầu nêu lên kinh nghiệm trên một số lĩnh vực cụ thể như:kiện toàn sắp xếp TCCSĐ, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đánh giá cán
bộ Công tác xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn được tích hợp trong xây
Trang 29dựng, củng cố HTCT cơ sở Không có công trình nào nghiên cứu một cách hệthống về lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn.
Kết quả nghiên cứu của các công trình trong phần tổng quan là khá toàndiện, sâu sắc, là nguồn tư liệu quý để nghiên cứu sinh tham khảo, kế thừa trongthực hiện luận án, đồng thời cho thấy còn có những vấn đề chưa được giải quyếtthấu đáo về mặt khoa học, từ đó gợi mở cho nghiên cứu sinh một hướng nghiêncứu khi lựa chọn và thực hiện đề tài luận án Tuy nhiên, các công trình đó tiếp cận
và giải quyết vấn đề ở các góc độ khác nhau, ở địa phương khác, chưa có côngtrình nào nghiên cứu, luận giải một cách cơ bản, toàn diện, hệ thống về xây dựngTCCSĐ ở xã, phường, thị trấn dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng ở địa bàn tỉnh
Nghệ An Đây là một “khoảng trống” trong đối tượng nghiên cứu của khoa học
Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu
sinh lựa chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015”, làm đề tài luận án Đây
là đề tài nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình đã công bố
1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết
Trên cơ sở quán triệt lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thịtrấn nói riêng và dựa vào kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có
liên quan đến đề tài luận án Hướng nghiên cứu của đề tài luận án “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015”, sẽ tập trung vào các vấn đề sau đây.
Một là, những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ
An về xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010.Vấn đề này luận án tập trung nghiên cứu trên các yếu tố: Tình hình thế giới,khu vực và trong nước; điều kiện tự nhiên, KT-XH của tỉnh Nghệ An; thựctrạng công tác xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnhNghệ An trước năm 2005; chủ trương của Đảng về xây dựng TCCSĐ ở xã,
Trang 30phường, thị trấn Những yếu tố mới tác động đến công tác xây dựng TCCSĐ
ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong những năm 2010 đếnnăm 2015 Luận án tập trung nghiên cứu các yếu tố mới: Tình hình thế giới,khu vực và trong nước; những thành tựu, hạn chế trong công tác xây dựngTCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An những năm 2005 -2010; yêu cầu nhiệm vụ của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn mới; chủ trươngcủa Đảng về xây dựng TCCSĐ
Hai là, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng
TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015: Trên cơ sở các vănkiện, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Nghệ An, báo cáo giữa nhiệm kỳ, báo cáotổng kết hàng năm Làm sáng tỏ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải phápxây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn về giáo dục chính trị, tư tưởng; xâydựng về tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đổi mới phương thức lãnhđạo của cấp ủy, TCCSĐ; về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng
Ba là, từ nguồn sử liệu chọn lọc, xác thực, tin cậy về xây dựng
TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An và qua kết quảkhảo sát thực tế có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tác giả tổng hợp, kháiquát, làm rõ những ưu điểm, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân ưu điểm, hạn chếcủa Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã,phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015 Trên cơ sở đó đúc rút nhữngkinh nghiệm có ý nghĩa lý luận, thực tiễn góp phần phục vụ trong công táclãnh đạo xây dựng TCCSĐ hiện nay
Trang 31Kết luận chương 1
Xuất phát từ vị trí, vai trò của TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn, nghiên cứu
về vấn đề xây dựng TCCSĐ ở các địa phương nói chung và của Đảng bộ tỉnhNghệ An nói riêng hiện nay là rất cần thiết, xét trên cả mặt lý luận và thực tiễn
Vì vậy, đã trở thành chủ đề được các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu ở những góc độ, phạm vi khác nhau, biểu hiện ở tính
đa dạng, phong phú của các công trình, các bài viết đã được nghiên cứu sinhtổng hợp, phân tích trong tổng quan
Trên thực tế, có nhiều nghiên cứu của các tác giả với những các gợi ý
về lý thuyết nghiên cứu về TCCSĐ, lịch sử xây dựng TCCSĐ ở xã, phường,thị trấn của tỉnh Nghệ An và sự lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thịtrấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong khoảng thời gian lịch sử tương ứng vớithời gian luận án nghiên cứu Tổng quan các nghiên cứu đó cung cấp cho luận
án nhiều tư liệu lịch sử và luận cứ quan trọng để có thể tham khảo, kế thừa
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứusinh đã hệ thống hóa các tài liệu, khái quát kết quả nghiên cứu của các côngtrình, tiếp thu được những nội dung có thể tham khảo kế thừa; đồng thời, chỉ ranhững vấn đề chưa được nghiên cứu làm rõ Vận dụng phương pháp luận đốitượng nghiên cứu lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, nghiêncứu sinh đã xác định được “khoảng trống” để luận án sẽ tập trung giải quyết
Tuy nhiên, để tái hiện đầy đủ hơn quá trình lãnh đạo xây dựngTCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An theo góc độ lịch
sử Đảng với phương pháp lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, so sánh , vềxây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn về chính trị, tư tưởng, tổ chức thìrất cần thiết để tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử xâydựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An từ năm
2005 đến năm 2015
Trang 32Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH NGHỆ AN VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN (2005 - 2010) 2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ
An về xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn (2005 - 2010)
2.1.1 Tình hình thế giới, khu vực và trong nước
Tình hình thế giới và khu vực
Trong những năm 2005 - 2010, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phứctạp, khó lường Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của các quốc gia,dân tộc Tuy nhiên, những vấn đề phức tạp của thế giới như: chiến tranh cục bộ,xung đột vũ trang, khủng bố, bất ổn chính trị - xã hội, tranh chấp chủ quyền, lãnhthổ; thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, khủng hoảng tàichính, suy thoái kinh tế toàn cầu,… Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nóichung và Đông Nam Á nói riêng, xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển tiếp tục giatăng, nhưng luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định như: tranh chấp về ảnhhưởng và quyền lực, về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên giữa các nước;những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ở một số nước,… Những yếu tố đó đã tácđộng mạnh mẽ, ảnh hưởng lớn đến Việt Nam trong quá trình phát triển đất nướctrên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có công tác xây dựng, chỉnhđốn Đảng của toàn Đảng nói chung, công tác củng cố, xây dựng TCCSĐ ở xã,phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An nói riêng
Tình hình trong nước
Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu tolớn, có ý nghĩa lịch sử Tình hình chính trị - xã hội ổn định, an ninh quốc phòngđược giữ vững; văn hóa, giáo dục, y tế được quan tâm phát triển; giải quyết việclàm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách đối với người có công và cácchính sách an sinh xã hội có nhiều cố gắng, đạt kết quả tốt, góp phần nâng cao
Trang 33đời sống mọi mặt của Nhân dân; quan hệ đối ngoại được mở rộng, chủ động tíchcực hội nhập kinh tế quốc tế Ngày 11 tháng 01 năm 2007, Việt Nam được côngnhận là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tạothêm nhiều thuận lợi cho nước ta đổi mới, phát triển KT-XH với tốc độ nhanhhơn, đồng thời nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Nhữngthành tựu to lớn đó là điều kiện thuận lợi để toàn Đảng nói chung, Đảng bộ tỉnhNghệ An tiến hành công tác xây dựng Đảng đạt chất lượng, hiệu quả tốt hơn.
