ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HỌC PHẦN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ------ĐỀ TÀI CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG XÂY DỰNG NỘI DUNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HÓA GẮN
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HỌC PHẦN:
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
- -ĐỀ TÀI
CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG XÂY DỰNG NỘI DUNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRI THỨC
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:
HOÀNG KIM PHÚC(C) PHAN HIỀN
NGUYỄN MINH QUÝ NGÔ VĂN HIỆP Huế 11, 2010
Trang 2Từ đại hội Đảng lần thứ III, Đảng ta luôn coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, Đảng ta đã xác định thực chất của CNH xã hội chủ nghĩa là “Quyết tâm thực hiện cách mạng
kỹ thuật, thực hiện phân công mới về lao động xã hội là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng“ Thực tiễn lịch
sử đã chỉ rõ để thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế xã hội, khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm tăng trưởng nhanh ổn định, nước ta phải xác định
rõ cơ cấu kinh tế hợp lý, trang thiết bị ngày càng hiện đại cho các ngành kinh
tế Mặt khác, nước ta là nước đang phát triển vì vậy quá trình ấy gắn liền với quá trình công nghiệp hoá để từ đó hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của ta trước đây do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân nóng vội chúng ta đã mắc phải một số sai lầm khuyết điểm mà đại hội Đảng lần thứ VI và VII đã vạch ra
Việc xây dựng đúng đắn những quan điểm CNH-HĐH ở Việt Nam hiện nay có vị trí rất quan trọng đối với quá trình CNH-HĐH Bởi xây dựng đầy đủ các quan điểm CNH-HĐH sẽ là cơ sở đúng đắn cho việc định hướng, định lượng chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nội dung và các bước đi của CNH-HĐH phù hợp với bối cảnh xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Nghị quyết đại hội VIII của Đảng đã đưa sự nghiệp đổi mới lên tầm cao mới, đẩy mạnh CNH-HĐH Mặt khác, CNH-HĐH đất nước phải chứa
xuyên suốt đó là dân giầu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh thì Đảng ta phải trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
kế thừa 15 năm đổi mới đất nước
Trang 3I Khái niệm
1 Khái niệm CNH-HĐH
Cho đến nay, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về CNH-HĐH
Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của liên hợp quốc (UNID) đã đ a
ra định nghĩa sau đây: CNH là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nớc với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những t liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế và xã hội
Hiện đại hoá lá quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ chỗ theo những qui trình công nghệ phơng tiện phơng pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra năng xuất lao động hiệu quả và trình độ văn minh kinh tế xã hội cao
Ở nớc ta, theo văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng lao
động Việt Nam thì CNH xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ Đảng ta đã xác định thực chất của CNH xã hội chủ nghĩa là “quá trình thực tiễn cách mạng khoa học kỹ thuật, thực sự phân công mới về lao động xã hội và quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất
mở rộng”
Theo văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tám ban chấp hành Trung Ương khoá VIII thì CNH,HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao
động thử công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động với công nghệ, ph
-ơng tiện, ph-ơng pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo ra năng xuất lao động cao
2 Khái niệm Kinh tế tri thức
- Kinh tế tri thức là: “nền kinh tế sử dụng một cỏch hiệu quả tri thức cho sự phỏt triển KT-XH Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến cụng nghệ nước ngoài cũng như sự thớch hợp hoỏ và sỏng tạo hoỏ cỏc tri thức cho những nhu cầu riờng biệt"
Trang 4- Theo Giỏo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Cụng nghệ thụng tin thỡ "Kinh
tế tri thức là nền kinh tế trong đú sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trũ quyết định đối với sự phỏt triển kinh tế, tạo ra của cải, nõng cao chất lượng cuộc sống"
- Theo định nghĩa của WBI - là "nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chớnh cho tăng trưởng kinh tế Đú là nền kinh tế trong đú kiến thức được lĩnh hội, sỏng tạo, phổ biến và vận dụng để thỳc đẩy phỏt triển"
- Tại hội thảo, Jean-Eric Aubert, chuyờn gia hàng đầu của WBI, núi cụ thể hơn: :
"Phải phõn biệt đú khụng phải là nền kinh tế dựa vào cụng nghệ và viễn thụng! Kinh tế tri thức là đặt tri thức, sỏng tạo và cỏc chớnh sỏch liờn quan đến chỳng vào trọng tõm của chiến lược phỏt triển cho tất cả cỏc nước ở nhiều mức độ phỏt triển khỏc nhau
II Cơ sở Đảng ta xác định nội dung và định hớng CNH-HĐH
1 Bối cảnh lịch sử
a Bối cảnh trong và ngoài nớc
Nền kinh tế của nớc ta trong quá trình phát triển gặp rất nhiều khó khăn: chịu sự tàn phá nặng nề của chiến tranh, sự chủ quan ỷ lại của lãnh đạo trong khôi phục kinh tế sau chiến tranh bằng máy móc dập khuôn mô hình kinh tế Liên Xô cũ Bởi vậy, trong một thời gian nền kinh tế n ớc ta lâm vào tình trạng trì trệ và lạc hậu Sự nghiệp CNH-HĐH lại đợc tiến hành sau một loạt nớc trong khu vực và trên thế giới Đó là một khó khăn và thiệt thòi lớn nh ng đồng thời nó cũng tạo ra cho chúng ta những thuận lợi nhất định Khó khăn là trang thiết bị của chúng ta đã bị lạc hậu đến 40, 50 năm so với các nớc tiên tiến trên thế giới Còn thuận lợi đợc thể hiện trớc hết ở chỗ thông qua những kinh nghiệm thành công và không thành công của các nớc trong khu vực và trên thế giới, chúng ta
