Tính nhânvăn cao cả giúp con người sống và làm theo những tư tưởng của đạo Phật.Cho đến nay con số chùa chiền đựơc xây dựng lên để thờ cúng đức phật cùngnhững tín ngưỡng văn hoá của các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG
-ISO 9001-2008
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: VĂN HÓA DU LỊCH
Sinh viên : Phạm Thị Minh Tuyết
Người hướng dẫn: ThS Đào Thị Thanh Mai
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG
Sinh viên : Phạm Thị Minh Tuyết
Người hướng dẫn: ThS Đào Thị Thanh Mai
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHềNG
-Nhiệm vụ đề tài tốt nghiệp
Tờn đề tài : Chựa Bỏi Đỡnh - Tiềm năng du lịch của Ninh Bỡnh
Trang 41 Nội dung và các yêu cầu cần giải quyết trong nhiệm vụ đề tài tốt nghiệp (về
lý luận, thực tiễn, các số liệu…).
Trang 6ời h ớng dẫn:
Họ và
tên:
Học hàm, học vị:
Cơ quan công tác:
Nội dung hớng dẫn:
……… …… ………… …………
………
……… …… ………… …………
………
.
……… … …… ……
………
……… …… ………… …………
………
……… …… ………… …………
………
……… … ……
……
.
Đề tài tốt nghiệp đợc giao ngày tháng năm 2009
Yêu cầu phải hoàn thành xong trớc ngày tháng năm 2009
Đã nhận nhiệm vụ ĐTTN Đã giao nhiệm vụ ĐTTN
Hải Phòng, ngày tháng năm 2009
Hiệu trởng
GS.TS.NGƯT Trần Hữu Nghị
Trang 7
……… ………
………
……… ………
……
……… ………
……
……… ………
…………
……… ………
………
……… ………
……
……… ………
……
……… ………
.
………… ………
……… ……
……… ………
……
……… ………
…………
2 Đánh giá chất lợng của đề tài (so với nội dung yêu cầu đã đề ra trong nhiệm vụ Đ.T T.N trên các mặt lý luận, thực tiễn, tính toán số liệu …): ):
……… ………
………
……… ………
……
……… ………
……
……… ………
…………
……… ………
………
……… ………
……
……… ………
……
……… ………
.
………… ………
……… ……
Trang 8Em xin gửi cảm ơn đến Ban lãnh đạo trường Đại Học Dân Lập HảiPhòng, các thầy cô trong Khoa văn hoá du lịch đã tạo mọi điều kiện cho emhoàn thành đề tài nghiên cứu.
Để hoàn thành đề tài này là sự cố gắng nỗ lực của bản thân em tuynhiên kiến thức còn hạn chế nên những thiếu sót là điều không tránh khỏi.Kính mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 17 tháng 06 năm 2009
Sinh viên
Trang 9Phạm Thị Minh Tuyết
Trang 10LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục khoá luận 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM 5
1.1 Nguồn gốc ra đời của Phật giáo 5
1.2 Qúa trình truyền bá và phát triển đạo Phật ở Việt Nam 7
1.3 Ý nghĩa tâm linh của Phật giáo 16
1.3.1 Không gian thiêng của Phật giáo 17
1.3.2 Biểu tượng thiêng của phật giáo 22
3.1.3 Ý niệm thiêng của phật giáo 25
1.4 Tiểu kết 28
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG VỀ QUẦN THỂ DI TÍCH CHÙA BÁI ĐÍNH VỚI KHẢ NĂNG KHAI THÁC PHỤC VỤ DU LỊCH 31
2.1 Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường 31
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp 31
2.1.2 Dự án khai thác Chùa Bái Đính 33
2.2 Quần thể di tích Chùa Baí Đính 35
2.2.1 Vị trí địa lý 35
2.2.2 Khu chùa Baí Đính cổ 35
2.2.2.1 Nguồn gốc lịch sử 35
2.2.2.2 Danh lam thắng cảnh và những sự tích huyền thoại 37
2.2.3 Bái Đính tân tự - khu chùa Bái Đính mới 42
2.2.3.1 Trung tâm Phật giáo qua các thời “Đinh -Tiền Lê” 42
2.2.3.2 Các công trình kiến trúc 49
2.3 Khả năng khai thác và phục vụ du lịch của quần thể di tích chùa Bái Đính 60
2.3.1 Nguồn khách 60
2.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật 61
Trang 112.3.3 Hiện trạng tổ chức quản lý 64
2.3.4 Môi trường tự nhiên và xã hội 65
2.3.5 Những thuận lợi - khó khăn đối với việc khai thác, phục vụ du lịch của quần thể di tích chùa Bái Đính 68
2.3.5.1 Thuận lợi 68
2.3.5.2 Khó khăn 69
2.4 Tiểu kết 69
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP 72
3.1 Định hướng về phát triển Du lịch Ninh Bình nói chung và Chùa Bái Đính nói riêng 72
3.2 Đánh giá 74
3.2.1 Đánh giá về các giá trị văn hoá lịch sử của chùa Bái Đính 74
3.2.1.1 Gía trị lịch sử 74
3.2.1.2 Gía trị văn hoá 85
3.2.2 Đánh giá về các công trình kiến trúc 94
3.3 Giải pháp thu hút khách du lịch 97
3.3.1 Đẩy mạnh và hoàn thiện nội dung quy hoạch, kiến trúc xây dựng 97
3.3.2 Tăng cường quảng bá hình ảnh và nghiên cứu thị trường 98
3.3.3 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý 100
3.4 Tiểu kết 101
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Ninh Bình với tài nguyên du lịch phong phú đa dạng, là địa bàn có thểthu hút được nguồn khách trong nước và quốc tế Vẻ đẹp tài nguyên của NinhBình không những là Tam Cốc – Bích Động thắng cảnh vốn được mệnh danh
là “Hạ Long trên cạn”, rừng già Cúc Phương, hay các khu sinh thái như: khubảo tồn ngập nước Vân Long, khu sinh thái Tràng An Mà nó còn thể hiện vớicác giá trị văn hoá lịch sử là cố đô Hoa Lư là kinh đô xưa của nước Đại CồViệt, đền vua Đinh, những sản phẩm nổi tiếng như mây tre nứa của vùngKim Sơn, những món ăn cổ truyền của dân tộc như cơm cháy, thịt dê, rượuKim Sơn tất cả đều toát lên được cái tôi của mảnh đất Ninh Bình, của nétđẹp truyền thống Việc nghiên cứu về đề tài này chính là nhằm tôn vinhnhững nét đẹp truyền thống của mảnh đất quê hương
Ninh Bình vốn là mảnh đất văn hoá của các tôn giáo (thời đại triều Lývới nền văn hoá phật giáo, triều đại Trần với nền văn hoá Đạo giáo - Thái Vixưa, samg thế kỷ XIX với nền văn hoá Đạo Thiên Chúa giáo - Phát Diệm.Trải qua những biến cố những thăng trầm lịch sử của đất nước, mỗi tôn giáolại tạo được những thế đứng riêng cho mình Ninh Bình, nơi hội tụ của cácnền văn hoá tôn giáo nhưng Phật giáo lại là tôn giáo gắn với đại đa số tầnglớp dân chúng hơn cả, bởi Phật giáo gắn liền với những tín ngưỡng trong đờisống cộng đồng như: đạo thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng Làng, thờ Mẫu,thờ Thánh Thần vì thế được đa số tầng lớp nhân dân hướng tới Tính nhânvăn cao cả giúp con người sống và làm theo những tư tưởng của đạo Phật.Cho đến nay con số chùa chiền đựơc xây dựng lên để thờ cúng đức phật cùngnhững tín ngưỡng văn hoá của các chúng sinh và phật tử tại Ninh Bình đã lêntới con số khá lớn với khoảng hơn 200 ngôi chùa, trên 30.000 tín đồ Tìm hiểu
về tôn giáo này chính là sự tìm về với cội nguồn và bản sắc văn hoá từ các
Trang 13triều đại Lý - Trần, viết lên cả một giai thoại phát triển của các triều đại xưa,nhằm giáo dục và nuôi dưỡng lòng tự hào của thế hệ trẻ với thế hệ cha ông đitrước.
Trước thế mạnh về tiềm năng du lịch của mình, Ninh Bình đang là mộttrong những tỉnh trong cả nước có khả năng phát triển và đưa ngành du lịchtrở thành thế mạnh Do một số yếu tố tác động cũng như sự chuyển mình mộtcách chậm chạp, du lịch Ninh Bình chưa thực sự phát triển Nhưng trong mấynăm gần đây, sự ra đời của quần thể chùa Bái Đính (Gia Sinh), giống như mộtluồng gió mới thổi thêm sinh khí và mang lại diện mạo hoàn toàn mới chongành du lịch Ninh Bình nói riêng và cả nước nói chung Bái Đính thu hútđược đông đảo khách thập phương trong và ngoài nước, bởi sự hoành tráng
đồ sộ của những công trình kiến trúc Phật giáo vĩ đại, sự huyền bí về nhữnggiai thoại lịch sử Du khách đến với bái Đính đều mang trong lòng sự hiếu kỳ,khám phá về sự mới lạ, cũng chính là cách người ta tìm đến với chốn tâm linhthanh tịnh để xoá đi những bi ai của trần thế, cầu khấn cho những điều tốtđẹp Bái Đính không những là một công trình kiến trúc đồ sộ mà có giá trịtâm linh lớn lao, trong tương lai sẽ là trung tâm Phật giáo của Việt Nam
Là người con trên mảnh đất Ninh Bình thân yêu, em muốn mình đónggóp một chút ông sức nhỏ bé muốn khơi dậy tiềm năng du lịch Giúp chocộng đồng các dân tộc trong nước, cũng như các kiều bào xa quê hương hiểuđược các các giá trị văn hoá lịch sử của đồng bào mình, cùng với vẻ đẹp thiênnhiên và con người của mảnh đất “vùng quê chiêm trũng” chính vì những
lý do trên người viết đã chọn đề tài “ Chùa Bái Đính - Tiềm năng du lịch củaNinh Bình”
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu khái quát về Phật giáo và Phật giáo ở Việt Nam
- Tìm hiểu các giá trị văn hoá lịch sử của Ninh Bình nói chung vàquần thể Chùa Bái Đính noí riêng nhằm tôn vinh được nét đẹp văn hoá lịch
sử của cố đô Hoa Lư cũng như làm nổi bật lên các yếu tố văn hoá lịch sử của
Trang 14quần thể di tích chùa Bái Đính Vì đây vốn là khu du lịch trọng tâm của tỉnhNinh Bình để tạo đà cho sự phát triển của các khu du lịch khác Đề tài này còngiúp con người hướng về cội nguồn những nét đẹp truyền thống nhằm giữ gìn
và phát huy những giá trị văn hoá tinh thần trong đời sống văn hoá dân tộcViệt
- Trên cơ sở đánh giá về các giá trị đó đề xuất một số giải pháp nhằmkhai thác có hiệu quả quần thể di tích này phục vụ phát triển du lịch
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài nay là cả quần thể di tích chùa BáiĐính bao gồm: khu chùa mới (Bái Đính tân tự ) với tổng diện tích 700ha làcác công trình hạng mục đặc sắc đã được xác lập những kỷ lục Việt Nam, khuchùa Bái Đính cổ với những yếu tố văn hoá lịch sử, làm sống dậy một nềnvăn hoá ngàn năm là cố đô Hoa Lư
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Quần thể di tích chùa Bái Đính – Ninh Bình Phạm vi thời gian: 3 tháng
4 Phương pháp nghiên cứu
Để có một bài luận văn shoàn chỉnh tác giả cuả đề tài này đã áp dụngbằng nhiều phương pháp khác nhau như:
thu thập và sử lý số liệu, đây là phương pháp chủ yếu trong quá trìnhnghiên cứu khoá luận dựa trên những nguồn tài liệu tại điểm di tích, sách báo,internet, nguồn tư liệu của sở du lịch cũng như số liệu của cục thống kê, kếthợp với phương pháp phân tích tổng hợp để tiến hành phân tích chọn lọc các dữliệu vào bài viết một cách thích hợp nhất làm nổi bật vấn đề nghiên cứu
thông qua phương pháp khảo sát thực tế đây là phương pháp đòi hỏinguời viết bài phải có thời gian cho quá trình nghiên cứu của mình tại điểm ditích chùa Bái Đính về văn hoá cũng như lịch sử với khả năng phục vụ du lịch Phương pháp sử dụng chuyên gia nhằm có những thông tin chính xác
và mang lại hiệu quả cao
Trang 155 Bố cục khoá luận
Bố cục khóa luận gồm 3 chương
Chương I: Khái quát chung về Phật giáo ở Việt Nam
Chương II: Hiện trạng về quần thể di tích chùa Bái Đinh với khả năngkhai thác phục vụ du lịch
Chương III: Một số đánh giá và giải pháp
Trang 16CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1.1 Nguồn gốc ra đời của Phật giáo
Vào thế kỷ I TCN, Ấn Độ chịu sự thống trị của đạo Bà La Môn vớinhững tư tưởng đạo luật khắt khe Đồng thời đạo Bà La Môn ra đời bảo vệcho các giai cấp tầng lớp trên dẫn đến sự phân biệt giai cấp trong xã hội lúcbấy giờ đã đảy tầng lớp dưới đến cảnh khốn cùng Để chống đối lại tư tưởng
và sự phân biệt đẳng cấp ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ IV TCN đã nổi lên tràolưu tư tưởng chống lại chế độ bà la môn, trong đó có đạo phật
Người sáng lập là siddharta gautama (tất Đạt Đa Cồ Đàm 563 - 483TCN) hiệu là Sakiamuni Ông vốn là con vua Tịnh phạn nước Cà ti la vệ mẹ
là Mã gia phu nhân Ông vốn là người lương thiện và thông minh, khôngthích sống dưới cảnh hoàng cung Tiếp xúc với nhiều cảnh khổ đau trong xãhội ông cảm thấy nghi hoặc với những hiện tượng khổ đau phiền não củasinh, lão, bệnh, tử, sự biến hoá khôn lường của đời người Vì thế đã khới lêncảm xúc và suy tư sâu sắc của ông, để cho các thứ phiền não của tinh thần, thểxác của con người thoát khỏi sự trói buộc đạt được tự do và giải thoát triệt đểnên khi 29 tuổi ông đã xuất gia đi tu
sau gần sáu năm tu hành khổ hạnh thân hình tiều tuỵ chỉ còn da bọcxương nhưng vẫn chưa giác ngộ đựơc chân lý Ông nhận thấy tu theo lối hànhxác không mang lại kết quả, vào một ngày ông quyết định thay đổi phươngpháp tu sau khi uống một cốc sữa bò của người đàn bà chăn bò, ông cảm thấykhoan khoái Ông đi đến chỗ cây bồ đề và phát ra lời thề: “Nếu ta ngồi đây
mà không giác ngộ ra điều gì thì quyết không đứng dậy nữa”
trải qua 49 ngày đêm, vào một buổi sáng rạng đông, Siddhartagautama đã đắc đạo thấu hiểu hết thẩy mọi lí lẽ của tạo hoá, nghĩ được cáchgiải thích bản chất của sự tồn tại nguồn gốc của sự khổ đau và tìm được con
Trang 17đường cứu vớt chúng sinh Từ đó người đời xưng tụng ông là Buddha (ĐấngGiác Ngộ) mà người ta quen gọi là Phật hoặc Bụt Sau khi tu hành đắc đạoPhật đã thu nạp và truyền cho 10 Đại đệ tử (Tôn giả thánh chúng).
Ngay từ khi ra đời đạo Phật đã chưa hình thành ngay được các giáo lý giớiluật riêng cho tôn giáo của mình, mà phải trải qua bốn lần kết tập kinh điển thìmới xây dựng được một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh
Kết tập kinh điển lần 1: Sau khi Phật Thích Ca qua đời ( năm 483
TCN), trong hàng đệ tử của Phật sinh ra những kiến giải bất đồng về giáopháp và những quy tắc tu hành mà Phật đặt ra sau khi Phật mất được mộtnăm, Tôn giả Đại Ca Diếp triệu tập 500 vị tỳ kheo (tiếng Hán gọi là khất sĩcòn gọi là đại đức hoặc sư ông), về dự họp đại hội lần thứ nhất, trong thờigian kéo dài 7 tháng nội dung kết tập lại lời giáo huấn của đức Phật nói vềgiáo lý Ba tạng: kinh, luận, luật của đạo Phật được khởi thảo từ đây, nhưngkhông có bút ký (không được ghi lại thành văn bản) mà chỉ là hợp tụng đọclại cho nghe
Kết tập kinh điển lần thứ 2: Được diễn ra sau khi đức Phật mất được
100 năm vào thế kỷ thứ IV TCN gồm 700 tỳ kheo kéo dài trong 8 tháng Nộidung chủ yếu của đại hội này giải quyết những bất đồng về việc thực hànhgiới luật và việc luận giải kinh điển trong cuộc kết tập lần này nội bộ tỳ kheo
đã chia thành hai phái là thượng toạ bộ (phái trưởng lão) và Đại chúng bộ(phái canh tân)
Kết tập kinh điển lần thứ 3: Diễn ra vào khoảng thế kỷ III TCN tại
kinh đô Pataliputơra do vua Asoka triệu tập với khoảng 1000 tỳ kheo, kéo dài
9 tháng Tại Đại hội lần này, giáo lý giới luật cùng những điều luận giải 2phần trên của đạo Phật được ghi thành văn bản Dưới sự bảo trợ của vuaAsoka, các tăng đoàn Phật giáo được thành lập, bắt đầu việc truyền bá đạoPhật ra ngoài Ấn Độ
Kết tập kinh điển lần thứ 4: Được tổ chức vào nửa đầu Thế kỷ thứ II
dưới triều vua Kaniska, có khoảng 500 tỳ kheo Đại hội đã hoàn chỉnh kinh
Trang 18điển của đạo Phật Cũng từ đây đạo Phật chia thành 2 phái lớn: Tiểu Thừa(Phật giáo Nam Tông ) từ trung tâm đảo Sri-Lanca phát triển sang nước dna,Đại thừa (Phật giáo Bắc Tông) phổ biến sang Trung hoa, Nhật bản, Triềutiên.
1.2.Qúa trình truyền bá và phát triển đạo Phật ở Việt Nam
Đạo Phật du nhập vào nước ta từ rất sớm ngay từ đầu thế kỷ thứ III tạiluy lâu (thuận thành - bắc ninh ngày nay) Đạo phật được các nhà sư Ấn
Độ truyền vào theo đường biển, đã sớm trở thành một trung tâm phật giáoquan trọng và đã xây dựng được 20 bảo tháp, độ được hơn 500 tăng và dịchđược 15 bộ kinh điển Phật giáo được truyền từ Ấn Độ sang nên từ Buddhatiếng phạn đã được phiên âm trực tiếp sang tiếng việt là bụt phật giáo lúcnày mang đậm sắc thái tiểu thừa nam tông, trong con mắt người Việt Bụtgiống như một vị thần luôn có mặt ở khắp mọi nơi, sẵn sàng xuất hiện cứugiúp người tốt và trừng trị kẻ xấu sang thế kỷ IV- V lại có thêm luồng phậtgiáo Đại thừa bắc tông từ Trung Hoa tràn vào chẳng mấy chốc nó đã lấn átthay thế luồng Nam tông có từ trước đó Từ trung hoa đã xuất hiện ba tôngphái phật giáo chính truyền vào việt nam đó là: thiền tông, tịnh Độ tông,mật tông
Tịnh Độ Tông
Tịnh Độ Tông lại chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài để cứuvớt chúng sinh thoát khổ Đó là việc hướng họ đến một cõi Niết Bàn cụ thể(yên tĩnh - trong sáng), được hình dung như một nơi cực lạc do đức phật A Di
Đà cai quản Đó còn là việc bản thân họ còn thường xuyên đi chùa lễ Phậtthường xuyên tụng niệm danh hiệu Phật A Di Đà, hình dung cụ thể về cõiNiết Bàn là để có đích mà hướng tới với cách tu như vậy Tịnh Độ Tông trởthành Phật giáo của giới bình dân và phổ biến khắp Việt Nam Điều đó tạonên sự khác biệt giữa Thiền Tông và Tịnh Độ Tông Thật ra, Thiền hay Tịnh
Độ cũng chỉ là những pháp môn tu tập thích hợp cho nhiều đối tượng khácnhau do Đức Phật truyền giáo ra Chính Đức Phật Thích Ca đã nhờ vào tự lực
Trang 19của mình để đến giác ngộ thì cần phải giúp đỡ họ, sự trợ lực hay tha lực nàyrất quan trọng Điều này gợi cho tín đồ liên tưởng đến một cõi Niết Bàn cụ thể
đó là cõi Tịnh Độ hay thế giới Cực Lạc do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ
Sự giúp đỡ đó còn cho thấy bản thân của người tín đồ cần thườngxuyên đi chùa dâng hương, bố thí, làm những điều thiện, tránh các điều ác vàthường xuyên niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà để đạt đến “nhất tâm bấtloạn” Muốn đạt đến chỗ “nhất tâm bất loạn” này, hành giả trong lúc niệmPhật phải hình dung, quán tưởng về thế giới cực lạc để tâm mình hướng tới.Nhờ cách thức tu tập đơn giản như vậy nên Tịnh Độ Tông là tông phái phổbiến khắp đất nước Việt Nam Đâu đâu ta cũng gặp người dân tụng Kinh A Di
Đà và niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà Và để nhớ đến đức độ cũng nhưgiáo lý của người, ở các chùa chiền ở khắp nơi đâu đâu cũng cho tạc tượngông để tạ ơn Tượng Phật A Di Đà cũng thuộc loại tượng Phật lâu đời và phổbiến ở Việt Nam Điển hình là pho tượng Phật A Di Đà bằng đá, cao gần 2 m,(thờ tại chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh), được tạo tác dướitriều Lý Thánh Tông năm 1057 Đây là một bằng chứng đánh dấu sự ảnhhưởng Tịnh Độ Tông đầu tiên ở Việt Nam
Mật tông
Là một tông phái chủ trương sử dụng hình ảnh cụ thể và những mậtngữ, mật chú để hai bộ kinh chính là Kinh Đại Nhật và Kinh Kim Cương MậtTông truyền vào Việt Nam không còn độc lập như một tông phái riêng mànhanh chóng hòa vào tín ngưỡng dân gian, pha trộn với các truyền thống nhưchẩn tế, cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa trị tà ma và trị bệnh
Mật Tông không có dấu hiệu phát triển rõ ràng ở Việt Nam, chỉ tuỳ thuộcvào sự thọ trì của từng chùa và của mỗi cá nhân có cơ duyên đến với tông pháinày Khai mở trí tuệ giác ngộ, để thu hút các tín đồ mau chóng đạt tới sự giácngộ và giải thoát Tương truyền Mật Tông do Phật Đại Nhật chủ xướng
Thiền tông
Trang 20Thiền Tông phái Phật giáo do nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma sáng lập ra
ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ VI Đây là tông phái hay đúng hơn là mộtpháp môn tu tập có từ thời Đức Phật Thích Ca tại Ấn Độ (trong hội Linh Sơn)rồi truyền xuống cho Tôn giả Ca Đến năm 520 Tổ Bồ Đề Đạt Ma (vốn là thái
tử thứ ba của vua Kancipura Nam Ấn), vâng theo lời thầy là Bát Nhã Đa La(Prajnatara), Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa để hoằng dương Phật pháp Tạinơi đây, Thiền Tông đã được hình thành và nhanh chóng hưng thịnh
Thiền hay còn gọi là tĩnh lự, chủ trương tập trung trí tuệ để tìm ra chân
lý Tu theo pháp môn này đòi hỏi hành giả phải có nhiều công phu, khả năngtrí tuệ, do vậy chỉ phổ biến ở tầng lớp trí thức và giai cấp thượng lưu Cũngchính nhờ họ ghi chép lại mà chúng ta ngày nay mới biết được lịch sử ThiềnTông ở Việt Nam Thiền Tông ở Việt Nam luôn đề cao chữ Tâm “Phật tạiTâm, Tâm là Niết Bàn là Phật”
Như vậy với quá trình lấn át của phái Đại Thừa mà ngay cả trong ngônngữ từ Buddha được dịch thành chữ Phật (chữ Bụt được thay bằng chữ Phật-chữ Bụt chỉ còn giới hạn trong ca giao tục ngữ truyện cổ tích mà thôi) Khôngchỉ giới hạn ở ba tông phái trên mà còn rất nhiều các tông phái du nhập vàoViệt Nam tạo nên sắc thái Phật giáo đa dạng hơn bao giờ hết đó là các dòngphái như Tỳ Ni Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường
Dòng Thiền thứ nhất: Được Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) sáng
lập Ngài là người Nam Thiên Trúc, sang Trung Hoa học đạo và được tổ thứ
ba Thiền Tông Trung Hoa là Tổ Tăng Xán khuyên nên "mau đi về phươngNam mà tiếp xúc với thiên hạ, không nên ở lâu tại đây" Ngài từ biệt và đếnViệt Nam vào năm 580, ở tại chùa Pháp Vân (nay là Thuận Thành, Hà Bắc)
để hoằng pháp và truyền cho tổ thứ hai là ngài Pháp Hiền (người Việt Nam).Đây là dòng Thiền có tích cách dân tộc Việt Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạttâm linh siêu việt của Phật giáo vừa biểu lộ được đời sống thực tế và đơn giảncủa quần chúng nghèo khổ Việt Nam Dòng thiền này truyền được 19 thế hệ
Trang 21Dòng Thiền thứ hai: Là thiền phái Vô Ngôn Thông, do thiền sư Vô
Ngôn Thông người Trung Hoa sáng lập tại chùa Kiến Sơ (Phù Đổng, Hà Bắc)vào năm 280 Người kế nghiệp ngài là thiền sư Cảm Thành Đây là Thiềnphái chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa sâu đậm, tuy nhiên vẫn rất gần gũivới đời sống xã hội, hòa nhập vào đời sống người dân trong khi vẫn duy trìđược sinh hoạt tâm linh độc lập của mình, thiền phái này truyền được 17 thế
hệ
Dòng thiền thứ ba: Là thiền phái Thảo Đường, do thiền sư Thảo Đường
(người Trung Hoa) sáng lập, ngài vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành.Được vua Lý Thánh Tông (1054-1072) giải phóng khỏi kiếp sống tù đày vàvua cho lập đạo tràng tại chùa Khai Quốc ở ngay kinh thành Thăng Long(1069) đệ tử theo học rất đông, trong đó có cả chính vua Lý Thánh Tông.Thiền phái này có khuynh hướng Thiền Tông trí thức và văn chương, do đókhông cắm rễ được trong quần chúng mà chỉ ảnh hưởng được tới một số trí thức
và vua quan có khuynh hướng văn học Dòng thiền này truyền được 6 đời
Do thâm nhập bằng con đường hoà bình và cộng thêm tư tưởng từ bibác ái nên ngay từ thời Bắc thuộc Phật giáo đã phổ biến rộng khắp trong dânchúng và trở thành phương tiện duy trì và phát huy bản sắc văn hoá dân tộctránh sự đồng hoá của phong kiến phương Bắc
Đến thế kỷ X khi việt nam bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ saumột ngàn năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiến đã có nhiều chính sáchnâng đỡ Phật giáo, tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển mạnh mẽ Chínhtrong thời kỳ này đạo Phật mới thực sự thịnh hưng và có những đóng góp tíchcực cho đất nước Năm 971 vua Đinh Tiên Hoàng định giai cấp cho các tăng
sỹ và ban chức tăng thống cho thiền sư Ngô Chân Lưu (phái Vô NgônThông) Đến thời Lý - Trần thì Phật giáo đạt tới mức hưng thịnh Do ảnhhưởng tư tưởng của vua Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng Sỹ nên đầuthế kỷ thứ XIII cả ba Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và ThảoĐường sát nhập thành một và đưa tới sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm,
Trang 22là Thiền phái duy nhất tới đời Trần Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần NhânTông (1258-1368) khai sáng Vua Trần Nhân Tông học Phật giáo qua sựhướng dẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ, một thiền sư cư sĩ nổi tiếng đời Trần,sau khi xuất gia vào năm 1299 với đạo hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà Ngài đã lên
tu ở núi Yên Tử (tỉnh Quãng Ninh) và tại đây, ngài đã lập ra Thiền phái TrúcLâm, một dòng thiền Việt Nam đầu tiên, mang tính chất độc lập Việt Nam Với sự kết hợp hài hòa của Phật giáo Ấn Hoa, lập ra Thiền phái Trúc Lâmnày, vua Trần Nhân Tông đã thống nhất được các thiền phái tồn tại trước đó
và toàn bộ Giáo Hội Phật Giáo đời Trần về một mối
Nhìn chung Thiền phái Trúc Lâm là một dòng Thiền tổng hợp được bayều tố đặc thù của xã hội Trần Nhân Tông đại diện cho quý tộc, Pháp Loa đạidiện cho nông dân và Huyền Quang đại diện cho nho sĩ Tính cách quý tộc,nông dân và nho sĩ là thể hiện toàn diện trong con người Trúc Lâm Sự tổnghợp đó, đã tạo nên nét đặc thù của thiền phái Trúc Lâm mà các thiền pháitrước đó không có được Kể từ đó, đạo Phật đi vào xã hội với tinh thần nhậpthế cụ thể, giáo hội được tổ chức chặt chẽ, củng cố tinh thần đạo pháp và dântộc xây dựng phồn vinh cho đất nước Sau thời đại Lý Trần các dòng thiềnViệt Nam dường như lu mờ và tàn lụi hẳn Phải đến cuối thế kỷ thứ XX, tiếpnối đạo mạch Việt Nam, thiền sư Thích Thanh Từ đã phục hưng nền ThiềnTông Việt Nam, đó là thời điểm đầu những năm 70 tại tu viện Chơn Không(1970-1986) rồi đến Thường Viện Thường Chiếu (1974-1994) và hiện nay làthiền viện Trúc Lâm ở Đà Lạt Đây có thể nói là một dòng thiền khác mangtính cách độc lập của người Việt Nam Thiền sư Thanh Từ đã không theo cácdòng thiền truyền thống nào mà chỉ tổng hợp ứng dụng của ba thiền sư nổitiếng là thiền sư Huệ Khả (tổ thứ 2, Trung Hoa), thiền sư Huệ Năng (tổ thứ 6,Trung Hoa) và thiền sư Trần Nhân Tông (sơ tổ Trúc Lâm, Việt Nam) lậpthành phương pháp tu tập cho thiền sinh Việt Nam trong thời hiện đại Khi đềcập đến các thiền sư đời Trần và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ai cũng thừa
Trang 23nhận đó là một trong những Thiền phái tiêu biển cho Phật giáo Việt Nam vàThiền Tông.
Theo các nhà nghiên cứu, Thiền Tông Việt Nam thời kỳ này có một sốđặc điểm sau:
Tính vô ngã, vị tha: Đây là một trong những tính chất mang tính tiêubiểu của Phật giáo, là mục đích nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân,phương tiện chi phối mọi hoạt động Vô ngã và vị tha là hai yếu tố có quan hệchặt chẽ với nhau, tùy thuộc vào nhau Khi bản ngã còn thì không có được vịtha trọn vẹn Ở những triều đại khác, nơi mỗi nhà tu hành ít nhiều cũng có haiyếu tố này, nhưng đặc biệt đối với triều đại nhà Trần, là giai đoạn có sự thửthách cao, đối đầu với quân xâm lược có tầm cỡ trên thế giới Để đạt đượcmục tiêu chung, nhằm giữ gìn nền độc lập cho xứ sở, tính chất này càng đượcbộc lộ mạnh mẽ Những đố kỵ, hiềm khích, ghen ghét nhau trong vua tôi tạmthời được gác lại, để tập trung vào mục tiêu chung, thì trong các thiền sư.Tính chất vô ngã, vị tha càng được thể hiện rõ nét qua câu nói của nhà sư trụtrì trên dãy Yên Tử (Quốc sư Trúc Lâm hay Phù Vân) khuyên vua Trần TháiTông: "phàm là đấng làm vua cai trị muôn dân, thì phải lấy ý muốn của thiên
hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình"
Tinh thần nhập thể: Có "tâm vô ngã" thiền sư mới hòa mình trọn vẹnvào cuộc đời, không còn cái tôi nên không còn phân biệt hình tướng đạo đời,mới sống an nhiên, tự tại không thấy mình là nhà tu, là khác đời, và vì vậy màkhông tạo thế xa cách Tuệ Trung là một người đạo cao, đức trọng được vuaThánh Tông khâm phục gọi là Thượng Sĩ (tức là Bồ Tát), khi hay tin giặcNguyên xâm lược, ông rời khỏi Thiền Lâm ra trận Vua Nhân Tông sau khiđổi pháp hiệu là Trúc Lâm đã đi "vân du, hành đạo" không còn mang tư tưởngmình là một vị vua cai trị muôn dân Ông đã thoát bỏ dễ dàng cái ta, đạt đượctinh thần vô ngã nên mới có hành động vị tha, đi vào dân để kêu gọi hànhthập thiện Do vậy nhập thế vào đời, điều kiện trước hết đòi hỏi ở người hànhđạo, ở một thiền sư phải có tinh thần vô ngã, vị tha Càng thể hiện trọn vẹn
Trang 24tinh thần này thì hành động càng mang lại lợi ích thiết thực Tinh thần nàycòn được thể hiện qua cái nhìn và việc đánh giá cao về con người và vai tròcủa Tuệ Trung Dưới con mắt của nhà thiền, Tuệ Trung được đưa lên tầmcao và được phá bỏ những dị biệt về hình tướng, không còn xét xem đó là một
tu sĩ hay cư sĩ, là người đạo hay kẻ đời Nói như thế thì một triều đại có được
tư tưởng thiền tông xuyên suốt, biết vận dụng nó làm kim chỉ nam cho mọi
tư tưởng và hành động của mình như triều Trần, nên đã tạo cho Phật giáo đờiTrần một thời kỳ rực rỡ trong lịch sử Thể hiện cao tinh thần dân tộc, ở đótính chất nhập thế được xem là giáo lý căn bản, dùng nó làm nền tảng cho đạođức xã hội Xây dựng một hệ thống giáo hội mới và hệ thống kinh sách mới,không lệ thuộc và chịu ảnh hưởng nặng nề của Phật giáo từ Ấn Độ cũng như
từ Trung Quốc
Có thể nói đời Trần là thời đại thống nhất các hệ phái phật giáo trước
đó Tuy các tăng sỹ đời Trần không phải là những người trực tiếp đóng gópvào sự nghiệp chính trị như các thiền sư thời Lý, nhưng Phật giáo là yếu tốquan trọng để liên kết nhân tâm Tinh thần của Phật giáo đã khiến cho các nhàchính trị đời Trần áp dụng những chính sách bình dân, thân dân và dân chủ.Phật giáo thời kỳ này được coi là quốc giáo Mọi người dân trong xã hội đềuhướng về Phật Theo nhận xét của nhà sử học Lê Văn Hưu “nhân dân quá nửa
là sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa”, nhà nho Trương Hán Siêu cũngcho rằng “thiên hạ năm phần thì tăng sư chiếm một” Tuy nhiên người dânViệt Nam không tiếp nhận Phật giáo một cách thụ động mà những người cóhọc thức nắm quyền về chính trị đã gắn đạo Phật với quyền lợi dân tộc, đãsoạn giáo lý đạo Phật cho riêng mình Đó chính là nguồn gốc của Thiền pháiTrúc Lâm “Phật chỉ lấy điều hoạ phúc mà động lòng người, sao mà sâu xa vàbền chắc như vậy? Trên từ vương công, dưới dến thứ dân, hễ làm cái gì thuộc
về Phật thì hết cả gia tài cũng không tiếc Nếu hôm nay đem tiền cuả để làmchùa xây Tháp thì hớn hở vui vẻ, như trong tay đã cầm được biên lai để ngày sau
đi nhận lại số tiền trả báo lại Cho nên, trong từ kinh thành ngoài đến châu phủ,
Trang 25đường cùng ngõ hẻm, chẳng khiến đã theo, chẳng thề mà đã tin, hễ chỗ nào cónhà thì có chùa Phật, bỏ đi thì làm lại, hư đi thì sửa lại” trích theo nhà nho Lê BáQuát (Lương Thị Thoa, Lịch sử ba tôn giáo thế giới, Sdd, tr 51).
Chính vì sự ảnh hưởng của Phật giao mà có rất nhiều chùa chiền, cáccông trình kiến trúc Phật giáo được xây dựng mà nổi tiếng là bốn công trìnhkiến trúc Phật giáo là “An Nam Tứ đại khí”
Thứ nhất là tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều - Quảng Ninh):Vào khoảng thế kỷ thứ XI, có pho tượng Di Lặc bằng đồng Theo văn bia nayvẫn còn giữ lại được trong chùa, tượng cao tới 6 trượng (24 m) đặt trong mộttoà Phật điện cao 7 trượng Đứng từ bến đò Đông Triều, cách xa 10 dặm vẫncòn trông thấy nóc điện
Thứ hai là tháp Báo Thiên: Gồm 12 tầng cao 20 trượng do vua LýThánh Tông xây dựng vào năm 1057 trên khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phíaTây hồ Lục Thuỷ (Hồ Gươm - Hà Nội) bằng đá và gạch, riêng tầng thứ 12 đúcbằng đồng Tháp là đệ nhất danh thắng đế đô một thời Đến năm 1414, tháp bịquân Vương Thông tàn phá, nền tháp còn lại to như một quả đồi, có thời dùnglàm nơi họp chợ Thời Pháp những gì còn sót lại đã bị phá huỷ hoàn toàn để xâynhà thờ lớn trên đất ấy
Thứ ba là chuông Quy Điền: Năm 1101 vua Lý Nhân Tông cho xuấthàng vạn cân đồng để đúc quả chuông này và dự định treo tại chùa Diên Hựutrong một toà tháp bằng đá xanh cao 8 trượng Nhưng chuông đúc song toquá, có đường kính 1.5 trượng (6 m) cao 3 trượng (12 m), nặng tới vài tấn,không treo lên nổi nên đành để ở ngoài ruộng Mùa nước ngập rùa bò nên dângian gọi là chuông Quy Điền
Trang 26Thứ tư là Vạc Phổ Minh : Đúc bằng đồng vào thời Trần Nhân Tông,đặt tại sân chùa Phổ Minh (Tức Mạc - Nam Định) Vạc sâu 4 thước (1.6 m),rộng 10 thước (4 m), nặng trên 7 tấn Vạc to tới mức có thể nấu đựơc cả mộtcon bò mộng Đến nay vẫn còn 3 trụ đá kê chân vạc trước chùa.
Sang thế kỷ XV khi nhà Lê lên ngôi, lấy đạo Nho làm chủ đạo Phậtgiáo suy tàn dần, không còn giữ được vị trí độc tôn như thời Lý, Trần nữasong vẫn giữ được gốc rễ sâu bên trong nhân dân Đồng thời với thái độkhoan dung của mình Phật giáo đã tồn tại với Nho giáo, Lão giáo, theo kiểu
“Tam giáo đồng nguyên” Thời kỳ nhà Nguyễn cũng như thời Pháp thuộc,Phật giáo trong tình trạng suy vị Mãi tới năm 30 của thế kỷ XX, một số nhà
tu hành và nhân sỹ yêu nước đã đứng ra vận động phong trào “chấn hưng Phậtgiáo” Năm 1920 hội Lục hoà được thành lập để đoàn kết vận động phongtrào “chấn hưng Phật giáo” Hội nghiên cứu Phật học Nam Kỳ ra đời đặt trụ
sở tại chùa Linh Sơn, xuất bản tạp chí “Từ Bi Âm” (1932), cùng trong năm
đó liên đoàn Học xã ra đời tại miền Bắc
Năm 1934, Phật giáo được đặt trụ sở chính ở chùa Quán Sứ Hà Nội vàxuất bản tạp chí “Đuốc Tuệ” ở miền Trung, “Hội An Nam Phật học” Đặcbiệt hội đã mở các Phật học viện cho tăng chúng học như Phật học đường BáoQuốc và Kim Sơn, Trúc Lâm, Thiền Tông tại miền Nam Đồng thời, hội Phậthọc Lưỡng xuyên ra đời, xuất bản tạp chí Du Tân Phật học và mở Phật học tạiLưõng Xuyên Phong trào này kéo dài cho đến những năm 1954 Nhờ cóphong trào này mà đội ngũ tăng ni Phật tử được đào tạo qua nhiều trường lớp
và phát triển ở nhiều các tỉnh Chùa chiền được xây dựng ở khắp mọi nơi từthành thị cho đến các làng xã
Trong thời kỳ này có nhiều hệ phái tôn giáo được ra đời như Thiên Tháigiáo Quán Tông, Phật giáo Hoa Tông Trước tình hình đó đòi hỏi phải thốngnhất chung một giáo phái Phật giáo chung Vì thế tổ chức thống nhất Phậtgiáo đã ra đời vào 1958 và tổ chức tại chùa Từ Đàm - Huế, hội chủ là hoàthượng Thích Tịnh Khiết Đây là tổ chức thống nhất Phật giáo ba miền Bắc -
Trang 27Trung - Nam, đồng thời vạch ra một con đường dân tộc nhân bản, hướng dẫnbước đi của Phật giáo vào con đường thông tin văn hoá, tiếp tục xây dựngnhững con người của chế độ mới Sau 1975 đất nứơc thống nhất, non sông thu
về một mối tạo điều kiện cho Phật giáo thống nhất và đi theo con đường riêngcủa mình Đến tháng 11/1981, đại hội Phật giáo đã được tổ chức long trọng tại
Hà Nội tại chùa Quán Sứ, 165 đại biểu của 9 tổ chức giáo hội, hệ phái đã tớichùa Quán Sứ để tham dự đại hội này, đây là một sự kiện trọng đại trong lịch sửPhật giáo Việt Nam
1.3 Ý nghĩa tâm linh của Phật giáo
Tuy Phật giáo được tiếp nhận vào Việt Nam và nhanh chóng đi sâu vàovới quần chúng nhân dân vì những tư tưởng cũng như đạo lý hợp với nềnnông nghiệp lúa nước, nhưng dựa trên những tư duy hoàn toàn mới tiếp thumột cách có chọn lọc Vì thế Phật giáo khi vào Việt Nam được biến đổi vàmang những tính riêng biệt: đó là tính tổng hợp, khuynh hướng thiên về tính
nữ, tính linh hoạt kết hợp giữa thờ đạo Phật và thờ cúng tổ tiên Phật với tínhchất bình đẳng bác ái, nêu cao cứu khổ cứu nạn cho con người nên đã đượcngười Việt Nam tiếp thu môt cách sâu rộng và trở thành một mảng văn hoáđậm nét của người dân đất Việt, gắn bó mật thiết với đời sống tâm linh củangười dân Việt
Trong đời sống con người, ngoài mặt hiện hữu còn có mặt “phi hiện
hữu” mà người ta gọi là tâm linh Mặt hiện hữu có thể nhận thức bằng trực
quan, cảm giác, có thể định tính, định lượng được cụ thể Mặt “phi hiện hữu”hay còn gọi là mặt tâm linh là những cái trừu tượng, mông lung, huyền bí,thiêng liêng nhưng không thể thiếu trong đời sống con người Cái cột chặt conngười trong cộng đồng làng xã, quốc gia không chỉ có quan hệ hiện hữu ởlãnh thổ, biên giới, chủ quyền, trong đó có chủ quyền kinh tế - xã hội, mà cònnhiều quan hệ khác rất thiêng liêng Đó là thế giới tâm linh với những biểutượng thần - thánh, những kỳ vọng vươn tới cái chân thiện mỹ, do đó cũng thể
Trang 28hiểu đời sống tâm linh gắn chặt trong mối quan hệ cộng đồng giữa người vớingười, giữa thế giới trần với thế giới tâm linh
Biểu tượng tâm linh ấy được con người cụ thể hoá vào các cái hiện hữunhư các ngôi chùa, ngôi đình ở làng quê Việt Nam Cái mà chúng ta đangnghiên cứu ở đây chính là biểu hiện trong niềm tin ý thức của các tín đồ đạoPhật Nó được thể hiện qua không gian thiêng, biểu tượng thiêng, ý niệmthiêng, mà cả một cộng đồng dân tộc đã tạo nên qua không gian thờ cúng củacác ngôi chùa
1.3.1 Không gian thiêng của Phật giáo
Do ảnh hưởng và tiếp thu Phật giáo từ Trung Quốc, nên Phật giáo miềnBắc mang màu sắc của Phật giáo Đại Thừa Cụ thể không gian thiêng củaPhật giáo là thể hiện qua các ngôi chùa, các tên gọi như: Pháp Vân, Pháp Vũ,Pháp Lôi, Pháp Điện, thể hiện sự kết hợp của Phật giáo với sự thiêng liêngtrong tín ngưỡng nguyên thuỷ của cư dân nông nghiệp thờ các hiện tượngthiên nhiên thờ mây mưa sớm chớp khi Phật giáo mới du nhập vào nước ta Tiếp đến là những ngôi chùa thể hiện sự thiêng liêng triết lý Phật giáo.Thời Lý có các ngôi chùa như: chùa Phật Tích ( Bắc Ninh - dấu tích của PhậtNhư Lai), chùa Phổ Minh (thời Trần, Nam Định - Phật trong sáng), chùa PhảLaị (Bắc Ninh) - Phật Như Lai) Sau này có chùa Tây Phương (Hà Tây – cõiTây Phương cực lạc), chùa Phổ Giác (phố Ngô Sĩ Liên, Hà Nội - tức là giácngộ theo Phật)
Những ngôi chùa thể hiện sự thiêng liêng gắn với những địa danh, sựtích lịch sử Chùa Một Cột (Diên Hựu tức kéo dài phước lành - Hà Nội), chùaTrấn Quốc (chùa trấn giữ yên đất nước), chùa Quán Sứ (chùa để nhân viêncác sứ quán đến lễ Phật), chùa Thiên Mụ (chùa có mụ trời giáng xuống) Lại
có những cái tên thể hiện sự thiêng liêng từ trên trời ban xuống Thiên quang
tự (Chùa Keo, Thái Bình – chùa ánh sang của trời, Linh quang tự (chùa Dâu,Bắc Ninh – chùa ánh sáng thiêng liêng)
Trang 29Không gian thiêng Phật giáo còn gắn với tên làng Chùa Thắng (chùalàng Thắng), chùa Bầu (chùa làng Bầu) Những cái tên đặt ra theo cách “đấtvua chùa làng" Thời phong kiến mọi đất đai quốc gia đều thuộc sở hữu củanhà vua, chùa là của làng, làng có mọi quyền quyết định sự tồn tại phát triểncủa chùa làng mình.
Về thế đất đặt của chùa cũng như không gian thiêng thần thánh (tức lànơi Phật ở), người Việt cũng rất coi trọng Theo Đạo giáo gọi là thuật phongthuỷ, theo Phật thì gọi là cảnh sắc Đất tốt bên trái trống không, hoặc có sôngngòi, ao hồ bao bọc, bên phải cao dày, có hình hoa sen tràng phướn (hoa sen),hình rồng, phượng, qui, xà chầu bái Trước mắt có minh đường hay khôngđều tốt cả, phía sau không nên có núi áp kề, thế là đất tốt Hoặc như “cảnh sắc
có bốn điều, một là nước, hai là lửa, ba là lương thực, bốn là rau Lại cũngnên biết cảnh không gần nhân gian mà cũng không xa nhân gian, vì gần thì ồn
ào, xa thì thì không ai giúp đỡ cho Cảnh có thể trú, là chỗ yên nghiệp đểdưỡng thần, nuôi tính, tâm linh sáng suốt, để được chứng đạo, ấy là cứu cánh”(Hà Văn Tấn: Chùa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr17).Không gian thiêng ấy là sự thể hiện vừa đời vừa đạo Đời là thể hiện ở chỗ,sông ngòi ao hồ có nước, nguồn gốc đầu tiên cảu sự sống, có lương thực,nước, lửa Đạo ở chỗ yếu tố minh đường và núi áp kề hợp với quan niệm vôsinh của nhà Phật Còn thể hiện ở chỗ chùa cần chỗ yên tĩnh nhưng chẳng xadân vì Phật là phổ độ chúng sinh Người việt chọn đất ở chùa chẳng phải chỉ
để hướng về cõi hư vô, mà có ý nghĩa là sinh sôi phát triển
Ở Việt Nam do yếu tố nông nghiệp và nhu cầu thờ Phật nên chùa chiềnđược dựng khắp mọi nơi, đồng thời kết hợp với các hoạt động “hoằng pháp”(là các hoạt động tế lễ của các nhà sư), bởi thế không gian nội thất trong chùa
là nơi thiêng liêng, là nơi Phật ngự Nhưng điện thờ Phật không nhất quán xâydựng giống nhau mà nó được biến đổi qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Thời
Lý số lượng tượng Phật được hạn chế, như chỉ thờ các Phật: Thích Ca, A Di
Đà, Di Lặc, một số tượng Bát bộ Kim Cương Ở các sân chùa là các toà tháp
Trang 30nhiều tầng để các pho tượng Phật được đặt ở nền và tầng hai của cây tháp.Sang đời trần Phật giáo phát triển rộng rãi, số tượng Phật được thờ trong chùatăng lên so với thời Lý các cây tháp không còn chỗ để đặt tượng thờ chính,
vì thế dần phải đặt các điện thờ Phật riêng các cây tháp này được xây dựngnhỏ lại để khỏi tốn diện tích nhưng nó mang biểu tượng thiêng liêng về nhữngbậc thang giác ngộ đức độ tu Phật chùa tháp bắt đầu tách riêng ra nay cònthấy rõ ở chùa tháp phổ minh - nam Định, chùa tháp bình sơn - vĩnh phú Ởchùa Phổ minh, ta thấy ngôi tháp cao ngự ở sân, điện thờ Phật nền cao, gồmnhà đại bái và điện thờ ở phía sau đó chính là sự chuyển thể dấu ấn từ thời
lý sang trần sự chuyển thể mang đậm dấu ấn phật pháp
Đến thế kỷ XVI, xã hội phong kiến việt nam dần mất ổn định ngôichùa tách thành những tu viện khép kín, lối kiến trúc thay đổi gỗ lắp gépthành góc thẳng - góc kiến trúc tạo thành những cụm nhà chữ công, chữkhẩu Sang thế kỷ XVII, xuất hiện ngôi chùa “nội công ngoại quốc” như chùabúp tháp (bắc ninh) Trong mỗi không gian đó là điện thờ Phật ở trung tâmchính giữa
Khác với miền bắc thì ở miền trung vào thế kỷ XVII - XVIII do ảnhhưởng của đạo bà la môn với quan niệm là đất vuông nên chùa chiền đượcxây dựng theo lối chữ khẩu Bốn toà nhà bao quanh sân ở giữa như chùa Thậppháp - bình Định Còn ở chùa Thiên mụ (huế) do ảnh hưởng của Đạo giáo,toà chính điện thường bố trí hình vuông, phía trước thờ Phật phía sau thờ tổ.Chùa một cột bên trong là hình vuông (ao thiêng) bao quanh bên ngoài là hìnhtròn (viên trì) có bốn lối đi thể hiện sự hoà hợp thiêng liêng giữa đất và trời(tròn và vuông), cột ở dưới bên trên chùa lại hình vuông - tức là âmdương( lửa - nước) giống như triết lý sinh sôi phát triển
Không gian thiêng ở các ngôi chùa như này còn được thể hiện ở gácchuông tiếng chuông thể hiện cho lời dạy của đức phật với chúng sinh.Trong mỗi ngôi chùa thường bố trí gác chuông ở trên cao để có thể mang lờidạy của đức phật từ bi đến khắp mọi nơi Trong các ngôi chùa “nội công
Trang 31ngoại quốc” theo kiến trúc gỗ cổ của người việt, chùa bao giờ cũng tạo bốnmái, hai mái chính, hai mái chái Cùng với ý nghĩa tăng diện tích sử dụng vàmát mẻ, còn có ý nghĩa thiêng liêng triết học Nếu một tầng bốn mái “tứtượng”, thêm một nóc nữa là ngũ hành Sự thiêng liêng của mỗi gác chuông làchiều thu không ở những làng quê yên tĩnh, 108 tiến chuông thong thả, ngânnga xua đi sự buồn phiền của con người Mà theo quan niệm của phật giáo,phiền não của con người luôn theo ba kiếp: quá khứ, hiện tại, tương lai, do bacái dục (ái dục về tính dục, ái dục về hưởng thụ vật chất, ái dục về khoái lạctinh thần), gắn với lục căn về (mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, ý thức), cộng với lụctrần (sắc, hương, vị, xúc, thanh, pháp) mọi tồn tại gắn với con nguời, mà ra
108 điều phiền não ( lục căn cộng với lục trần nhân với ba kiếp nhân tiếp với
ba ái dục) Theo quan niệm của triết học phương đông thì số 108 cộng lại lại
là số 9 ( 12 lần của số 9) số 9 là số dương, số 12 cộng lại là số 3 đủ âm dươngbiến hoá Tam quan của mỗi ngôi chùa là sự khởi đầu cho chúng sinh vào vớicõi Phật Tam quan có ba cửa: giới, định, tuệ (giới luật, kiên định, sáng suốt)hoặc là ba cửa: khổ (khổ cực), vô thường (sự biến đổi không ngừng của sựvật), vô ngã (không có cái tôi) Tam quan đối với con mắt người thường chỉ làcái cổng chùa nhưng trong con mắt nhà tu hành nó là ranh giới giữa cõi thiêng
và cõi tục, là ngưõng cửa siêu thoát, là phương châm tu hành, gắn bó với trọncuộc đời của các nhà tu hành cho đến lúc về thế giới bên kia
Không gian thiêng trong chùa không những thể hiện ở cõi Phật, mà cònthể hiện ở các tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt (nhà tổ) Phật giáokhông hề nhắc đến thờ cúng tổ tiên nhưng thực tế cuộc sống thực tế tâm linhcủa người Việt, thờ cúng tổ tiên vừa là đạo lý uống nước nhớ nguồn, vừa làmột tín ngưỡng sâu đậm Cũng từ thực tế này mà dẫn đến nhiều nhà tu hành
đã vào chùa để thoát ly cõi tục, nhưng lại phấn đấu trở thành sư tổ, để khi tịch
có bát hương thờ trong nhà tổ, và cũng phải cúng giỗ tổ tiên trên chùa, ( điềunày cũng lý giải cho vấn đề tại sao chúng sinh lại hướng về cõi phật nhiềunhư thế)
Trang 32Vào thế kỷ XVI – XVII, khi xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn khủnghoảng trầm trọng, Nho - Phật – Lão không còn tạo niềm tin như trước nữa,người Việt đã đi tìm cho mình những chân lý thiêng để thờ cúng và sùng bái,con người đã trở về với nguồn gốc của mình, chính là hình tượng mẹ Cộngthêm yếu tố nông nghiệp, sông nước gắn với tính nữ vì thế không gian trongcác ngôi chùa cổ thường được kết hợp với các tín ngưỡng thờ cúng: Phật,Mẫu , thờ thổ công , thành hoàng làng Không gian trong chùa khôngnhững thể hiện ở lối kiến trúc “nội công ngoại quốc”, mà còn ở lối kiến trúc
“chữ tam” Điều này đã thấy ngay từ thời Lý, ở dấu tích chùa Long Khám,chùa Phật Tích (Tiên Sơn, Bắc Ninh), trên nền chùa ở sườn núi còn rõ ba cấpnền chính Hoặc như chùa Thầy (Hà Tây) thời vua Lý Thần Tông, vẫn còn rõ
ba lớp kiến trúc ở trục chính: hạ, trung, thượng điện, (theo nhà Phật là : tamthế, tam thần, tam bảo) Tường chùa thường trổ những cửa sổ hình tròn, nửakín nửa hở, nối tiếp nhau gây ấn tượng về sắc sắc không không, luân hồi biếnchuyển của nhà Phật mái chùa, dưới lớp ngói lợp là lớp ngói lót được nhuộmthành nhiều màu sắc khác nhau Đó là sự thể hiện tấm áo cà sa (nhiều hạtcát) của nhà tu hành đạo Phật, do nhiều mảnh vải hợp thành
Gắn với không gian linh thiêng của chùa là thể hiện không khí của lễhội chùa (nhất là vào thời trần khi phật giáo đang trong thời kỳ hưng thịnh)như ở chùa Dâu, chùa Ninh Hiệp (bắc ninh), chùa Keo (thái bình) sựthiêng liêng của lễ hội chùa gắn với Phật là những ngày lễ vu lan, Phật Đản,
lễ cầu siêu cho vong hồn tử sĩ, lễ hội gắn liền với sinh hoạt văn hoá cũng nhưcác tín ngưỡng khác của người dân việt
như vậy không gian chùa chiền là nơi thể hiện không gian tâm linh củađạo phật, gắn liền với những tín ngưỡng dân gian của người việt tạo nên một
hệ sắc thái đa dạng của ngôi chùa
1.3.2.Biểu tượng thiêng của phật giáo
biểu tượng thiêng ở đây thể hiện ở những pho tượng đặt trong chùa bapho tượng đặt ở nơi cao nhất, đại diện cho ba nghìn trụ diệu Phật (biểu hiện
Trang 33qua triết lý thời gian đó là quá khứ, tương lai, hiện tại ) gọi là bộ tượng tamthế qua mỗi dáng điệu cử chỉ của mỗi pho tượng nói lên những lý giải chotrí tuệ sáng suốt, nguồn gốc của nỗi khổ đau Ở trước ngực phật, các nhàđiêu khắc còn tao ra hình tượng chữ “ vạn” (mặt trời) ý nói đây là ánh sáng trítuệ được toả ra từ đấng quyền uy Thờ triết lý vô thường, còn được thể hiệnmột lần nữa ở việc bố trí tượng thờ theo hình dọc điện thờ: lớp tượng A di Đàtam tôn - phật ở quá khứ Lớp tượng Thích ca niêm hoa - Phật hiện tại Lớptượng di lặc - Phật tương lai
Tượng a di Đà trên đỉnh đầu cũng có nhục kháo, tóc xoăn, ngực có chữvạn, kích thước thường to lớn hơn, để gây ấn tượng về thế lực siêu linh Ýtưởng đó còn được thể hiện một bên có tượng thế Âm bồ tát, vị phật thấuhiểu mọi tiếng kêu than của chúng sinh Tượng thể hiện: tay trái bưng bìnhcam lộ, tay phải cầm cành dương liễu, vẩy nước thánh tẩy sạch mọi bụi trần,nỗi khổ chúng sinh một bên có tượng thế chí bồ tát, hai tay bưng bộ kinhphật, thể hiện chí nguyện lớn lao theo phật cứu đời Hai bên tưọng thích cathuyết pháp là các ngài Ca diếp và Ana, những đệ tử đắc lực khi phật cònsống, nhằm nhắc lại sự tích về phật
Xuống đến lớp tượng Di lặc, một vị đầu trọc bụng phệ, vẻ mặt tươicười nhằm gây ấn tượng về sự sung sướng nơi cõi phật ở tương lai Hai bêntưọng di lặc có tượng Văn Thù Đại Hành Bồ Tát, nói về đức hạnh lớn lao củaPhật cứu đời kết hợp với không gian thờ phật là những bức hoành phi, ýmuốn gửi tới chúng sinh ý niệm về sự thiêng liêng của đấng tối cao - phật là
sự giác ngộ trong lòng mỗi người
Tiếp đến là tượng tuyết sơn (khổ hạnh - thể hiện sự tích của đức phật),ghi nhớ thời kỳ trung niên của đức Phật Tượng thích ca nhập Niết Bàn, ghinhớ ngày đức phật qua đời Ở bất kỳ chùa nào cũng thờ bức tượng Tuyết Sơnthời sơ sinh trong gian thờ đức phật thích ca có những bức hoành phi
“pháp âm phổ bị”( tiếng giảng của kinh phật, phổ biến rộng rãi), “y chínhtrang nghiêm” (muôn cảnh con người, vạn vật đều do ý báo, chính báo mà
Trang 34thành), những điều nói về nhịp sống nhà chuà, tụng kinh niệm phật, luân hồi ybáo mà phật đã dạy) việc thờ những sự tích của phật, có ý nghĩa là ghi nhớcông ơn của đức phật
kết hợp với thờ các biểu tượng nhằm nổi bật những giá trị chân thiện mỹcho con người, đó là việc thờ các quan Âm tượng quan Âm thiên thủ thiênnhãn, nghìn mắt nghìn tay (quan Âm nam hải) tại chùa bút tháp - bắcninh, được xây dựng vào 1656, trong lúc chúng sinh vô cùng đói khổ phậtvừa mang tính huyền thoại vừa mang ý nghĩa hiện thực tương truyền bà làcon gái của vua thủy tề, đã hiến đôi mắt, đôi tay của mình làm thuốc chữabệnh cho chúng sinh qua khỏi dịch bệnh, được hoá thân thành phật với nghìnmắt nghìn tay, để bà thấu hiểu nỗi khổ của chúng sinh nghìn lần hơn nữa Photượng thể hiện nhiều đầu, ba mặt chồng lên nhau là thể hiện cho “tam giáođồng tôn” cũng có sự tích kể rằng, do sự cứu khổ cho chúng sinh, sự nungnấu với đời mà đầu đã vỡ ra hàng trăm mảnh Phật đã dùng pháp lực hoánhững mảnh đầu vỡ thành những cái đầu hoàn chỉnh, để bà có thể suy nghĩcứu đời được nhiều hơn nữa tượng được bố trí trên toà sen, xung quanh cónhiều tôm cá, ấy là thể hiện con vua Thuỷ Tề vượt sóng trùng dương
lớp tượng Quan Âm tòng Tử, (sự tích nàng Quan Âm Thị Kính), photượng thể hiện người phụ nữ trẻ đẹp bế đứa con có con chim vẹt đậu trên vai.thờ trong chính điện, nó mang ý nghiã phê phán hiện thực, tạo nên giá trị vềnét đẹp đức hạnh của người phụ nữ Một hiện tượng khác gắn với quan niệmsinh tử của cuộc đời con người, ấy là thập điện dương vương, 10 pho tượngthể hiện 10 ông già râu dài, bố trí ngồi trên bục hai thành lang thượng điện.làm nhiệm cai quản và chuyển kiếp cho người chết qua 10 địa ngục NgườiViệt Nam lấy việc thờ phật để dấy lên đức nhân đức nghĩa, một đạo lý làmngười được người dân việt nam nuôi dưỡng Đồng thời nó còn có ý nghĩađộng viên con người khi còn sống làm điều thiện thì sẽ gặp may, khi xuốngcõi âm phủ được siêu thoát
Trang 35Từ điện thờ chính toả ra hai bên nhà đại bái, hình ảnh hai ông hộ pháp(khuyến thiện, trừng ác), cao to tay cầm đại đao ngồi trên lưng sư tử, nói lênsức mạnh to lớn bảo vệ Phật pháp Ngoài hai ông hộ pháp còn thờ cả bát bộKim Cương bảo vệ vòng ngoài, có ý nghĩa về sức mạnh to lớn kiên định trướcmọi dục vọng của cuộc sống con người hai bên hành lang là các vị la hánvới nhiều tư thế, khuôn mặt, hình dáng khác nhau, đó là sự thể hiện sự gần gũivới chúng sinh.
Với tín ngưỡng đa thần hay còn gọi là tính “vô tôn giáo”, việc đưa nhiềucác tín ngưỡng vào thờ ở trong chùa của người dân Việt đã tạo nên “tiền Thầnhậu Phật” như chùa keo (thái bình), chùa quán sứ (hà nội) - thờ thầnnguyễn minh không, chùa láng (hà nội ), chùa thầy (hà tây) - thờ sư từĐạo hạnh sự thờ cúng thần linh, làm cho các lễ hội chùa phong phú hơn.tượng phật trên chùa, đứng hay ngồi tuỳ thuộc theo mối quan hệ, sự tích mỗi vị,nhưng để biểu hiện pháp lực thiêng liêng là ở sự ấn kết Điều này bắt nguồn từPhật giáo Mật Tông (tu luyện bí mật, dùng pháp ấn để xua đuổi tà lực)
Sự thiêng liêng về Phật còn ở chỗ làm đẹp cho phật, bởi mũ áo sangtrọng, vàng son lộng lẫy Đó là cái đẹp truyền thống của người Việt xưa Một
sự thể hiện của biểu tượng thiêng nữa là việc tạo bệ để Phật ngự Ở thời lý trần có bệ đá để Phật ngự, bốn góc có chim thần Garuda bay lên nâng đỡ(ảnh hưởng của thần thoại Ấn Độ) - chùa thầy (hà tây), hoặc có tượng sư tử
-đá nằm phục, trên lưng đặt đài sen cho Phật ngự, ý nói về sức mạnh to lớn củaphật
Trong các ngôi chùa, tháp là biểu tượng thiêng liêng về phật Thời Lý sửchép tháp Báo Thiên, tháp Chương Sơn, tháp Lãm Sơn, tháp Long Đội cao 13tầng, ấy là ý niệm về chứng quả cao nhất về tu Phật Về cây tháp, còn có thápPhật Tịnh Độ tông cao nhất 9 tầng gọi là cửu phẩm vãng sinh như ở chùaLiên Phái (phố Bạch Mai - Hà Nội) Tu theo Phật Tịnh Độ tông đắc quả, khichết dự vào hàng hạ sinh là thấp nhất, cao hơn là hàng trung sinh, hàngthượng sinh là thành Phật Sang thời Lý Trần thì tháp mới thực sự trở thành
Trang 36biểu tượng thiêng về Phật Biểu hiện rõ nhất là một bàn tay tượng nghìn mắtnghìn tay mang cây tháp, trang trí trên gạch có hình cây tháp, ấy là biểu hiện
về đức phật do thời gian, chiến tranh nên có nhiều tượng bằng gỗ bị mọt,bằng đất thì rã rời ra, người ta xây tháp cũng chôn cất những thứ ấy, coi nhưsương cốt của đức phật - chùa bà Đá, hà nội Đối với các nhà tu hành câytháp thiêng liêng như mộ tổ ngoài trời
3.1.3 Ý niệm thiêng của phật giáo
Bàn về ý niệm thiêng của phật giáo, có thể phân ra ở hai cấp độ (nhà tuhành và đại chúng sinh) Đối với các nhà đại tu hành đạo phật, đây là niềm tintôn giáo niềm tin khiến cho các nhà tu hành tự nguyện theo triết lý “tứ diệuđế” cho cuộc đời là “nhân sinh đa khổ”, nguyên nhân của nỗi khổ là do sựthiếu minh mẫn sáng suốt, lại để sự sinh tiếp diễn muốn chấm dứt nỗi khổ thìphải không tiếp diễn sự sinh Đối với các nhà tu hành, là sự chấm dứt vớicuộc đời thực bên ngoài đầy dục vọng vào chùa để tu luyện theo con đườngcủa “bát chính đạo”, ăn chay niệm phật để thoát khỏi vòng luân hồi sinh tửcủa cuộc sống nhân gian Để thực hiện triết lý “sinh ký tử quy” cầu về cáichết siêu thoát lên cõi niết bàn cực lạc vô sinh, vô tử niềm tin ấy cũng đượcthể hiện trong các ngay lễ hội hàng năm
Tháng sáu: Ngày 19 lễ Quan Thế Âm bồ tát
Tháng bảy: Ngày 13 lễ ngài Đại Thế Chí bồ tát, ngày 15 lễ Vu Lanbồn, ngày 30 lễ ngài Đại Tạng bồ tát
Tháng chín: Ngày 19 lễ Quan Thế Âm bồ tát, ngày 30 lễ đức PhậtDược sư
Trang 37Tháng mười một: Ngày 17 lễ đức Phật A Di Đà.
Tháng chạp: Ngày 18 lễ đức Thích Ca thành đạo
Mỗi ngôi chùa là một không gian thiêng, một điểm tựa vật chất, tinhthần cho nhịp sống của biết bao các nhà tu hành đạo Phật, thanh thản về nơitĩnh mịch
Đối với tâm thức người dân thì đức Phật hay các ngôi chùa là nơi gửigắm niềm tin lẽ sống, về sự sống và cái chết Niềm tin vào thuyết “vô tạogiả”- không có thần linh nào sáng tạo ra con người và muôn vật Hay thuyết
“vô thường” - vạn vật không đứng im tại chỗ mà luôn biến đổi không ngừng.Khẳng định, đề cao thế mạnh của con người con người, muốn thoát khỏi cảnhkhổ đau thì phải tự mình đứng lên giải thoát cho mình Lẽ sống ấy là ở chỗvào những ngày rằm mồng một người Việt Nam thường hướng về Phật hay tổtiên mình bằng cách thắp hương để tưởng nhớ đến công lao Và để cầu mongnhững điều may mắn cho gia đình Lễ phật như vậy còn tu Phật thì ngày xưa,người Việt có câu “thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa” Cuộcsống đời thường, với bao nhiêu điều cám dỗ, tự tu cho bản thân mình cũngnhư làm phúc cho gia đình, đó mới là điều đáng nói Tu tại tâm đó là cáchhiểu của dòng tu Phật giáo Đại Thừa, được nhân dân đa số hưởng ứng, theoPhật mà chẳng quên nhân đạo, thiện mỹ, cũng từ thuyết nhân quả “ở hiền gặplành” “ác giả ác báo”, “đời cha ăn mặn đời con khát nước” từ những điềutuởng chừng như đơn giản nhưng nó lại mang ý nghĩa vô cùng lớn lao đối vớingưòi tu hành cũng như chúng sinh
Vào những những ngày rằm hàng năm, cứ đến tháng bảy thường đượcdiễn lại vào lễ chúc thực trong đám tang Ngài Mục Liên báo hiếu cho mẹ cócảnh đọc kinh “ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao, dục báo chi đức, hạo thiênvõng cực” (khóc thương cha mẹ, sinh ta công lớn cù lao, mong báo đức hiếu,lưới trời lồng lộng không giới hạn ) Đó là những lẽ sống hay, nhưng cũng cónhững lẽ sống không hay từ Phật giáo Đó là định mệnh nghiệp kiếp (tiếngphạn là Karma – là phận riêng mỗi người đã có từ khi mới sinh ra Kiếp bao
Trang 38hàm nghiệp trong đó, cùng thời gian sống của một sinh vật), khiến cho conngười dễ yên phận, dễ cam chụi nhẫn nhục, không khuyến khích con ngườivươn lên sáng tạo
Còn về sự chết thì Phật giáo thật sự làm cho người Việt lâu nay “an tâmvới cái chết về mặt tâm lý” Chết đầu thai sinh kiếp khác sớm hay muộn là docuộc sống hôm nay quyết định Quan niệm cái chết của Phật giáo (ảnh hưởngcủa đạo Bà La Môn), đã trở thành tục lệ tang ma thờ cúng người chết củangười Việt từ bao đời cho đến nay Thể hiện ở việc, hình ảnh nhà sư đầu đội
mũ thất Phật, khoác áo Cà sa, tay cầm gậy tính trượng (đầu gậy, mắc 6 cáivòng thể hiện lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn, tịnh tiến, thiền na, bát nhã - thểhiện sức mạnh của pháp lực nhà Phật) Tôn Ngộ Không, Chư Bát Gíới đi hộtống đám tang, thể hiện pháp lực của nhà Phật xua đuổi tà ma Cầu pháp cótreo những dải phướn là Phật dẫn độ vong hồn người chết về nơi an nghỉ, lễđọc Kinh A Di Đà
Như thế về sự chết, trong tâm linh người Việt xưa kia, nhà với chùa gắn
bó thiêng liêng, nhà yên tâm có chùa là điểm tựa cho linh hồn người chết siêuthoát Vốn sống trong nền nông nghiệp truyền thống tự cấp tự túc, nhịp sốnghết chiêm đến mùa, thành quả lao động, sự sống và cái chết có ý nghĩa nhânquả rất lớn Ngôi chùa là nơi lan toả một phần lẽ sống và cái chết của conngười Ngày nay với nhịp sống mới thì những điều may rủi vẫn có thể sảyra Thì sự phục hồi cho những ngôi chùa vẫn còn cần cho những niềm tinnhân quả trong lẽ sống và tang ma cho người chết Bảo tồn những ngôi chùa
là bảo tồn một mảng di sản văn hoá dân tộc Thế nhưng cũng phải thấy ở đóvẫn có những điểm tựa cho tư duy thiếu tiến bộ và khoa học
1.4 Tiểu kết
Như vậy có thể nói Phật giáo đến Việt Nam từ rất sớm tiếp thu và chọnlọc nền Phật giáp của cả Ấn Độ và Trung Hoa, hội tụ cả hai tông phái chínhĐại Thừa và Tiểu Thừa Do ảnh hưởng của nho và lão giáo với nhiều phongtục tập quán và tín ngưỡng dân gian, một sự tiếp thu có chọn lọc, Phật giáo
Trang 39mang nhiều sắc thái hợp với ý chí và nguyện vọng của người dân Việt Trảiqua bề dày gần 20 thế kỷ, Phật giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếpnghĩ, lối sống của dân tộc Việt Nam và đã trở thành bản chất và bản sắc củadân tộc Việt Nam Trong bài xã luận của tạp chí Phật giáo Việt Nam đã viết:
"Trong tâm hồn dân tộc Việt Nam thật đã sẵn có mầm mống tinh thần Phậtgiáo Hèn gì mà Đạo Phật với dân tộc Việt Nam trong gần hai ngàn năm nay,bao giờ cũng theo nhau như bóng với hình trong cuộc sinh hoạt toàn cầu Đã
là viên đá nền tảng cho văn hóa dân tộc, cố nhiên Phật giáo Việt Nam vĩnhviễn phải là một yếu tố bất ly của cuộc sống toàn diện Ngày nay những hàonhoáng của một nền văn minh vật chất đã làm mờ mắt một số đông người,nhưng cơ bản của nền văn hóa dân tộc đang còn bền chặt, khiến cho ngườiViệt Nam dù có bị lôi cuốn phần nào trong một thời gian, rồi cũng hồi đầu trởlại với cội nguồn yêu dấu ngàn xưa Thật vậy, Đạo Phật đã ảnh hưởng đếnmọi sinh hoạt của người Việt từ triết lý, tư tưởng, đạo đức, văn học, nghệthuật cho đến phong tục tập quán, nếp sống nếp nghĩ ”
Tìm hiểu và nghiên cứu về "Sự ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sốngngười Việt", chúng ta càng thấy rõ nhận định trên Từ quan niệm nhân sinhquan, thế giới quan, đạo lý, thẩm mỹ cho đến lời ăn tiếng nói của quảng đạiquần chúng ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của triết lý và tư tưởng Phật giáo.Những câu nói đầu lưỡi "ở hiền gặp lành", "tội nghiệp", "hằng hà sa số", Làđiều phổ biến trong quan hệ ứng xử giữa mọi người, các ngày đại lễ Phậtgiáo, ngày rằm, mùng một hay lễ tết dân tộc mọi người dân dù bận rộn đếnmấy cũng vài lần trong đời đến viếng cảnh chùa để chiêm bái chư Phật, chungvui lễ hội hoặc để gần gũi, tìm hiểu những di tích lịch sử văn hóa của dân tộc.Chùa làng một thời đã đóng vai trò trung tâm trong sinh hoạt văn hóa tinhthần cộng đồng làng xã của người Nếu không có những hoạt động Phật giáolịch đại thì chúng ta sẽ mất đi hơn nửa số di tích và danh lam thắng cảnh màhiện nay ta tự hào Tại sao Phật giáo đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong tâmhồn, tình cảm, trong phong tục tập quán và cảnh quan của dân tộc Việt Nam
Trang 40như vậy? Nhìn lại lịch sử và văn hóa dân tộc, ta thấy rằng ngay từ những thế
kỷ đầu công nguyên Phật giáo đã truyền vào Việt Nam và tư tưởng, triết họcPhật giáo có nhiều điểm phù hợp với tâm tư, tình cảm, đạo lý dân tộc nên đãđược người Việt Nam nhanh chóng tiếp nhận và dung hòa Qua quá trình lịch
sử, trải qua bao cuộc biến đổi thăng trầm của đất nước, Phật giáo đã khẳngđịnh mình và có một chỗ đứng vững chắc trong lòng của dân tộc, tồn tại vàphát triển cùng với dân tộc Rõ ràng Phật giáo đã đóng góp cho dân tộc tanhiều thành tựu đáng kể về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Lịch sử đãchứng minh những giai đoạn hiểm nghèo của đất nước trước họa xâm lăng,nhiều vị thiền sư Phật giáo, đồng bào Phật tử đã chung lưng đấu cật với dântộc, chống giặc, bảo vệ non sông, tranh đấu cho công bằng và tự do như thiền
sư Khuông Việt, thiền sư Vạn Hạnh công lao lớn của vua Trần Nhân Tôngđối với đất nước và dân tộc còn đó, tiếng chuông thức tỉnh của Hòa thượngThích Quảng Đức vẫn còn vang vọng đâu đây Phật giáo đã từng đóng mộtvai trò trong việc củng cố tinh thần đoàn kết của toàn dân và đấu tranh bảo vệđất nước Khi đất nước hòa bình, văn hóa và dân tộc có điều kiện phát triển,Phật giáo cũng góp phần không nhỏ làm nên những tinh hoa văn hóa của dântộc Những mái chùa cong vút gần gũi, duyên dáng, những tượng đài Thích
Ca, tượng Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay, các bộ tượng La Hán với nhữngđường nét tinh xảo, sống động dưới con mắt thán phục và cung kính của dukhách quốc tế, những lễ hội rộn ràng, những áng văn chương trác tuyệt Mãi