Tuy nhiên, đất nước vẫn đứng trước nhiều nhiều nguy cơ, thách thứclớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp Bốn nguy cơ màĐảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế sovới nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Từ năm 2007 đến 2009, do ảnhhưởng của suy thoái kinh tế thế giới, cùng với những yếu kém trong lãnh đạo,quản lý kinh tế - xã hội dẫn đến nền kinh tế nước ta phát triển chững lại, lạmphát tăng cao, đời sống của nhân dân, nhất là cán bộ, công chức ít nhiều gặpkhó khăn Vấn đề này đã gây ra tư tưởng hoài nghi, giao động, thiếu niềm tincủa một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm ảnh hưởng không nhỏ,tác động đến công tác xây dựng Đảng
Do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường nên một bộ phận cán
bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, tư tưởng, không tin vào sự lãnh đạo củaĐảng, sự tồn tại, phát triển của chế độ XHCN; đạo đức, lối sống chạy theođồng tiền, chủ nghĩa cá nhân, vụ lợi, vị kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy chức, chạyquyền của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, hách dịch, xarời quần chúng, tham nhũng, lãng phí chưa được xử lý triệt để; tình trạng phecánh mất đoàn kết trong nội bộ một số cấp ủy, tổ chức đảng,… Những biểuhiện đó đã gây nên bức xúc trong xã hội, làm xói mòn lòng tin của cán bộ,đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ở các cấp, ảnh hưởng khókhăn đến công tác xây dựng Đảng
Bên cạnh đó, Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục tăng cường phá hoạiĐảng, phá hoại sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH trên đất nước ta, với các
Trang 34thủ đoạn rất thâm độc, xảo quyệt của chiến lược “diễn biến hoà bình”, gâybạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thayđổi chế độ chính trị ở nước ta Trong nội bộ, xuất hiện những biểu hiện hoàinghi, xa rời mục tiêu, con đường đi lên của CNXH Tình hình đó, đã gây khókhăn đáng kể cho công tác xây dựng, củng cố TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn
của toàn Đảng nói chung, Đảng bộ tỉnh Nghệ An nói riêng
2.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An
Điều kiện tự nhiên
Địa danh Nghệ An có từ năm 1030 thời nhà Lý, niên hiệu Thiên Thành thứ
2 đời Lý Thái Tông Lúc đó gọi là Nghệ An châu trại, sau đó đổi thành trại Nghệ
An rồi Nghệ An phủ, Nghệ An thừa tuyên Năm 1490, vua Lê Thánh Tông (niênhiệu Hồng Đức thứ 21) đổi tên từ Nghệ An thừa tuyên thành xứ Nghệ An (gọi tắt
là xứ Nghệ) Năm 1831, thời vua Minh Mệnh, xứ Nghệ được tách thành hai tỉnhNghệ An và Hà Tĩnh Sau này khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày27/12/1975 Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa V, tại kỳ họp thứ hai đãquyết định phê chuẩn hợp nhất hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thành tỉnh NghệTĩnh Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khóa VIII ra nghịquyết chia tỉnh Nghệ Tĩnh để tái lập tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh
Nghệ An là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, nằm cách Thủ đô HàNội 291 km về phía Nam, có diện tích 16.493,7km2 Phía Bắc giáp tỉnh ThanhHóa; phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh; phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhândân Lào, có đường biên giới dài 419 km; phía Đông giáp biển Đông với 82 km
bờ biển Địa hình Nghệ An đa dạng, phức tạp, vừa dài vừa rộng, có biên giới,hải đảo, vùng núi cao, trung du, đồng bằng và vùng ven biển, bị chia cắt mạnhbởi các hệ thống đồi núi, sông suối, tạo ra nhiều vùng sâu, vùng xa đặc biệt khókhăn Trên tuyến biên giới và bờ biển Nghệ An, hoạt động buôn bán ma túy, di
cư bất hợp pháp, truyền đạo trái phép, các hoạt động chống phá cách mạng củacác thế lực thù địch, diễn ra rất phức tạp, tạo ra những điểm nóng gây mất ổnđịnh an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Tình hình đó đặt ra những thách
Trang 35thức không nhỏ đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối với công tác xâydựng, củng cố TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn, nhất là đối với các xã vùng sâu,vùng xa, biên giới và ven biển.
