1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất cây thạch đen tại xã trọng con huyện thạch an tỉnh cao bằng

68 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. MỞ ĐẦU (8)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (8)
    • 1.2. Mục tiêu chung (9)
    • 1.3. Mục tiêu cụ thể (10)
    • 1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (10)
      • 1.4.1. Ý nghĩa trong học tập (10)
      • 1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn (10)
    • 1.5. Những đóng góp mới của đề tài (10)
  • Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (12)
    • 2.1. Cơ sở khoa học (12)
      • 2.1.1. Hiệu quả kinh tế (12)
      • 2.1.4. Một số vấn đề cơ bản về cây thạch đen (17)
      • 2.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cây thạch đen (18)
    • 2.2. Tổng quan các nghiên cứu trong nước (24)
  • PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (26)
      • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (26)
      • 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu (26)
    • 3.2. Nội dung nghiên cứu (26)
    • 3.3. Phương pháp nghiên cứu (26)
      • 3.3.1. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu (26)
      • 3.3.2. Phương pháp thu thập số liệu (27)
      • 3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu (28)
    • 3.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu (28)
      • 3.4.1. Các chỉ tiêu phản ánh tình hình kết quả sản xuất của các hộ (28)
      • 3.4.2. Các chỉ tiêu kết quả sản xuất (30)
  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (31)
    • 4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh (31)
      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên (31)
      • 4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (34)
      • 4.1.3. Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế xã Trọng Con (37)
    • 4.2. Thực trạng sản xuất cây Thạch đen xã Trọng Con (38)
      • 4.2.2. Tình hình tiêu thụ cây thạch đen trên địa bàn xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng (39)
      • 4.2.3. Hiệu quả sản xuất cây thạch đen trên địa bàn xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng (40)
    • 4.3. Giải pháp phát triển cây thạch đen trên địa bàn xã Trọng Con (50)
      • 4.3.1. Phương hướng phát triển cây thạch đen cho xã Trọng Con (50)
      • 4.3.2. Định hướng phát triển cây thạch đen của xã Trọng Con (51)
      • 4.3.3. Một số giải pháp phát triển trồng thạch đen (53)
    • 1. Kết luận (58)
    • 2. Kiến nghị (59)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (60)

Nội dung

Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá được thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế của việc sản xuất cây thạch đen tại xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, đề tài có thể đề xuất

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học

2.1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế được hiểu theo nhiều cách khác nhau, một số khái niệm kinh tế được đưa ra như sau:

- Hiệu quả kinh tế là là một phạm trù phản ánh mặt chất, mặt lượng của các hoạt động kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội cho nhu cầu cuộc sống tăng, nhu cầu công tác quản lý, tổ chức

- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù xã hội với những đặc trưng phức tạp nên đánh giá hiệu quả kinh tế là một vấn đề hết sức khó khăn và mang tính chất phức tạp Mục tiêu của các nhà sản xuất và quản lý là một lượng dự trữ tài nguyên nhất định, tạo ra khối lượng sản xuất hàng hóa nhiều nhất, hay nói cách khác là một mức sản xuất nhất định cần phải làm như thế nào để có chi phí tài nguyên lao động thấp nhất Điều đó cho ta thấy hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra

- Hiệu quả kinh tế với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất Mục đích cuối cùng của sản xuất là đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần văn hóa cho xã hội Hiệu quả kinh tế phản ánh thực chất các nhu cầu của xã hội Vì thế việc nghiên cứu xem xét hiệu quả kinh tế không dừng lại ở mức độ đánh giá mà thông qua đó tìm ra các giải pháp phát triển sản xuất Như vậy phạm trù hiệu quả kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sản xuất và phân tích kinh tế nhằm tìm ra những lợi pháp có lợi nhất [9]

2.1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế

Theo quan điểm của Mác thì bản chất của HQKT xuất phát từ các yêu cầu cuả sản xuất và phát triển kinh tế xã hội Đó là sự đáp ứng ngày càng cao nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội HQKT là một phạm trù kinh tế - xã hội với những đặc trưng phức tạp nên việc xác định và so sánh hiệu quả kinh tế và vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn và mang tính tương đối Hiệu quả là chi tiêu phản ánh có ý nghĩa khác nhau với từng loại với từng loại nông hộ Đối với những hộ nông dân nghèo, đặc biệt là vùng kinh tế tự cung tự cấp thì việc tạo ra nhiều sản phẩm là quan trọng Nhưng khi đi vào hoạch toán kinh tế trong điều kiện lấy công làm lãi thì người nông dân chú ý tới thu nhập, còn đối với những hộ nông dân sản xuất hang hóa, trong điều kiện thuê lao động thì lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng, đó là vấn đề hiệu quả

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của nhà sản xuất là thu được lợi nhuận tối đa trong điều kiện nguồn lực hạn chế Do đó HQKT có liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của quy trình sản xuất sẽ gặp phải những khó khăn nhất định Đối với các yếu tố đầu vào: Do các tư liệu sản xuất tham gia vào quy trình sản xuất không đồng nhất và trong nhiều năm có thể rất khó xác định giá trị đào thải và các chi phí sửa chữa lớn nên việc tính toán khấu hao và phân bổ chi phí để xác định các chi tiêu hiệu quả có tính chất tương đối Do sự biến động không ngừng của cả thị trường nên việc xác định chi phí cố định là không chính xác mà chỉ có tính tương đối Một số yếu tố đầu vào và rất khó lượng hóa như: Thông tin, tuyên truyền, cơ sở hạ tầng nên không thể tính toán được một cách chính xác Đối với yếu tố đầu ra: Phần lớn những kết quả sản xuất đầu ra có thể lượng hóa được một cách cụ thể nhưng cũng có những yếu tố không thể lượng hóa được như: Bảo vệ môi trường, năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất khả năng tạo việc làm Hiệu quả kinh tế với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó lại là mục đích cuối cùng của sản xuất Mục đích cuối cùng của sản xuất xã hội là đáp ứng yêu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội Vì vậy, nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế không dừng lại ở mức độ đánh giá còn thông qua đó tìm ra các giải pháp để phát triển một cách tốt hơn Vậy bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích sản xuất và phát triển kinh tế xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mọi thành viên trong xã hội Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và tiết kiệm thời gian làm việc [9]

2.1.2 Quan điểm về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng nguồn nhân lực, vật lực để đạt được kết quả cao nhất hay nói cách khác hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao chất lượng một hoạt động kinh tế là tăng cường lợi dụng các nguồn lực có sẵn trong một hoạt động kinh tế, đây là đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất xã hội, do nhu cầu đời sống vật chất ngày càng cao Sau đây là một số quan điểm về hiệu quả kinh tế :

- Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản xuất sản phẩm xã hội hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả cao khi nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Một nền kinh tế có hiệu quả có nghĩa là không lãng phí

- Quan điểm thứ hai: Hiệu quả là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản chủa nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng đại diện cho mức sống của nhân dân, là chi tiêu phản ánh hiệu qảu của nền sản xuất xã hội

- Quan điểm thứ ba: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh về chi tiêu tổng hợp cụ thể nào đó

- Quan điểm thứ tư: Hiệu quả của một quá trình nào đó, theo nghĩa chung là mối quan hệ tỉ lệ giữa hiệu quả (theo mục đích) với các chi phí sử dụng (nguồn lực) để đạt được kết quả đó

Tóm lại, từ kết quả trên chúng tôi thấy rằng: Hiệu quả kinh tế là thể hiện quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí nguồn lực bỏ ra Khi kết quả đạt được chỉ bằng với chi phí bỏ ra là lãng phí nguồn lực, khi sử dụng tiết kiệm nguồn lực để đạt được một kết quả nhất định là hiệu quả kinh tế cũng khác nhau những vẫn phải dựa trên nguyên tắc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí nguồn lực bỏ ra

2.1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế

Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng tiến bộ kĩ thuật tiến bộ và sản xuất điều đó có mục đích chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người Những kết quả đạt được đó là: Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giải quyết vấn đề việc làm, góp phần ổn định chính trị xã hội , trật tự an ninh, xây dựng xã hội tiên tiến, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống tinh thần và văn hóa cho người dân tức là đã đạt được hiệu quả về mặt xã hội Đặc biệt về sản xuất nông nghiệp, ngoài những hiệu quả chung về kinh tế - xã hội, còn có hiệu quả rất lớn về môi trường mà ngành kinh tế khác không có được Cũng có thể có một hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả cần phân loại chúng để có kết luận chính xác

Căn cứ theo nội dung và bản chất có thành phân biệt thành ba phạm trù: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội Ba phạm trù này khác nhau về nội dung nhưng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết qủa đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Khi xác định hiệu quả kinh tế,nhiều nhà kinh tế thường nhấn mạnh quan hệ so sánh tương đối mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh tuyệt đối và chưa xem đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đói và đại lượng tuyệt đối

Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam cây thạch đen xuất hiện khá sớm nhưng chỉ là mọc tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu làm nước giải khát và thuốc chữa bệnh cho người dân mãi cho tới năm 2003 mới được trồng ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc

Kạn… Ở miền Nam thì được trồng tại Bảo Lộc – Lâm Đồng, Đồng Tháp, Châu Đốc - An Giang, Bình Minh – Vĩnh Long…

Một số hoạt động nhằm phát triển và nhân rộng loài cây thạch đen tại một số tỉnh có diện tích lớn

* Tại Na Rì – Bắc Kạn:

Từ năm 2008, cây thạch đen được người dân xã Vũ Loan, huyện Na Rì đưa vào trồng và bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế Năm 2014, trên địa bàn xã có trên 30ha thạch và sẽ tiếp tục được mở rộng cho những năm tiếp theo Cây thạch đen đã góp phần vào xóa đói giảm nghèo bền vững cho nhiều hộ dân xã Vũ Loan

Với mục tiêu đưa cây thạch đen thành sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao, tiến tới xây dựng thương hiệu sản xuất lâu dài, ban triển khai dự án 3PAD, Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh đã phối hợp với Hội phụ nữ xã Vũ Loan triển khai thực hiện 2 mô hình trồng thử nghiệm cây thạch đen tại 2 thôn là Bản Đâng và Khuổi Vạc, mỗi mô hình có quy mô 1ha với 20 hộ tham gia Các hộ tham gia mô hình được dự án hỗ trợ về giống, phân bón ngoài ra còn được dự án tập huấn kỹ thuật về gieo trồng đúng khung thời vụ, cách chăm sóc, cắt tỉa, thu hoạch đúng độ tuổi, phơi khô đủ nắng, bảo quản nơi khô ráo để đảm bảo chất lượng tốt nhất

* Tại Tràng Định – Lạng Sơn:

Tràng Định là huyện có diện tích cây thạch đen lớn nhất tỉnh Lạng Sơn, với khoảng 1.100ha (trong đó, diện tích trồng dưới ruộng là 600ha, trên nương là 500ha), sản lượng hàng năm khoảng 3.500 tấn

* Tại Thạch An – Cao Bằng

Thạch đen là một trong những loại cây mũi nhọn được huyện Thạch An xác định trong phát triển kinh tế của huyện, có hiệu quả kinh tế cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho nông dân Với lợi thế là vùng có khí hậu đất đai phù hợp với cây thạch đen Thạch An đã xây dựng quy hoạch vùng trồng thạch tại

14 xã Những năm gần đây, huyện chỉ đạo các xã tập trung mở rộng diện tích trồng thạch đen theo hướng sản xuất hàng hóa Năm 2017, toàn huyện trồng được 280 ha thạch đen, năng suất đạt 58 tạ/ha, sản lượng đạt 1.624 tấn Trong

9 tháng đầu năm 2018 toàn huyện trồng được 195 ha thạch đen, năng suất ước đạt 58 tạ/ha, sản lượng ước đạt trên 1.131 tấn.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài và vấn đề phát triển sản xuất cây thạch đen tại xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

- Địa điểm nghiên cứu: Xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09/2018 đến 12/2018.

Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội xã Trọng Con liên quan đến sản xuất cây thạch đen

- Đánh giá thực trạng sản xuất thạch đen tại xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

- Hoạch toán chi phí sản xuất, thu nhập thu được và so sánh hiệu quả kinh tế giữa cây thạch đen và cây trồng khác tại địa phương

- Đánh giá hiệu quả sản xuất cây thạch đen trên địa bàn xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả kinh tế cây thạch đen.

Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề, những bài học kinh nghiệm để áp dụng vào thực tế trong địa bàn xã Trọng Con

3.3.1.1 Phương pháp tiếp cận vĩ mô

Nghiên cứu đánh giá tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ thạch đen trên toàn địa bàn xã Thu thập cả số liệu định tính và số liệu định lượng về sản xuất và tiêu thụ để có thể phân tích, đánh giá chính xác vai trò và giá trị của cây thạch đen trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Từ đó rút ra những ảnh hưởng không tốt đến quá trình sản xuất và tiêu thụ thạch đen, rút ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất và tiêu thụ thạch đen ở địa phương

3.3.1.2 Phương pháp tiếp cận vi mô

Tìm hiểu tình hình sản xuất và tiêu thụ thạch đen ở các hộ gia đình trong địa bàn nghiên cứu

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu thứ cấp: Sử dụng số liệu đã thu thống kê, các báo cáo tổng kết của xã để có được các số liệu theo yêu cầu của đề tài Thu thập các thông tin qua các văn bản, sách báo, trang web…các số liệu về tổng diện tích năng suất, sản lượng hàng năm

- Thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra dựa vào các phương pháp:

+ Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Tiếp xúc với người dân tại thời điểm nghiên cứu, khơi dậy sự tham gia vào những hiểu biết về vấn đề của họ, về các khó khăn mà họ gặp phải cũng như các giải pháp để vượt qua khó khăn đó

+ Phương pháp điều tra hộ: Căn cứ vào số lượng, quy mô, diện tích, cách tổ chức sản xuất trên địa bàn xã chọn mẫu điều tra Trên địa bàn xã có tổng số 10 thôn, các mẫu điều tra sẽ chọn 3 xóm có tỏng diện tích trồng lớn nhất là thôn Cạm Khàng, Khuổi Nghiệc và Bản Cáu, tiến hành phỏng vấn 45 hộ gia đình theo mẫu được chuẩn bị sẵn

Nội dung phiếu điều tra: phiếu điều tra gồm các thông tin cơ bản về hộ gia đình chủ yếu như nân khẩu, lao động, tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ… tình hình sản xuất cây thạch đen và cây ngô của hộ như diện tích, chi phí, năng suất trồng thạch đen, giá bán, nơi bán những thuận lợi khó khăn khi trồng cây thạch đen

Bảng 3.1: Bảng mẫu điều tra

(Nguồn: Tổng hợp số liệu) 3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Phương pháp thống kê: Là phương pháp tổng hợp các số liệu liên quan đến nội dung của đề tài thu được để tiến hành phân tích so sánh nhằm làm rõ các vấn đề nghiên cứu Qua các số liệu thống kê ta có thể thấy được tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu và rút ra những nhận xét và kết luận chính xác

- Phương pháp tính toán thông thường và xử lí các số liệu bằng phần mềm Excel để xử lí số liệu thu nhập được

- Trong quá trình nghiên cứa các phương pháp được sử dụng một cách tổng hợp để phát huy lợi thế của các phương pháp.

Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

3.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình kết quả sản xuất của các hộ

- Giá trị sản xuất GO (Grossoutput): Là giá trị tính bằng tiền của toàn bộ các loại sản phẩm vật chất và dịch vụ lao động nông nghiệp được đào tạo ra tính trên một đơn vị diện tích trong thời gian một năm hay một chu kì sản xuất

Trong đó: GO là tổng giá trị sản xuất

𝑄 𝑖 Là khối lượng sản phẩm loại i

𝑃 𝑖 Là giá bán sản phẩm i

- Chi phí trung gian IC (Intermediate Cost): Là khoản chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công cụ lao động…

𝐶 𝑖 Là khoản chi phí thứ I trong vụ sản xuất

- Giá trị gia tăng VA (Value added): Là phần giá trị tăng thêm của người lao động khi sản xuất một đơn vị diện tích trong năm

Công thức tính: VA = GO – IC

- Lợi nhuận Pr (Profit): Là phần thun được sau khi trừ đi toàn bộ chi phí (TC), bao gồm chi phí vật chất, các dịch vụ cho sản xuất, công lao động và khấu hao tài sản cố định

GO: Giá trị sản xuất

L: Chi phí lao động thuê ngoài

A: Là giá trị khấu hao tài sản cố định

T: Các loại thuế phải nộp

- Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí (𝑇 𝐺𝑂 )

Là chỉ số biểu hiện mối tương quan giữa giá trị gia tăng (GO) với chi phí trng gian (IC) tính trong một quy mô diện tích, trong một chu kì sản xuất

Công thức tính: 𝑇 𝐺𝑂 = GO/IC (lần)

Nó thể hiện hiệu quả kinh tế trong đầu tư, biểu hiện ở việc đầu tư một lượng là bao nhiêu để thu thập được một kết quả nào đó

- Tỷ suất giá trị gia tăng theo chi phí (𝑇 𝑉𝐴 )

Là tỷ suất biểu hiện mối tương quan giữa giá trị tương quan (VA) và lượng chi phí bỏ ra (IC) trên quy mô diện tích trong một chu kì sản xuất

Công thức tính: 𝑇 𝑉𝐴 = VA/IC (lần)

- Tỷ suất lãi ròng theo chi phí (𝑇 Pr )

Là tỉ số biểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận thu được (Pr) với chi phí trung gian (IC) trên một quy mô diện tích trong một chu kì sản xuất

Công thức tính: 𝑇 𝑃𝑟 = Pr/IC

+ Giá trị sản xuất trên một công lao động: GO/CLĐ

+ Giá trị gia tăng trên một công lao động: VA/CLĐ

+ Lợi nhuận trên một công lao động: Pr/CLĐ

3.4.2 Các chỉ tiêu kết quả sản xuất

- Diện tích: Để xác định được tiềm năng phá triern sản xuất thạch đen ở địa phương trước hết phải xác định được chỉ tiêu về diện tích thạch đen (bao gồm tổng diện tích trồng, tổng diện tích trồng mới) Từ đó biết được thực tế có và diện tích còn khả năng mở rộng sản xuất

- Năng suất: Là khối lượng sản phẩm thu được của từng loại cây trồng trên một đơn vị diện tích nhất định trong một chu kỳ sản xuất cụ thể

Trong đó: N là năng suất cây trồng

Q là lượng cây trồng (là toàn bộ khối lượng sản phaarmthu được của từng loại cây trồng trên toàn bộ quy mô diện tích nghiên cứu nào đó trong một chu kỳ sản xuất nào đó

Q = N*S Trong đó: Q là sản lượng cây trồng

N là năng suất cá biệt

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh

Xã Trọng Con nằm ở phía nam huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng cách trung tâm huyện 16km, với tổng diện tích tự nhiên là 7.691,20 ha

- Phía Bắc: Giáp xã Thái Cường, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

- Phía Đông: Giáp xã Lê Lai, xã Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

- Phía Nam: Giáp xã Chí Minh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

- Phía Tây: Giáp xã Đức Thông, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; xã Vĩnh Tiến, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

Xã Trọng Con có địa hình đặc trưng của đồi núi cao, có độ cao trung bình từ 250 - 500 m so với mực nước biển

- Là một xã miền núi có địa hình phức tạp, không bằng phẳng, thấp dần từ Bắc xuống Nam được chia thành 2 dạng địa hình chính:

+ Địa hình núi đất và địa hình thung lũng

+ Địa hình thung lũng được chia thành 2 khu vực: địa hình thung lũng ở phía đông và địa hình thung lũng ở phía Tây, đất đai tương đối tốt, thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng

Khí hậu: Xã mang khí hậu gió mùa, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,5 O C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là – 1 O C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 42 O C số ngày rét có nhiệt độ thấp hơn

Sương: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ mùa này thấp, thường có sương muối Mỗi năm số ngày có sương muối từ 6 – 10 ngày Sương mù mỗi năm có từ 40 đến 50 ngày, tập trung chủ yếu vào các tháng 8 đến tháng 12

Gió: xã chủ yếu chịu ảnh của gió mùa Đông Bắc vào các tháng 10,11,12 Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Bắc, Đông Nam vào các tháng 3,4,5 Tốc độ gió trung bình hàng năm là 1,8m/s, tốc độ gió cao nhất là 2,4m/s (chủ yếu tấp trung vào các tháng 3,4,5)

Chiếu sáng: Tổng số giờ nắng hàng năm là 1.200 giờ, được chia thành

2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa này nắng to; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ mùa này thấp thường có sương muối

Thủy văn: lượng mưa lớn (bình quân 1.442,7 mm/năm), trong đó lượng mưa lớn nhất vào tháng 8

Nguồn nước mặt: chủ yếu là lấy từ suối Nà Lẹng và suối Bản Chang, suối Cạm Khàng đến Nà Vài và hệ thống nước mỏ tự chảy từ khe núi đây là nguồn nước chính phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho nhân dân trong vùng Chất lượng nguồn nước mặt tương đối tốt, tuy nhiên sau mỗi đợt mưa lũ chất lượng bị ảnh hưởng do vậy cần phải được xử lý trước khi đưa vào sử dụng cho sinh hoạt

Do địa hình có độ dốc cao, nhiều khe suối, độ che phủ khá cao nên khả năng giữ nước bề mặt và bề sâu tốt nên nguồn nước sinh thuỷ khá phong phú Tuy nhiên hiện nay nguồn nước vẫn chưa đáp ứng đủ cho sinh hoạt và sản xuất của các hộ dân trên địa bàn Tình trạng thiếu nước vẫn thường xuyên diễn ra nhất là giai đoạn từ tháng 11 đến tháng 2 âm lịch

Bảng 4.1 Diện tích các nhóm đất xã Trọng Con năm 2018

Chi tiêu Diện tích (ha) Cơ cấu (%)

Tổng diện tích đất tự nhiên 7.691,20 100 Đất nông nghiệp 7.390,06 96.08 Đất phi nông nghiệp 111,7 1.44 Đất chưa sử dụng 189,44 2.4 Đất khu dân cư nông thôn 69.23 0.86

(Nguồn: UBND xã Trọng Con năm 2018)

Xã Trọng Con có tổng diện tích tự nhiên 7.691,20 ha trong đó: Đất nông nghiệp 7.390,06 ha (95,26%), đất phi nông nghiệp 111,7 ha (1,44%), đất chưa sử dụng 189.44 ha (chiếm 2,4%), đất khu dân cư nông thôn 69,23 (chiếm 0,86%)

Chủ yếu là nhóm đất xám phân bố rộng khắp địa bàn xã:

- Vùng địa hình đồi núi đất đai màu xám và xám vàng, chuyển lớp rõ có đá gốc hoặc chuyển đất tiếp theo

- Vùng đồi núi thấp và ven suối, thành phần cơ giới của đất biến động nhẹ đến nặng Hàm lượng mùn và đạm tổng số ở lớp mặt từ trung bình đến khá, lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo Khu có địa hình thấp phù hợp với các cây ngắn ngày, khu có địa hình cao, độ dốc trung bình thích hợp với các cây dài ngày

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

(Nguồn: UBND xã Trọng Con năm 2018)

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu dân số xã Trọng Con năm 2018

Tổng số hộ trên địa bàn xã là 481 hộ với 2.131 nhân khẩu, bình quân 4,51 khẩu/hộ, tốc độ tăng tự nhiên 1,63%/năm

Số lao động trong độ tuổi là 1.275 người, chủ yếu là lao động nông nghiệp (chiếm 95 %) và chưa qua đào tạo nghề

Xã Trọng Con có 10 xóm hành chính với tổng số 481 hộ với 2.131 nhân khẩu, bao gồm 5 dân tộc cùng sinh sống: Tày có: 236 hộ (49,0%), Nùng:131 hộ (27.2%), Dao: 113 hộ (23,4%), H’mông: 1 hộ ( 0,2 %) Nhìn chung người dân xã Trọng Con cần cù, chịu khó trong sản xuất Tuy nhiên do trình độ của người dân còn thấp dó đó gặp nhiều khó khăn trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập

Cơ cấu dân số xã Trọng Con năm 2018

Với 4 dân tộc anh em là Tày, Nùng, Dao, Hmông cùng các nhóm ngôn ngữ khác nhau chung sống đoàn kết trên địa bàn xã đã tạo nên sự đa dạng về phong tục tập quán, văn hóa truyền thống về canh tác, lễ hội, tập quán tín ngưỡng Có 10/10 xóm thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, công tác phổ biến pháp luật, đảm bảo tốt an ninh trật tự xã hội

4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng Địa bàn trải rộng từ Bắc xuống Nam tạo thành 2 lòng máng, dân cư phân bố không đồng đều, sống rải rác không tập trung Xã có 10 xóm kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hiện nay xã có 3 xóm được đầu tư bê tông đường giao thông nông thôn còn lại

7 xóm đều là đường đất Với địa hình đồi núi nên giao thông đi lại khó khăn nhất là vào mùa mưa lũ, xóm xa nhất cách trung tâm xã là 18km, cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường đã được đầu tư nhưng chưa đầy đủ đến tháng 12 năm 2017 còn xóm Nà Vài 100% chưa có điện sinh hoạt

4.1.2.4 Tình hình phát triển kinh tế của địa phương

* Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

- Kinh tế của xã phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động nông nghiệp Năm

2018 tổng giá trị sản xuất toàn xã đạt 51.616 triệu đồng, trong đó: Nông lâm nghiệp đạt 28.396 triệu đồng, chiếm 55,1%; Công nghiệp - xây dựng là 7.347 triệu đồng, chiếm 14,23%; Thương mại –dịch vụ là 15.873 triệu đồng, chiếm 30,75%

Nhìn chung, trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất của xã khá cao Năm 2018, giá trị sản xuất tăng trưởng trên 10% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm

* Tình hình phát triển ngành nông nghiệp

Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 7.390,06 ha chiếm 96,08% tổng diện tích tự nhiên

- Đất trồng lúa có: 236,01ha

- Đất trồng cây hàng năm khác có: 163,31 ha

- Đất trồng cây lâu năm có: 44,94 ha

- Nông lâm nghiệp là ngành kinh tế chính của xã, chiếm 99 % tổng thu nhập toàn xã Nguồn thu nhập chính của người dân là sản phẩm của sản xuất nông nghiệp, trồng rừng, trồng cây lâu năm và từ chăn nuôi gia súc gia cầm quy mô hộ gia đình

Thực trạng sản xuất cây Thạch đen xã Trọng Con

4.2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cây thạch đen trên địa bàn xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

Theo số liệu thống kê của xã Trọng Con, trong 3 năm trở lại đây năng suất và sản lượng thạch đen của toàn xã không ngừng tăng lên Nhờ trồng thạch đen mà nhiều hộ gia đình trong xã đã có thêm thu nhập để cải thiện đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, một số hộ đã trở nên giàu có với mức thu từ

100 triệu đồng/năm trở lên Hiện nay thạch đen đã thực sự trở thành cây mũi nhọn, cây thế mạnh, cây xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho bà con nông dân xã Trọng Con Thế nhưng sản xuất cây thạch đen ở xã chủ yếu là sản xuất đơn lẻ từng hộ dân Hiện nay xã không có hợp tác xã hay các tổ chức sản xuất

Bảng 4.2: Diện tích, năng suất và sản lượng Thạch đen giai đoạn 2016 - 2018

Năng suất(tạ/ha/năm) 24,2 26,3 27,4

(Nguồn:UBND xã Trọng Con năm 2018) Qua bảng số liệu trên ta thấy diện tích trồng cây thạch đen tăng giảm không ổn định từ năm 2016 đến 2018 do hiệu quả sản xuất cây thạch đen mang lại có sự biến động, đặc biệt là tăng giảm giá xuất thô, khi giá bán tăng người dân sẽ tập trung vào đầu tư và tăng gia sản xuất, và thường giá bán đó sẽ trong khoảng từ 20.000 – 30.000 đồng/kg Ngược lại khi giá bán giảm, vì không thêm được thu nhập cho gia đình, thu nhập gia đình không ổn định thì người dân sẽ tăng sản xuất các loại cây trồng khác Diện tích trồng năm 2017 cao hơn so với 2016 là 2,08 ha, năm 2017 thấp hơn 14,05ha so với năm 2018 Năng suất năm 2016 là 24,2tạ/ha/năm thấp hơn 2017 26,3tạ/ha/năm, 2018 cao nhất 27,4tạ/ha/năm Sản lượng năm 2018 129,7 tấn cao nhất trong 3 năm, cao thứ hai là năm 2017 với 87,53 tấn, thấp nhất là năm 2016 với 75,5 tấn

Người dân nhận thấy cây cho năng suất cao, phù hợp với thổ nhưỡng đất, diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều như đất đồi, đất dốc nên diện tích được nhân rộng lên hàng năm Thấy được lợi ích từ cây trồng đã trồng từ nhiều năm trước chính quyền địa phương cũng có chủ trương nhân rộng mô hình ra toàn xã Cây thạch đen rất phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của các địa phương trong xã Trọng Con là cây dễ trồng, ít sâu bệnh, có thể trồng ở ruộng, soi bãi hoặc trên đất dốc Ngoài ra, có thể tận dụng diện tích trồng keo, mỡ trong 1 năm đầu để trồng xen canh cây thạch cũng rất hiệu quả, do đó không những chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà trồng cây thạch đen còn góp phần vào cải tạo đất.

4.2.2 Tình hình tiêu thụ cây thạch đen trên địa bàn xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

Thạch đen vào vụ thu hoạch khá thuận lợi cho việc vân chuyển và tiêu thụ Khi thu hoạch thương lái sẽ tới tận nơi để mua, giá cả thạch đen trong năm 2018 biến động từ 20.000 đồng – 30.000 đồng Như vậy, hầu như thạch đen của các nông hộ là do thương lái trong tỉnh thu mua Kênh tiêu thụ người bán trên địa bàn xã Trọng Con chỉ có một kênh sau

Hình 4.1: Sơ đồ chuỗi giá trị của thạch đen tại xã Trọng Con

Xã Trọng Con có hệ thống đường giao thông thuận lợi để kết nối các xã lân cận Các tuyến đường trục trên địa bàn xã liên kết dễ dàng qua các xã lân cận Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở xã phát triển khá mạnh trong những năm gần đây

Người sản xuất Thương lái trong tỉnh Trung Quốc

Qua kết quả điều tra cho thấy đa phần thạch đen sản xuất ra trên địa bàn xã Trọng Con đều được thương lái trong tỉnh đến thu mua Một phần nhỏ được để lại phục vụ cho nhu cầu của gia đình Do đó đầu ra của người dân không được ổn định, giá cả bấp bênh phụ thuộc vào các thương lái và tùy từng thời điểm trong năm

4.2.3 Hiệu quả sản xuất cây thạch đen trên địa bàn xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

4.2.3.1 Thông tin chung về các hộ điều tra

Nghiên cứu nguồn lực của một con người là một chỉ tiêu quan trọng biết nguồn vốn con người của mỗi hộ Đây là một trong số các nguồn lực quan trọng trong quá trình sản xuất của hộ

Bảng 4.3: Một số thông tin chung về các hộ điều tra năm 2018

Chỉ tiêu ĐVT Trug bình

1 Số hộ điều tra Hộ 45

2 Tuổi bình quân của chủ hộ Tuổi 45

3 Trình độ học vấn của chủ hộ

Trung học cơ sở Hộ 20

Trung học phổ thông Hộ 11

4 Số nhân khẩu BQ/hộ Khẩu 4,5

5 Số lao động BQ/hộ LĐ 2,5

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra năm 2018)

Theo kết quả điều tra cho thấy độ tuổi bình quân chung của chủ hộ điều tra là 45 tuổi, hầu hết ở độ tuổi này trở lên phần lớn các hộ đã ổn định cơ sở vật chất, nguồn vốn, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất Các chủ hộ có sự hiểu biết về kỹ thuật trong việc gieo trồng nên đây là một thuận lợi góp phần thúc đẩy và phát triển cây thạch đen có hiệu quả Ngược lại, khoảng độ tuổi dưới 30 thường các chủ hộ mới xây dựng gia đình được vài năm và mới tách hộ nên chưa ổn định kinh tế, chưa có nhiều kinh nghiệm sản xuất, khả năng nhìn nhận, tiếp cận thị trường kém hơn

Trình độ học vấn của các chủ hộ hầu như là Trung học cơ sở, BQC là

20 hộ chiếm 44,45% tổng số hộ điều tra, mức Trung học phổ thông là 11 hộ chiếm 24,44% tổng số hộ điều tra Ở mức độ học vấn này chủ hộ nhanh chóng bắt nhịp nhanh hơn trong các đợt tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc cây thạch đen, chịu khó tìm hiểu và học hỏi những hộ khác Trình độ học vấn ở mức Tiểu học bình quân là 14 hộ chiếm 31,11% tổng số hộ điều tra, ở mức học vấn này các hộ chưa thật sự chủ động trong sản xuất, kiến thức còn hạn chế trong việc phát triển cây thạch đen Hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm lâu đời từ nghề nông chưa nắm bắt kịp thời được sự thay đổi thị trường để có sự điều chỉnh thích hợp nhằm nâng cao nguồn thu nhập cho gia đình

Số nhân khẩu bình quân là 4,5 khẩu/hộ, số lao động bình quân là 2,5 lao động/hộ điều này cho thấy nguồn nhân lực sản xuất rất dồi dào

Việc sử dụng đất đai được thực hiện đúng hướng ngày càng đạt hiệu quả kinh tế cao, để ngày càng nâng cao hiệu quả của sử dụng đất ta cần phân loại đất theo từng chỉ tiêu khác nhau cho hợp lý

Có nhiều diện tích đất canh tác trên khẩu là một thế mạnh nhưng phải có cách sản xuất có hiệu quả mà phải biết tận dụng và khai thác đúng thì việc sửa dụng đất mới mang lại hiệu quả kinh tế cao cho hộ Và việc sử dụng lao động của gia đình cũng là một phần quyết định đến việc sản xuất không tốn nhiều công lao động

4.2.3.2 Hiệu quả kinh tế sản xuất thạch đen trên địa bàn xã Trọng Con, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng a) Chi phí sản xuất

Thạch đen là loại cây cho thu hoạch thân và lá, thời gian cho thu hoạch từ thời điểm trồng là hơn 4 tháng chi phí đầu tư cho thạch đen không lớn như những cây trồng khác Qua nghiêm cứu 45 hộ điều tra cho thấy các hộ có diện tích thạch đen tương đối lớn

Qua bảng 4.4 ta thấy chi phí sản xuất của các nhóm hộ là khác nhau và có sự đầu tư khác nhau trong sản xuất giữa hộ trồng lâu năm và hộ mới trồng

Hộ mới trồng có tổng chi phí là 2.107.500 đồng các hộ trồng lâu năm có tổng chi phí là 2.026.000 đồng thấp hơn so với hộ mới trồng do họ đã có kinh nghiệm sản xuất nên giảm được chi phí sả xuất Tổng chi phí vật tư của các hộ đầu tư khác nhau Trong đó, phân chuồng chiếm tỷ lệ tương đối lớn, phân chuồng được sử dụng để bón kết hợp với các loại phân khác trong thời kỳ chăm sóc Do phân chuồng hộ dân tự có từ chăn nuôi nên giảm được chi phí sản uất một cách đáng kể

Bảng 4.4: Chi phí sản xuất 1 sào thạch đen của các hộ điều tra năm 2018

Hộ trồng lâu năm Hộ mới trồng

NPK Kg/sào 5 44 220 45 225 Đạm Kg/sào 9 4 36 5 45

2.4 Thu hoạch, tiêu thụ Công/sào 75 4 300 4 300

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra năm 2018) b) Lợi nhuận kinh tế cây thạch đen

Giải pháp phát triển cây thạch đen trên địa bàn xã Trọng Con

4.3.1 Phương hướng phát triển cây thạch đen cho xã Trọng Con

4.3.1.1 Một số quan điểm về phát triển

Xã Trọng Con với những đặc điểm riêng về vị trí địa lý, điều kiện đất đai, phong tục tập quán có phần khác nhau giữa các dân tộc, giữa các thôn trong xã Vì vậy để phát triển cây thạch đen một cách hiệu quả cần quan tâm đến những điều kiện vốn có của từng thôn để phát huy tiềm lực vốn có của địa phương

* Phát triển sản xuất cây thạch đen trên cơ sở phát huy thế mạnh từng vùng

- Phát triển sản xuấy cây thạch đen được coi là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp của xã Trọng Con

- Nhằm phát huy thế mạnh sẵn có của từng vùng: Đất đai thích hợp cho sản xuất cây thạch đen, người dân cần cù, chịu khó Phát triển sản xuất cây thạch đen là khai thác hết tiềm năng vốn có của vùng, tạo ra nguồn thu nhập cho xã đóng góp vào sự phát triển kinh tế của huyện, tăng thu nhập cho người lao động nhất là những người lao động nông thôn

* Phát triển cây thạch đen trong điều kiện CNH-HĐH đất nước và CNH-HĐH nông thôn

- Việt Nam đang trong quá trình CNH-HĐH đất nước Trong quà trình đó sự phát triển nông nghiệp càng có vị trí quan trọng, tạo cơ sở ổn định, chính trị xã hội và phát triển kinh tế bề vững

4.3.1.2 Các mục tiêu phát triển cây thạch đen của xã Trọng Con

Trọng Con là xã có tiềm năng và lợi thế trong việc phát triển trồng cây thạch đen, có diện tích trồng thạch đen lớn nhất nhì trong địa bàn huyện Thạch An Người dân lại có truyền thống lao động cần cù, chịu khó Mặt khác cây thạch đen cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao trong cơ cấu cây trồng của xã Tuy nhiên việc trồng thạch đen còn nhỏ lẻ, chưa áp dụng được khoa học- kỹ thuật vào sản xuất, chưa khai thác hết tiềm năng của cây thạch đen Vì vậy xã cần tập trung phát triển cây thạch đen để tăng sản lượng và nâng cao năng suất hàng năm, phát huy tối đa thế mạnh của xã

4.3.2 Định hướng phát triển cây thạch đen của xã Trọng Con

Trong những năm vừa qua, việc sản xuất và tiêu thụ cây thạch đen của xã đạt được hiệu quả rất khả quan: Sản xuất thạch đen đã đem lại HQKT và đem lại nguồn thu nhập khá cao cho các hộ gia đình trồng thạch đen đã thu hút số lượng lớn người dân chuyển dịch cơ câu cây trồng, mở rộng diện tích trồng thạch đen đáp ứng nhu cầu thị trường

Tuy nhiên việc trồng thạch đen còn gặp nhiều khó khăn và bất cập Việc thâm canh chưa hợp lý, chi phí sản xuất chưa được đầu tư đúng mức dẫn đến việc thâm canh không đồng bộ Quy mô diện tích nhỏ lẻ, hệ thống giao thông, thủy lợi phục vụ sản xuất còn nhiều bất cập nên ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả sản xuất Chính vì vậy để phát triển cây thạch đen một cách vững mạnh chính quyền xã đã có những định hướng phát triển cây thạch đen như sau:

Một là: Chuyển dịch cơ cấu cây trồng một cách hợp lý, từng bước mở rộng quy mô diện tích trồng thạch đen, tập trung sản xuất

Việc sản xuất thạch đen mặc dù còn gặp nhiều khó khăn bất cập, nhưng sản xuất thạch đen lại là một trong những lợi thế của xã Điều này được thể hiện trên những phương diện sau:

Về điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu: xã Trọng Con có đủ điều kiện thuận lợi cho cây thạch đen Quỹ đất nông nghiệp khá lớn, hơn nửa địa hình và bên cạnh đó, lượng mưa, thời tiết khí hậu, nhiệt độ khá thuận lợi nên việc mở rộng diện tích trồng là điều dễ thực hiện

Về điều kiện kinh tế xã hội: Phần lớn lao động của xã hoạt động trong sản xuất nông nghiệp, cần cù, chịu thương chịu khó, ham học hỏi vì vậy mà họ đã có nhiều kinh nghiệm quý báu trong công việc trồng và nâng cao năng suất và chất lượng cây thạch đen Chính vì vậy nếu như cán bộ được tập huấn them về mặt kỹ thuật chắc chắn họ sẽ có điều kiện hơn để mở rộng diện tích và nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất cây trồng

Về điều kiện kinh tế: Thạch đen sản xuất ra được buôn lái thu mua và xuất khẩu, thị trường chủ yếu là trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc

Hai là: Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, từng bước nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng Để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, chính quyền địa phương và người dân cần có những giải pháp đầu tư chiều sâu để nâng cao năng suất và chất lượng trồng thạch đen Địa bàn xã Trọng Con trồng thạch đen chủ yếu là đất đồi, các công trình thủy lợi hầu như không thể đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho cây thạch đen, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất và chất lượng cây trồng còn thấp Để đạt được năng suất cao hơn việc đầu tư thâm canh và áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất là rất cần thiết trong những năm tiếp theo

4.3.3 Một số giải pháp phát triển trồng thạch đen

4.3.3.1 Giải pháp tạo vốn cho nông dân đầu tư thâm canh cây thạch đen

Thâm canh sản xuất thực chất là đầu tư thêm các khoản chi phí vào công lao động vào sản xuất Muốn thực hiện công việc đó người trồng thạch đen phải có tiền vốn Hiện nay có các chính sách hỗ trợ tiền vay vốn cho nông dân sản xuất, hỗ trợ nông nghiệp Xong tỉ lệ hộ vay vốn vẫn còn thấp, vì trình độ và kiến thức còn kém Lãi xuất tương đối cao so với thu nhập của người nông dân hàng năm Đối với việc hỗ trợ vốn đầu tư cho quá trình sản xuất của hộ nông dân thì nhà nước càn phải xem xét các phương thức cho vay, cụ thể là phân tích hoàn thiện cơ sở cho vay vốn của Ngân hàng và các dự án khác, đơn giản về thủ tục, mức độ tỷ lệ lãi xuất, các hình thức cho vay dễ dàng

4.3.3.2 Giải pháp về giống và kỹ thuật canh tác

Trong sản xuất, giống giữ vai trò quan trọng, là biện pháp thâm canh năng suất, chất lượng sản phẩm Muốn có năng suất cao và ổn định cần phải có các biện pháp cải tạo giống có năng suất, chất lượng tốt hơn Nghiên cứu các biện pháp cải tạo, nhân giống kiểu mới bằng phương pháp lựa chọn cây giống có ưu thế, lựa chọn phần thân, ngọn có chất lượng để giâm

Khuyến khích áp dụng quy trình sản xuất, chế biến thạch đen Tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn và thăm quan học tập để nâng cao nhận thức và trình độ kỹ thuật cho các hộ vùng sản xuất thạch đen của xã

4.3.3.3 Giải pháp về đất đai

Hiện nay ở một số vùng diện tích thạch đen còn nhỏ lẻ manh múm, không tập trung thì việc quy hoạch vùng sản xuất là rất quan trọng

Tận dụng tiềm năng đất đai sẵn có ở địa phương mở rộng diện tích thạch đen trên toàn xã

4.3.3.4 Giải pháp về thị trường tiêu thụ và cơ sở hạ tầng

Mở rộng thị trường tiêu thụ để tạo ra sự cạnh tranh, dần nâng cao giá bán cho người dân

Cung cấp và tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với thông tin về thị trường Các cấp chính quyền cần có những biện pháp thích hợp để giảm những thiệt hại và khó khăn cho người dân Để đảm bảo đầu ra cho thạch đen cũng như tạo lòng tin cho người trồng

Kết luận

Trong những năm vừa qua cùng với sự phát triển vượt trội của ngành nông nghiệp, cây thạch đen đã và đang dần khẳng định vai trò của mình trong kinh tế nông nghiệp và kinh tế hộ gia đình của xã Trọng Con

Xã Trọng Con có tổng diện tích đất tự nhiên 7.692,20ha, điều kiện khí hậu, thời tiết và các điều kiện khác thuận lợi cho trồng và phát triển cây thạch đen Bên cạnh đó còn một số khó khăn như giao thông chưa thuận lợi, hệ thống thủy lợi chưa đảm bảo…

Xã Trọng Con có hoạt động sản xuất cây thạch đen phát triển với diện tích 47,33ha, năng suất đạt 27,4(tạ/ha/năm), sản lượng đạt 129,7 tấn (số liệu năm 2018) Tuy nhiên trong sản xuất canh tác người dân còn gặp phải một số khó khăn như:

- Kỹ thuật canh tác cây thạch đen còn nhiều hạn chế, trình độ của người dân còn chưa cao

- Một số hộ chưa nắm rõ kỹ thuật nên dẫn tới năng suất thấp

- Diện tích canh tác nhỏ lẻ, manh múm, không tập trung

- Đầu ra cho sản phẩm không ổn định, giá cả bấp bênh

Qua nghiên cứu cho thấy HQKT cây thạch đen so với cây ngô lớn hơn, cho lợi nhuận cao Bên cạnh đem lại HQKT sản xuất cây thạch đen còn mang lại hiệu quả về kinh tế xã hội, môi trường

Tác giả đã đề xuất một số giải pháp như tạo vốn cho người dân, giống và kỹ thuật canh tác, đất đai, thị trường tiêu thụ, hợp tác sản xuất… nếu được thực tốt và đồng bộ thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cây thạch đen cho những năm tiếp theo

Như vậy, từ những kết quả nghiên cứu có thể khẳng định cây thạch đen là cây kinh tế mũi nhọn trong việc phát triển ngành nông nghiệp cũng như phát triển kinh tế của xã Trọng Con Vì vậy, trong những năm tới chúng ta cần phải đầu tư phát triển cây thạch đen để cây thạch đen thực sự trở thành cây kinh tế mũi nhọn của xã.

Kiến nghị

Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của cây thạch đen như: có chính sách về giá cả, thị trường… Đặc biệt nhà nước cần quan tâm đến việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ với sức mua lớn Ngoài ra nhà nước cũng cần quan tâm đầu tư về xây dựng cơ sở hạ tầng của tỉnh Cao Bằng nói chung và huyện Thạch An nói riêng

UBND huyện, xã và các nhóm quan tâm nhiều hơn tới cây thạch đen và tổ chức công tác khuyến nông và công tác tiêu thụ sản phẩm đồng thời giúp người dân trồng thạch đen về kỹ thuật để người dân tự phát triển cây thạch đen Đặc biệt cần có công tác thu mua vào lúc chính vụ để tránh bị thương lái ép giá Cần có biện pháp giúp tiêu thụ sản phẩm, trợ giá tạo điều kiện giúp người dân phát triển trồng thạch đen

Trạm khuyến nông cần tăng cường tập huấn cho người dân để đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất Ngoài ra cũng không ngừng học hỏi, nâng cao chất lượng cũng như kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ khuyến nông

Xã cần xây dựng và nâng cấp một số cơ sở hạ tầng như các công trình thủy lợi để phục vụ tưới tiêu cho người dân Đối với người dân:

+ Cần đầu tư, chăm sóc đúng yêu cầu kỹ thuật, tránh tình trạng lạm dụng các loại thuốc BVTV độc hại, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

+ Tích cực học hỏi, nắm bắt áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất + Phải sử dụng hiệu quả nguồn lực sẵn có của gia đình như: Lao động, vốn, đất đai

+ Tùy thuộc vào từng nhóm hộ mà các hộ xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất nhất là sản xuất cây thạch đen để phát triển kinh tế hộ.

Ngày đăng: 29/05/2021, 08:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w