Nhưng để ngành nông nghiệp của huyện đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kì mới thì phải hợp lý hóa, hiệu quả sản xuất nông nghiệp nhằm khi thác một cách triệt để tài nguyên về đấ
KẾT QUẢ THỰC TẬP
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Tiên Hội
Tiên Hội là xã miền núi nằm ở phía Bắc huyện Đại Từ cách trung tâm huyện 2km, không tiếp giáp trực tiếp với thị trấn, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 25km có vị trí địa lí như sau:
- Phía bắc: Giáp với xã Bản Ngoại và xã Tân Linh
- Phía đông: Giáp với thị trấn Hùng Sơn
- Phía tây: Giáp với xã Hoàng Nông
- Phía nam: Giáp với xã Khôi Kỳ
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu
- Là xã gần trung tâm huyện với địa hình chủ yếu là đồi núi Địa hình dốc dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Trên địa bàn xã Tiên Hội có Sông Công chảy dọc theo chiều dài của xã có tổng chiều dài khoảng 3,1 km, có 03 con suối: Suối Long, Suối Mang, Suối Luôn với tổng chiều dài 8,6 km
- Là vùng thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng
11, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, gió Đông Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô Đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thể hiện rõ qua các chỉ số: Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23ºc; tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1.700 – 2.200 mm, phân bố không đều có chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô[1]
- Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1.095,4ha, trong đó: Đất nông nghiệp 889,86ha chiếm 81,24% tổng diện tích đất, trồng các loại cây như: Lúa nước, cây chè, trồng cây hàng năm, cây lâu năm Đất phi nông nghiệp là 185.41ha chiếm 16,93% tổng diện tích đất, bao gồm đất ở, đất chuyên dụng, đất cho quốc phòng,
30 đất cơ quan hành chính sự nghiệp, đất tôn giáo tín ngưỡng Đất chưa sử dụng là 21,18ha chiếm 1,83%
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2015
STT Chỉ tiêu Mã Diện tích
Tổng diện tích đất tự nhiên
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm NHK 46.08
1.2 Đất trồng cây lâu năm 445,68
1.2.2 Đất trồng cây lâu năm khác
1.3.1 Đất rừng sản xuất RSX 119,15
1.3.2 Đất rừng phòng hộ RPH 0
1.4 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 47.55
1.5 Đất nông nghiệp khác NKH 0
2 Đất phi nông nghiệp PNN 185,41 16,93
2.2.1 Đất trụ sở cơ quan hành chính sự nghiệp
2.2.3 Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp
2.2.4 Đất sử dụng mục đích công cộng
2.2.5 Đất tôn giáo tín ngưỡng TTN 0,20
3 Đất chƣa sử dụng CSD 21,18 1,83
(Nguồn: Báo cáo của UBND xã Tiên Hội)
- Tổng diện tích mặt nước trên địa bàn xã hiện trạng là 101,72 ha, trong đó: Diện tích ao, hồ đầm 47,55 ha, diện tích đất sông suối 54,17 ha gồm 01 con sông Công và 03 con suối bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc và Tây Bắc – Đông Nam
- Toàn bộ diện tích ao, hồ, đầm hiện tại đã và đang được các hộ dân sử dụng để nuôi trồng thủy sản kết hợp việc tưới tiêu sản xuất nông nghiệp Các con suối chảy trên địa bàn xã là nguồn cung cấp nước chủ yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân[1]
- Diện tích đất lâm nghiệp là 119,15 ha: Trong đó rừng sản xuất 228 ha, toàn bộ diện tích đất rừng đã được giao khoán và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cây trồng chủ yếu keo tai tượng[1]
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Tiên Hội là một xã thuần nông, kinh tế chủ yếu thu thập từ cây chè, cây lúa, thu nhập bình quân năm 2015 đạt 23.59 triệu đồng/người/năm
- Tiềm năng phát triển kinh tế
Tiên Hội là xã điều kiện tự nhiên địa lý thuận lợi cho việc giao thông đi lại có đường quốc lộ 37 chạy qua địa bàn xã nối liền với trung tâm huyên Đại Từ là thế mạnh cho Tiên Hội phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại [1]
Có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, phát triển du lịch sinh thái; có lực lượng lao động dồi dào, người dân có truyền thống lao động cần cù, tỷ lệ lao động qua đào tạo cao là lợi thế để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trong sản xuất và phát triển [1]
Hệ thống các công trình hạ tầng như giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã, liên xóm; trụ sở làm việc của Đảng ủy – HĐND – UBND, trường học, trạm y tế,… đã được xây dựng khá đồng bộ và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới
- Tiềm năng phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại
Là một xã trung tâm của huyện, có đường quốc lộ 37 chạy qua địa bàn xã có điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh doanh thương mại dịch vụ đa ngành, đa lĩnh vực như: Kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh hàng tạp hóa, kinh doanh chế biến các mặt hàng nông sản (thu gom, vận chuyển và chế biến chè khô, hoa quả, các sản phẩm lâm nghiệp…), kinh doanh vận tải, gia công cơ khí, sản xuất vật liệu
32 xây dựng (gạch, ngói, cống bi,…), khai thác vận chuyển cát, đá xỏi… ngành tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ thương mại đã và đang phát triển tại địa phương phục vụ cho công nghiệp đồng thời giải quyết việc làm cho nhân dân Là tiền đề cho phát triển công nghiệp gắn với phát triển theo hương hiện đại hóa
- Tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp
Với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, nguồn nước, Tiên Hội có điều kiện để phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp cao, phục vụ cho các khu công nghiệp trên địa bàn Đối với cây lúa: Diện tích gieo trồng cây lúa lớn 410,9 ha, cánh đồng tương đối lớn bằng phẳng, tập trung theo từng khu thuận lợi cho việc canh tác và đưa cơ giới hóa vào sản xuất Hệ thống các công trình thủy lợi đã từng bước được đầu tư xây dựng, sửa chữa và nâng cấp cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp Đối với rau màu: Tiên Hội là xã trung tâm huyện do đó nhu cầu thực phẩm cung cấp cho thị trường tương đối lớn và ổn định là điều kiện thuận lợi cho phát triển một số loại cây rau màu, hoa… phục vụ cho nhân dân và các khu công nghiệp Đối với cây chè: Với diện tích 310,5ha, cây chè được xác định là cây mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho một bộ phận nhân dân Hiện nay diện tích chè giống mới có năng suất và chất lượng cao chiếm 12,8% Đối với cây ăn quả: Với diện tích 36,6ha cây ăn quả, trong đó 10 ha cây bưởi Diễn (5 ha sản xuất bưởi theo hướng VietGap), đây là điều kiện thuận lợi cho Tiên Hội phát triển kinh tế vùng tăng giá trị sản xuất, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng Đối với phát triển lâm nghiệp: Với diện tích 119,15 ha rừng, Tiên Hội có điều kiên thuận lợi để phát triển kinh tế đồi rừng gắn với du lịch sinh thái Đối với nghành chăn nuôi: Là xã trung tâm huyện Tiên Hội có điều kiện thuận lợi cho phát triển các khu chăn nuôi, giết mổ tập trung, phát triển các khu chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn Hiện tại xã đã có 1 trang trại chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp với quy mô 1000 con, đây là điều kiện để Tiên Hội phát triển chăn nuôi tập trung theo hương trang trại công nghiệp[1]
* Tình hình nhân khẩu và lao động
- Tổng số nhân khẩu 6.392 người, trong đó nữ 3.387 người
- Lao động trong độ tuổi: 3.844 người, trong đó nữ 1.980 người
- Trình độ văn hóa phổ cập Trung học cơ sở
- Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với tổng lao động là 35%
- Cơ cấu lao động: Nông, lâm, ngư nghiệp 88%, công nghiệp, xây dựng 5%, thương mại, dịch vụ 7%
-Tình hình lao động trong độ tuổi đang đi làm việc ngoài địa phương: Tổng số lao động trong độ tuổi lao động đang đi làm ở ngoài địa phương là 655 lao động, có 14 lao động ở nước ngoài, còn lại làm việc tại địa phương và các cơ quan đơn vị hành chính và doanh nghiệp trên địa bàn[1]
- Tỷ lệ lao động có việc làm ổn định thường xuyên 84,2%
* Tiềm năng phát triển về văn hóa - xã hội
- Về lĩnh vực giáo dục: Xã Tiên Hội có truyền thống hiếu học, xã đã hoàn thành phổ cập giáo dục trẻ 5 tuổi Mầm non, phổ cập Tiểu học và Trung học cơ sở; hàng năm tỷ lệ tốt nghiệp học sinh bậc Tiểu học, Trung học phổ thông đạt 99%- 100%; xã đã có 2/3 trường đạt chuẩn quốc gia Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng và đai học cao so với mặt bằng chung trong huyện, đây cũng là tiền đề cho nguồn lao động chất lượng cao cho tương lai[1]
Kết quả thực tập
3.2.1 Mô tả, tóm tắt những công việc đã làm tại trang trại
Do thời gian thực tập ngắn nên không đủ thời gian làm hết các công việc chăm sóc từ đầu cho đến thu hái, chỉ làm được một số công việc ở trang trại
Công việc 1: Làm sạch cỏ cho gốc bưởi
- Chủ trang trại làm những công việc: Chuẩn bị dụng cụ, công cụ lao động cho các lao động làm thuê và hướng dẫn cách làm sao cho hiệu quả và không ảnh hưởng đến cây trồng Chủ trang trại dùng máy phát cỏ để phát chỗ ngoài tán cây
- Những lao động làm thuê: Sau khi được trang bị công cụ dụng cụ thì tiến hành phát cỏ, dùng dao phát hoặc tay nhổ quanh gốc trồng
Thường một đợt phát cỏ trong 1 ngày với 2 lao động thuê ngoài và 2 lao động của gia đình
- Công cụ dụng cụ: Gang tay vải, dao phát nhỏ, máy phát cỏ, xe rùa
- Cách làm: Đối với gần gốc cây dùng tay nhổ những cây cỏ dại, nhổ sạch cỏ quanh tán cây bán kính khoảng 40cm đến 50cm, dùng những cỏ dại vừa nhổ lên phủ quanh gốc giữ ẩm cho cây Đối với ngoài tán cây, diện tích trang trại rộng dùng máy phát cỏ phát sát gốc cỏ
- Phát cỏ thường xuyên để hạn chế dịch bệnh cho cây, vườn cây được thông thoáng, thuận lợi cho chăm sóc bảo quản
- Lưu ý: Tránh sử dụng những dụng cụ sắc nhọn làm tổn thương gốc cây, cây ở khu vực đất dốc không nên làm sạch cỏ quá để tránh đất bị sói mòn rửa trôi chất mùn chất dinh dưỡng
Công việc 2: Bẫy ruồi vàng đục trái
- Chủ trang trại và 1 lao động trong gia đình làm trong 1 buổi Lúc đầu đi thu hết các bẫy về, bỏ bông tẩm thuốc cũ ra và chấm thuốc mới vào rồi đi treo lại như cũ
- Loại thuốc: Sử dụng thuốc VIZUBON-D
+ Bẫy có sẵn màu vàng
+ Thuốc Vizubon- D sử dụng 1-2ml thuốc/01 bẫy, cả vườn đặt 100 bẫy
- Cách đặt bẫy: Cho bông đã thấm thuốc Vizubon- D đưa vào nắp chai, đáy chai có 1 dây thép để cột treo vào thân cây (treo ngược chai để tránh nước mưa làm trôi thuốc) sau đó đóng nắp chai lại để theo dõi mật số ruồi trưởng thành vào bẫy
- Lưu ý: Để thu được hiệu quả cao cần lưu ý một số vấn đề sau:
+ Phải treo bẫy nơi đầu gió, chỗ râm mát, cách mặt đất khoảng 1,5 -2m
+ Không treo bẫy ngoài nắng, bẫy sẽ giảm hiệu lực nhanh
+ Nên vận động nhiều chủ vườn cây ăn trái trong khu vực của mình, cùng đặt bẫy đồng loạt trên diện rộng thì hiệu quả hạn chế tác hại của ruồi mới cao
- Thời gian đặt bẫy, phun bả: Thực hiện liên tục trong suốt vụ trái cây khoảng từ tháng 3 đến tháng 7 hàng năm, cho đến khi ruồi vào bẫy giảm 80-90% thì mới dừng đặt bẫy Duy trì việc châm thuốc vào bẫy 10-15 ngày 1 lần
Công việc 3: Bọc túi cho quả bưởi
- Chủ trang trại chuẩn bị túi bọc và hướng dẫn cho người lao động cách bọc bưởi, sau đó đi thăm xung quanh vườn rồi bọc bưởi
- Lao động thuê ngoài: Bọc bưởi theo cách được hướng dẫn
+ Làm giảm thiểu được tác hại của mưa gió gây thối rụng bưởi và ánh nắng mặt trời quá gắt làm cháy rám trái bưởi
+ Ngăn không cho các loại thuốc trừ sâu tác dụng trực tiếp lên quả bưởi
+ Giúp ngăn chặn được các loại côn trùng gây hại như: Sâu đục quả, rệp, bọ xít, ruồi vàng… nguyên nhân chính gây ra việc thối quả và rụng quả hàng loạt
+ Làm thay đổi màu sắc trái bưởi, bắt mắt và óng đẹp
+ Phòng ngừa vỏ trái sần sùi và chấm đốm đen trên quả
+ Không gây hại môi trường, cải thiện chất lượng bên trong quả
- Loại túi: Túi vải, hình chữ nhật (30×30), miệng túi có dây rút có miếng cao su nhỏ, dễ bọc hơn túi giấy, giá bán 1000đồng/túi
- Thời điểm thích hợp để sử dụng túi bọc bưởi
Khi quả bưởi non to cỡ nhỏ hơn nắm tay Vì khi đó, các cây bưởi đã tự dụng đi những quả bưởi yếu, bưởi có nấm bệnh, những quả còn lại là những quả bưởi đủ chất lượng, khỏe mạnh Lúc này, ta nên nhanh chóng bao bọc những quả bưởi còn giữ lại trên cây để ngăn ruồi vàng đẻ trứng vào quả bưởi gây hại rất mạnh thời điểm này, cũng như bọ xít, ve sầu, sâu đục quả và đặc biệt nắng rát mạnh làm cháy rám da bưởi còn rất non và mỏng này
- Cách bọc túi bưởi: Lồng túi bao quả từ bên dưới chùm vải theo chiều từ dưới lên bao trọn quả, sau đó rút dây rút miệng túi lại phía trên cuống quả bằng nút cao su
- Lưu ý: Nên thường xuyên kiểm tra túi bưởi có bị rệp sáp hay không, nếu bị ta phải tháo túi và phun thuốc trừ sâu
+ Tháo tất cả các túi bọc quả bưởi ra, để tận dụng túi cho đợt sau nên tháo cẩn thận, phơi túi và chọn lọc lại những túi có thể tận dụng
+ Kiểm tra nếu rệp xáp bám nhiều và đen tại quả ta phải cạo lớp rệp xáp đó và dùng thuốc phun theo đúng liều lượng (thuốc sherpa 25EC nồng độ 10- 20ml/16 lít nước)
+ Sau khi phun thuốc được khoảng 1 tuần ta tiến hành bọc lại bưởi
- Thời điểm thích hợp để tháo túi bọc bưởi: Thời điểm thích hợp nhất là trước khi thu hoạch chừng 10 - 15 ngày, tháo ra để trái bưởi hấp thu ánh sáng mặt trời tự nhiên nhất, đảm bảo màu sắc vàng óng, bắt mắt, hương thơm và vị ngọt đặc trưng của trái bưởi Lúc này, những túi bao bọc bưởi nào còn sử dung được, nên giữ lại để vụ sau tái sử dụng tiếp
Do vợ Ông Thuật chuyên mua chè tươi để sao thành chè khô, nên hầu như ngày nào cũng sao chè, chỉ trừ những hôm trời mưa người dân không đi hái chè được mới không có chè để sao Thường sẽ sao từ lúc 8h30- 9h và đến tận 22h- 24h, tùy vào lượng chè nhiều hay ít, trung bình một ngày sao hơn 1 tấn chè tươi Công việc sao chè sẽ do vợ Ông Thuật phụ trách từ khâu mua chè tưới đến giám sát sao chè và đi chợ mời chè bán chè khô cho thương lái
- Ông Thuật bổ củi và vận chuyển củi vào trong bếp để sao chè
- Thuê 5 lao động để sao chè thay phiên nhau nghỉ, mỗi này có 4 lao động thuê ngoài và 2 lao động gia đình sao chè