Về tổ chức hành chính, những năm 2005 - 2010, Nghệ An có 20 đơn vịhành chính cấp huyện, gồm: Thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, thị xã Thái Hòa(2008) và 17 huyện (Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô Lương, HưngNguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc, Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ, Kỳ Sơn,Con Cuông, Tương Dương, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong) với
477 xã, phường, thị trấn (17 thị trấn, 25 phường và 435 xã) Trong đó có 116
xã, thị trấn thuộc vùng núi cao (27 xã biên giới), 128 xã, phường, thị trấnvùng núi thấp và 233 xã, phường, thị trấn thuộc vùng đồng bằng và ven biển(28 xã, phường ven biển) Với số lượng đơn vị hành chính cấp xã lớn, quy mô,chất lượng không đồng đều đã ảnh hưởng đến quá trình xác định các tiêu chí trêncác mặt của công tác và xây dựng TCCSĐ phù hợp với từng vùng, từng khuvực; gây khó khăn trong việc kiểm tra, giám sát đảm bảo chất lượng, hiệu quảtrong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn
Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong những năm 2005 - 2010, cơ cấu kinh tế của tỉnh Nghệ An chủ yếuvẫn là kinh tế nông nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng mới đạt tỷ lệ33,44% (năm 2010) Tỷ lệ đói nghèo còn cao, thu nhập bình quân đầu người củatỉnh Nghệ An chỉ bằng 64% mức quân bình chung của cả nước Đời sống củaNhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa vẫn còn rất nhiều khó khăn Trước nhữngbiến đổi mạnh mẽ về KT-XH, do nhu cầu lao động, việc làm và thu nhập để cảithiện đời sống đã thu hút một lượng lớn lao động ở nông thôn Nghệ An rời quêhương đến các đô thị, khu công nghiệp trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài laođộng, trong đó có cả đảng viên (từ năm 2007 đến năm 2015, tỉnh Nghệ An đã cóhơn 1 triệu người lao động ở nước ngoài, trung bình mỗi năm có 93.000 ngườixuất cảnh) Lực lượng đoàn viên, thanh niên đang ở lứa tuổi đi học, phần lớn họchết phổ thông đều đi học cao đẳng, đại học, chuyên nghiệp hoặc đi làm ăn xa; số ít
Trang 36thanh niên ở lại địa phương do điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ nhận thức hạnchế nên ít tham gia sinh hoạt tại các tổ chức chính trị - xã hội ở thôn, xóm; chưa
có ý thức phấn đấu vào Đảng Tình hình đó đã tác động đến công tác xây dựngTCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An rất nhiều khó khăn,nhất là đối với công tác bồi dưỡng kết nạp đảng viên mới trong điều kiện “cạnnguồn”, yêu cầu đảm bảo trình độ đạt chuẩn và độ tuổi của người được kết nạpĐảng; hầu hết đảng viên đi làm ăn xa, đi xuất khẩu lao động bỏ sinh hoạt Đảng
Điều kiện dân cư, lịch sử, văn hóa, truyền thống
Về dân cư: Theo số liệu điều tra năm 2009, dân số tỉnh Nghệ An có
2.942.900 người, trong đó có gần 43 vạn đồng bào dân tộc thiểu số (chiếmkhoảng 14% dân số toàn tỉnh) cư trú trên địa bàn 10 huyện, 143 xã, 1.426 xóm,bản; khoảng 27 vạn giáo dân (chiếm khoảng 9% dân số toàn tỉnh), sinh hoạt ở
13 giáo hạt, 112 giáo xứ, cư trú ở 174 xã, phường, thị trấn thuộc 20 huyện, thị
xã, thành phố, với 839 xóm giáo Dân cư phân bố không đồng đều, sinh sốngtập trung ở đồng bằng và đô thị chiếm 85% (chủ yếu là người Kinh), 15 % làcác dân tộc còn lại (Thái, Mông, Khơ mú, Thổ, Ơ đu) sinh sống tập trung ởvùng miền núi rộng lớn phía Tây Ở vùng dân tộc thiểu số và vùng giáo trình
độ dân trí thấp, còn tồn tại nhiều phong tục, tập quán, lối sống lạc hậu; đời sốngcủa đồng bào còn nhiều khó khăn; năng lực, trình độ chuyên môn, hoạt độngthực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở vùng miền núi còn yếu; tìnhhình hoạt động của tôn giáo và lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng rấtphức tạp, làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương Yếu tốnày đã gây ra nhiều khó khăn đối với công tác xây dựng TCCSĐ như: Việccủng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ; bồidưỡng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng đội ngũ cán bộ, cấpủy; tuyên truyền, vận động, tạo nguồn phát triển đảng viên tại chỗ của cácTCCSĐ xã, phường, thị trấn vùng đặc thù
Về lịch sử truyền thống, văn hóa: Nghệ An là địa phương có bề dày truyền
thống, văn hóa, người dân Nghệ An cần cù lao động, thuần hậu chất phác, trọng
