1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn xã hồng tiến thị xã phổ yên tỉnh thái nguyên

71 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu về nhận thức người dân về các vấn đề môi trường ở các địa phương của Việt Nam .... Nhận thức của người dân trong việc tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường .... Ý ng

Trang 1

QUÁCH VĂN LUÂN

Tên đề tài:

TÌM HIỂU NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MÔI TRƯỜNG

TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HỒNG TIẾN, THỊ XÃ PHỔ YÊN,

TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường

Khóa học : 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

QUÁCH VĂN LUÂN Tên đề tài:

TÌM HIỂU NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MÔI TRƯỜNG

TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HỒNG TIẾN, THỊ XÃ PHỔ YÊN,

TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường

Khóa học : 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Dư Ngọc Thành

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em

đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Môi trường

và các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp

Em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Dư Ngọc Thành là

người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn các bác các cô, chú, anh, chị Cán bộ UBND

xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã hết lòng tận tình, chỉ bảo hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại xã

Cuối cùng em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người đã khích lệ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Trong thời gian thực tập em đã cố gắng hết sức mình, nhưng do kinh nghiệm và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên khóa luận chắc không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong thầy cô và các bạn góp ý bổ sung để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2019

Quách Văn Luân

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số hộ dân phân loại rác thải sinh hoạt hàng ngày trước khi xử lý (N

= 49) 17

Bảng 2.2: Đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại rác thải sinh hoạt chia theo giới tính (N= 49) 18

Bảng 2.3: Ý kiến người dân về tầm quan trọng của việc xử lý rác thải sinh hoạt ( N = 49) 19

Bảng 2.4: Kiến thức, thái độ thực hành của người dân về nguồn nước sạch 19 Bảng 2.5: Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về vệ sinh môi trường 20

Bảng 4.1: Giới tính của người tham gia phỏng vấn 26

Bảng 4.2: Trình độ học vấn của người tham gia phỏng vấn 27

Bảng 4.3: Nghề nghiệp của người tham gia phỏng vấn 27

Bảng 4.4: Các hình thức cung cấp nước cho ăn uống và sinh hoạt tại địa phương 28

Bảng 4.5 Đánh giá chất lượng nước dùng cho sinh hoạt tại địa phương 28

Bảng 4.6: Kết quả điều tra về việc sử dụng loại cống thải 29

Bảng 4.7: Kết quả điều tra về hoạt động xả nước thải 30

Bảng 4.8 Tỷ lệ hộ gia đình có các hình thức đổ rác 31

Bảng 4.9: Kiểu nhà vệ sinh trên địa bàn xã Hồng Tiến 32

Bảng 4.10: Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh 33

Bảng 4.11: Nhận thức của người dân về các khái niệm liên quan đến môi trường 34

Bảng 4.12: Thành phần của chất thải rắn trong xã 35

Bảng 4.13: Ý kiến của người dân trong việc tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường 37

Trang 5

Bảng 4.14 : Đánh giá của người dân về tầm quan trọng của việc phân loạirác

thải sinh hoạt chia theo giới tính 38 Bảng 4.15: Đánh giá ý thức về thu gom rác theo nhóm cácđối tướng trong xã

39 Bảng 4.16: Hiểu biết của người dân về luật môi trường theo các nhóm đối

tượng trong xã 41 Bảng 4.17: Nguồn cung cấp thông tin về MT và bảo vệ môi trường 42

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

vực Tài Nguyên & Môi Trường

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2.Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 4

2.2 Một số vấn đề MT cần quan tâm trên Thế giới và Việt Nam 5

2.2.1 Một số vấn đề về Môi trường cần quan tâm trên Thế giới 5

2.2.2 Một số vấn đề về môi trường của Việt Nam 10

2.3 Những nghiên cứu về nhận thức người dân về các vấn đề môi trường ở các địa phương của Việt Nam 15

2.3.1 Nhận thức của người dân về Luật BVMT 15

2.3.2 Nhận thức của người dân tại TPHCM về tác hại của biến đổi khí hậu 16 2.3.3 Nhận thức của người dân về việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải 17

2.3.4 Nhận thức của người dân về vệ sinh môi trường 19

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 22

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

3.3 Nội dung nghiên cứu 22

3.4 Phương pháp nghiên cứu 23

Trang 8

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 23

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 23

3.4.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 23

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Hồng Tiến 24

4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Hồng Tiến 24

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Hồng Tiến 24

4.2 Hiện trạng môi trường tại xã Hồng Tiến 25

4.2.1 Thông tin về đối tượng điều tra 26

4.2.2 Kết quả điều tra về sử dụng nước sinh hoạt tại địa phương 28

4.2.3 Tình hình xả nước thải tại địa phương 29

4.2.4 Nhận thức về vấn đề rác thải tại địa phương 30

4.2.5 Kiểu nhà vệ sinh của người dân sử dụng trong xã 31

4.3 Kết quả điều tra về sự hiểu biết và hành động của người dân xã Hồng Tiến về môi trường 33

4.3.1 Hiểu biết của người dân về các khái niệm môi trường 34

4.3.2 Nhận thức của người dân trong việc tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường 36

4.3.3 Nhận thức của người dân trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 37

4.3.4 Hiểu biết của người dân về luật bảo vệ môi trường và các văn bản khác có liên quan 40

4.3.5 Những hoạt động của người dân về công tác bảo vệ môi trường sống, công tác tuyên truyền của xã Hồng Tiến 41

4.4 Đánh giá chung và đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về môi trường tại xã Hồng Tiến 44

4.4.1.Đánh giá chung 44

Trang 9

4.4.2 Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về môi trường tại

xã Hồng Tiến 46

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Kiến nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Môi trường là yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật trên trái đất Môi trường là nơi cung cấp không gian sống của con người và sinh vật, cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, đồng thời cũng

là nơi chứa đựng các phế thải do con người thải ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất Việt Nam là một nước đang phát triển, đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, đô thị hoá thì việc giữ gìn môi trường là vấn đề hết sức quan trọng

Ô nhiễm suy thoái môi trường đang ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội Bảo vệ môi trường đòi hỏi cần có sự chung tay

và góp sức của toàn xã hội Ngoài việc đề ra các biện pháp công nghệ kỹ thuật, pháp luật để bảo vệ, phục hồi môi trường thì việc giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân về vấn đề môi trường cũng là một việc làm vô cùng quan trọng

Thái Nguyên là một tỉnh ở Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội và là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực đông bắc hay cả vùng trung du và miền núi phía Bắc Tỉnh Thái Nguyên được tái lập ngày 1/1/1997 với việc tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên Thái Nguyên nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội, một trung tâm kinh tế đang lên ở miền Bắc Thái Nguyên được coi là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Thái Nguyên cũng là một địa bàn chiến lược về quốc phòng, là nơi đóng trụ sở Bộ tư lệnh, cùng nhiều cơ quan khác của Quân khu 1

Trang 11

Hồng Tiến là một xã thuộc thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam Xã nằm tại cực bắc khu vực phía Đông của thị xã và có các tuyến đường quốc lộ 3 chạy qua ranh giới phía tây Ngoài ra, Hồng Tiến cũng có tuyến đường liên huyện Phú Bình và thị xã Phổ Yên cùng tuyến đường nối thành phố Sông Công và quốc lộ 3 tới xã Điềm Thụy của huyện Phú Bình chạy qua Tuyến đường sắt Hà Nội - Quan Triều cũng đi qua địa bàn xã Hồng Tiến Những năm gần đây trước những tác động mạnh của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hoá, cùng với sự gia tăng dân số đã tạo nên những áp lực làm môi trường suy giảm Môi trường thiên nhiên như: môi trường đất, nước, không khí đã có dấu hiệu suy thoái Môi trường sống từng ngày thay đổi, song nhận thức và hiểu biết của người dân về môi trường trên địa bàn xã còn hạn chế

Để thấy rõ được thực trạng này em tiến hành thực hiện đề tài “Tìm hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” dưới sự hướng dẫn của thầy

giáo TS Dư Ngọc Thành – Giảng viên khoa Môi trường, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá hiện trạng môi trường tại xã Hồng Tiến, Thị xã Phổ Yên

- Tìm hiểu sự nhận thức, hiểu biết của người dân về môi trường

- Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về môi trường

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học

- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục

vụ cho công tác sau này

- Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện

về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu

Trang 12

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Biết được nhận thức của người dân tại xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên về môi trường như tế nào để từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Nhận thức:

+ Quá trình và kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó

+ Nhận ra và biết được

+ Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể

- “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con ngươì, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển của con người và sinh vật”[11]

- Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác

- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật.[5]

- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học

- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế

Trang 14

hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường [4]

- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật

- Rác thải là những chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc trong các hoạt động khác Có nhiều loại rác thải khác nhau và

có nhiều cách phân loại

- Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng

- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác

- Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để dùng làm nguyên liệu sản xuất

- Quản lý môi trường "Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia"[4]

- Thông tin về môi trường bao gồm số liệu, dữ liệu về các thành phần môi trường; về trữ lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên; về các tác động đối với môi trường; về chất thải; về mức

độ môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, và các thông tin về môi trường khác

2.2 Một số vấn đề MT cần quan tâm trên Thế giới và Việt Nam

2.2.1 Một số vấn đề về Môi trường cần quan tâm trên Thế giới

Theo GS.TS Võ Quý chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường, cấp bách nhất là:

Trang 15

* Rừng - “lá phổi của Trái đất” đang bị phá hủy do hoạt động của loài người:

Rừng xanh trên thế giới che phủ khoảng một phần ba diện tích đất liền của Trái đất, chiếm khoảng 40 triệu km2 Tuy nhiên, các vùng rừng rậm tốt tươi đã bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây

Các hệ sinh thái rừng bao phủ khoảng 10% diện tích Trái đất, khoảng 30% diện tích đất liền Tuy nhiên, các vùng có rừng che phủ đã bị giảm đi khoảng 40% trong vòng 300 năm qua và theo đó mà các loài động thực vật, thành phần quan trọng của các hệ sinh thái rừng, cũng bị mất mát đáng kể

Từ trước đến nay, lượng CO2 có trong khí quyển luôn ổn định nhờ sự quang hợp của cây xanh Tuy nhiên trong những năm gần đây, một diên tích lớn rừng bị phá hủy, nhất là rừng rậm nhiệt đới, do đó hàng năm có khoảng 6

tỷ tấn CO2 được thải thêm vào khí quyển trên toàn thế giới, tương đương khoảng 20% lượng khí CO2 thải ra do sử dụng các nhiên liệu hóa thạch (26 tỷ tấn/năm) Điều đó có nghĩa là việc giảm bớt sử dụng nhiên liệu hóa thạch và khuyến khích bảo vệ rừng và trồng rừng để giảm bớt tác động của biến đổi khí hậu là rất quan trọng[12]

* Đa dạng sinh học đang giảm sút hàng ngày

Đa dạng sinh học đem lại rất nhiều lợi ích cho con người như làm sạch không khí và dòng nước, giữ cho môi trường thiên nhiên trong lành, cung cấp các loại lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đa dạng sinh học còn góp phần tạo ra lớp đất màu, tạo độ phì cho đất để phục vụ sản xuất sinh hoạt…Tất cả các dịch vụ của hệ sinh thái trên thế giới đã đem lại lợi ích cho con người với giá trị ước lượng khoảng 21-72 tỷ đôla Mỹ/năm, so với tổng sản phẩm toàn cầu năm 2012 là 58 tỷ đôla Mỹ (UNEP, 2014)

Sụp đổ hệ sinh thái và mất đa dạng sinh học sẽ gây nên nhiều khó khăn trong cuộc sống nhất Vì thế, việc bảo tồn đa dạng sinh học là hết sức quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo mà chúng ta đang theo đuổi trong

sự phát triển xã hội ở nước ta

Trang 16

* Tài nguyên nước đang bị cạn kiệt dần

Trái đất là một hành tinh xanh, có nhiều nước, nhưng 95,5% lượng nước có trên Trái đất là nước biển và đại dương Lượng nước ngọt mà loài người có thể sử dụng được chỉ chiếm khoảng 0,01% lượng nước ngọt có trên Trái đất Cuộc sống của chúng ta và nhiều loài sinh vật khác phụ thuộc vào lượng nước ít ỏi đó Lượng nước quý giá đó đang bị suy thoái một cách nhanh chóng do các hoạt động của con người và con người đang phải vật lộn với sự thiếu hụt nước ngọt tại nhiều vùng trên thế giới

Để có thể bảo tồn nguồn tài nguyên nước hết sức ít ỏi của chúng ta, chúng ta phải nhận thức được rằng cần phải giữ được sự cân bằng nhu cầu và khả năng cung cấp bằng cách thực hiên các biện pháp thích hợp Để có thể hồi phục được sự cân bằng mỗi khi đã bị thay đổi sẽ tốn kém rất lớn, tuy nhiên có nhiều trường hợp không thể sửa chữa được Vì thế cho nên, nhân dân tại tất cả các vùng phải biết tiết kiệm nước, giữ cân bằng giữa nhu cầu sử dụng với nguồn nước cung cấp, có như thế mới giữ được một cách bền vững nguồn nước với chất lượng an toàn Theo báo cáo của chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc UNEP trong tạp chí Toàn cảnh môi trường toàn cầu năm

2017 đã có 1/3 đất nông nghiệp trên toàn thế giới bị cằn cỗi Khoảng 20% diện tích đất trồng trọt, 16% đất lâm nghiệp, 19% đồng cỏ… giảm năng suất

Trên thế giới, khoảng 20%, tương đương 63 triệu hec-ta đất canh tác trồng

trọt bị nhiễm mặn (tương ứng diện tích nước Pháp)

* Mức tiêu thụ năng lượng ngày càng cao và nguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt

Trong lúc vấn đề cạn kiệt nguồn chất đốt hóa thạch đang được mọi người quan tâm như dầu mỏ và khí đốt, thì Trung Quốc và Ấn Độ với diện tích rộng và dân số lớn, đang là nhưng nước đang phát triển nhanh tại châu Á, đặc biệt là Trung Quốc có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào, đang tăng sức tiêu thụ nguồn năng lượng này một cách nhanh chóng Ở Trung

Trang 17

Quốc, sức tiêu thụ loại năng lượng hàng đầu này từ 961 triệu tấn (tương đương dầu mỏ) vào năm 1997 lên 1.863 triệu tấn vào năm 2007, tăng gần gấp đôi trong khoảng 10 năm Tất nhiên lượng CO2 thải ra cũng tăng lên gần ½ lượng thải của Mỹ năm 2000, và đến nay Trung Quốc đã trở thành nước thải lượng khí CO2 lớn nhất trên thế giới, vượt qua cả Mỹ năm 2007

Con người đã đạt được bước tiến rất lớn trong quá trình phát triển, bằng cuộc Cách mạng Công nghiệp nhờ sự tiêu thụ lớn các chất đốt hóa thạch Tuy nhiên, ước lượng nguồn dự trữ dầu mỏ trên thế giới chỉ còn sử dụng được trong vòng 40 năm nữa, dự trữ khí tự nhiên được 60 năm và than đá là khoảng 120 năm Nếu chúng ta vẫn bị lệ thuộc vào chất đốt hóa thạch thì chúng ta không thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng cao và sẽ phải đối đầu với sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên nhiên này trong thời gian không lâu

Việc sử dụng các nguồn năng lượng hồi phục được như năng lượng mặt trời, địa nhiệt, gió, thủy lực và sinh khối sẽ không làm tăng thêm CO2 vào khí quyển và có thể sử dụng được một cách lâu dài cho đến lúc nào Mặt trời còn chiếu sáng lên Trái đất Tuy nhiên, so với chất đốt hóa thạch, năng lượng mặt trời rất khó tạo ra được nguồn năng lượng lớn, mà giá cả lại không ổn định Làm thế nào để tạo được nguồn năng lượng ổn định từ các nguồn có thể tái tạo còn là vấn đề phải nghiên cứu, và rồi đây khoa học kỹ thuật sẽ có khả năng hạ giá thành

về sử dụng năng lượng mặt trời và các dạng năng lượng sạch khác Chúng ta không thể giải quyết vấn đề năng lượng chỉ bằng cách sử dụng nguồn năng lượng sạch, mà chúng ta cần phải thay đổi cách mà chúng ta hiện nay đang sử dụng nguồn năng lượng để duy trì cuộc sống của chúng ta và đồng thời phải tìm các làm giảm tác động lên môi trường Tiết kiệm năng lượng là hướng giải quyết

mà chúng ta phải theo đuổi mới mong thực hiện được sự phát triển bền vững, trước khi năng lượng mặt trời được sử dụng một cách phổ biến

Trang 18

* Trái đất đang nóng lên:

Nóng lên toàn cầu không phải chỉ có nhiệt độ tăng thêm, nó còn mang theo hàng loạt biến đổi về khí hậu, mà điều quan trọng nhất là làm giảm lượng nược mưa tại nhiều vùng trên thế giới Một số vùng thường đã bị khô hạn, lượng mưa lại giảm bớt tạo nên hạn hán lớn và sa mạc hóa Theo báo cáo lần thứ tư của IPCC, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,7oC so với trước kia

Do nóng lên toàn cầu, dù chỉ 0,7oC mà trong những năm qua, thiên tai như bão tố, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng bất thường, cháy rừng… đã xảy ra tại nhiều vùng trên thế giới Theo dự báo thì rồi đây, nếu không có các biện pháp hữu hiệu để giảm bớt khí thải nhà kính, nhiệt độ mặt đất sẽ tăng thêm từ 1.8oC đến 6,4oC vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%, băng ở hai cực và các núi cao sẽ tan nhiều hơn, nhanh hơn, nhiệt độ nước biển ấm lên, bị giãn nở mà mức nước biển sẽ dâng lên khoảng 70-100cm hay hơn nữa và tất nhiên sẽ có nhiều biến đổi bất thường về khí hậu, thiên tai sẽ diễn ra khó lường trước được cả về tần số và mức độ

* Dân số thế giới đang tăng nhanh

Sự tăng dân số một cách quá nhanh chóng của loài người cùng với sự phát triển trình độ kỹ thuật là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự suy thoái thiên nhiên Tuy rằng dân số loài người đã tăng lên với mức độ khá cao tại nhiều vùng ở châu Á trong nhiều thế kỷ qua nhưng ngày nay, sự tăng dân số trên thế giới đã tạo nên một hiện tượng đặc biệt của thời đại của chúng ta, được biết đến là như là sự bùng nổ dân số trong thế kỷ XX Hiện tượng này có lẽ còn đáng chú ý hơn cả phát minh về năng lượng nguyên tử hay phát minh về điều khiển học Tình trạng quá đông dân số loài người trên trái đất đã đạt trung bình khoảng 33 người trên km2 trên đất liền (kể cả sa mạc và các vùng cực) Với dân số như vậy, loài người đang ngày càng gây sức ép mạnh lên vùng đấy

có khả năng nông nghiệp để sản xuất lương thực và cả lên những hệ sinh thái

tự nhiên khác

Trang 19

2.2.2 Một số vấn đề về môi trường của Việt Nam

* Độ che phủ và chất lượng rừng giảm sút nghiêm trọng

Qua quá trình phát triển, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động Chất lượng của rừng ở các vùng còn rừng đã bị hạ thấp quá mức Trước đây, toàn bộ đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉ mới mấy thập kỷ qua, rừng bị suy thoái nặng nề Diện tích rừng toàn quốc đã giảm xuống từ năm 1943 chiếm khoảng 43% diện tích tự nhiên, thì đến năm

1990, chỉ còn 28,4% Tình trạng suy thoái rừng ở nước ta là do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có sự tàn phá của chiến tranh, nhất là chiến tranh hóa học của Mỹ Trong mấy năm qua, diện tích rừng có chiều hướng tăng lên, 28,8% năm 1998 và đến năm 2000, độ che phủ rừng là 33,2% năm 2002 đã đạt 35,8% và đến cuối năm 2004 đễ lên đến 36,7% Đây là một kết quả hết sức khả quan Chúng ta vui mừng là độ che phủ rừng nước ta đã tăng lên khá nhanh trong những năm gần đây, tuy nhiên chất lượng rừng lại giảm sút đáng

lo ngại Các số liệu chính thức gần đây đã xác định độ che phủ rừng của Việt Nam, bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng là 12,3 triệu ha, chiếm hơn 37% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc Khoảng 18% diện tích này là rừng trồng, chỉ có 7% diện tích rừng là rừng nguyên sinh và gần 70% diện tích rừng còn lại được coi là rừng thứ sinh nghèo

Trong mười năm trở lại đây, tình trạng phá rừng tại các tỉnh Tây Nguyên diễn biến rất phức tạp Mặc dù các ngành chức năng đã tăng cường kiểm tra, truy quét, nhưng đến nay, các vi phạm về rừng vẫn chưa chấm dứt, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế, môi trường và trật tự an toàn xã hội Theo báo cáo của UBND tỉnh Gia Lai, trong năm 2014 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và

xử lý 745 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; trong đó có 28 vụ phá rừng; 43 vụ khai thác rừng; 646 vụ mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép Có nhiều vụ việc, khi các đối tượng bị phát hiện đã không ngần ngại dùng vũ khí tấn công lực lượng thi hành công vụ Tổng diện tích rừng bị phá,

Trang 20

lấn chiếm trái phép trên địa bàn từ năm 2009 đến 2014 là hơn 26.500 ha, trong khi đó các ngành chức năng của Ðắc Lắc mới chỉ thu hồi được gần 2.000 ha để trồng lại rừng Chỉ tính riêng sáu tháng đầu năm nay, lực lượng chức năng của tỉnh đã kiểm tra, xử lý 1.207 vụ vi phạm; trong đó, 17 vụ phá rừng trái phép với diện tích 10 ha; 36 vụ khai thác rừng trái phép; 819 vụ vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến trái pháp luật gỗ, lâm sản Cơ quan chức năng đã khởi tố hình sự bảy vụ, tịch thu 1.458 phương tiện và 1.963 m3 gỗ các loại; thu phạt sau xử lý 10,9 tỷ đồng

Năm 2018 sảy ra nhiều vụ chặt phá rừng trong nhiều tỉnh trên cả nước, các vụ điển hình là tại xã An Thắng (huyện Pắc Nậm, tỉnh Bắc Cạn có 16 lô với tổng cộng gần 11 ha rừng bị phá, với lượng gỗ bị chặt hạ lên đến hơn 600

m3 Ðiều đáng nói, vụ phá rừng có quy mô lớn nhất tại địa phương này đã được phát hiện rất sớm, nhưng cấp ủy, chính quyền xã không báo cáo cấp trên, mà cố ý bao che, dung túng cho việc làm sai trái bởi có hơn 20 gia đình

đã phá rừng, trong đó có cả gia đình bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn và những người có trách nhiệm tham gia Chỉ khi cơ quan có trách nhiệm đến xác minh hiện trường, vụ việc mới được ngăn chặn Trên địa bàn tỉnh Hà Giang, các lực lượng chức năng đã phát hiện 157 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, chủ yếu là khai thác, mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép Tổng số lâm sản bị tịch thu là hơn 64 m3 gỗ các loại Rừng đặc dụng Phong Quang có diện tích gần 10 nghìn héc-ta, nằm trên địa bàn bốn xã biên giới của huyện Vị Xuyên, vốn được coi là "vựa nghiến" của tỉnh với những cây nghiến hàng trăm năm tuổi Nhiều năm nay, đây luôn là địa bàn nóng về tình trạng khai thác gỗ trái phép "Lâm tặc" cắt hạ những cây nghiến lớn, cắt thành khúc dạng thớt, gùi qua biên giới, bán lấy tiền Ở tỉnh Quảng Ninh, hàng chục héc-ta rừng phòng hộ tại xã An Sinh, huyện Ðông Triều cũng bị các hộ dân chặt phá để lấy đất trồng cây dược liệu Mặc dù việc chặt

Trang 21

phá rừng diễn ra trong một thời gian dài, nhưng chính quyền địa phương, kiểm lâm và các lực lượng có liên quan không quan tâm giải quyết

Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2018, cả nước phát hiện 6.651 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng Trong đó có 963 vụ phá 301 ha rừng và 530 vụ vi phạm khai thác rừng, với diện tích rừng bị thiệt hại là 453 ha Trong các vụ vi phạm về rừng bị phát hiện, cơ quan chức năng đã xử lý 5.641 vụ, nhưng chủ yếu xử phạt hành chính 5.533 vụ, tịch thu 5.730 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách gần 82 tỷ đồng, còn xem xét xử lý hình sự chỉ có gần 110 vụ[3]

* Đa dạng sinh học ở Việt Nam

Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam Cho đến nay đã thống kê được 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch và hàng nghìn loài thực vật thấp như rêu, tảo, nấm… Hệ động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú Hiện đã thống kê được 310 loài thú, 870 loài chim, 296 loài bò sát, 263 loài ếch nhái, trên 1.000 loài cá nước ngọt, hơn 2.000 loài cá biển và thêm vào đó hàng chục ngàn loài động vật không xương sống ở cạn, ở biển và ở nước ngọt Ngoài ra Việt Nam còn có phần nội thủy và lãnh hải rộng khoảng 226.000 km2, trong đó có hàng nghìn hòn đảo lớn nhở và nhiều rạn san hô phong phú, là nới sinh sống của hàng ngàn động vật, thực vật có giá trị Tuy nhiên, thay vì phải bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này ở nhiều nơi đã và đang khai thác quá mức và phí phạm, không những thế còn sử dụng các biện pháp hủy diệt như dùng các chất nổ, chất độc, kích điện để săn bắt Nếu được quản

lý tốt và biết sử dụng đúng mức, nguồn tài nguyên sinh học của Việt Nam có thể trở thành tài sản rất có giá trị Nhưng rất tiếc, nguồn tài nguyên này đang

bị suy thoái nhanh chóng[6]

Trang 22

* Diện tích đất trồng trọt trên đầu người ngày càng giảm

Ở Việt Nam, tuy đất nông nghiệp chiếm 28,4% diện tích đất tự nhiên, song bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người rất thấp, xếp thứ 159 trong tổng số 200 nước trên thế giới và bằng 1/6 bình quân trên thế giới Tỷ lệ này sẽ hạ thấp hơn nữa trong những năm tới do dân số còn tăng và đất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp lại rất hạn chế, chủ yếu thuộc các vùng đồng bằng Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị thoái hóa, ô nhiễm

và chuyển đổi mục đích sử dụng, nhất là để xây dựng các khu công nghiệp, đô thị, đường giao thông, sân gôn , làm mất đi hơn 50.000 ha đất nông nghiệp trong khoảng 10 năm qua Theo thống kê chưa đầy đủ, trong mấy năm gần đây, trung bình hàng năm có khoảng 72.000 ha đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng Trong khoảng 3 năm trở lại đây việc quy hoạch phát triển các khu công nghiệp diễn ra hết sức ồ ạt ở các địa phương Tỉnh nào cũng có khu công nghiệp, khiến một phần không nhỏ đất nông nghiệp tốt bị chuyển đổi mục đích sử dụng Theo một báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cả nước phải giữ được ít nhất 3,9 triệu hecta đất trồng lúa, vì thế, Chính phủ phải sớm có quy hoạch tổng thể về đất nông nghiệp của cả nước để các địa phương tuân theo[3]

* Thoái hóa đất

Theo Cục Lâm nghiệp, hiện Việt Nam có khoảng hơn 9 triệu ha đất bị hoang hoá, chiếm 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc, trong đó có 2 triệu ha đất đang sử dụng bị thoái hóa nặng

Ngoài những vùng đất bị hoang mạc hóa, nhiều dải cát ven biển Việt Nam còn bị hiện tượng sa mạc hóa cục bộ, tập trung từ tỉnh Quảng Bình đến Bình Thuận với diện tích khoảng 419.000 ha và ở Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 43.000 ha Việt Nam đã xác định 4 địa bàn ưu tiên chống sa mạc hóa: Duyên hải Miền Trung, Tây Bắc, Tứ giác Long Xuyên và Tây Nguyên[3]

Trang 23

Theo thống kê của FAO và UNESCO, Việt Nam có khoảng 462.000 ha cát ven biển, chiếm khoảng 1,4% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc, trong đó

có 87.800 ha là các đụn cát, đồi cát lớn di động Trong gần 40 năm qua, sự di chuyển của các đụn cát đã làm cho quá trình hoang mạc hoá càng diễn ra nghiêm trọng hơn Mỗi năm có khoảng 10-20 ha đất canh tác bị cát lấn, dẫn đến độ phì nhiêu của đất bị suy giảm mạnh

* Thiếu nước ngọt và nhiễm bẩn nước ngọt ngày càng trầm trọng

Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đã trở thành vấn đề quan trọng tại nhiều thành phố, thị xã, đặc biệt là tại các thành phố lớn như TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội và tại các khu công nghiệp Ô nhiễm nước do hoạt động nông nghiệp cũng là vấn đề nghiêm trọng tại nhiều miền thôn quê, đặc biệt tại châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long Hiện tượng nhiễm mặn hay chua hóa do quá trình tự nhiên và do hoạt động của con người đang là vấn đề nghiêm trọng ở vùng châu thổ sông Cửu Long Ở một số vùng ven biển, nguồn nước ngầm đã bị nhiễm bẩn do thấm mặn hoặc thấm chua phèn trong quá trình thăm dò hoặc khai thác Nhiễm bẩn

vi sinh vật và kim loại nặng đã xẩy ra ở một số nơi, chủ yếu do nhiễm bẩn từ trên mặt đất, như các hố chôn lấp rác

Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch hiện nay là khoảng 50%, trong đó đô thị chiếm 70% và nông thôn chỉ 30% Từ nay cho đến năm 2040, tổng nhu cầu nước ở Việt Nam có thể chưa vượt quá 50% tổng nguồn nước, song vì có

sự khác biệt lớn về nguồn nước tại các vùng khác nhau, vào các mùa khác nhau và do nạn ô nhiễm gia tăng, nếu không có chính sách đúng đắn thì nhiều nơi sẽ bị thiếu nước trầm trọng

* Nạn ô nhiễm ngày càng khó giải quyết

Đô thị hóa và công nghiệp hóa ở nước ta phát triển khá nhanh trong hơn

10 năm qua, gây áp lực lớn đối với khai thác đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nhất là rừng và nước Nhiều diện tích nông nghiệp đã chuyển thành đất đô thị,

Trang 24

đất công nghiệp, đất giao thông… ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người nông dân và an toàn lương thực quốc gia Đô thị hóa, công nghiệp hóa trong khi hạ tầng cơ sở kỹ thuật và xã hội yếu kém, làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường bức bách như thiếu nước sạch, thiếu dịch vụ xã hội, thiếu nhà ở, úng ngập, tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí, tiếng ồn, ô nhiễm nước và chất thải rắn Tỷ lệ số người bị các bệnh do ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, như các bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa, các bệnh dị ứng và ung thư …

Môi trường nông thôn bị ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng yếu kém Việc sử dụng không hợp lý các loại hóa chất nông nghiệp cũng

đã và đang làm cho môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoái Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1.450 làng nghề truyền thống, trong đó 800 làng tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng, đã và đang làm chất lượng môi trường khu vực ngày càng suy giảm

Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường ở các vùng nông thôn là vấn đề cấp bách Điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn vẫn chưa được cải thiên đáng kểm tỷ lệ số hộ có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 28-30% và số hộ ở nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh là 30-40%

2.3 Những nghiên cứu về nhận thức người dân về các vấn đề môi trường ở các địa phương của Việt Nam

2.3.1 Nhận thức của người dân về Luật BVMT

Kết quả điều tra của nhóm Nâng cao nhận thức cộng đồng (chương trình SEMLA - Bộ Tài nguyên và Môi trường) tại 3 tỉnh Hà Giang, Nghệ An,

Bà Rịa - Vũng Tàu cho thấy, nhìn chung cán bộ công chức của 3 tỉnh đều có hiểu biết chính sách pháp luật đất đai và môi trường Sự hiểu biết của họ chủ yếu là do bản thân chủ động nghiên cứu và nghe trên phương tiện truyền thông đại chúng Song sự tiếp cân cũng như hiểu về Luật Đất đai và Bảo vệ môi trường ở những mức độ khác nhau

Trang 25

Đa số cán bộ trong cơ quan Nhà nước hiểu biết về chính sách pháp luật đất đai nhiều hơn và sâu hơn, còn Luật Bảo vệ môi trường thì các cán bộ viên chức chỉ hiểu biết ở tầm khái quát chung Song khi đi vào chi tiết nhiều người còn chưa nắm bắt được Ví dụ như việc phỏng vấn câu hỏi trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường là trách nhiệm thuộc về ai? Tại Hà Giang có tới 80% trả lời là trách nhiệm thuộc cơ quan nhà nước, Nghệ An có 54,9% và Bà Rịa -Vũng Tàu có 53,19% có cùng câu trả lời Trong khi đó nhiệm vụ này là của chủ dự án! Nhận thức về chính sách, pháp luật đất đai và môi trường của cộng đồng dân cư đô thị của 3 tỉnh có cao hơn cộng đồng dân

cư nông thôn nhưng cũng chỉ “mạnh” về đất đai, còn mảng môi trường nhiều người hoặc chưa biết, hoặc trả lời sai ở một số câu hỏi Ví như, việc khắc phục ô nhiễm theo nhiều người thì trách nhiệm thuộc về cơ quan quản lý nhà nước, song trên thực tế trách nhiệm này thuộc về người gây ô nhiễm Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường hiện vẫn là vấn đề được nhiều người quan tâm bởi

có tới 96,15% dân cư tại Hà Giang; 81,82% dân cư tại Nghệ An; 97,98% tại

Bà Rịa-Vũng Tàu Từ đó ta thấy cần thiết phải tham khảo ý kiến người dân trong đánh giá tác động môi trường và việc tham khảo này nên tổ chức họp dân là phù hợp nhất

2.3.2 Nhận thức của người dân tại TPHCM về tác hại của biến đổi khí hậu

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát, điều tra xã hội học 400 doanh nghiệp (DN) trong và ngoài KCN; 501 người dân (201 mẫu với CBCNVC, 300 mẫu ở người dân trong đó có 175 phụ nữ); 300 học sinh (tiểu học, THCS, THPT) Theo đó, một số kết quả đáng chú ý là có đến 28,9% (trong 201 mẫu khảo sát) CBCNVC cho biết đã có nghe về BĐKH nhưng chưa hiểu gì về việc này và 3,5% không quan tâm đến BĐKH vì còn nhiều việc trước mắt trong đời sống phải lo, BĐKH là việc của cơ quan Nhà nước, BĐKH còn lâu lắm mới xảy ra…

Trả lời câu hỏi về những hành động sẽ làm nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH có 86,2% cán bộ công nhân viên chức biết việc tiết kiệm điện, nước là có lợi (giảm chi phí, có lợi cho môi trường, duy trì sự phát triển bền

Trang 26

vững…) 93,3% ý kiến tán đồng việc khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng sạch (điện mặt trời, biogas, biomas…); 70% ý kiến cho biết thường chọn mặc quần áo thoáng mát, tận dụng tối đa gió ngoài trời, chỉ sử dụng máy lạnh khi thật sự cần thiết (có thói quen chỉnh máy lạnh trên 26 độ C), có chậu cây xanh trang trí trong phòng làm việc…

TS Lê Văn Khoa cho biết nhìn chung, các đối tượng người dân đều có

sự quan tâm, hiểu biết căn bản về BĐKH Tuy nhiên, việc hiểu đúng và có hành động phù hợp để ứng phó với BĐKH vẫn còn hạn chế[7]

2.3.3 Nhận thức của người dân về việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải

Nhóm tác giả khoa Xã Hội Học Trường Đại học Bình Dương đã thưc

hiện đề tài “Tìm hiểu về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại phương Phú Thọ, Thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” Theo đó kết quả

đạt được là: Mọi người dân đều có hiểu biết về tầm quan trọng của môi trường trong cuộc sống của mình và đồng ý với việc bảo vệ môi trường bằng cách không vứt rác thải bừa bãi và có những thái độ, hành vi nhất định để ngăn chặn hay hạn chế hành vi gây mất vệ sinh môi trường của người khác

Xu hướng chung là đều cảm thấy khó chịu, có nhắc nhở hoặc tự lại nhặt và cho vào thùng rác Người dân càng có trình độ học vấn cao thì mức độ quan tâm, hiểu biết về vấn đề môi trường càng nhiều[10]

Bảng 2.1: Số hộ dân phân loại rác thải sinh hoạt hàng ngày

Trang 27

Việc phân loại rác sinh hoạt của người dân tại địa bàn phường chưa đồng bộ, vẫn còn mang tính tự phát và không triệt để

Ý thức tự giác trong việc bảo vệ môi trường thông qua việc phân loại rác của nhiều người dân chưa cao.Nhiều hộ gia đình chưa thực sự quan tâm đến vấn đề phân loại rác thải sinh hoạt của gia đình mình Điều này sẽ gây nhiều khó khăn cho bộ phận thu gom khi phải thu gom với một lượng rác thải lớn như khó tách ra và khó sử dụng rác có thể tái chế

Quá trình xử lý rác thải sinh hoạt của người dân và chính quyền địa phương bao gồm các giai đoạn: Phân loại, thu gom và xử lý

Bảng 2.2: Đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại rác thải sinh hoạt chia

(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

Người dân coi việc xử lý rác là rất quan trọng mặc dù vậy họ chưa thực

sự chú ý đến việc xử lý rác của địa phương, mà họ chỉ quan tâm đến việc làm cho gia đình mình hết rác còn rác sau khi đem đi bỏ được xử lý như thế nào thì ít được quan tâm đến

Trang 28

Bảng 2.3: Ý kiến người dân về tầm quan trọng của việc xử lý rác thải sinh hoạt ( N = 49)

(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

2.3.4 Nhận thức của người dân về vệ sinh môi trường

* Theo kết quả của Hoàng Thái Sơn, trường Đại học Y dược Thái Nguyên với luận văn thạc sĩ học “Thực trạng, kiến thức, thái độ, thực hành về

vệ sinh môi trường của người dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”[8]

Trong số 400 người được phỏng vấn thì có 76,6% người dân kể tên được một nguồn nước sạch 33,2% số người kể được từ hai bệnh trở lên có nguyên nhân do sử dụng nguồn nước không sạch gây ra Người dân có thái độ tích cực đối với việc sử dụng nước sạch, có 98% số người được hỏi cho rằng cần có nguồn nước vệ sinh Số hộ không có nguồn nước sạch thấp (17,6%), số hộ không thực hiện các việc làm thiết thực để bảo vệ nguồn nước rất cao (54,3%)

Bảng 2.4: Kiến thức, thái độ thực hành của người dân về nguồn nước sạch

Trang 29

Qua bảng trên ta thấy kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về nguồn nước còn rất thấp, tỷ lệ số người có kiến thức tốt mới đạt 11,3%, thái

độ tốt chiếm tỷ lệ khá hơn 38,3% và thực hành tốt mới chỉ chiếm 21,7%

Bảng 2.5: Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về vệ sinh môi trường

(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)

Kiến thức tổng hợp chung về vệ sinh môi trường của người dân còn rất thấp, mới đạt 3,4% Kết quả về thái độ tốt và thực hành tốt về vệ sinh môi

trường cũng còn rất thấp

Một số yếu tố liên quan đến thực hành về vệ sinh môi trường của người dân là: Kinh tế hộ gia đình, trình độ học vấn, kiến thức, thái độ của người dân

và sự quan tâm của xã hội đối với vấn đề vệ sinh môi trường

* Tại Xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã triển khai

nhiều hoạt động thiết thực, tạo sự chuyển biến căn bản trong công tác vệ sinh môi trường ở nông thôn nhằm nâng cao nhận thức của người dân đối với công

tác vệ sinh môi trường (VSMT)

Trước đây do tập quán sinh hoạt, điều kiện canh tác, chăn nuôi, người dân trong xã Thiện Thuật (huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn) chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của công tác VSMT nông thôn đối với sức khỏe cộng đồng

Là xã vùng ba với 71% gia đình thuộc hộ nghèo, kinh tế của người dân còn gặp nhiều khó khăn, việc nuôi nhốt gia súc trong gầm sàn trở thành tập tục không dễ thay đổi Nhiều nơi người dân vẫn làm chuồng gia súc ngay trước

Trang 30

cửa nhà, không sử dụng công trình vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày, điều đó làm ảnh hưởng lớn đến sự trong lành của môi trường sống

Để cải thiện môi trường sống của người dân, xã đã chú trọng tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân về công tác VSMT ở nông thôn Theo đó, thông qua các buổi họp thôn, các ngành, đoàn thể đã lồng ghép quán triệt, phổ biến về ý thức ăn, ở hợp vệ sinh, gìn giữ môi trường xung quanh Tại mỗi buổi sinh hoạt, tập huấn, các hộ dân được trang bị kiến thức về kỹ thuật xây dựng công trình nhà vệ sinh, hố xử lý chất thải chuồng trại gia súc

và một số kiến thức về nước sạch, VSMT nông thôn liên quan đến sức khỏe cộng đồng, thu hút hàng trăm hộ dân tham gia Bên cạnh đó, Trạm y tế xã cũng thường xuyên tổ chức truyền thông lồng ghép tại các thôn để phổ biến kiến thức về VSMT làng, xã, vệ sinh cá nhân, công tác quản lý, vận hành và

xử lý các công trình cấp nước Có thể nói, từ chỗ đẩy mạnh công tác truyền thông đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức của người dân và hình thành những hành động tốt đẹp, thân thiện với môi trường sống

Trang 31

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Sự hiểu biết của người dân về môi trường

- Phạm vi nghiên cứu: Xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: tại Xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2018 đến tháng 10/2018

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Hồng Tiến + Điều kiện tự nhiên của xã Hồng Tiến

+ Điều kiện kinh tế xã hội của xã Hồng Tiến

- Hiện trạng môi trường tại xã Hồng Tiến

+ Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt

+ Tình hình xả nước thải trong xã

+ Vấn đề về rác thải trong xã

+Tình hình sử dụng nhà vệ sinh trong xã

- Tìm hiểu sự hiểu biết của người dân về môi trường

+ Nhận thức của người dân về môi trường xung quanh

+ Nhận thức của người dân về Luật Môi trường của Việt Nam và các văn bản liên quan

+ Nhận thức của người dân về việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt

+ Ý thức của người dân về bảo vệ môi trường

- Đánh giá chung và đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về môi trường

Trang 32

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp

- Việc thu thập và phân tích tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu là rất quan trọng nhằm nhận biết vấn đề một cách nhanh chóng và tổng quát Những tài liệu này là cơ sở ban đầu định hướng cho kế hoạch và triển khai các mục tiêu nghiên cứu

- Thông tin thứ cấp có thể được thu thập từ:

+ Mạng internet, sách, báo về vấn đề môi trường

+ Tài liệu từ các phòng thuộc UBND thị xã Phổ Yên

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn theo bộ câu hỏi

- Số lượng hộ câu hỏi điều tra : 70 hộ

- Chọn hộ phỏng vấn: Điều tra ngẫu nhiên các hộ trong xóm của xã (Xã Hồn Tiến có 15 xóm), ở mọi lứa tuổi, công việc…

3.4.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu

- Sử dụng phương pháp phân tích thống kê để tổng hợp lại tất cả các số liệu

đã thu thập được và lập các bảng biểu, sơ đồ

- Từ các số liệu đã có tổng hợp lại và viết báo cáo

Trang 33

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Hồng Tiến

4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Hồng Tiến

- Xã Hồng tiến có diện tích 17,65 km², dân số năm 2018 là 11314 người, mật độ dân số đạt 615 người/km² Xã Hồng Tiến nằm ở phía Nam tỉnh Thái Nguyên, được chia thành 15 thôn và có dân tộc ở đây chủ yếu là người kinh

Xã Hồng Tiến cách trung tâm tỉnh Thái Nguyên 20km về phía Bắc

Hồng Tiến có hình dạng địa lí đặc biệt và có hình chữ V ngược do việc thành lập thị trấn Bãi Bông Tính theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc, xã lần lượt giáp với xã Lương Sơn (TPTN); ba xã Thượng Đình, Điềm Thụy và Nga

My (Phú Bình); xã Đồng Tiến, thị trấn Bãi Bông, thị trấn Ba Hàng, xã Đồng Tiến (lần 2), xã Đắc Sơn (Phổ Yên); ba phường Phố Cò, Cải Đan và Bách Quang (TX Sông Công)[13]

- Xã Hồng Tiến có đặc điểm địa hình đồi núi với độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 120m Xã Hồng Tiến nằm tại cực bắc khu vực phía đông của thị xã Phổ Yên có các tuyến quốc lộ 3 chạy theo ranh giới phía tây, ngoài ra còn có tuyến đường liên huyện Phú Bình và thị xã Phổ Yên cùng tuyến đường nối thành phố Sông Công chạy qua Tuyến đường sắt Hà Nội – Quan Triều cũng chạy qua địa bàn xã

Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên mang đặc điểm chung của khí hậu toàn vùng Mựa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Trên địa bàn xã, có hệ thống kênh mương dày đặc cung cấp nước tưới tiêu, đây là điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp nước sản xuất, nước sinh hoạt

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Hồng Tiến

Thực trạng kinh tế và xã hội xã Hồng Tiến:

Trang 34

- Cơ cấu kinh tế nông thôn; Nông nghiệp chiếm 37%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 35%, thương mai - dịch vụ 28%

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của xã 2015 là 20,2%

- Thu nhập bình quân 66,9 triệu đồng/người/năm

- Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 3% (tính đến 2015)

Tổng số lao động trong độ tuổi là 7675 người, chiếm 68% tổng số nhân khẩu, trong đó lao động nông nghiệp là 3126 người chiếm 41%; lao động thương mại dịch vụ, CN-TTCN là 4549 người, chiếm 59%; Lao động đã qua đào tạo là 2931 lao động, chiếm 39%; lao động chưa qua đào tạo là 4744 lao động, chiếm 61% Đại học 6%, Cao đẳng và Trung cấp 21 %, sơ cấp hoặc tập huấn 30%, còn lại lao động chưa qua đào tạo chiếm 43%

Số hộ khá, hộ giàu tăng mạnh, số nghèo giảm xuống còn 3% (tính đến 2015)

- Hệ thống trường lớp không ngừng được củng cố và phát triển, nâng cao khả năng thu hút trẻ em trong độ tuổi đến trường, tính đến năm học 2017–

2018, trên địa bàn xã có 08 trường, gồm 4 trường mầm non, 03 trường tiểu học và 01 trường trung học cơ sở

- Hiện tại xã có 01 nhà văn hoá trung tâm và 15 điểm văn hoá tại 15/15 thôn, cơ bản nhà văn hoá thôn đã được xây dựng theo kết cấu tường xây đổ trần, trang thiết bị đã tương đối đầy đủ

- Xã có một trạm y tế, xây cấp IV, số giường bệnh 12, đội ngũ cán bộ, nhân viên gồm: Y sỹ 02 người, Y tá hộ lý 02 người, dược sỹ 01 người và 10 cán bộ y tế thôn bản; trang thiết bị và dụng cụ y tế đáp ứng đủ nhu cầu khám, chữa bệnh ở cấp cơ sở[14]

4.2 Hiện trạng môi trường tại xã Hồng Tiến

Thông tin chung theo điều tra năm 2018 xã Hồng Tiến có tỷ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 97% Tỷ lệ hộ có đủ 3 công trình hợp vệ sinh (nhà tắm, bể nước, nhà vệ xinh) đạt chuẩn 95% Tỷ lệ hộ có cơ sở chăn nuôi

Trang 35

hợp vệ sinh 85% Tỷ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 97,7%; số

hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, đạt 94,7%

Về xử lý chất thải: Có 15/15 thôn đã có điểm thu gom, xử lý rác thải,

xã đã có nghĩa trang (19,02ha) được đầu tư xây dựng đảm bảo môi trường và

có quy chế quản lý

Dưới đây là kết quả điều tra về hiện trạng môi trường của xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

4.2.1 Thông tin về đối tượng điều tra

Như đã nêu ở trên, đề tài nghiên cứu về nhận thức của người dân xã Vạn Hòa về một số vấn đề môi trường Theo phương pháp điều tra ngẫu nhiên,

em tiến hành điều tra tìm hiểu nhận thức của 70 hộ gia đình tại 10 xóm gồm: Mãn Chiêm, Giếng, Yên Mễ, Ấm, Chùa, Liên Minh, Hắng, Diện, Đông Sinh, Hiệp Đồng

Bảng 4.1: Giới tính của người tham gia phỏng vấn

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra)

Số liệu trong các bảng dưới đây là đặc điểm của mẫu nghiên cứu trong

đề tài mà em đã thu thập được

Theo kết quả của bảng 4.1 ta thấy rằng tỷ lệ giới tính của 70 người tham gia phỏng vấn có sự chênh lệch Nam giới chiếm 75,7% và nữ giới chiếm 24,3%

Ngày đăng: 29/05/2021, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm