1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình lợn con mắc hội chứng tiêu chảy giai đoạn từ 1 21 ngày tuổi nuôi tại trại lợn bùi đức dũng thị trấn đu huyện phú lương thái nguyên

58 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 609,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 2.1: Lịch vệ sinh phòng bệnh của trại lợn nái Thứ Trong chuồng Ngoài Chuồng Ngoài khu vực chăn nuôi Phun sát trùng Phun sát trùng toàn bộ khu vực Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Trang 1

- -

NGUYỄN VĂN VINH

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY GIAI ĐOẠN

TỪ 1 ĐẾN 21 NGÀY TUỔI NUÔI TẠI TRẠI LỢN BÙI ĐỨC DŨNG, TT

ĐU, HUYỆN PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

- -

NGUYỄN VĂN VINH

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY GIAI ĐOẠN

TỪ 1 ĐẾN 21 NGÀY TUỔI NUÔI TẠI TRẠI LỢN BÙI ĐỨC DŨNG, TT

ĐU, HUYỆN PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN VĂN SỬU

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá tình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học Được sự giúp đỡ giảng dạy nhiệt tình của các Thầy cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y, Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới:

Ban Giám Hiệu Nhà trường, các thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y cùng tất cả bạn bè đồng nghiệp và người thân đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi thực hiện đề tài và hoàn thiện cuốn khóa luận này

Tôi xin cảm ơn tới cấp ủy, chính quyền TT Đu, Phú Lương, Thái Nguyên, chủ trại chăn nuôi Bùi Đức Dũng, TT Đu, Phú Lương, Thái Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Văn Sửu đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành cuốn khóa luận này

Một lần nữa tôi xin gửi tới các Thầy giáo, cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe, cùng mọi điều tốt đẹp nhất

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Văn Vinh

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình đào tạo trong Nhà trường, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho sinh viên có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo, để khi ra trường trở thành một người cán bộ có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước

Xuất phát từ quan điểm trên và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Được sự nhất trí của thầy giáo hướng dẫn

và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình lợn con mắc hội chứng tiêu chảy giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi nuôi tại trại lợn Bùi Đức Dũng, TT Đu, Huyện Phú Lương, Thái Nguyên” Do thời gian thực tập có hạn,

kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên trong bản khóa luận tốt nghiệp này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp

ý kiến của các thầy cô giáo, của bạn bè, đồng nghiệp để bản khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Lịch vệ sinh phòng bệnh của trại lợn nái 5

Bảng 2.2: Quy trình sử dụng vắc xin và các chế phẩm thú y phòng bệnh cho lợn con tại trại 5

Bảng 2.3 Cơ cấu đàn lợn qua các năm 7

Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 36

Bảng 4.2: Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy 37

Bảng 4.3: Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi 37

Bảng 4.4: Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy lợn con theo các tháng 39

Bảng 4.5: Tỷ lệ lợn con chết do mắc hội chứng tiêu chảy 41

Bảng 4.6: Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc hội chứng tiêu chảy 42

Bảng 4.7: Bệnh tích mổ khám lợn con chết do mắc hội chứng tiêu chảy 43

Bảng 4.8: Kết quả điều trị tiêu chảy ở lợn 44

Trang 6

ST : Heat stable toxin

LT : Heat labile toxin

DNA : Deoxyribonucleic acid

KHKT : Khoa học kỹ thuật

Trang 7

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 6

2.2 Tổng quan tài liệu 7

2.2.1 Cơ sở khoa học 7

2.2.2 Vài nét về tình hình nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ trong và ngoài nước 27

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.3 Nội dung nghiên cứu 30

3.3.1 Thực hiện những quy trình kỹ thuật tại trang trại Bùi Đức Dũng 30

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31

3.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 31

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 33

Trang 8

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Kết quả phục vụ sản xuất 34

4.1.1 Điều trị một số bệnh trong thời gian thực tập 34

4.2 Kết quả thực hiện chuyên đề 36

4.2.1 Kết quả về tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo cá thể 36

4.2.2 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi 37

4.2.3 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo tháng 39

4.2.4 Tỷ lệ lợn con chết do mắc hội chứng tiêu chảy 41

4.2.5 Biểu hiện của hội chứng tiêu chảy 41

4.2.6 Bệnh tích mổ khám lợn con chết do mắc tiêu chảy 42

4.2.7 Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc 43

Phần 5 KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong chiến lược phát triển chăn nuôi, nước ta sẽ hướng tới sự tập trung công nghiệp, sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã được Chính phủ giao cho xây dựng chiến lược phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020 nhằm các mục tiêu: Các sản phẩm của ngành chăn nuôi phải đảm bảo vệ sinh môi trường, đặc biệt đáp ứng được nhu cầu

về an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh

an toàn thực phẩm Như vậy, việc giám sát quy trình sản xuất từ đầu vào của chăn nuôi tới thành phẩm cho người tiêu dùng đòi hỏi phải chặt chẽ hay nói cách khác là

từ “chuồng trại tới bàn ăn” phải đồng bộ

Trong chăn nuôi, lợn là đối tượng vật nuôi chiếm số lượng và tỷ trọng cao nhất, các sản phẩm từ thịt lợn cũng là mặt hàng chính trên thị trường buôn bán do nhu cầu tiêu thụ của người dân cao Do đó, bất cứ yếu tố nào nguy hiểm có hại như dịch bệnh đều ảnh hưởng xấu đến giá cả thị trường, làm giảm hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi nói chung

Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại ở nước ta ngày càng phổ biến và đạt hiệu quả kinh tế cao, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, khó khăn nan giải nhất gặp phải trong chăn nuôi chính là vấn đề dịch bệnh Nó đã, đang và sẽ gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi Một trong những bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế đó là bệnh tiêu chảy của vật nuôi Trong chăn nuôi lợn tập trung, bệnh lây lan mạnh, lại thường xuyên gặp, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi, tỷ lệ chết cao, giảm khả năng tăng trọng của đàn lợn

Bệnh thường xảy ra làm cho lợn con bị viêm ruột ỉa chảy, mất nước và điện giải dẫn đến giảm sức đề kháng, còi cọc và chết nếu không được điều trị kịp thời Cũng xoay quanh bệnh này, rất nhiều các trang trại hay các nhà máy sản xuất thức

ăn công nghiệp đã sử dụng kháng sinh trộn vào thức ăn, nước uống để phòng tiêu

Trang 10

chảy và điều trị bệnh Do không thực hiện đúng nguyên tắc sử dụng kháng sinh nên hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn ngày càng gia tăng và tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm có nguồn gốc động vật là rất cao

Xuất phát từ tình hình thực tế trên cùng sự giúp đỡ của cơ sở thực tập và đặc

biệt dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Sửu tôi đã tiến hành đề tài “Tình hình lợn con mắc hội chứng tiêu chảy giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi nuôi tại trại lợn Bùi Đức Dũng, TT Đu, Huyện Phú Lương, Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá thực trạng lợn con mắc tiêu chảy tại trại chăn nuôi lợn Bùi Đức Dũng, TT Đu, Huyện Phú Lương, Thái Nguyên

- Đánh giá hiệu quả điều trị của hai loại thuốc: Nova-amcoli và Nor 100

1.3 Ý nghĩa của đề tài

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

Trang trại chăn nuôi Bùi Đức Dũng nằm trên địa bàn TT Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Từ Quốc lộ 3 đi vào trục đường xã Ôn Lương, Phủ Lý, Hợp Thành gần 1 km, khu trang trại chăn nuôi được xây dựng khá quy mô Cả khuôn viên gồm vườn, trang trại và khu nhà ở rộng gần 10.000m2 đều được xây dựng khang trang, sạch sẽ và rộng rãi Trại có 2 khu chuồng chính là khu chuồng nuôi lợn sinh sản và khu chuồng nuôi lợn thịt với tổng diện tích hơn 6000m2 Hiện nay, trại của gia đình ông đang nuôi trên 1600 con lợn, trong đó có 150 con lợn nái, hơn 900 con lợn con và 600 con lợn thịt

Trang trại ông Bùi Đức Dũng là một trong những hộ đầu tiên đăng ký và duy trì nhất trên địa bàn huyện Phú Lương về chăn nuôi lợn theo quy trình VietGAP Cùng với sự quản lý của gia đình, trại còn phải thuê thêm 6 công nhân làm việc trong trại, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng

Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Vệ sinh phòng bệnh nhằm nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm Cùng với việc vệ sinh thức ăn, nước uống, vật nuôi, dụng cụ chăn nuôi, sinh sản… thì việc vệ sinh chuồng trại, cải tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi luôn được cán bộ thú y và đội ngũ công nhân kỹ thuật thực hiện chặt chẽ

Chuồng trại được thiết kế và xây dựng theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Với lợn con tuyệt đối không tắm rửa để tránh lạnh và ẩm ướt, định kỳ tiêu độc ở các chuồng nuôi lợn nái, lợn đực làm việc bằng thuốc sát trùng, Trại còn thường xuyên tiến hành vệ sinh môi trường xung quanh như việc dọn cỏ, phát quang bụi rậm, diệt chuột, thu dọn phân hằng ngày ở các ô chuồng

Trang 12

Hiện nay, trại áp dụng quy trình chăn nuôi “cùng vào - cùng ra”, trong đó một chuồng hoặc cả một dãy chuồng được đưa vào để nhốt đồng loạt cùng một loại lợn (có thể tương đồng về khối lượng, tuổi) Sau một thời gian nhất định số lợn này được đưa ra khỏi chuồng, lúc đó chuồng trại được rửa sạch, phun thuốc sát trùng và

để trống ít nhất 5 ngày trước khi đưa đàn lợn mới lên đẻ Như vậy quy trình này có tác dụng phòng bệnh do vệ sinh chuồng trại thường xuyên, định kỳ mỗi khi xuất hết lợn, do đó hạn chế được khả năng lan truyền các mầm bệnh từ lô này sang lô khác

Hệ thống thông thoáng đối với chăn nuôi lợn công nghiệp rất quan trọng, ngoài việc cung cấp đủ oxy cho quá trình hô hấp của lợn, nó còn giúp giải phóng khí độc do phân, nước tiểu gây ra Chính vì vậy, trại đã sử dụng hệ thống làm mát

và chống nóng ở mỗi dãy chuồng vào mùa hè và hệ thống sưởi ấm vào mùa đông Bên cạnh đó các dãy chuồng được sắp xếp theo hướng Đông Nam để đảm bảo ấm

áp vào mùa đông, thoáng mát về mùa hè

Đặc biệt vào mùa hè, thời tiết rất nóng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh sản của đàn lợn nái cũng như sự sinh trưởng và phát triển của lợn con

Do đó trại đã lắp đặt hệ thống chống nóng gồm hệ thống quạt gió ở cuối mỗi dãy chuồng có tác dụng hút không khí có hơi nước từ hệ thống dàn mát trên đầu chuồng tạo luồng khí mát, thông thoáng Hai dãy tường chuồng được phủ một tấm lưới cách nhiệt và có tác dụng giữ ẩm Chính vì vậy không khí trong chuồng lợn luôn mát và nhiệt độ luôn duy trì trong khoảng 28oC - 30oC

Trại trang bị hệ thống lồng úm bên trong có treo một bóng đèn hồng ngoại công suất 175W hoặc lắp một tấm sưởi ở mỗi ô chuồng Với lợn sau cai sữa cũng

có một đèn sưởi hoặc tấm sưởi ở mỗi ô chuồng, đảm bảo luôn duy trì nhiệt độ thích hợp cho lợn con

Lịch sát trùng được trình bày ở bảng 2.1

Trang 13

Bảng 2.1: Lịch vệ sinh phòng bệnh của trại lợn nái

Thứ

Trong chuồng

Ngoài Chuồng

Ngoài khu vực chăn nuôi

Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Thứ 3 Phun sát

trùng

Phun sát trùng + quét vôi đường đi

Quét hoặc rắc vôi đường đi Thứ 4 Xả vôi xút

gầm Phun sát trùng Rắc vôi Rắc vôi Thứ 5 Phun ghẻ Phun sát trùng +

xả vôi xút gầm Phun ghẻ Thứ 6 Phun sát

trùng

Phun sát trùng + rắc vôi

Phun sát trùng

Phun sát trùng Phun sát trùng Thứ 7 Vệ sinh tổng

chuồng

Vệ sinh tổng chuồng

Vệ sinh tổng chuồng

Vệ sinh tổng khu

* Phòng bệnh bằng vắc xin cho lợn

Việc phòng bệnh bằng vắc xin luôn được cán bộ kĩ thuật coi trọng và đặt lên hàng đầu với mục tiêu phòng hơn chống Do đặc thù trại nái ngoại chuyên sản xuất con giống nên trại có đủ các loại lợn ở mọi lứa tuổi khác nhau Chính vì vậy việc theo dõi và thực hiện lịch tiêm phòng vắc xin chính xác là rất quan trọng Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn con được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.2: Quy trình sử dụng vắc xin và các chế phẩm thú y phòng bệnh cho

lợn con tại trại

STT Tên chế phẩm Phòng bệnh Ngày

tuổi

Liều lượng (ml)

Cách dùng

1 Nova Fer Thiếu sắt 1 - 3 2 Tiêm bắp

2 Myco – Pac Viêm phổi 10 - 25 2 Tiêm bắp

3 HC – Vac Dịch tả lợn 21 - 45 2 Tiêm bắp

Trang 14

- Quy trình tiêm phòng cho lợn hậu bị:

Sau khi nhập vào trại:

Tuần 2: Parvo1 + AD1 (Diluvac fort)

Tuần 3: SFV (Dịch tả) + FMD (3 type hoặc 2 type)

Tuần 4: Mycoplasma

Tuần 5: PRRS

Tuần 6: Parvo2 + AD2

Tuần 7: Nghỉ

Tuần 8: Phối giống

- Tiêm phòng cho lợn nái chửa:

Mang thai tuần thứ 10: SFV (Dịch tả)

Mang thai tuần thứ 12: FMD (3type hoặc 2 type)

Ghi chú: Định kỳ vắc xin AD tổng đàn nái và nái hậu bị vào tháng 4, 8, và 12 trong năm Định kỳ tiêm vắc xin PRRS cho tổng đàn nái và nái hậu bị vào tháng 3, 7

và 11

- Lợn đực khai thác:

AD, FMD định kỳ vào tháng 4, 8 và 12 trong năm

SFV định kỳ 8 tháng 1 lần sau khi tiêm AD và FMD 1 tuần

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn đƣợc trại thực hiện nghiêm túc, đầy

đủ và đúng kỹ thuật Lợn đƣợc tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, đƣợc chăm sóc nuôi dƣỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo đƣợc trạng thái miễn dịch tốt nhất

2.1.2 Công tác chăn nuôi tại cơ sở

Cơ cấu đàn lợn qua các năm

Trang 15

Bảng 2.3 Cơ cấu đàn lợn qua các năm

Loại lợn

Số lượng lợn của các năm (con) Tỷ lệ tổng đàn

05/2017 (%)

2015 là 2,1 lần Sự thay đổi này là do thay đổi từ đàn lợn nái sinh sản: Năm 2015 là

70 con, năm 2016 là 150 con, tăng lên 80 con; Đàn lợn con năm 2015 là 1235 con, năm 2016 là 2600 con, tăng 1365 con; Đàn lợn thịt năm 2015 là 1150 con, năm

2016 là 2460 con, tăng 1310 con Đến tháng 05/2017 tổng đàn lợn có sự sụt giảm

do ảnh hưởng của thị trường, giá lợn trong nước nhiều lần giảm mạnh, giá lợn thấp

kỉ lục trong nhiều năm qua Cụ thể tổng đàn lợn là 1674 con, trong đó lợn nái sinh sản là 110 con, chiếm 6,57% tổng đàn; Lợn con là 960 con, chiếm 57,35% tổng đàn; Lợn đực là 4 con, chiếm 0,24% tổng đàn; Lợn thịt là 600 con, chiếm 35,84% tổng đàn

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Cơ sở khoa học

2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con

Sinh lý của lợn con theo mẹ là khả năng thích ứng của cơ thể từ môi trường trong bụng mẹ có nhiệt độ từ 38 - 400C ra môi trường bên ngoài có nhiệt độ thấp hơn, làm ảnh hưởng đến sự thành thục và hoàn thiện về chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể lợn sơ sinh

+ Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

Trang 16

Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là cơ quan tiêu hoá chưa thành thục Hàm lượng HCl và các men tiêu hoá chưa hoàn thiện Thời gian đầu, dịch tiêu hoá ở lợn con thiếu cả về chất và lượng Lợn con trước một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do vì lúc này lượng HCl tiết ra rất

ít và nhanh, chúng liên kết với niêm dịch

+ Cơ năng điều tiết thân nhiệt

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do:

- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả hai giai đoạn trong và ngoài thai

- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt và cs (1996)) [9]

- Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs, (2003)) [16]

+ Hệ miễn dịch của lợn con

Ở cơ thể lợn con, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, chúng chưa có khả năng tạo kháng thể chủ động mà chỉ có được kháng thể từ mẹ truyền sang qua nhau thai hay sữa đầu Bộ máy tiêu hóa và các dịch tiêu hóa ở gia súc non hoạt động rất yếu Lượng enzyme tiêu hóa và HCl tiết ra chưa đủ nên dễ gây rối loạn tiêu hóa, vì

vậy mầm bệnh (Salmonella, E coli, Cl.perfringens…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể

qua đường tiêu hóa

Theo Trần Thị Dân (2008) [3]: Lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 - 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì

Trang 17

vậy, cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh

+ Hệ vi sinh vật đường ruột

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [24], hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:

- Nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm: E coli, Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng E coli trở lên cường độc gây bệnh Cấu trúc kháng nguyên của E coli rất đa dạng Theo Bertschinger H U (1999) [33], cho

đến nay đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H Ngoài 3 loại kháng nguyên thông thường trên, còn có thêm kháng nguyên

bám dính F, yếu tố gây bệnh không phải là độc tố của E Coli (Đặng Xuân Bình, 2010)

[2] Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước uống vào hệ

tiêu hoá gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn con có các trực khuẩn yếm khí gây thối rữa: Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus…

2.2.1.2 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy

Tiêu chảy là thuật ngữ để chỉ hiện tượng đại tiện phân lỏng, được mô tả phân

lỏng, nhiều nước hoặc có máu và mủ

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch (Phạm Ngọc Thạch, (1996)) [25]

Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, hoặc loài gia súc, hoặc nguyên nhân chính gây bệnh mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng tên khác nhau như bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ, gọi là bệnh lợn con ỉa phân trắng, hay bê nghé ỉa phân trắng,… còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hoá, hoặc hội chứng rối loạn tiêu hoá Nếu xét về nguyên nhân chính gây bệnh thì có

các tên gọi như bệnh Colibacillosis do vi khuẩn E coli gây ra, bệnh Phó thương hàn lợn do vi khuẩn Salmonella cholerae suis gây ra, bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do Coronavirus gây ra …

Trang 18

Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể nhưng khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 đến 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75% trở lên gọi là hiện tượng tiêu chảy Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra đồng thời nên gọi là hội chứng tiêu chảy Cho dù do bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả nghiêm trọng là mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức, những gia súc khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn Đặc biệt khi gia súc bị tiêu chảy nặng kèm hiện tượng viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa dẫn đến gia súc có thể chết với tỷ lệ cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế

2.2.1.3 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy

* Do vi khuẩn

Khi nghiên cứu về nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy nhiều tác giả đã kết luận rằng trong bất cứ trường hợp nào của bệnh cũng có vai trò tác động của vi khuẩn

Trong đường ruột của gia súc nói chu ng và của lợn nói riêng, có rất nhiều loài

vi sinh vật sinh sống Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng hệ sinh thái Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng động theo hướng có lợi cho cơ thể vật chủ Hoạt động sinh lý của gia súc chỉ diễn ra bình thường khi mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái cân bằng Sự cân bằng này biểu hiện ở sự ổn định của môi trường đường tiêu hóa của con vật và quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật với nhau trong hệ vi sinh vật đường ruột Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái cân bằng này bị phá vỡ dẫn đến loạn khuẩn và hậu quả là lợn bị tiêu chảy Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng khi gặp những điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hóa sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh

- Các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy chủ yếu là:

+ Escherichia coli (thường được viết tắt là E coli) hay còn được gọi là vi

khuẩn đại tràng là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm chim và động vật có vú) Vi khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn và là thành phần của khuẩn lạc ruột Sự có mặt

của E coli trong nước ngầm là một chỉ thị thường gặp cho ô nhiễm phân E coli thuộc

Trang 19

họ vi khuẩn Enterobacteriaceae và thường được sử dụng làm sinh vật mô hình cho

các nghiên cứu về vi khuẩn

Hình thái: E coli là một trực khuẩn Gram âm, hình gậy ngắn, kích thước 2 - 3

x 0,6µ Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông xung quanh thân nên có thể di động được, không hình thành nha bào,

có thể có giáp mô

Độc tố: vi khuẩn E coli tạo ra 2 loại độc tố là nội độc tố và ngoại độc tố

Ngoại độc tố: là một chất không chịu được nhiệt, dễ bị phá hủy ở 560

C trong vòng 10 - 30 phút Dưới tác dụng của formon và nhiệt ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính thần kinh và gây hoại tử

Nội độc tố: là yếu tố gây độc nằm trong tế bào vi khuẩn và gắn với tế bào vi khuẩn rất chặt Nội độc tố có tính kháng nguyên hoàn toàn, chịu nhiệt và có khả năng sinh choáng mạch máu

có khả năng di động, không sinh nha bào kích thước khoảng 0,4 - 0,6 x 2 - 3 μm

Salmonella lên men glucose có sinh hơi (trừ Salmonella typhi lên men glucose

không sinh hơi) không lên men lactose, indol âm tính, đỏ methyl dương tính, VP âm tính, citrat thay đổi, urease âm tính H2S dương tính( trừ Salmonella paratyphi A:

Trang 20

Ở nồng độ muối 6 - 8% vi khuẩn phát triển chậm và ở nồng độ muối là 8 - 19% sự phát triển của vi khuẩn bị ngừng lại (Nguyễn Như Thanh và cs, 2004) [24]

Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [17] cho biết, bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu sau:

* Nguyên nhân do vi khuẩn E coli

E coli thuộc họ trực khuẩn Enterobacteriaceae, giống Escherichia E coli là

một trực khuẩn hình gậy ngắn, bắt màu Gram âm, sống trong điều kiện hiếu khí, yếm khí tuỳ tiện, phần lớn di động Chúng phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường

Các yếu tố gây bệnh của E coli: Yếu tố bám dính, khả năng dung huyết, độc

tố đường ruột (enterotoxin)

+ Yếu tố bám dính: Kháng nguyên (yếu tố) bám dính K88 (F4) là một trong

những yếu tố gây bệnh đầu tiên, quan trọng của các chủng E coli độc

+ Khả năng dung huyết: Dung huyết là một yếu tố độc lực quan trọng của các

chủng E coli gây tiêu chảy ở lợn

+ Độc tố đường ruột: Enterotoxin của E coli quyết định mức độ tiêu chảy của

lợn theo Trương Quang và Trương Hà Thái (2007) [20]

* Nguyên nhân do Salmonella

Salmonella thuộc họ trực khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, là một loại vi

khuẩn có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, không hình thành nha bào, giáp mô Đa số

Salmonella có khả năng di động, bắt màu Gram âm, vừa hiếu khí vừa kỵ khí bắt buộc

* Do virus

Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng virus cũng là nguyên nhân gây tiêu chảy ở

lợn Nhiều tác giả đã nghiên cứu và kết luận một số virus như Porcine circovirus type 2 (PCV2), Rotavirus, TGE, PED, Enterovirus, Parvovirus, Adenovirus có vai trò nhất

định gây hội chứng tiêu chảy ở lợn Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể cấp tính

a Bệnh viêm ruột dạ dày truyền nhiễm (TGE)

Trang 21

Virus TGE (Transmissible gastro enteritis) được chú ý nhiều trong hội chứng

tiêu chảy ở lợn Virus xuất hiện năm 1935 tại Mỹ và được mô tả lần đầu tiên vào năm 1946 Tại Châu Á, bệnh xuất hiện ở Triều Tiên, 1981; Thái Lan, 1987… Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995) [8], virus TGE gây bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm

ở lợn, là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh Ở lợn, virus nhân lên mạnh nhất trong niêm mạc của không tràng và tá tràng rồi đến hồi tràng

b Bệnh tiêu chảy truyền nhiễm ở lợn (PED)

- Bệnh PED do một loại Coronavirus có tên CV777 gây ra Bệnh xảy ra với

lợn mọi lứa tuổi Đặc tính kháng nguyên của loại virus này hoàn toàn khác kháng nguyên của virus gây bệnh TGE Thể bệnh PED giống như thể bệnh TGE, nhưng nhẹ hơn vì bệnh PED chỉ gây chết khoảng 60% lợn con dưới 21 ngày tuổi, 15% lợn

vỗ béo (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [8]

- Lợn mắc PED thường có triệu chứng nôn mửa, con vật có biểu hiện đau bụng Virus phá huỷ lông nhung của ruột (đặc biệt là không tràng và hồi tràng) Lợn

bỏ ăn, uống nhiều nước, thích nằm chúi đầu vào nhau

- Mổ khám thấy ruột non mỏng, ruột bị căng phồng chứa nhiều nước màu vàng

c Bệnh do Rotavirus

- Bệnh tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra ở lợn đang bú từ 1 tới 6 tuần tuổi

và cao nhất ở lợn khoảng 3 tuần tuổi

- Nguyên nhân có thể do lúc 3 tuần tuổi lượng kháng thể ở sữa mẹ giảm, cùng với lợn vừa tập ăn đã tạo điều kiện cho bệnh xảy ra

- Biểu hiện đặc trưng của bệnh là lợn đi ỉa phân màu trắng hoặc vàng, lúc bị bệnh phân lợn lỏng như nước, sau đó vài giờ hoặc 1 ngày phân sẽ đặc hơn và có dạng như kem rồi keo quánh trước khi trở lại bình thường

- Lợn tiêu chảy gầy sút rõ rệt, lông xù Sau khi khỏi bệnh lợn còi cọc, chậm lớn, biếng ăn, còn ở lợn lớn không có biểu hiện lâm sàng (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [8]

Trang 22

- Bệnh tích: Thành ruột non mỏng, dạ dày chứa cục sữa hơi vàng lổn nhổn, không tiêu, mùi chua

* Do ký sinh trùng

Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy Khi ký sinh trong đường tiêu hóa ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động

cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra hội

chứng tiêu chảy như: Sán lá ruột lợn (Fasciolopsis busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)…

Khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [14] đã có kết luận cầu trùng và một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con

Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, (2009)) [15]

* Do nấm mốc

Nấm mốc có thể là nguyên nhân gây tiêu chảy ở heo con Thức ăn của heo con hoặc heo nái nuôi con nhiễm nấm mốc, chuyển thành độc tố gây tiêu chảy ở heo con Heo con có biểu hiện kém ăn do thức ăn kém thơm ngon, tiêu chảy có thể ra máu hoặc không ra máu, khi chuyển sang giai đoạn phân mầu, xuất huyết chứng tỏ heo đã nhiễm thêm bệnh khác dẫn đến tiêu chảy Tức là nấm mốc đã tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại khác gây bệnh cho heo con

* Một số nguyên nhân khác

- Do thời tiết khí hậu

Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá lạnh, mưa gió,

Trang 23

ẩm độ, vệ sinh chuồng trại, đều là các yếu tố stress có hại tác động đến tình trạng sức khỏe của lợn

Ở lợn con, do cấu tạo và chức năng sinh lý của các hệ cơ quan chưa ổn định,

hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện Vì vậy lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất, bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu

Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [4], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh,

ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến

cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh, ẩm

đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi về chức năng

và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội

mô Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thể giảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh

- Do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi Việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ đem lại sức khỏe và tăng trưởng cho lợn Khi thức ăn chăn nuôi không đảm bảo, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật chăm sóc không phù hợp, là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợn giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh

Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protid và axit amin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng γ - globulin huyết thanh cũng giảm Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm đi rõ rệt, tạo điều kiện cho các

vi khuẩn phát triển và gây bệnh

Nếu khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và vitamin cũng là nguyên nhân làm cho lợn con dễ mắc bệnh Chất khoáng góp phần tạo tế bào, điều hòa thức ăn

Trang 24

đạm và chất béo Lợn con thiếu khoáng dễ dẫn đến bị còi xương, cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm tạo điều kiện cho vi khuẩn đường ruột tăng độc lực và gây bệnh Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể động vật, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường Thiếu một vitamin sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu, cho lợn ăn quá nhiều đều là nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn

- Do stress

Sự thay đổi các yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuồng nuôi, vận chuyển đi xa đều là các tác nhân stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh tật trong đó có tiêu chảy Hệ thống tiêu hóa của lợn mẫn cảm đặc biệt với stress Hiện tượng stress thường gây nên biểu hiện chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng

- Ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại

Phần lớn thời gian sống của lợn là ở trong chuồng do vậy chuồng trại có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chúng Chuồng trại xây dựng đúng kiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợp với chăm sóc quản

lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh tật của gia súc và ngược lại

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, về mùa hè khí hậu nóng, ẩm,

về mùa đông khí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Do vậy, trong xây dựng chuồng trại ngoài việc đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần chú ý đến địa điểm xây dựng chuồng, hướng chuồng, vật liệu xây dựng để dễ dàng khống chế các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986) [7] chuồng khô, thoáng, đủ ánh sáng thì tỷ

lệ lợn con mắc bệnh phân trắng thấp hơn so với chuồng ẩm, tối

Trang 25

- Ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến tiêu chảy ở lợn

Độ ẩm trong chuồng nuôi 75% là do sản sinh ra từ cơ thể động vật, 20 - 25%

từ mặt đất (ổ lót, tường ẩm) bốc ra và 10 - 15% từ không khí bên ngoài chuồng nuôi

Bất kỳ mùa nào độ ẩm chuồng nuôi cao cũng có hại Về mùa nóng, nếu độ

ẩm chuồng nuôi cao thì hơi nước trong cơ thể khó thoát ra ngoài làm cho con vật nóng thêm Về mùa lạnh, nếu độ ẩm chuồng nuôi cao thì nhiệt độ cơ thể lợn lạnh thêm do không khí ẩm dẫn nhiệt nhanh hơn không khí khô, cơ thể lợn sẽ mất nhiệt nhiều hơn Đặc biệt, với lợn sơ sinh khi chức năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh, lợn con sống trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm độ cao sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh, sau khi đẻ 30 phút thân nhiệt lợn con có thể giảm thấp đến 5 - 60C sau đó mới dần ổn định Nếu nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp thì thân nhiệt lợn con phục hồi nhanh và ngược lại, nếu nhiệt độ chuồng nuôi quá lạnh hoặc quá nóng sẽ kéo dài thời gian phục hồi thân nhiệt sẽ làm cho con vật suy yếu

rõ rệt Con vật bị stress nhiệt - nguyên nhân gây ỉa chảy Độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi là từ 80 - 85%

Đào Trọng Đạt và cs (1996) [9] cho rằng các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75 đến 85% Vì thế việc làm khô và giữ ấm chuồng là vô cùng quan trọng

Theo Phan Địch Lân và cs (1997) [18] chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối loạn tiêu hóa

Trang 26

2.2.1.4 Cơ chế sinh bệnh

Bệnh tiêu chảy xảy ra hai cơ chế chính là xuất tiết và thẩm thấu:

- Tiêu chảy xuất tiết

Do độc tố của vi khuẩn E coli, Salmonella hay của virut tác động vào niêm

mạc ruột làm quá trình bài tiết dịch (muối, nước) vào lòng ruột không bình thường

sẽ chảy ra tiêu chảy xuất tiết

Khi bị tiêu chảy nhiều sẽ gây mất nước cho cơ thể, gây rối loạn chức năng sinh lí tiêu hoá Khi bị rối loạn tiêu hoá dẫn tới rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột, một số vi khuẩn có hại phát triển nhanh, do đó độc tố của vi khuẩn tiết ra nhiều, độc

tố của vi khuẩn vào máu làm rối loạn cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc ở thận ( Hồ Văn Nam, (1982)) [19]

Lợn bị tiêu chảy nhiều sẽ làm cơ thể bị mất nước do đó làm giảm lượng tuần hoàn của cơ thể dẫn đến truỵ tim mạch, gây nên tử vong

- Tiêu chảy thẩm thấu: Do niêm mạc ruột non được lót bởi lớp liên bào muối

và nước qua lại rất nhanh để duy trì sự cân bằng thẩm thấu giữa lòng ruột và dịch ngoại bào Vì vậy, khi trong lòng ruột có chất hấp thụ kém và độ thẩm thấu cao thì

sẽ gây ra tiêu chảy

Khi nói đến nguyên nhân gây bê ̣nh do E coli, cơ chế gây bê ̣nh được diễn ra

như sau:

Khi có điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi từ môi trường và vâ ̣t chủ , vi khuẩn E coli tăng sinh

trong ruô ̣t và gây tiêu chảy bằng các yếu tố gây bệnh đặc hiệu Cấu trúc kháng

nguyên của E coli rất phức ta ̣p gồm các loa ̣i : Kháng nguyên O (kháng nguyên

thân), kháng nguyên H (kháng nguyên lông ), kháng nguyên K (kháng nguyên bề

mă ̣t, vỏ bọc) và F (kháng nguyên b ám dính) (Đỗ Ngọc Thuý và cs , (2002)) [29] E coli xâm nhập vào cơ thể đô ̣ng vâ ̣t từ rất sớm , sau vài giờ được sinh ra Sau khi phát triển và tăng nhanh ở tế bào thành ruô ̣t , vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào hê ̣ lâm ba , hê ̣ tuần

hoàn gây n hiễm trùng Các chủng E coli thuô ̣c nhóm ETEC và VTEC thường gây

tiêu chảy ở lợn sơ sinh và lợn con sau cai sữa Dựa vào các yếu tố gây bê ̣nh , người

ta đã phân vi khuẩn E coli thành các loại sau : Enterotoxigenic E coli (ETEC),

Trang 27

Enteropathgenic E coli (EPEC), Sdherence Enteropathogenic E coli (AEEC) và Verotoxingenic E coli (VTEC) Hầu hết vi khuẩn E coli gây bệnh sản sinh mô ̣t hay nhiều kháng nguyên bám dính (Fimbriae), 4 loại kháng nguyên bám dính quan trọng của ETEC gây bê ̣nh ở lợn sơ sinh là F 4 (K88), F5 (K99), F6 (987P) và F41

Nhờ các kháng nguyên bám dính này mà vi khuẩn E coli bám vào các cơ quan cảm

nhâ ̣n (receptor) chuyên biê ̣t trên màng tế bào của các tế bào biểu mô ruô ̣t Sau đó, vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào lớp tế bào biểu mô ruô ̣t non và cư trú ở đó , ở đây chúng phát triển và sản sinh đô ̣c tố đường ruô ̣t Enterotoxin Hai loa ̣i đô ̣c tố đường ruô ̣t đó là

đô ̣c tố chi ̣u nhiê ̣t (ST) và độc tố không chịu nhiệt (LT) Độc tố đường ruột phá huỷ tổ chức thành ruô ̣t và làm thay đổi cân bằng trao đổi nước và chất điê ̣n giải , nướ c đươ ̣c rút vào cơ thể gây tiêu chảy Tiêu chảy làm lợn con mất nước , mất chất điê ̣n giải dẫn đến truỵ tim mạch và chết

Tóm lại quá trình tiêu chảy ở lợn con đã đưa lợn con vào 3 trạng thái rối loạn:

- Rối loạn chức năng tiêu hoá và hấp thu

- Rối loạn cân bằng của khu hê ̣ vi sinh vâ ̣t đường ruô ̣t

- Rối loạn cân bằng nước và điê ̣n giải do lợn con tiêu chảy quá nhiều

Lơ ̣n con trong tình tra ̣ng nhiễm đô ̣c , truỵ tim mạch mà chết Những con chữa khỏi bệnh thường tăng trọng giảm, châ ̣m lớn, còi cọc

2.2.1.5 Triệu chứng

Lơ ̣n con mắc bê ̣nh đa số thân nhiê ̣t kh ông tăng, nếu tăng thì chỉ sau 2 - 3 ngày rồi ha ̣ xuống trở về lúc bình thường , có con thân nhiệt hạ xuống do ỉa chảy mất nước nhiều Lợn gầy tóp nhanh , lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nha ̣t, hai chân sau dúm la ̣i và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân

Tiêu chảy có thể ở mức nhe ̣ lợn không có biểu hiê ̣n mất nước hoă ̣c tiêu chảy nă ̣ng với triê ̣u chứng phân toàn nước Phân lợn có màu sắc khác nhau phân vàng kem hay hơi xanh, trắng hoặc xám Phân có thể chảy tự do từ hậu môn xuống sàn Trong trường

hơ ̣p nă ̣ng, triê ̣u chứng lâm sàng là mất nước, rối loa ̣n trao đổi chất, tiêu chảy có thể gây sốt hoặc không sốt và lơ ̣n con suy nhược rất nhanh rồi chết Khối lượng cơ thể giảm 30

- 40% do mất nướ c Cơ bu ̣ng hóp la ̣i, lơ ̣n gầy, suy kiê ̣t và đi siêu ve ̣o, mắt trũng sâu, da

Trang 28

tái xám và nhợt nhạt Sự mất nước và giảm khối lượng cơ thể làm cho lợn bi ̣ suy su ̣p nhanh, những con lơ ̣n con này thường bi ̣ chết Trong trường hợp ma ̣n tính hay bê ̣nh ít nghiêm tro ̣ng, da quanh hâ ̣u môn và vùng háng có thể đỏ lên do tiếp xúc với phân kiềm tính, lơ ̣n ít bi ̣ mất nước và điều tri ̣ tích cực thì có thể khỏi bê ̣nh

2.2.1.6 Bệnh tích

Những bê ̣nh tích điển hình quan sát thấy như : Xác lợn gầy , vùng đuôi bê bết phân Niêm mạc mắt , miê ̣ng nhơ ̣t nha ̣t Trong da ̣ dày chứa đầy hơi hoă ̣c thức ăn chưa tiêu, mùi khó ngửi Thành dạ dày phù và xuất huyết , niêm ma ̣c ruô ̣t non xuất huyết Trong ruô ̣t non chứa đầy khí căng phồng , có khi lẫn máu Gan, lách, thâ ̣n không biến đổi nhiều

Theo Lê Văn Dương (2010) [6] kết luận: Tỷ lệ phân lập E coli từ phủ tạng

của lợn con mắc bệnh tiêu chảy là 90,67% và mẫu phân là 93,33%

Theo Nguyễn Chí Dũng (2013) [5] kết luận: Lợn con bị tiêu chảy có bệnh tích điển hình như ruột bị viêm, xuất huyết (95,45% ở ruột non; 100% ở ruột già) Dạ dày chứa đầy sữa không tiêu, niêm mạc phủ đầy dịch nhờn, xung huyết (68,18%) Hạch lâm ba màng treo ruột bị sưng, tụ huyết (63,63%)

2.2.1.7 Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng tiêu chảy

Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra Chính vì vậy, sự xuất hiện của bệnh phụ thuộc vào sự xuất hiện các nguyên nhân và sự tương tác giữa nguyên nhân và cơ thể gia súc Các yếu tố như tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn, chuồng trại, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng… đều có ảnh hưởng đến hội chứng tiêu chảy ở gia súc

Ở lợn, hội chứng tiêu chảy có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi Bệnh thường xuất hiện

ở 3 giai đoạn phát triển của lợn:

- Giai đoạn sơ sinh: 1 - 4 ngày tuổi

- Giai đoạn lợn con theo mẹ: 5 - 21 ngày tuổi

- Giai đoạn lợn sau cai sữa: > 21 ngày tuổi

Tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21- 40 ngày và giảm ở giai đoạn từ 41 - 60 ngày

Trang 29

Theo Nguyễn Chí Dũng (2013) [5] kết luận: Tháng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao (12, 1, 2) tỷ mắc tiêu chảy cao (26,98% đến 38,18%)

2.2.1.8 Biện pháp phòng và trị tiêu chảy cho lợn

bê ̣nh phải kết hợp nhiều biê ̣n pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt

Theo Lê Văn Ta ̣o và cs (2007) [ 23], vi khuẩn E coli gây bê ̣nh ở lợn là vi

khuẩn tồn ta ̣i trong môi trường , đường tiêu hoá của vâ ̣t chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣ sinh chuồng tra ̣i kém , nước uống thức ăn bi ̣ nhiễm vi khuẩn , điều kiê ̣n

ngoại cảnh thay đổi , lơ ̣n giảm sức đề kháng dễ bi ̣ cảm nhiễm E coli, bê ̣nh sẽ nổ ra

vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có mô ̣t ý nghĩa to lớn trong phòng bê ̣nh

Trong chăn nuôi viê ̣c đảm bảo đúng quy trình kỹ thuâ ̣t là điều rất cần thiết , chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ ta ̣o ra những gia súc khoẻ ma ̣nh , có khả năng chống đỡ

bê ̣nh tâ ̣t tốt và ngược la ̣i Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣ sinh tiêu đô ̣c trước k hi vào đẻ Nhiê ̣t đô ̣ trong chuồng phải đảm bảo 32 - 340C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo , không thấm ướt, không thay đổi thức ăn

Ngày đăng: 29/05/2021, 08:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w