Trang 37nhân cách, có ý chí, có bản lĩnh, có tính nguyên tắc cao, có truyền thống yêu nước
và cách mạng, trung thành tuyệt đối với Đảng, dám xả thân hy sinh vì nghĩa lớn
Nét văn hóa của con người Nghệ An được đúc kết: Trung dũng; quyết liệt; cần kiệm; khảng khái; hiếu học; giàu chí tiến thủ; chân thành, thẳng thắn, tự trào, là mảnh đất “địa linh, nhân kiệt”, nơi có truyền thống yêu nước và cách mạng được
hun đúc từ bao đời Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, Nhân dân tỉnh Nghệ An đãcùng với cả nước viết nên những trang sử vàng chói lọi cho dân tộc Truyền thốngyêu nước và tinh thần cách mạng quật cường đó được phát huy khi Đảng Cộngsản Việt Nam ra đời Đây là nơi ghi dấu ấn đầu tiên của truyền thống đấu tranhcách mạng vô sản ở Việt Nam với cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh những năm 1930 -
1931, mở đầu cho cách mạng vô sản trong cả nước Là quê hương của nhiều nhàyêu nước như Phan Bội Châu, Nguyễn Xuân Ôn, Đặng Thái Thân; các lãnh đạocủa Đảng như Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong, Vớimảnh đất giàu truyền thống cách mạng, Đảng bộ và Nhân dân Nghệ An luôn kiêntrung với sự nghiệp cách mạng của Đảng, luôn phấn đấu vươn lên xây dựng Đảng
bộ TSVM, lãnh đạo Nhân dân vượt qua đói nghèo, xây dựng quê hương ngàycàng giàu đẹp, xứng đáng là quê hương của lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại Truyềnthống của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Nghệ An khắc họa dấu ấn sâu đậm trong lịch
sử, là điều kiện rất thuận lợi, là nguồn cổ vũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân trongcông tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, ổn định tình hình chính trị ởđịa phương, tổ chức có hiệu quả các phong trào của quần chúng, tích cực tham giaxây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn TSVM, cũng như thực hiện nhiệm vụchính trị của địa phương trong giai đoạn cách mạng mới
2.1.3 Thực trạng xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trước năm 2005
Đảng bộ tỉnh Nghệ An sớm hình thành và trải qua nhiều thời kỳ đấutranh, rèn luyện khốc liệt để trưởng thành Từ khi tái lập tỉnh (ngày 12 tháng 8năm 1991), đến tháng 12 năm 2005, có 17 đảng bộ huyện, 1 đảng bộ thành phố,
1 đảng bộ thị xã và 8 đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ Tổng số TCCSĐ trong toàn
Trang 38tỉnh là 1.546, trong đó có 436 đảng bộ xã, 37 đảng bộ phường, thị trấn, với 7.196chi bộ trực thuộc TCCSĐ xã, phường, thị trấn [Phụ lục 2], và 115.453 đảng viên[Phụ lục 3] Quán triệt, tổ chức thực hiện chủ trương xây dựng Đảng của Trungương và Đảng bộ, công tác xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn trước năm
2005 ở Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã đạt được kết quả nhất định
Ưu điểm, nguyên nhân
Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng: Các cấp ủy đảng ở xã, phường,
thị trấn đã chú trọng chăm lo giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên vàNhân dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủtrương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, truyền thống và nhữngthành tựu mà Đảng bộ đã đạt được trong sự nghiệp cách mạng nói chung, trongcông cuộc đổi mới nói riêng Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranhlàm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của cácthế lực thù địch, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng
Công tác xây dựng tổ chức đảng có nhiều chuyển biến tích cực: Năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của các TCCSĐ xã, phường, thị trấn từng bước được nâng lên.Chế độ sinh hoạt cấp ủy, chi bộ được duy trì có nề nếp, phương thức lãnh đạo củaTCCSĐ từng bước đổi mới; nguyên tắc tổ chức, chế độ tự phê bình và phê bình trongsinh hoạt Đảng được coi trọng Đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cốkiện toàn tổ chức đảng ở các vùng đặc thù của tỉnh Công tác đánh giá, xếp loạiTCCSĐ được chỉ đạo chặt chẽ, phản ánh đúng thực chất, tỉ lệ TCCSĐ ở xã, phường,thị trấn đạt TSVM năm sau cao hơn năm trước [Phụ lục 2]
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cấp ủy, xây dựng đội ngũ đảng viên ở xã, phường, thị trấn được các cấp ủy triển khai tích cực Chất lượng
đội ngũ cấp uỷ viên ở xã, phường, thị trấn từng bước được nâng lên; tỷ lệ cán
bộ trẻ, cán bộ nữ trong cấp ủy được quan tâm; năng lực, trình độ của cán bộ
cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ [Phụ lục 8] Đội ngũ đảng viên đượcnâng cao cả về số lượng và chất lượng; số lượng đảng viên ở xã, phường, thịtrấn ngày càng tăng, cơ cấu hợp lý theo hướng trẻ hóa và tỉ lệ nữ đạt trên 50%,công tác phát triển đảng viên ở vùng dân tộc thiểu số, vùng giáo được quan
Trang 39tâm Kết quả phân loại đảng viên năm 2005: Đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm
vụ 73,36% (trong đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 17,7%); đủ tư cách, hoànthành nhiệm vụ 25,9%; vi phạm tư cách 0,73% [Phụ lục 3]
Về thực hiện nhiệm vụ kiểm tra: Công tác kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng
được tăng cường; chú trọng tập trung kiểm tra những lĩnh vực, địa bàn nhạy cảm;
số cuộc kiểm tra hàng năm được tiến hành đạt trên 55% so với kế hoạch
Nguyên nhân ưu điểm: Đạt được những ưu điểm trên có nhiều nguyên
nhân, trong đó nguyên nhân chính là do cấp ủy các cấp đã quán triệt đầy đủ cácchủ trương, chính sách của Đảng, Nghị quyết Đại hội, Nghị quyết Trung ương,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư và thường xuyên, trực tiếp là chủ trương, quan điểm, sựchỉ đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đồng thời có sự sáng tạo,đổi mới trong tổ chức chỉ đạo, điều hành và bước đi, cách làm phù hợp
“Một bộ phận cán bộ, đảng viên ở xã, phường, thị trấn nhận thức về đường lối,quan điểm còn hạn chế, thiếu nghiêm túc trong học tập nghị quyết; suy thoái vềđạo đức, lối sống, nhũng nhiễu Nhân dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúccủa Nhân dân” [163, tr.371-372] Một số cán bộ xã, phường, thị trấn thiếu tudưỡng, rèn luyện, thiếu tinh thần cầu thị và ý chí vươn lên, ngại học tập lý luậnchính trị và học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Tư tưởng bảo thủ,trì trệ, trông chờ, ỷ lại, cục bộ, hẹp hòi chậm được khắc phục Tình hình an ninh
Trang 40chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn còn nhiều hiện tượng bất an, tệ nạn xã hộiphát triển, tình trạng tham nhũng chưa được khắc phục, nhiều cán bộ, đảng viênsai phạm làm nảy sinh tư tưởng hoài nghi, gây mất lòng tin, lo lắng của cán bộ,đảng viên Hình thức tiến hành công tác tư tưởng ở xã, phường, thị trấn cònnghèo nàn, xơ cứng, mang tình hình thức, vì vậy chưa đáp ứng nhu cầu, hiệu quảgiáo dục rèn luyện và sự chuyển biến trong nhận thức cán bộ, đảng viên Chấtlượng sinh hoạt tư tưởng trong nhiều TCCSĐ chưa đổi mới, tính giáo dục, tínhchiến đấu chưa cao; còn tình trạng e dè, nể nang, né tránh, không dám đấu tranhvới những biểu hiện sai trái, tiêu cực trong nội bộ
Hai là, công tác xây dựng tổ chức còn nhiều bất cập, việc xây dựng tổ chức đảng ở vùng đặc thù gặp nhiều khó khăn
Số đảng bộ xã, phường, thị trấn yếu kém trong lãnh đạo, không đáp ứngđòi hỏi của tình hình và yêu cầu, nhiệm vụ còn chiếm tỉ lệ cao: Năm 2003 có
11 TCCSĐ (chiếm 2,3%); năm 2004 có 10 TCCSĐ (chiếm 2,1%); năm 2005
có 05 TCCSĐ (chiếm 1,05%) [Phụ lục 2] Một số TCCSĐ yếu kém nhiềunăm liền (2003 - 2005), không khắc phục được như: Đảng bộ xã Nga Mỹ,Đảng bộ xã Xiêng My, Đảng bộ xã Yên Na, Đảng bộ xã Thạch Giám, Đảng
bộ xã Xá Lượng (huyện Tương Dương); Đảng bộ xã Mường Lống, Đảng bộ
xã Chiêu Lưu (huyện Kỳ Sơn); Đảng bộ thị trấn Con Cuông (huyện ConCuông), Đảng bộ xã Châu Hoàn, Đảng bộ xã Châu Nga (huyện Quỳ Châu),Đảng bộ xã Minh Hợp (huyện Quỳ Hợp),… Yếu kém phổ biến nhất là chưabao quát hết chức năng, nhiệm vụ, lúng túng trong thực hiện nhiệm vụ chínhtrị, nhất là lãnh đạo phát triển KT-XH, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ,nội bộ mất đoàn kết
Ở vùng dân tộc thiểu số hạn chế chủ yếu là chất lượng đội ngũ cán bộthấp, ở vùng đồng bào có đạo, khó khăn lớn nhất là xây dựng, phát triển chi bộ,đảng viên “Đến năm 2005, ở một số huyện có nhiều giáo dân, số xóm chưa cóchi bộ còn nhiều, trong đó huyện Hưng Nguyên 17 xóm, huyện Nghi Lộc 26xóm, huyện Diễn Châu 16 xóm, huyện Yên Thành 32 xóm, huyện Quỳnh Lưu
39 xóm” [169, tr.14]