có thể rút ra những bài học bổ ích cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc
Ở miền Bắc từ năm 1960 đến năm 1975
Đại hội III của Đảng (thỏng 9/1960) trờn cơ sở phõn tớch đặc điểm miền Bắc, trong
đú đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế nụng nghiệp lạc hậu tiến thẳng lờn chủ nghĩa xó hội khụng trải qua giai đoạn phỏt triển tư bản chủ nghĩa, đó khẳng định:
Trang 5+ Tính tất yếu của công nghiệp hóa đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Quan điểm này được khẳng định nhiều lần
trong các Đại hội Đảng sau này
+ Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là xây dựng một nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài, phải thực hiện qua nhiều giai đoạn
- Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá III (tháng 4/1962) nêu phương hướng chỉ đạo và phát triển công nghiệp:
+ Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý
+ Kết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp
+ Ra sức phát triển công nghiệp nhẹ song song với ưu tiên phát triển công nghiệp nặng
+ Ra sức phát triển công nghiệp trung ương, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp địa phương
Trên phạm vi cả nước từ năm 1975 đến năm 1985
- Đại hội IV của Đảng (tháng 12/1976), trên cơ sở phân tích toàn diện tình hình trong nước và quốc tế, đề ra đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp trong cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương, vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh
tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất”
- Đại hội V của Đảng (tháng 3/1982):
Trang 6+ Rỳt ra kết luận: từ một nền sản xuất nhỏ đi lờn, điều quan trọng là phải xỏc định đỳng bước đi của cụng nghiệp húa cho phự hợp với mục tiờu và khả năng của mỗi chặng đường
+ Nội dung chớnh của cụng nghiệp húa trong chặng đường trước mắt của thời kỳ quỏ độ là lấy nụng nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phỏt triển cụng nghiệp sản xuất hàng tiờu dựng; việc xõy dựng và phỏt triển cụng nghiệp nặng trong giai đoạn này cần làm cú mức độ, vừa sức, nhằm phục vụ thiết thực, cú hiệu quả cho nụng nghiệp và cụng nghiệp nhẹ
b CNH - HĐH là một tất yếu khách quan
Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ, để thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế xã hội khai thác tối u các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng tr ởng ổn định,
n-ớc ta phải xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, trang thiết bị ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế, quá trình ấy gắn liền với quá trình CNH
Để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, Việt Nam phải tìm cho mình một con đ -ờng đặc thù, vừa phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế xã hội trong n ớc vừa bảo đảm xu thế phát triển chung của thế giới
Để tiến hành sản xuất lớn, hiện đại, nớc ta phải thực hiện quá trình công nghiệp hoá Đây là một quá trình nhảy vọt của LLSX và của khoa học kĩ thuật Trong thời kỳ CNH - HĐH LLSX phát triển một cách mạnh mẽ cả về số l ợng và chất lợng, chủng loại và quy mô LLSX đợc tạo ra trong thời kỳ này là cái “cốt“ vật chất kĩ thuật rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc
Ở nớc ta CNH XHCN đợc coi là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ
Đảng ta đã xác định đợc thực chất của CNH XHCN là “quá trình thực hiện sự phân công mới về lao động và là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng tái sản xuất mở rộng, CNH XHCN là quá trình xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, do giai cấp công nhân và nông dân lao động d ới sự chỉ
đạo của Đảng cộng sản CNH XHCN có nhiệm vụ đ a nền kinh tế nớc ta từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN Qua đó, để xây dựng n ớc ta trở thành nớc XHCN có nền công nông nghiệp hiện đại, kĩ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, cuộc sống văn minh và hạnh phúc, chúng ta phải tiến hành CNH-HĐH
đất nớc
Trang 7c Vai trò của CNH - HĐH trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam
Công nghiệp hoá là một giai đoạn phát triển tất yếu của mỗi quốc gia N ớc
ta từ một nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển, muốn v ơn tới trình độ phát triển cao, nhất thiết phải trải qua CNH Thực hiện tốt CNH-HĐH có ý nghĩa đặc biệt to lớn và có tác dụng trên nhiều mặt:
- CNH-HĐH làm phát triển lực lợng sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng sức chế ngự của con ngời đối với tự nhiên, tăng trởng kinh tế, do đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần quyết định sự thắng lợi của CNXH
- Tạo tiền đề về vật chất để không ngừng củng cố và tăng cờng vai trò kinh
tế nhà nớc, nâng cao năng lực tích luỹ, tăng công ăn việc làm, nhờ đó làm tăng
sự phát triển tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế của con ng ời-nhân
tố trung tâm của nền sản xuất xã hội Từ đó, con ng ời có thể phát huy vai trò của mình đối với nền sản xuất xã hội
- CNH-HĐH góp phần phát triển kinh tế-xã hội Kinh tế có phát triển thì mới có đủ điều kiện vật chất cho tăng cờng củng cố an ninh quốc phòng, đủ sức chống thù trong giặc ngoài
- CNH-HĐH góp phần tăng nhanh quy mô thị trờng Bên cạnh thị trờng hàng hoá, còn xuất hiện các thị trờng vốn, thị trờng lao động, thị trờng công nghệ Vì vậy, việc sử dụng tín dụng, ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác tăng mạnh CNH-HĐH cũng tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân công và hợp tác quốc tế
III Cơ sở để Đảng ta nhận định nội dung và định hướng CNH - HĐH
gắn với phỏt triển kinh tế tri thức.
Từ thế kỉ XVII, XVIII, cỏc nước Tõy Âu đó tiến hành CNH Khi đú CNH được hiểu là quỏ trỡnh thay thế lao động thủ cụng bằng lao động sử dụng mỏy múc Nhưng trong thời đại ngày nay, Đại hội X nhận định : “Khoa học và cụng nghệ sẽ cú bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức cú vai trũ ngày càng nổi bật trong quỏ trỡnh phỏt triển lực lượng sản xuất” Cuộc cỏch mạng khoa học cụng nghệ hiện đại tỏc động sõu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống xó hội Bờn cạnh
Trang 8đó, xu thế hội nhập và tác động của quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với đất nước Trong bối cảnh đó, nước ta cần phải
và có thể tiến hành công nghiệp hóa theo kiểu rút ngắn thời gian khi biết lựa chọn con đường phát triển kết hợp CNH với HĐH
Nước ta thực hiện CNH – HĐH khi trên thế giới kinh tế tri thức đã phát triển Chúng ta có thể và cần thiết không trải qua các bước phát triển tuần tự từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế tri thức
Đó là lợi thế của nước đi sau, khôn phải là nóng vội, duy ý chí Vì vậy, Đại hội
X chỉ rõ: đẩy mạnh CNH- HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của CNH – HĐH.
1 Cơ sở để Đảng ta xác định nội dung và định hướng CNH-HĐH gắn với Kinh tế tri thức
Ở miền Bắc từ năm 1960 đến năm 1975 và Trên phạm vi cả nước từ năm
1975 đến năm 1985 với tư tưởng nóng vội, giản đơn duy ý chí, ham làm nhanh làm lớn, không tính đến hiệu quả kinh tế xã hội muốn hoàn thành chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng và rập khuôn một cách máy móc theo Liên Xô nên Đảng ta
đã đề ra những đường lối công nghiệp hóa sai lầm
Qua tình hình phát triển kinh tế và xã hội từ năm 1960 đến 1985, Đảng ta nhận định được những sai lầm mà những sai lầm đó chính là cơ sở để nhận định nội dung và định hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Những sai lầm đó là:
- Nền kinh tế tiến hành CNH theo mô hình khép kín, hướng nội, thiên về phát triển công nghiệp nặng
Trang 9- Công nghiệp hóa dựa vào lợi thế lao động, nguồn tài nguyên và viện trợ nước ngoài
- Công nghiệp hóa tiến hành trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp không tôn trọng các quy luật thị trường
- Tiến hành công nghiệp hóa từ điểm xuất phát thấp, cơ sở vật chất - kỹ thuật còn hết sức lạc hậu Những ngành công nghiệp then chốt còn nhỏ bé và chưa được xây dựng đồng bộ, chưa đủ sức làm nền tảng cho nền kinh tế quốc dân và trong điều kiện chiến tranh kéo dài, vừa bị tàn phá nặng nề, vừa không thể tập trung sức người, sức của cho công nghiệp hóa
- Lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mới chỉ bước đầu phát triển, nông nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội Đất nước vẫn trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, rơi vào khủng hoảng kinh tế
-xã hội
Từ những sai lầm trên Đảng ta đã có những đổi mới tư duy về CNH- HĐH đối với nước ta
- Đại hội VI của Đảng đã cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên thời kỳ quá độ là thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
- Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 1/1994) có bước đột phá mới, trước hết ở nhận thức về khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của khoa học - công nghệ, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao”
Trang 10- Đại hội VIII của Đảng (tháng 6/1996) nhận định nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn
bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời
kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội nêu sáu quan
điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và định hướng những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm còn lại của thế kỷ XX Sáu quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa là:
+ Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài; xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả
+ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo
+ Lấy việc phát huy yếu tố con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh, bền vững; động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng cường tích lũy cho đầu tư và phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
+ Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định
+ Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển; lựa chọn dự án đầu tư công nghệ; đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực hiện có; trong phát triển mới, ưu tiên qui mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo việc làm, thu hồi vốn nhanh,…
+ Kết hợp kinh tế với quốc phòng
- Đại hội IX (tháng 4/2001) và Đại hội X (tháng 4/2006) của Đảng tiếp tục bổ sung và nhấn mạnh một số điểm mới về công nghiệp hóa: