Hiện nay, khoa học kỹ thuật ngày một phát triển trong khi điều kiện và trình độ sản xuất của một bộ phận không nhỏ nhân dân còn yếu, các kênh thông tin đến được với người dân còn ít, và
TỔNG QUAN
Về cơ sở lý luận
2.1.1 M ộ t s ố khái ni ệ m liên quan đế n n ộ i dung th ự c t ậ p
2.1.1.1 Khái niệm về khuyến nông và cán bộ khuyến nông
* Khái niệm khuyến nông theo nghĩa rộng: Khuyến nông là một khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn Khuyến nông ngoài việc hướng dẫn cho nông dân tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp họ liên kết lại với nhau chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách, luật lệ nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành tổ chức các hoạt động xã hội như nào để ngày càng tốt hơn [7]
* Khái niệm khuyến nông theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là người nông dân Tiến trình này đem đến cho người nông dân những thông tin và những lời khuyên giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân [7]
* Khái niệm cán bộ khuyến nông cấp xã: là những người trực tiếp làm công tác khuyến nông ở địa bàn cơ sở (xã, thôn, bản, ấp ) Đây là những người trực tiếp tiếp cận với nông dân và tổ chức triển khai các hoạt động khuyến nông cho nông dân [3] Ở nước ta hệ thống khuyến nông cấp xã tùy thuộc vào điều kiện đặc thù của từng địa phương mà có cách tổ chức khác nhau cho phù hợp
2.1.1.2 Khái niệm về nông nghiệp
* Nông nghiệp theo nghĩa hẹp: Là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình.[13]
* Theo nghĩa rộng: Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản [13]
Như vậy có thể hiểu, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ gặp rất nhiều khó khăn [13]
Khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã"
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân chủ yếu sống bằng ruộng vườn, sau đó đến ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Người nông dân lao động nặng nhọc nhưng hiệu quả công việc và năng suất lao động lại thấp [14]
2.1.2 Các v ă n b ả n pháp lý liên quan đế n n ộ i dung th ự c t ậ p
* Thông tư số: 32/2015/TT-BNNPTNT ngày 06/10/2015 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định danh mục vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Cụ thể như sau:
Căn cứ Nghị định số 199/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Căn cứ Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số
150/2013/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2007/NĐ-CP;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ;
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư quy định danh mục vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
* Nghị định số: 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Cụ thể:
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2010 Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Theo đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
Chính phủ ban hành Nghị định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
* Quyết định số: 50/2014/QĐ-TTg ngày 04/09/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi của nông hộ giai đoạn từ năm 2015-2020 Cụ thể:
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015 - 2020.
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghi ệ m c ủ a các đị a ph ươ ng khác
2.2.1.1 Vài nét về nông nghiệp ở một số nước trên thế giới
Với sự đầu tư cho nông nghiệp và những sản phẩm mà họ đang có, cộng với thu nhập “khủng” của nông dân Nhật Bản thật sự là một cường quốc về nông nghiệp - bên cạnh thế mạnh về công nghiệp và công nghệ điện tử
Nhật Bản là nước có dân số già, nông dân đa số là những người lớn tuổi Những năm gần đây, việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ kế cận và phát triển công nghệ lai tạo giống, cải tạo đất đang được nước này đẩy mạnh Đây được xem là giải pháp để phát triển nông nghiệp ở Nhật Bản trong tương lai Do chỉ có 13,3% diện tích đất đai được dùng cho canh tác, nông nghiệp Nhật Bản có quy mô sản xuất nhỏ (trung bình một trang trại chỉ rộng 1,6ha) Tuy vậy do kỹ thuật thâm canh tiên tiến nên năng suất cao, an toàn và hiệu quả Hầu hết công việc đầu làm bằng máy do trình độ cơ khí hóa cao Công nghệ hiện đại đã làm xuất hiện các phương pháp canh tác mới như thủy canh, kỹ thuật gien
Chính sách “ly nông bất ly hương” hai nhóm chính sách chính là phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp lớn về nông thôn để tạo sự
10 gắn bó hài hòa phát triển nông thôn với phát triển công nghiệp, xóa bỏ khoảng cách về mức sống giữa đô thị và nông thôn Phát triển cộng đồng nông thôn qua các tổ chức hợp tác xã các hợp tác xã và tổ chức kinh tế hợp tác dịch vụ nông nghiệp đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đưa công nghiệp về nông thôn, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản Nhờ chính sách đưa công nghiệp về nông thôn ngày nay ở Nhật Bản hầu như không còn vùng nông thôn thuần túy, kể cả vùng núi, vùng xa ranh giới giữa nông thôn và thành thị thật khó phân biệt cả về kinh tế, xã hội và đời sống Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đã cơ bản hoàn thành [4]
Hà Lan là một đất nước nhỏ, nghèo tài nguyên thiên nhiên, đất đai hiếm hoi, diện tích đất canh tác khoảng 910.000ha, đất đồng cỏ khoảng 1.020.000ha, diện tích đất canh tác khoảng 0,058 ha/người, là mức thấp nhất của thế giới Nhưng hiện nay, Hà Lan đã xây dựng được một nền nông nghiệp có sức cạnh tranh cao, phát triển bền vững, có hiệu quả nhất trên thế giới Bí quyết thành công của nền nông nghiệp Hà Lan, bao gồm:
Dựa vào vốn và kỹ thuật cao, trong đó nổi bật nhất là hoa và cây cảnh là những ngành sản xuất đòi hỏi nhiều vốn và kỹ thuật, đồng thời phải có một hệ thống dịch vụ cao cấp mới có thể vận chuyển những mặt hàng này ra nước ngoài Đổi mới phương thức sản xuất, để tăng sức cạnh tranh Hà Lan dùng vốn và công nghệ cao để thay thế có hiệu quả nguồn quỹ đất hiếm hoi, sử dụng nhà kính để sản xuất cà chua, dưa, ớt quanh năm, tiết kiệm đất, tăng hiệu suất đất
Tăng giá trị gia tăng nhờ vào chế biến sâu Trải qua mấy trăm năm cải tiến các công nghệ truyền thống về chế biến pho mát, bơ, sữa tạo được uy tín
11 quốc tế Công nghệ chế biến ca cao, ca phê từ thời kỳ thực dân vẫn còn phát huy tác dụng trong công nghiệp chế biến hiện nay Nhiều loại nguyên liệu không sản xuất được hoặc thiếu thì dựa vào nhập khẩu, thông qua chế biến sâu, đã vươn ra chiếm lĩnh thị trường thế giới với giá trị gia tăng rất lớn
Phát triển kết cấu hạ tầng và áp dụng thành tựu cao và mới về khoa học, công nghệ Để phòng chống thiên tai khắc nghiệt, Chính phủ đã quy định những tiêu chuẩn an toàn của các công trình thuỷ lợi ở mức hiếm có trên thế giới Tiêu chuẩn an toàn đập ngăn mặn có tần xuất "1 vạn năm 1 lần", tiêu chuẩn an toàn các đê sông có tần xuất "1250 năm 1 lần"
Nhà nước coi trọng nhiệm vụ cải tạo đất, hàng năm đầu tư 140 triệu Eurô, bình quân 4000 Eurô/ha năm Nhà nước còn tài trợ chỉnh lý đất đai, biến các thửa ruộng nhỏ liên kết thành thửa lớn liền nhau, xây dựng hệ thống kênh rạch, đảm bảo yêu cầu cơ giới hoá
Khoa học công nghệ phục vụ yêu cầu chuyên môn hoá, công nghiệp hoá trong sản xuất, nâng cao hiệu quả Công nghệ nhà kính thường xuyên được đổi mới, cứ 6 đến 7 năm, lại có một thế hệ thiết bị mới Hà Lan không những coi trọng "công nghệ cứng" mà còn quan tâm "công nghệ mềm" về quản lý và tổ chức, nhằm nâng cao hiệu quả của công nghệ cứng, đặc biệt là công nghệ tin học được áp dụng rộng rãi trong sản xuất chăn nuôi
Cơ sở của nền nông nghiệp Hà Lan là các trang trại gia đình (family farms) theo chế độ tư hữu Tỉ lệ sở hữu đất tự có tương đối lớn, còn các trang trại dựa vào thuê đất để sản xuất kinh doanh chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ Các trang trại được tích tụ ruộng đất để có quy mô đủ lớn, gắn liền với quá trình tạo việc làm phi nông nghiệp, đủ sức thu hút nông dân "ly nông", giảm thiểu nhanh số lượng nông dân và giải thể các trang trại nhỏ, làm ăn kém hiệu quả
Trong quá trình phát triển nền nông nghiệp Hà Lan, tổ chức Hợp tác xã và các Hiệp hội ngành nghề của nông dân đã đóng góp vai trò quan trọng Các
12 chủ trang trại và người làm thuê có đại biểu của tổ chức mình nằm trong chính quyền, đảm bảo rằng, một khi lợi ích cộng đồng của họ gặp trắc trở, thì lập tức được hiệp thương xử lý Ngoài ra, các chủ trang trại còn lập ra các tổ chức về kỹ thuật, tin học, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ để hỗ trợ lẫn nhau [4]
2.2.1.2 Hoạt động sản xuất nông nghiệp của một số tỉnh ở Việt Nam
* Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Nam Định
Nam Định là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam Theo quy hoạch năm 2008 thì Nam Định thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ
Nam Định có bờ biển dài 74 km có điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi và đánh bắt hải sản Cũng như các tỉnh trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Định mang khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.750 - 1.800 mm, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Độ ẩm tương đối trung bình: 80 - 85%
KẾT QUẢ THỰC TẬP
Khái quát về cơ sở thực tập
Xã Vĩnh Quang được xác định có tiềm năng phát triển kinh tế với các đầu mối giao thông, thương mại và dịch vụ, nằm ở phía Bắc Thành phố Cao Bằng tỉnh Cao Bằng, cách trung tâm Thành phố 8km Tổng diện tích tự nhiên của xã Vĩnh Quang là 1476,07 ha
Phía Đông giáp phường Ngọc Xuân (Thành phố Cao Bằng)
Phía Tây giáp xã Hưng Đạo (Thành phố Cao Bằng)
Phía Nam giáp phường Đề Thám (Thành phố Cao Bằng)
Phía Bắc giáp xã Ngũ Lão (Huyện Hòa An)
Xã Vĩnh Quang là xã có địa hình núi đá vôi, xen kẽ là những thung lũng tương đối rộng nên độ cao thấp biến đổi đa dạng, mang đặc thù của xã miền núi Địa hình xã Vĩnh Quang chia thành 2 vùng khá rõ nét:
- Phía Bắc xã là vùng địa hình đồi núi thấp có độ cao trung bình từ 300- 600m Đây là vùng núi đất xen kẽ các thung lũng nhỏ và khe suối
- Phía Nam xã là vùng có địa hình thấp, khá bằng phẳng ven sông Bằng Giang có độ cao trung bình 200-300m so với mực nước biển Đây là vùng đồng bằng ven sông có độ dốc