1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn phường quang vinh thành phố thái nguyên tỉnh thái nguyên

81 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 603,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ quan điểm trên, được sự nhất chí của Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên, bản thân em đã tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Tìm hiểu

Trang 1

ĐINH KIM ANH

Tên đề tài:

“TÌM HIỂU NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG QUANG VINH, THÀNH PHỐ THÁI

NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Khoa học môi trường

Trang 2

ĐINH KIM ANH

Tên đề tài:

“TÌM HIỂU NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG QUANG VINH, THÀNH PHỐ THÁI

NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Khoa học môi trường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành báo cáo Khóa luận tốt nghiệp này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn tới Ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường, các thầy giáo cô giáo trong trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy hết mình truyền đạt cho em những kiến thức vô cùng bổ ích làm hành trang cho em bước vào cuộc sống

Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành - lý luận gắn với thực tiễn” Xuất phát từ quan điểm trên, được sự nhất chí của Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên, bản thân em đã tiến

hành thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Tìm hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn phường Quang Vinh, Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”

Được sự chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong trường và Khoa Môi trường, đặc biệt cô giáo trực tiếp hướng dẫn: TS Phan Thị Thu Hằng và các ban ngành trong khối Ủy ban nhân dân phường Quang Vinh, Thành phố Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian thực tập Em xin chân thành cảm ơn đến tất cả mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Do thời gian và kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế và địa bàn nghiên cứu khá rộng và gặp nhiều khó khăn cho nên báo cáo của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các của các thầy giáo, cô giáo trong Khoa để đề tài này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày 24 tháng 02 năm 2017

Sinh viên

Đinh Kim Anh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Diện tích các loại đất phường Quang Vinh 35

Bảng 4.2: Tình hình sử dụng nguồn nước sinh hoạt tại địa phương 39

Bảng 4.3: Đánh giá cảm quan về nguồn nước của người dân 39

Bảng 4.4: Thống kê nguồn tiếp nhận các chất thải từ nhà về sinh của 40

người dân 40

Bảng 4.5: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cống thải 41

Bảng 4.6: Thống kê loại nhà vệ sinh trên địa bàn phường Quang Vinh 42

Bảng4.7: Tỷ lệ các loại rác tạo ra trung bình một ngày 43

Bảng 4.8: Tỉ lệ hộ gia đình có các hình thức đổ rác 43

Bảng 4.9: Nhận thức của người dân về các khái niệm môi trường 44

Bảng 4.10: Nhận thức của người dân về những biểu hiện do ô nhiễm môi trường gây ra theo trình độ học vấn 46

Bảng 4.11: Ý kiến của người dân về tầm quan trọng của việc phân loại rác 47 thải sinh hoạt theo giới tính 47

Bảng 4.12: Nhận thức của người dân về luật môi trường và các văn bản liên quan theo nghề nghiệp 49

Bảng 4.13: Tìm hiểu các chương trình bảo vệ môi trường 50

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

1.4 Yêu cầu 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Cơ sở pháp lý 4

2.1.2 Cơ sở lý luận 6

2.1.2.1 Các khái niệm cơ bản 6

2.2 Một số vấn đề môi trường cần quan tâm trên Thế giới và Việt Nam 8

2.2.1 Một số vấn đề về môi trường cần quan tâm trên Thế giới 8

2.2.2 Một số vấn đề về môi trường của Việt Nam 16

2.3 Hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên 25

2.3.1 Hiện trạng môi trường nước 25

2.3.1.1 Nước sông 25

2.3.1.2 Hiện trạng môi trường nước thải 26

2.3.3 Hiện trạng môi trường đất 26

Trang 6

2.4 Những nghiên cứu nhận thức người dân về các vấn đề môi trường ở các

địa phương Việt Nam 27

2.4.1 Nhận thức người dân về luật bảo vệ môi trường 27

2.4.2 Nhận thức người dân về tác hại biến đổi khí hậu 27

2.4.3 Nhận thức của người dân về việc phân loại thu gom, xử lí rác thải 28

2.4.4 Nhận thức người dân về vệ sinh môi trường 29

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU30 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 30

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

3.3 Nội dung nghiên cứu 30

3.3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của phường Quang Vinh 30

3.3.2 Hiện trạng môi trường tại phường Quang Vinh 30

3.3.3 Tìm hiểu sự hiểu biết của người dân về môi trường 31

3.4 Phương pháp nghiên cứu 31

3.4.1 Phương pháp kế thừa 31

3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 31

3.4.4 Phương pháp tổng hợp xử lý số liệu 32

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội phường Quang Vinh 33

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

4.1.1.1.Vị trí địa lý 33

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo 2

4.1.1.3 Khí hậu 2

4.1.1.4 Thủy văn 2

4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên 3

Trang 7

4.1.1.6 Thực trạng môi trường 4

4.1.2 Kinh tế - xã hội phường Quang Vinh 5

4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế 5

4.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 5

4.1.2.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 6

4.1.2.4 Dân số, lao động 6

4.1.3 Văn hóa – xã hội 7

4.2 Đánh giá chất lượng môi trường trên địa bàn phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 8

4.2.1 Chất lượng nước sinh hoạt của người dân 8

4.2.2 Thực trạng xử lý nước thải tại địa phương 9

4.2.3 Tình hình sử dụng nhà vệ sinh của người dân phường Quang Vinh 10

4.3.Ý kiến của người dân phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên về vấn đề môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường 11

4.3.1 Ý kiến của người dân về chất lượng môi trường không khí 11

4.3.2 Thái độ của người dân với các hoạt động bảo vệ môi trường 11

4.3.3 Tình hình thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường 12

4.4 Nhận thức của người dân về môi trường 13

4.4.1 Nhận thức của người dân về các khái niệm môi trường 13

4.4.2 Nhận thức của người dân về mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến các hoạt động và sức khỏe con người 14

4.4.3 Nhận thức của người dân trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 15

4.4.4 Nhận thức của người dân về Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản liên quan 17

4.4.5 Những hoạt động của người dân về công tác bảo vệ môi trường sống, công tác tuyên truyền của phường Quang Vinh 19

Trang 8

4.5 Đánh giá chung và đề xuất giải pháp 20

4.5.1 Đánh giá chung 20

4.5.2 Đề xuất giải pháp 21

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24

5.1 Kết luận 24

5.2 Kiến nghị 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BĐKH: Biến Đổi Khí Hậu

BVMT: Bảo Vệ Môi Trường

CBCNVC: Cán Bộ Công Nhân Viên Chức

EPA: Cục Bảo Vệ Môi Trường Hoa Kỳ

EPI: Chỉ Số Thành Tích Môi Trường

GDP: Sản Phẩm Quốc Nội

KCN: Khu Công Nghiệp

NPU: Đơn Vị Đo Độ Đục

PCU: Đơn Vị Đo Màu Sắc

THCS: Trung Học Cơ Sở

THPT: Trung Học Phổ Thông

TNHH: Trách Nhiệm Hữu Hạn

UBND: Ủy Ban Nhân Dân

USD: Đơn Vị Tiền Tệ

WHO: Tổ Chức Y Tế Thế Giới

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

“ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.”

Môi trường có mối quan hệ mật thiết với cuộc sống của con người, nơi cung cấp cho chúng ta không gian để sống, cung cấp những nguồn tài nguyên quý giá như: đất, nước, không khí, khoáng sản phục vụ cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất và là nơi chứa đựng chất thải Tuy nhiên, con người đã tác động quá nhiều đến môi trường, khai thác đến mức cạn kiệt các nguồn tài nguyên, thải nhiều chất độc làm cho môi trường không còn khả năng tự phân hủy Vì vậy, chúng ta cần có các biện pháp để bảo vệ và cải tạo môi trường

Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chúng ta Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm xử lý, răn đe những tổ chức, cá nhân có hành vi làm tổn hại đến môi trường và các công nghệ xử lý rác thải, phát minh khoa học ra đời nhằm giảm thiểu những tác động đến môi trường Những việc đầu tiên góp phần bảo vệ môi trường

đó là nâng cao nhận thức để mọi người cùng hiểu biết và hành động Chỉ có nhận thức đúng, suy nghĩ đúng mới hành động đúng và mỗi hành động nhỏ sẽ góp phần lớn vào việc hình thành nếp sống văn minh, trách nhiệm với môi trường

Phường Quang Vinh nằm ở phía Bắc thành phố Thái Nguyên có diện tích 3,1km2 Trong những năm gần đây, phường đã bước tiến đáng kể về kinh

tế xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt song song với sự phát triển

Trang 11

của nền kinh tế thì vấn đề môi trường cũng ngày càng được xã hôi quan tâm

Xuất phát từ thực tế trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiêm Khoa Môi Trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo TS Phan Thị Thu Hằng Em

đã tiến hành thực hiện đề tài “Tìm hiểu nhận thức của người dân về môi trường trên địa bàn phường Quang Vinh - Thành phố Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định mức độ nhận thức của người dân về môi trường, từ đó đề xuất các giải pháp giáo dục phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường sống tại địa bàn và đề xuất giải pháp cho công tác quản lí môi trường nói chung và công tác cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường nói riêng

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá nhận thức của người dân về một số vấn đề ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường

- Đánh giá sự hiểu biết của người dân về Luật Môi trường Việt Nam

- Đánh giá ý thức của người dân về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn phường Quang Vinh

Trang 12

- Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước, không khí của phường và hiện trạng môi trường nước sinh hoạt

- Điều tra, đánh giá chất lượng môi trường đặc biệt là các vấn đề môi trường bức xúc, các điểm nóng về môi trường trên toàn phường và hậu quả của nó

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học

- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này

- Vận dụng các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu

- Là tài liệu phục vụ quản lí môi trường cấp cơ sở

1.4 Yêu cầu

- Phản ánh đúng hiện trạng môi trường và nhận thức của người dân

- Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ khách quan

- Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương

- Các kiến nghị được đưa ra phải phù hợp với tình hình địa phương và

có tính khả thi cao

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học

- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP, ngày 14/02/2015 về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường;

- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP, ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;

- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, ngày 24/04/2015 quy định về quản lý chất thải và phế liệu;

- Chỉ thị số 26/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/08/2014 về việc triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường;

- Nghị định số 80/2014/NĐ- CP, ngày 06/08/2014 về thoát nước và xử

lí nước thải;

- Nghị định số 25/NĐ-CP, ngày 29/03/2013 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;

- Quyết định 1788/Q Đ-TTg, ngày 01/10/2013 phê duyệt kế hoạch xử

lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020;

Trang 14

- Nghị định 179/2013/NĐ-CP, ngày 13/11/2013 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

- Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất;

- Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22 tháng 5 năm 2015 quy định về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ;

- Thông tư 11/2015/TT-BTNMT ngày 31/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường ban hành ( QCVN 01-MT : 2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sơ chế cao su thiên nhiên);

- Thông tư 12/2015/TT-BTNMT ngày 31/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (QCVN 12-MT : 2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy);

- Thông tư 13/2015/TT-BTNMT ngày 31/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (QCVN 13-MT: 2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp dệt nhuộm);

- Thông tư số 19/2015/TT-BTNMT quy định chi tiết việc thẩm định điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường và mẫu giấy chứng nhận đã được Bộ trưởng ký ban hành ngày 23 tháng 4 năm 2015;

- Thông tư số 22/2015/TT-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 28 tháng 5 năm 2015 quy định về bảo vệ môi trường trong

sử dụng dung dịch khoan; quản lý chất thải và quan trắc môi trường đối với các hoạt động dầu khí trên biển;

Trang 15

- Thông tư số 26/2015/TT-BTNTM của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 28 tháng 5 năm 2015 quy định đề án bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ môi trường đơn giản;

- Thông tư số 27/2015/TT-BTNTM của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 29 tháng 5 năm 2015 về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;

- Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao; Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;

- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại;

- Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản;

- Thông tư số 41/2015/TT-BTNMT ngày 09 tháng 9 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất;

Trang 16

+ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật

+ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất quan

hệ mật thiết với nhau bao quanh con người có ảnh đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên

- Ô nhiễm môi trường:

+ Ô nhiễm môi trường, là hiện tượng môi trường tự nhiên bị nhiễm bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác

+ Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Luật bảo vệ môi trường 2015)

+ Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường

- Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất

lượng nước làm nhiễm bẩn nước gây nguy hiểm tới sức khỏe con người

- Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan

trọng trong thành phần không khí làm cho không khí bị ô nhiễm

- Rác thải là những chất được loại ra trong sinh hoạt trong quá trình

sản xuất hoặc trong các hoạt động khác

- Quản lý chất thải là hoạt động phân loại thu gom, vận chuyển, giảm

thiểu tái sử dụng, tái chế xử lý tiêu hủy Phế liệu là sản phẩm được loại ra trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được tái sử dụng làm nguyên liệu sản xuất sản phẩm mới

- Chất thải hữu cơ là những chất có thể phân hủy được như thức ăn

thừa, giấy bìa, lá rụng…

Trang 17

- Các chất thải vô cơ là những chất thải không có khả năng phân hủy

hoặc phân hủy trong thời gian rất lâu

- Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt

động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng

- Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách

kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chấtlượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia

- Thông tin về môi trường bao gồm số liệu, dữ liệu về các thành phần

môi trường; về trữ lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên; về các tác động đối với môi trường; về chất thải; về mức

độ ô nhiễm môi trường; suy thoái, và các thông tin về môi trường khác

- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ

hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế

hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường

- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong

sạch, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học

2.2 Một số vấn đề môi trường cần quan tâm trên Thế giới và Việt Nam

2.2.1 Một số vấn đề về môi trường cần quan tâm trên Thế giới

Những vấn đề môi trường quan tâm hàng đầu hiện nay

- Hiện nay môi trường đang bị đe dọa trầm trọng vì tình hình thế giới phát triển càng lúc càng cao, các nhà máy, công trình, xưởng sản xuất mỗi ngày thải ra ngoài môi trường rất nhiều khí thải, chất thải nguy hại, dẫn đến

Trang 18

môi trường bị đe dọa ô nhiễm Môi trường toàn cầu hiện nay đầy những yếu

tố, nào là hạn hán, đói kém, thiên tai, lũ lụt

- Nguồn nước đang bị khan hiếm

Hiện nay trên trái đất, diện tích nước chiếm tới khoảng 70% bề mặt, tuy nhiên chỉ có khoảng 2% là nước phù hợp cho tiêu dùng, được coi là nước tinh khiết Nước được xem là một dạng tài nguyên được sử dụng nhiều nhất trên thế giới Vấn đề nhắc tới là lượng nước sạch đến với mọi người trên thế giới là không đều

Nhiều khu vực vẫn phụ thuộc vào lượng nước mưa dự trữ, tuy nhiên nếu khí hậu biến đổi thì nguồn nước cung cấp từ thiên nhiên là vô cùng khan hiếm, dẫn đến khan hiếm nước cho sinh hoạt Tuy nhiên có nơi lại lũ lụt thiên tai, lũ quét làm phá hủy hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo trong khu vực

Ngoài ra, một trong những mối quan tâm lớn về y tế liên quan trực tiếp với vấn đề môi trường này là việc tiếp cận với nước sạch Rất ít người trên toàn thế giới có thể truy cập nguồn nước uống Điều này gây ra một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho những người dân sống ở khu vực đó

Để có thể bảo tồn nguồn tài nguyên nước hết sức ít ỏi của chúng ta, chúng ta phải nhận thức được rằng cần phải giữ được sự cân bằng nhu cầu và khả năng cung cấp bằng cách thực hiên các biện pháp thích hợp Để có thể hồi phục được sự cân bằng mỗi khi đã bị thay đổi sẽ tốn kém rất lớn, tuy nhiên có nhiều trường hợp không thể sửa chữa được Vì thế cho nên, nhân dân tại tất cả các vùng phải biết tiết kiệm nước, giữ cân bằng giữa nhu cầu sử dụng với nguồn nước cung cấp, có như thế mới giữ được một cách bền vững nguồn nước với chất lượng an toàn

- Nạn phá rừng

Rừng - “lá phổi của Trái đất” đang bị phá hủy do hoạt động của loài người:

Trang 19

Rừng xanh trên thế giới che phủ khoảng một phần ba diện tích đất liền của Trái đất, chiếm khoảng 40 triệu km2 Tuy nhiên, các vùng rừng rậm tốt tươi đã bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây

Các hệ sinh thái rừng bao phủ khoảng 10% diện tích Trái đất, khoảng 30% diện tích đất liền Tuy nhiên, các vùng có rừng che phủ đã bị giảm đi khoảng 40% trong vòng 300 năm qua và theo đó mà các loài động thực vật, thành phần quan trọng của các hệ sinh thái rừng, cũng bị mất mát đáng kể Loài người đã làm thay đổi các hệ sinh thái một cách hết sức nhanh chóng trong khoảng 50 năm qua, nhanh hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây

Rừng còn đem lại nhiều lợi ích khác cho chúng ta, trong đó việc đảm bảo sự ổn định chu trình oxy và cacbon trong khí quyển và trên mặt đất là rất quan trọng Cây xanh hấp thụ lượng lớn CO2 và thải ra khí O2, rất cần thiết cho cuộc sống

Từ trước đến nay, lượng CO2 có trong khí quyển luôn ổn định nhờ sự quang hợp của cây xanh Tuy nhiên trong những năm gần đây, một diên tích lớn rừng bị phá hủy, nhất là rừng rậm nhiệt đới, do đó hàng năm có khoảng 6tỷ tấn CO2 được thải thêm vào khí quyển trên toàn thế giới, tương đương khoảng 20% lượng khí CO2 thải ra do sử dụng các nhiên liệu hóa thạch (26 tỷ tấn/năm) Điều đó có nghĩa là việc giảm bớt sử dụng nhiên liệu hóa thạch và khuyến khích bảo vệ rừng và trồng rừng để giảm bớt tác động của biến đổi khí hậu là rất quan trọng

Ngày nay thiên tai lũ lụt, hạn hán ngày càng nặng nề, đáng cảnh bảo, nguyên nhân sâu xa là do phần rừng bị khai thác một cách vô tội vạ Nạn phá rừng hầu như xảy ra trên toàn thế giới, các tổ chức cây xanh trên thế giới đã cảnh báo rất nhiều về việc tàn phá hệ sinh thái cây xanh sẽ ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu

Trang 20

Cuộc sống phát triển, nhu cầu tiêu thụ nhu yếu phẩm, thực phẩm tăng lên, dẫn đến con người phải phá bỏ nhiều diện tích rừng cho việc trồng trọt

Xã hội phát triển, các đô thị, thành phố lớn mọc ra khiến các cánh rừng bị thay thế bới các tòa cao ốc Khai thác khoáng sản, dầu và các tài nguyên khác cũng dẫn đến nạn phá rừng

Với nạn phá rừng làm cho nhiều loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng Xói lở đất, biến đổi khí hậu đáng kể và trong một số trường hợp thiên tai như sạt lở đất và lũ quét có thể là do, trực tiếp hoặc gián tiếp phá rừng

- Sự biến đổi khí hậu toàn cầu

Sự tăng nhiệt độ trái đất đáng kể trong những năm vừa qua đang làm cho thế giới không an tâm Biến đổi khí hậu trên thế giới dẫn đến thiên tai, động đất, sóng thần, lũ lụt ngày càng xuất hiện với mật độ nhiều và nặng hơn

Những báo cáo về sự tăng nhiệt độ trong mùa hè, mùa đông không đủ lạnh và khối lượng đất đóng băng cũng giảm Toàn bộ thế giới bị ảnh hưởng bởi sâu rộng trong tự nhiên Ảnh hưởng của nó không chỉ gây tử vong cho con người mà còn cho các loài khác sống ở hành tinh này

- Quản lý chất thải nguy hại

Quản lý chất thải nguy hại liên kết chặc chẽ với phát triển dân số nhanh chóng trên toàn thế giới và tỷ lệ tiêu thụ, chất thải, và quản lý của nó đã trở thành một vấn đề lớn trên thế giới Việc xử lý chất thải được tạo ra trong nhiều hình thức, mà có thể được phân loại rộng rãi trong hai hình thức Một

số chất thải phân hủy sinh học và một số không như vậy

Vấn đề mất gốc trong lối sống của chúng ta, đó là chuyển động nhanh

và nhẫn tâm trong suy nghĩ và hành động Vấn đề này thể hiện rõ ràng hơn xung quanh các vùng đô thị của thế giới Các giải pháp sửa chữa nhanh chóng của các bãi chôn lấp và các trung tâm tái chế không được chứng minh Trong thực tế, tràn đầy các bãi chôn lấp, đặc biệt là ở các nền kinh tế phát triển trên

Trang 21

thế giới, đang gây ra sức khỏe nghiêm trọng hơn và các vấn đề môi trường trong khu vực

- Đa dạng sinh học và sử dụng đất

Đa dạng sinh học có nghĩa là sự đa dạng của cuộc sống tồn tại trong bất

kỳ khu vực nhất định Đa dạng sinh học đem lại rất nhiều lợi ích cho con người như làm sạch không khí và dòng nước, giữ cho môi trường thiên nhiên trong lành, cung cấp các loại lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đa dạng sinh học còn góp phần tạo ra lớp đất màu, tạo độ phì cho đất để phục vụ sản xuất sinh hoạt…

Sụp đổ hệ sinh thái và mất đa dạng sinh học sẽ gây nên nhiều khó khăn trong cuộc sống nhất Vì thế, việc bảo tồn đa dạng sinh học là hết sức quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo mà chúng ta đang theo đuổi trong

sự phát triển xã hội ở nước ta Hôm nay với dân số ngày càng tăng và nhu cầu ngày càng tăng cho các nhu cầu cơ bản, đa dạng sinh học đang bị đe dọa ở nhiều khu vực trên thế giới Nhu cầu cao cho quần áo, thực phẩm và nơi sinh

ở đã dẫn đến một mô hình sử dụng đất sai lệch

Đất canh tác cho nông nghiệp hiện nay đang ít dần, cộng với nhiều vùng miền đang thiếu nước canh tác, hoặc nước nhiểm mặn không thế canh tác.Nhiều đất canh tác có thể dẫn đến các vấn đề về tình trạng thiếu nước và xâm nhập mặn đất Điều này cũng dẫn đến các vấn đề khác như khai thác quá nhiều Họ có thể để trồng thực phẩm hoặc các loại ngũ cốc hoặc thậm chí cả cây, nhưng những ảnh hưởng của sự thay đổi đó có ảnh hưởng lâu dài và gây hại cho môi trường làm cho các vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng

- Hóa chất, chất thải độc hại và kim loại nặng

Nhiều chất thải được tạo ra bởi con người có chứa một lượng cao các hóa chất và các chất độc Chúng có tác động xấu đến môi trường Các vấn đề của mưa axít là một ví dụ Một số hóa chất và kim loại nặng có một hiệu ứng

Trang 22

có thể gây tử vong trên con người cũng như đời sống động vật.Cần được chăm sóc thực hiện để ngăn chặn điều này xảy ra Định mức phát thải nghiêm ngặt kiểm soát và các quy định cần phải được thực hiện để bảo vệ hệ sinh thái cũng như sức khỏe của con người từ vấn đề chết người này Tái tạo nguồn năng lượng không tái tạo năng lượng, nhu cầu và tiêu thụ của họ là một nguyên nhân của vấn đề môi trường xung quanh hành tinh

- Mức tiêu thụ năng lượng ngày càng cao và nguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt

Trong lúc vấn đề cạn kiệt nguồn chất đốt hóa thạch đang được mọi người quan tâm như dầu mỏ và khí đốt, thì Trung Quốc và Ấn Độ với diện tích rộng và dân số lớn, đang là nhưng nước đang phát triển nhanh tại châu Á, đặc biệt là Trung Quốc có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào, đang tăng sức tiêu thụ nguồn năng lượng này một cách nhanh chóng Ở Trung Quốc, sức tiêu thụ loại năng lượng hàng đầu này từ 961 triệu tấn (tương đương dầu mỏ) vào năm 1997 lên 1.863 triệu tấn vào năm 2007, tăng gần gấp đôi trong khoảng 10 năm Tất nhiên lượng CO2 thải ra cũng tăng lên gần ½ lượng thải của Mỹ năm 2000, và đến nay Trung Quốc đã trở thành nước thải lượng khí CO2 lớn nhất trên thế giới, vượt qua cả Mỹ năm 2007

Con người đã đạt được bước tiến rất lớn trong quá trình phát triển, bằng cuộc Cách mạng Công nghiệp nhờ sự tiêu thụ lớn các chất đốt hóa thạch

Tuy nhiên, ước lượng nguồn dự trữ dầu mỏ trên thế giới chỉ còn sử dụng được trong vòng 40 năm nữa, dự trữ khí tự nhiên được 60 năm và than

đá là khoảng 120 năm Nếu chúng ta vẫn bị lệ thuộc vào chất đốt hóa thạch thì chúng ta không thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng cao và sẽ phải đối đầu với sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên nhiên này trong thời gian không lâu

Trang 23

Việc sử dụng các nguồn năng lượng hồi phục được như năng lượng mặt trời, địa nhiệt, gió, thủy lực và sinh khối sẽ không làm tăng thêm CO2 vào khí quyển và có thể sử dụng được một cách lâu dài cho đến lúc nào Mặt trời còn chiếu sáng lên Trái đất Tuy nhiên, so với chất đốt hóa thạch, năng lượng mặt trời rất khó tạo ra được nguồn năng lượng lớn, mà giá cả lại không ổn định Làm thế nào để tạo được nguồn năng lượng ổn định từ các nguồn có thể tái tạo còn là vấn đề phải nghiên cứu, và rồi đây khoa học kỹ thuật sẽ có khả năng hạ giá thành về sử dụng năng lượng mặt trời và các dạng năng lượng sạch khác Chúng ta không thể giải quyết vấn đề năng lượng chỉ bằng cách sử dụng nguồn năng lượng sạch, mà chúng ta cần phải thay đổi cách mà chúng ta hiện nay đang sử dụng nguồn năng lượng để duy trì cuộc sống của chúng ta

và đồng thời phải tìm các làm giảm tác động lên môi trường Tiết kiệm năng lượng là hướng giải quyết mà chúng ta phải theo đuổi mới mong thực hiện được sự phát triển bền vững, trước khi năng lượng mặt trời được sử dụng một cách phổ biến

- Trái đất đang nóng lên

Nóng lên toàn cầu không phải chỉ có nhiệt độ tăng thêm, nó còn mang theo hàng loạt biến đổi về khí hậu, mà điều quan trọng nhất là làm giảm lượng nước mưa tại nhiều vùng trên thế giới Một số vùng thường đã bị khô hạn, lượng mưa lại giảm bớt tạo nên hạn hán lớn và sa mạc hóa Theo báo cáo lần thứ tư của IPCC, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,7 oC so với trước kia

Do nóng lên toàn cầu, dù chỉ 0,7 oCmà trong những năm qua, thiên tai như bão tố, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng bất thường, cháy rừng… đã xảy ra tại nhiều vùng trên thế giới Theo dự báo thì rồi đây, nếu không có các biện pháp hữu hiệu để giảm bớt khí thải nhà kính, nhiệt độ mặt đất sẽ tăng thêm từ 1,8o

C đến 6,4 o

C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%, băng ở hai cực và các núi cao sẽ tan nhiều hơn, nhanh hơn, nhiệt độ nước biển ấm lên, bị giãn

Trang 24

nở mà mức nước biển sẽ dâng lên khoảng 70-100cm hay hơn nữa và tất nhiên

sẽ có nhiều biến đổi bất thường về khí hậu, thiên tai sẽ diễn ra khó lường trước được cả về tần số và mức độ

- Dân số thế giới đang tăng nhanh

Sự tăng dân số một cách quá nhanh chóng của loài người cùng với sự phát triển trình độ kỹ thuật là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự suy thoái thiên nhiên Tuy rằng dân số loài người đã tăng lên với mức độ khá cao tại nhiều vùng ở châu Á trong nhiều thế kỷ qua nhưng ngày nay, sự tăng dân số trên thế giới đã tạo nên một hiện tượng đặc biệt của thời đại của chúng ta, được biết đến là như là sự bùng nổ dân số trong thế kỷ XX Hiện tượng này có lẽ còn đáng chú ý hơn cả phát minh về năng lượng nguyên tử hay phát minh về điều khiển học Tình trạng quá đông dân số loài người trên trái đất đã đạt trung bình khoảng 48 người trên km2 trên đất liền(kể cả sa mạc và các vùng cực) Với dân số như vậy, loài người đang ngày càng gây sức ép mạnh lên vùng đấy

có khả năng nông nghiệp để sản xuất lương thực và cả lên những hệ sinh thái

tự nhiên khác

- Khoa học Di truyền

Là một vấn đề rất nhạy cảm và rất gây tranh cãi Khoa học đã giúp con người rất nhiều và đã đạt được nhiều bước đột phá về y học, công nghệ, y tế, thông tin liên lạc, vv Trong thực tế, tất cả các khía cạnh của đời sống con người được cải thiện rất nhiều với sự giúp đỡ của khoa học Sửa đổi di truyền của thực vật, động vật và có lẽ ngay cả con người trong tương lai gần có thể gây ra thiệt hại nhiều hơn lợi

Chúng ta không thể không đồng ý với việc nghiên cứu về di truyền học

đã làm thay đổi cuộc sống của chúng ta như thế nào.Các thách thức khó khăn nhất được lan truyền nâng cao nhận thức và giáo dục người dân về sự thoái hóa các nguồn lực màu xanh Nhiều vấn đề được gây ra bởi chúng ta làm theo

Trang 25

lối sống, mà không có một ý thức về hậu quả Chúng tôi chỉ có một hành tinh, chỉ có một nhà, chúng ta không thể mất nó để thõa mãn sự tham lam của chúng ta

2.2.2 Một số vấn đề về môi trường của Việt Nam

Tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại các giống loài, ảnh hưởng xấu sức khoẻ con người là cái giá phải trả cho quá trình tự do hóa thương mại mới được tiến hành chỉ trong vòng 10 năm trở lại đây ở nước ta

Theo đánh giá mới đây của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 85 trong số nước được xếp hạng Các nước khác trong khu vực như Philippines đạt 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45 điểm, Còn theo kết quả nghiên cứu khác vừa qua tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia

có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe

Mới đây, hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia của Mỹ thực hiện báo cáo thường niên khảo sát ở 132 quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy: Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123/132 quốc gia khảo sát; về ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe đứng vị trí 77; về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80 Tính theo chỉ số chung EPI, Việt Nam xếp thứ 79 Đó là những đánh giá chung, còn nếu xem xét cụ thể trên từng khía cạnh thì sẽ càng thấy rõ hơn bức tranh chung của môi trường Việt Nam hiện nay

- Rừng tiếp tục bị thu hẹp

Trước năm 1945, nước ta có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích

tự nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29%), đến nay chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%) Độ che phủ của rừng nước ta đã giảm sút đến mức báo động Chất lượng rừng ở các vùng

Trang 26

còn rừng bị hạ xuống mức quá thấp Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh 40 năm trước đây, 400.000 ha đất ven biển nước ta được bao phủ bởi rừng ngập mặn, nhưng chỉ trong 5 năm, 2006 - 2011, 124.000 ha rừng ngập mặn ven biển đã biến mất để nhường chỗ cho các ao tôm, ao cá - tương đương diện tích bị mất trong 63 năm trước đó Rừng ngập mặn trưởng thành rộng lớn ở vùng châu thổ sông Hồng hầu như đã bị tàn phá Hệ lụy kéo theo

là sự giảm sút mạnh của năng suất nuôi trồng thủy sản ven biển và sự mất cân bằng môi trường sinh thái

Số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá để sử dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ mới trồng bù được hơn 700 ha

- Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào nhóm cao nhất thế giới Với các điều tra đã công bố, Việt Nam

có 21.000 loài động vật, 16.000 loài thực vật, bao gồm nhiều loài đặc hữu, quý hiếm Tổ chức vi sinh vật học châu Á thừa nhận Việt Nam có không ít loài vi sinh vật mới đối với thế giới

Thế nhưng, trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong Và, mặc dù có vẻ nghịch lý nhưng có một thực tế là các trang trại gây nuôi động vật hoang dã như nuôi những loài rắn, rùa, cá sấu, khỉ và các loài quý hiếm khác vì mục đích thương mại ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á lại không hề làm giảm bớt tình trạng săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên, mà thậm chí còn làm cho vấn

đề trở nên tồi tệ hơn bởi những trang trại này đã liên quan tới các hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã

Trang 27

Tiến sĩ Elizabeth L Bennett, Giám đốc Chương trình Giám sát nạn săn bắt và buôn bán động vật hoang dã của Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã, cho biết: “Thay vì hoạt động nhằm mục đích bảo tồn, các trang trại gây nuôi động vật hoang dã lại vì mục đích thương mại nên trên thực tế trở thành mối

đe dọa với các loài động vật hoang dã trong tự nhiên Các phân tích từ những báo cáo cho thấy tác động tiêu cực của các trang trại này lớn hơn rất nhiều so với những ích lợi mà chúng có thể đem lại” Thậm chí, những trang trại gây nuôi các loài sinh trưởng nhanh với tỷ lệ sinh sản cao cũng tác động tiêu cực đến công tác bảo tồn vì những trang trại này liên tục nhập khẩu các loài động vật có nguồn gốc tự nhiên

Hơn 100 loài sinh vật ngoại lai đang hiện diện tại nước ta cũng là mối nguy lớn cho môi trường sinh thái, như: ốc bươu vàng, cây mai dương, bọ cánh cứng hại dừa, đặc biệt là việc nhập khẩu 40 tấn rùa tai đỏ - một loài đã được quốc tế cảnh báo là một trong những loài xâm hại nguy hiểm

- Diện tích đất trồng trọt trên đầu người ngày càng giảm:

Ở Việt Nam, tuy đất nông nghiệp chiếm 28,4% diện tích đất tự nhiên, song bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người rất thấp, xếp thứ 159 trong tổng số 200 nước trên thế giới và bằng 1/6 bình quân trên thế giới Tỷ lệ này sẽ hạ thấp hơn nữa trong những năm tới do dân số còn tăng và đất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp lại rất hạn chế, chủ yếu thuộc các vùng đồng bằng Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị thoái hóa, ô nhiễm

và chuyển đổi mục đích sử dụng, nhất là để xây dựng các khu công nghiệp, đô thị, đường giao thông, sân gôn , làm mất đi hơn 50.000 ha đất nông nghiệp trong khoảng 10 năm qua Theo thống kê chưa đầy đủ, trong mấy năm gần đây, trung bình hàng năm có khoảng 72.000 ha đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng Trong khoảng 3 năm trở lại đây việc quy hoạch phát triển các khu công nghiệp diễn ra hết sức ồ ạt ở các địa phương Tỉnh nào

Trang 28

cũng có khu công nghiệp, khiến một phần không nhỏ đất nông nghiệp tốt bị chuyển đổi mục đích sử dụng Theo một báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cả nước phải giữ được ít nhất 3,9 triệu hecta đất trồng lúa, vì thế, Chính phủ phải sớm có quy hoạch tổng thể về đất nông nghiệp của cả nước để các địa phương tuân theo

- Thoái hóa đất:

Theo thống kê mới năm 2010, Việt Nam có 28.328.939 ha đất đã được

sử dụng, chiếm 85,70% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất nông - lâm nghiệp

có 24.997.153ha chiếm 75,48%, đất phi nông nghiệp khoảng 3.385.786ha chiếm 10,22% Đất chưa sử dụng là 4.732.786ha chiếm 13,30% Đất nông nghiệp tăng trong khi diện tích đất trồng lúa giảm (45,977ha) Nhìn chung, đất sản xuất nông nghiệp có nhiều hạn chế, với 50% diện tích là đất có vấn đề như đất phèn, đất cát, đất xám bạc màu, đất xói mòn manh trơ sỏi đá, đất ngập mặn, đất lầy úng, và có diện tích khá lớn là đất có tầng mặt mỏng ở vùng đồi núi (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường, 2004)

- Thiếu nước ngọt và nhiễm bẩn nước ngọt ngày càng trầm trọng:

Nhìn chung tài nguyên nước ngọt Việt Nam tương đối cao, tuy nhiên với tiến trình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, tài nguyên và môi trường nước Việt Nam đang thay đổi hết sức nhanh chóng, đối mặt với nguy cơ cạn kiệt về số lượng, ô nhiễm về chất lượng, tác động tiêu cực tới cuộc sống của nhân dân và sự lành mạnh về sinh thái của cả nước (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường, 2004)

Việc phá rừng mà hậu quả là hiện tượng bồi lắng ở mức độ cao do sói mòn đất đã làm giảm hiệu năng của những dòng kênh và tuổi thọ của các hồ chứa Năm 1991, hai công trình thủy điện quan trọng ở miền trung là Đa Nhim và Trị An đã không vận hành được bình thường vào mùa khô vì thiếu

Trang 29

nước nghiêm trọng Nhiều vùng bị thiếu nước trầm trọng, nhất là Đồng Văn, Lai Châu, Hà Tĩnh và Quảng Trị Giữa tháng 3/2011, nhiều vùng bị hạn nặng, như các tỉnh Tây Nguyên nhất là Gia Lai, Kon Tum, cà phê không đủ nước đã

bị chết hay cháy hoa, nhân dân nhiều vùng không có đủ nước cho sinh hoạt

Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch hiện nay là khoảng 50%, trong đó đô thị chiếm 70% và nông thôn chỉ 30% Từ nay cho đến năm 2040, tổng nhu cầu nước ở Việt Nam có thể chưa vượt quá 50% tổng nguồn nước, song vì có

sự khác biệt lớn về nguồn nước tại các vùng khác nhau, vào các mùa khác nhau và do nạn ô nhiễm gia tăng, nếu không có chính sách đúng đắn thì nhiều nơi sẽ bị thiếu nước trầm trọng

- Ô nhiễm sông ngòi

Với những dòng sông ở các thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố

Hồ Chí Minh, tình trạng bị ô nhiễm nặng nề là điều dễ dàng nhận thấy qua thực tế, cũng như qua sự phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, sông ở nhiều vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống

Các dòng sông đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề nhất là: sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai và hệ thống sông Tiền và sông Hậu ở Tây Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long Những con sông này đã trở nên độc hại, làm hủy hoại nguồn thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống, sức khoẻ của cộng đồng

- Bãi rác công nghệ và chất thải

Hiện các doanh nghiệp ở Việt Nam là chủ sở hữu của hơn một nghìn con tàu biển trọng tải lớn, cũ nát Hầu hết các cảng biển trên thế giới đều không cho phép loại tàu này vào, vì nó quá cũ gây ô nhiễm môi trường lại

Trang 30

không bảo đảm an toàn hàng hải Thế nhưng, hơn một nghìn con tàu cũ nát đó vẫn đang được neo vật vờ ở các tuyến sông, cửa biển để chờ được “hóa kiếp” thành phế liệu mà việc phá dỡ loại tàu biển cũ này sẽ thải ra rác thải nguy hại làm ô nhiễm môi trường sống

Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đã, đang và sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy cơ biến Việt Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải Bài học

“xương máu” này đã từng xảy ra với ngành sản xuất xi măng, song vẫn có khả năng lặp lại nếu những dây chuyền luyện gang, thép bị loại bỏ ở Trung Quốc được đưa về lắp đặt ở Việt Nam

- Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp

Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao Trong đó, lo ngại nhất là chất thải từ chăn nuôi Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%), với tổng đàn gia súc 37,8 triệu con và trên 214 triệu con gia cầm Theo tính toán của Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), lượng phân thải của bò khoảng 10 - 15 kg/con/ngày, trâu là

15 - 20 kg/con/ngày, lợn là 2,5 - 3,5 kg/con/ngày và gia cầm là 90 gr/con/ngày Như vậy, tính ra tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi của nước ta hiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm

Nuôi trồng thủy sản cũng đang gặp phải vấn đề tương tự Việc đẩy mạnh các biện pháp thâm canh, tăng năng suất tại các vùng nuôi tôm tập trung, trong đó chủ yếu là tôm sú đã làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước Cùng với đó, tình trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt một cách tràn lan, không có kiểm soát đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước

Trang 31

Hiện nay, lượng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng, quá hạn sử dụng còn tồn đọng cần tiêu hủy là hơn 700 kg (dạng rắn) và hơn 3.400 lít (dạng lỏng)

Kết quả điều tra năm 2006 cho thấy, khu vực nông thôn thải ra khoảng

10 triệu tấn/năm chất thải rắn sinh hoạt, nhưng đến năm 2010 tăng lên tới 13,5 triệu tấn/năm Số rác thải này cộng với lượng chất thải từ sản xuất nông nghiệp đã khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng trở nên đáng lo ngại

- Ô nhiễm ở các làng nghề

Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép Riêng Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất

Ở các làng tái chế kim loại, khí độc không qua xử lý đã thải trực tiếp vào không khí như ở làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), nồng độ chì vượt quá 2.600 lần tiêu chuẩn cho phép Nghề thuộc da, làm miến dong ở

Hà Tây cũng thường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ làm cho nước nhanh bị hôi thối, ô nhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề

Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động gần đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiều nhất là bệnh liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72% Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ người dân mắc bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4% Còn tại làng nghề sản xuất rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh về đường ruột là 58,8%

Trang 32

- Khai thác khoáng sản

Cùng với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu, nguồn tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất của nước ta đã bị khai thác khá mạnh Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2009 - 2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1 - 2,6 triệu tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) với điểm đến chủ yếu là Trung Quốc, nhưng chỉ mang lại giá trị 130 - 230 triệu USD Riêng năm

2012, lượng khoáng sản xuất khẩu vẫn gần 800.000 tấn thông qua đường chính ngạch Nếu cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số lượng xuất khẩu còn lớn hơn nữa (vào năm 2008, chỉ riêng xuất lậu quặng ti-tan ước tính đã lên đến 200.000 tấn)

- Nạn ô nhiễm ngày càng khó giải quyết:

Đô thị hóa và công nghiệp hóa ở nước ta phát triển khá nhanh trong hơn 10 năm qua, gây áp lực lớn đối với khai thác đất đại, tài nguyên thiên nhiên, nhất là rừng và nước Nhiều diện tích nông nghiệp đã chuyển thành đất

đô thị, đất công nghiệp, đất giao thông… ảnh hưởng không nhở đến đời sống người nông dân và an toàn lương thực quốc gia Đô thị hóa, công nghiệp hóa trong khi hạ tầng cơ sở kỹ thuật và xã hội yếu kém, làm nẩy sinh nhiều vấn đề

Trang 33

môi trường bức bách như thiếu nước sạch, thiếu dịch vụ xã hội, thiếu nhà ở, úng ngập, tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí, tiếng ồn, ô nhiễm nước

và chất thải rắn Tỷ lệ số người bị các bệnh do ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, như các bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa, các bệnh dị ứng và ung thư

Môi trường nông thôn bị ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng yếu kém Việc sử dụng không hợp lý các loại hóa chất nông nghiệp cũng

đã và đang làm cho môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoái Việc phát triển tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề cà cơ sở chế biến ở một số vùng do công nghệ sản xuất lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán xen kẽ trong khu dân cư và hầu như không có thiết bị thu gom và xử lý chất thải đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1.450 làng nghề truyền thống, trong đó 800 làng tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng,

đã và đang làm chất lượng môi trường khu vực ngày càng suy giảm

Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường ở các vùng nông thôn là vấn đề cấp bách Điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn vẫn chưa được cải thiên đáng kểm tỷ lệ số hộ có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 28-30% và số hộ ở nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh là 30-40%

- Chính phủ Việt Nam được sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế đã xác định 8 vấn đề môi trường bức bách nhất cần được ưu tiên giải quyết là:

Nguy cơ mất rừng và tài nguyên rừng đang đe doạ cả nước, và trong thực tế tai hoạ mất rừng và cạn kiệt tài nguyên rừng đã xảy ra ở nhiều vùng, mất rừng là một thảm hoạ quốc gia

Sự suy thoái nhanh của chất lượng đất và diện tích đất canh tác theo đầu người, việc sử dụng lãng phí tài nguyên đất đang tiếp diễn

Tài nguyên biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật biển ở ven bờ đã bị suy giảm đáng kể, môi trường biển bắt đầu bị ô nhiễm, trước hết do dầu mỏ

Trang 34

Tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, các hệ sinh thái v.v đang được sử dụng không hợp lý, dẫn đến sự cạn kiệt và làm nghèo tài nguyên thiên nhiên

Ô nhiễm môi trường, trước hết là môi trường nước, không khí và đất đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều lúc đến mức trầm trọng, nhiều vấn đề về vệ sinh môi trường phức tạp đã phát sinh ở các khu vực thành thị, nông thôn

Tác hại của chiến tranh, đặc biệt là các hoá chất độc hại đã và đang gây

ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và con người Việt Nam

Việc gia tăng quá nhanh dân số cả nước, sự phân bố không đồng đều và không hợp lý lực lượng lao động giữa các vùng và các ngành khai thác tài nguyên là những vấn đề phức tạp nhất trong quan hệ dân số và môi trường

Thiếu nhiều cơ sở vật chất - kỹ thuật, cán bộ, luật pháp để giải quyết các vấn đề môi trường, trong khi nhu cầu sử dụng hợp lý tài nguyên không ngừng tăng lên, yêu cầu về cải thiện môi trường và chống ô nhiễm môi trường ngày một lớn và phức tạp

2.3 Hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên

2.3.1 Hiện trạng môi trường nước

2.3.1.1 Nước sông

Chất lượng nước đoạn trung lưu sông Cầu chảy qua TP Thái Nguyên khu vực có mức độ phát triển kinh tế tương đối cao, đã suy giảm một cách nghiêm trọng Hầu hết các chỉ tiêu chất lượng nước đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng nguồn nhất là vào những tháng mùa kiệt, khi nước ở thượng nguồn ít

Nước tại Sông Công và Hồ Núi Cốc cũng có dấu hiệu ô nhiễm các chất hữu cơ, vô cơ, kim loại nặng, dầu mỡ và các hóa chất bảo vệ thực vật

Trang 35

2.3.1.2 Hiện trạng môi trường nước thải

- Hiện trạng nước thải sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt các khu dân cư trong tỉnh hiện nay hầu hết không qua xử lý, thoát trực tiếp ra các cống, mương thoát nước mặt và đổ ra các lưu vực sông

- Hiện trạng nuớc thải công nghiệp: Theo đánh giá của Sở TN&MT Thái Nguyên, mặc dù nước thải của các nhà máy đã qua hệ thống xử lý nhưng chất lượng vẫn không đạt tiêu chuẩn xả thải Đặc biệt khu công nghệp Yên

Bình với tổ hợp sản xuất công nghệ cao với nhà máy Samsung và các công tinh vệ tinh đã đi vào hoạt động mà hệ thống nước thảỉ chưa xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.Thành phần chủ yếu nước thải của KCN sông Công bệnh viện Đa khoa Trung ương, KCN Luyện kim Lưu Xá chủ yếu

là các hợp chất ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng Nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp và nước thải của nhiều cơ sở khai thác khoáng sản không được xử lý, hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn đã gây ô nhiễm nguồn nước các sông suối tiếp nhận

Nhiều sông suối tiếp nhận nước thải công nghiệp, khai thác khoáng sản, sinh hoạt đã bị nhiễm hợp chất hữu cơ và kim loại nặng trước khi hợp lưu với sông Cầu, sông Công, kéo theo chất lượng môi trường nước của hai dòng sông này sau các điểm hợp lưu và đoạn chảy qua TP.Thái Nguyên, thị xã Sông Công bị ô nhiễm, không đảm bảo sử dụng cho mục đích sinh hoạt, chỉ dùng cho tưới tiêu thủy lợi và các mục đích giao thông thủy

2.3.3 Hiện trạng môi trường đất

Sản xuất nông nghiệp vẫn là một ngành quan trọng được quan tâm phát triển tại các tỉnh thuộc lưu vực sông Cầu Tuy nhiên, điều đáng nói là để tăng năng suất cây trồng, người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học ngày càng nhiều Người dân phun thuốc trừ sâu từ 3 - 5 lần trong một

vụ lúa hoặc chè Lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng tại các tỉnh trong

Trang 36

lưu vực rất lớn, trong đó thuốc trừ sâu chiếm tỷ lệ tới 68,3% Theo báo cáo hiện trạng môi trường Thái Nguyên năm 2005, một vụ lúa, ngô hoặc chè trung bình người nông dân dùng thuốc bảo vệ thực vật từ 3-3,5 kg/ha đất nông nghiệp Đặc biệt là cây chè, người dân phun thuốc diệt sâu từ 3 đến 5 lần và phun tổng hợp rất nhiều loại thuốc khác nhau để đề phòng sâu bệnh kháng thuốc Lượng thuốc bảo vệ thực vật dùng trong 1 vụ lúa lên tới hàng trăm tấn

và một phần trong số đó được thẩm thấu vào nước sông Cầu

2.4 Những nghiên cứu nhận thức người dân về các vấn đề môi trường ở các địa phương Việt Nam

2.4.1 Nhận thức người dân về luật bảo vệ môi trường

Đa số các cán bộ cơ quan nhà nước đều hiểu biết về chính sách pháp luật đất đai nhiều hơn và sâu sắc hơn, còn luật bảo vệ môi trường thì các cán

bộ viên chức chỉ hiểu biết ở tầm khái quát chung Song đi vào chi tiết nhiều người còn chưa nắm bắt được

2.4.2 Nhận thức người dân về tác hại biến đổi khí hậu

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát, điều tra xã hội học 400 doanh nghiệp trong và ngoài KCN; 501 người dân (201 mẫu với CBCNVC, 300 mẫu

ở người dân trong đó có 175 phụ nữ); 300 học sinh (tiểu học, THCS, THPT)

Theo đó, một số kết quả đáng chú ý là có đến 28,9% (trong 201 mẫu khảo sát) CBCNVC cho biết đã có nghe về BĐKH nhưng chưa hiểu gì về việc này và 3,5% không quan tâm đến BĐKH vì còn nhiều việc trước mắt trong đời sống phải lo, BĐKH là việc của cơ quan Nhà nước, BĐKH còn lâu lắm mới xảy ra…

Trả lời câu hỏi về những hành động sẽ làm nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH có 86,2% CBCNVC biết việc tiết kiệm điện, nước là có lợi (giảm chi phí, có lợi cho môi trường, duy trì sự phát triển bền vững…); 93,3% ý kiến tán đồng việc khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng sạch (điện

Trang 37

mặt trời, biogas, biomass…); 70% ý kiến cho biết thường chọn mặc quần áo thoáng mát, tận dụng tối đa gió ngoài trời, chỉ sử dụng máy lạnh khi thật sự cần thiết (có thói quen chỉnh máy lạnh trên 26 o

C), có chậu cây xanh trang trí trong phòng làm việc…

TS Lê Văn Khoa cho biết nhìn chung, các đối tượng người dân đều có

sự quan tâm, hiểu biết căn bản về BĐKH Tuy nhiên, việc hiểu đúng và có hành động phù hợp để ứng phó với BĐKH vẫn còn hạn chế

2.4.3 Nhận thức của người dân về việc phân loại thu gom, xử lí rác thải

Nhóm tác giả khoa Xã Hội Học Trường đại học Bình Dương đã được thực hiện đề tài " Tìm hiểu về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về

ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom và xử lí rác thải sinh hoạt tại phường Phú Thọ, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương" Theo đó kết quả đạt được là: Mọi người dân đều có hiểu biết về tầm quan trọng của môi trường trong cuộc sống của mình và đống ý với việc bảo vệ môi trường bằng cách không vứt rác bừa bãi và có những thái độ, hành vi nhất định để ngăn chặn hay hạn chế hành vi gây mất vệ sinh môi trường của người khác

Xu hướng chung là đều cảm thấy khó chịu, có nhắc nhở hoặc tự lại nhặt

và cho vào thùng rác

Một thực trạng chung là có rất nhiều hộ gia đình biết cách phân loại rác nhưng trong thực tế lại rất ít hộ gia đình thực hiện phân loại Chỉ một số dân trong phường thường phân loại rác thải sinh hoạt hàng ngày còn đa số hộ dân thì chưa phân loại.Đa số việc phân loại rác sinh hoạt hàng ngày của gia đình

là do người vợ đảm nhận nhưng bên cạnh đó sự tham gia của người chồng con hoặc người khác trong gia đình tham gia phân loại cung chiếm tỷ lệ không nhỏ

Ý thức tự giác trong việc bảo vệ môi trường thông qua việc phân loại rác của nhiều người dân chưa cao.Nhiều hộ gia đình chưa thực sự quan tâm

Trang 38

đến vấn đề phân loại rác sinh hoạt trong gia đình mình Điều này sẽ gây nhiều khó khăn cho bộ phận thu gom khi phải thu gom với một lượng rác thải lớn như khó tách ra và khó sử dụng rác có thể tái chế

Quá trình xử lí rác thải sinh hoạt của người dân và chính quyền địa phương bao gồm các giai đoạn: Phân loại, thu gom và xử lí

2.4.4 Nhận thức người dân về vệ sinh môi trường

Theo kết quả Hoàng Thái Sơn , trường Đại học Y dược Thái Nguyên với luận văn thạc sĩ học " Thực trạng, kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên"

Trong 400 người dược phỏng vấn thì có 76,6% người dân kể tên được một số nguồn nước sạnh 33,2% số người kể được từ hai bệnh trở lên có nguyên nhân do sử dụng nước không sạch gây ra Người dân có thái độ tích cực đối với việc sử dụng nước sạch, có 98% người dân được hỏi rằng cần có nguồn nước hợp vệ sinh Số hộ có nguồn nước sạch thấp (17,6%), số hộ không thực hiện các việc làm thiết thực để bảo vệ nguồn nước rất cao (54,3%)

Kiến thức tổng hợp chung về vệ sinh môi trường của người dân còn rất thấp Kết quả về thái độ tố và thực hành tốt và thực hành tố về vệ sinh môi trường cũng còn rất thấp

Một số yếu tố liên quan đến thực hành về vệ sinh môi trường của người dân là:Kinh tế hộ gia đình, trình độ học vấn, kiến thức, thái độ của người dân

và sự quan tâm của xã hội đối với vấn đề vệ sinh môi trường

Trang 39

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự hiểu biết của người dân về môi trường

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Khu vực phường Quang Vinh, Thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: phường Quang Vinh, Thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian tiến hành: từ ngày 19/09/2016 đến ngày 19/11/2016

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của phường Quang Vinh

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội phường QuangVinh, TP Thái Nguyên

- Đánh giá chất lượng môi trường trên địa bàn phường Quang Vinh, TP Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên

- Hiểu biết và thái độ của nhân phường Quang Vinh, TP Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên về các vấn đề môi trường và hoạt động Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

- Đề xuất một số biện pháp quản lý, tuyên truyền và cách thức giảm thiểu ô nhiễm môi trường của địa phương

3.3.2 Hiện trạng môi trường tại phường Quang Vinh

- Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt

- Tình hình xả nước thải trong phường

- Vấn đề rác thải

Trang 40

- Vệ sinh môi trường

- Sức khỏe và môi trường

3.3.3 Tìm hiểu sự hiểu biết của người dân về môi trường

- Hiểu biết của người dân về các khái niệm môi trường

- Hiểu biết của người dân về mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến các hoạt động và sức khỏe của con người

- Nhận thức của người dân về việc phân loại, thu gom và sử lý rác thải sinh hoạt

- Hiểu biết của người dân về luật BVMT và các văn bản có liên quan

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp kế thừa

- Thu thập các tài liệu khoa học, các tạp chí khoa học, đề tài nghiên cứu và số liệu về các vấn đề cần nghiên cứu

- Tham khảo, kế thừa các tài liệu, các đề tài đã được tiến hành trước

đó có liên quan đến khu vực tiến hành nghiên cứu

- Thu thập số liệu thứ cấp

Đây là phương pháp thu thập thông tin từ những nguồn tài liệu sẵn có như: sách, báo, tạp chí, các tài liệu trên thư viện, sổ sách thống kê, các báo cáo tổng kết của UBND phường, mạng internet,

3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Trực tiếp xuống tiếp cận thực tế tại địa phương, đưa ra những đánh giá

và ghi lại các số liệu, hình ảnh tại khu vực nghiên cứu Giúp đưa ra những nhận xét đúng đắn về hiện trạng, chất lượng môi trường tại khu vực khảo sát

*Dựa theo bộ câu hỏi:

Sau khi tiến hành khảo sát thực địa tại khu vực nghiên cứu, dựa trên những nhận xét bước đầu em tiến hành thành lập bộ câu hỏi phỏng vấn, cố gắng tối đa trong việc đưa ra các câu hỏi phù hợp, dễ hiểu phát triển thêm các

Ngày đăng: 29/05/2021, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm