1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

On thi vao 10 ngu van 9

14 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 28,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp vì là cách nói rất thơ: 79 mùa xuân ấy đã đem lại những mùa xuân cho dân tộc, đất nước VN, đồng thời thể hiện lòng biết ơn ,sự gắn bó của nhân dân đối với B[r]

Trang 1

Hướng dẫn làm một số đề Tập làm văn 9

ĐỀ BÀI SỐ 1: Cảm nhận tinh tế của nhà thơ Hữu Thỉnh trước biến đổi của đất trời lúc sang

thu

1 Mở bài:

Mùa thu là nguồn cảm hứng của các thi nhân từ xưa đến nay, biết bao thi nhân đã gửi gắm lòng mình vào những bài thơ thu và đem đến cho người đọc những cảm xúc tinh tế Mỗi nhà thơ có một cách nhìn, cách cảm nhận khác nhau tạo nên những ấn tượng rất riêng về mùa thu, Hữu Thỉnh là một trong những nhà thơ ấy Với con mắt nghệ sĩ, tâm hồn nhạy cảm, ông đã đem đến cho người đọc một bức tranh sang thu đặc sắc Bài thơ “Sang thu” được sáng tác năm

1977 in trong tập “Từ chiến hào đến thành phố” Đọc bài thơ, ta cảm nhận được bức tranh

mùa thu qua những giây phút giao mùa cuối hạ sang thu qua cảm nhận tinh tế, hình ảnh thơ tiêu biểu, gợi cảm và các BPNT đặc sắc

2 Thân bài:

* Giới thiệu khái quát: Bài thơ gồm có 3 khổ, mỗi khổ có 4 dòng thơ ngũ ngôn Với các hình

ảnh tự nhiên giàu sức gợi, “Sang thu” là những cảm nhận tinh tế đến vô cùng của nhà thơ

trước khoảnh khắc giao mùa, từ đó bộc lộ một t/y thiên nhiên tha thiết

* Phân tích:

Luận điểm 1: Cảm nhận về những tín hiệu đầu tiên của mùa thu đến đột ngột, bất ngờ: “Bỗng

nhận ra hương ổi – Phả vào trong gió se” Đây là sự cảm nhận rất độc đáo, rất riêng của HT.

Nhà thơ cảm nhận mùa thu bằng khứu giác bắt đầu từ một mùi hương “hương ổi” Hương ổi chín thơm lừng phả vào trong những cơn gió se se lạnh mà ông đột ngột nhận ra Từ “Bỗng” trong câu thơ cho ta thấy một cảm giác bất ngờ, đột ngột đến độ ngạc nhiên Động từ “phả” vừa gợi cảm giác bất chợt vừa gợi sự vận động nhẹ nhàng của làn gió Cái mùi hương đặc trưng của mùa thu từ ổi thơm lừng không gian là hương vị của đồng quê mộc mạc, dân dã cứ

vương vấn mãi Nhà thơ còn cảm nhận được sương thu: “ Sương chùng chình qua ngõ” Lần

này là sự cảm nhận bằng thị giác, chùng chình là từ láy tượng hình cùng NT nhân hoá gợi ra sự lay động của lá cây và những hạt sương mai ướt mềm mại đang giăng giăng qua ngõ nhỏ Mùa

thu đã về có hương ổi, có gió se, có sương thu chùng chình Vậy mà nhà thơ lại hỏi: “Hình

như thu đã về” Mùa thu được cảm nhận bằng lý trí “Hình như” là một chút nghi hoặc, bâng

khuâng, bối rối Mùa thu đến từ bao giờ? Từ hương ổi? Từ gió? Từ sương? Một cảm xúc ngỡ ngàng, bất chợt trong cảm nhận Thu đã về trên quê hương, đó là cảm xúc trong thời điểm giao mùa Chỉ có những con người thực sự yêu mùa thu, gắn bó với quê hương đất nước thì mới có những cảm xúc tinh tế đến vậy

Luận điểm 2: Mùa thu được cảm nhận bằng một không gian rộng lớn hơn, nhiều tầng bậc và

rõ rệt hơn Đó là từ các cảnh vật lúc sang thu Bắt đầu từ dòng sông và những cánh chim trời:

“ Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã”.

Con sông quê hương cũng như đang dềnh dàng chờ nước mùa thu Từ láy “dềnh dàng” và phép nhân hoá đã gợi tả dòng sông mùa thu êm đềm thư thái Con sông quê không còn nước chảy cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa mà trở nên cạn hơn, trong vắt êm đềm trôi Đối lập với con sông quê là những cánh chim trời đang vội vã Mùa thu với những ngọn gió heo may, se lạnh làm chúng phải bay về phương Nam tránh rét Phép nhân hoá và từ láy tượng hình kết hợp cụm

từ “ Bắt đầu vội vã” là những cảm nhận độc đáo chỉ có thể thấy được ở một tâm hồn đa cảm, tinh tế của người nghệ sĩ Tất cả vạn vật như đang hối hả, xôn xao khi mùa thu về.Thu đã về trên bờ đê, ngõ xóm, trên những dòng sông và cả những cánh chim trời đang nhuốm sắc thu Độc đáo nhất là bức tranh thu được cảm nhận từ những áng mây:

“Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu”.

Trang 2

Hữu Thỉnh không tả “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” như thơ của Nguyễn Khuyến mà điểm vào bức tranh thu một chút mây còn vương lại của mùa hạ Đám mây mùa hạ đang vắt nửa mình sang thu Đây là một lối diễn đạt độc đáo Đám mây mang trên mình cả 2 mùa Một nửa

là vẻ đẹp của mùa hạ còn rơi rớt lại, một nửa là vẻ đẹp của mùa thu Đó là cái đẹp rất riêng của phút giao mùa Đám mây vắt nửa mình là hình ảnh nhân hoá Đám mây ấy dài, mỏng, thướt tha, duyên dáng như một dải lụa nằm vắt ngang in trên nền trời, rồi để đến một lúc nào đó trở thành “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”

Hai khổ thơ trên là cảm nhân tinh tế của nhà thơ trong thời khắc giao mùa Nhà thơ đã vẽ nên 1 bức tranh sang thu nông ấm Đó là cảnh sang thu đẹp đến vô cùng, nhẹ nhàng tươi tắn đến lạ

kỳ Các phép nhân hoá, từ láy tượng hình đã đưa ta về với 1 miền quê dân dã mà ấm áp tình người

Luận điểm 3: Mùa thu được cảm nhận bằng những suy ngẫm và trải nghiệm.

Nếu như ở 2 khổ thơ trên là sự cảm nhận mùa thu 1 cách trực tiếp thì ở khổ cuối lại là sự cảm nhận mùa thu bằng lý trí, bằng những suy ngẫm sâu sa:

“Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi”.

Vẫn là những hiện tượng của thời tiết: Mưa, nắng, sấm, chớp, dông, bão của mùa hạ nhưng mức độ đã khác đi nhiều Nắng vẫn còn nhưng không còn gay gắt, chói chang như đổ lửa trên các ngõ xóm, con đường Mưa giảm dần chứ không còn ào ạt, xối xả và bớt chợt như những cơn mưa dông, mưa rào của mùa hạ nữa Sấm cũng đã thưa dần và nhỏ đi chứ không đủ sức lay động những hàng cây sống lâu năm đã già dặn trải qua bao mùa dông bão Đó là những hình ảnh tả thực về hiện tượng của TN, thời tiết, khí hậu lúc giao mùa hạ, thu Ngoài hình ảnh

tả thực, hai câu thơ cuối còn mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc Sấm là hình ảnh tượng trưng cho những bất thường của ngoại cảnh cuộc đời Còn hàng cây đứng tuổi là hình ảnh tượng trưng cho những con người từng trải, có nhiều kinh nghiệm và vốn sống Họ sẽ trở nên bình tĩnh, tự tin, vững vàng, chín chắn hơn trước những tác động bất thường của cuộc đời Bằng hình ảnh tả thực vừa có ý nghĩa tượng trưng, nhà thơ muốn gửi gắm những suy ngẫm, trải nghiệm của mình về con người và cuộc đời

3 Kết bài:

“Sang thu” của Hữu Thỉnh là 1 bài thơ đôc đáo Bài thơ gây hấp dẫn cho chúng ta bằng những

hình ảnh thơ rất tự nhiên, giàu sức gợi Các phép NT nhân hoá, ẩn dụ, tương phản và các từ láy được vận dụng linh hoạt Bằng những cảm nhận tinh tế, Hữu Thỉnh đã đưa ta đến một bức tranh thu vừa đẹp vừa có hồn, vừa gần gũi mà ấm áp, thân thương Đọc “Sang thu” gợi lên trong tâm hồn ta một nét đẹp của quê hương bình dị và ta càng hiểu thêm 1 tâm hồn , 1 cái nhìn tinh tế, 1 t/y thiên nhiên tha thiết của nhà thơ trước thời khắc giao mùa./

ĐỀ BÀI SỐ 2: Phân tích bài thơ “Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương.

1 Mở bài:

Viễn Phương là một nhà thơ chiến sĩ ở miền Nam Ông đã từng làm thơ chúc thọ Bác trong nhà giam của Mỹ nguỵ, từng làm thơ khóc Bác trên chiến trường đánh Mỹ Đến ngày

hoà bình thống nhất đất nước, ông đã dồn hết t/c thành kính với Bác vào bài thơ “Viếng lăng

Bác” Bài thơ được sáng tác năm 1976 trong dịp nhà thơ được ra thăm lăng Bác Bài thơ được

in trong tập thơ “ Như mây mùa xuân” Cả bài thơ là niềm thương nhớ, kính yêu vô hạn của nhà thơ với Bác và nguyện ước tha thiết muốn mãi mãi được ở bên Người

2 Thân bài:

* Khái quát: Mạch cảm xúc của bài thơ được diễn tả theo trình tự thời gian của một chuyến

viếng lăng Với 4 khổ thơ tự do 8 chữ, bài thơ đã diễn tả cảm xúc chân thành, tha thiết, nghẹn ngào của nhà thơ trước sự ra đi mãi mãi của Người

Trang 3

* Phân tích:

Luận điểm 1: Cảm xúc của nhà thơ khi đến thăm lăng Bác.

Mở đầu bài thơ là lời xưng hô: “ Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” Đây là cách xưng hô mang đậm chất Nam Bộ Bao nỗi nhớ, niềm thương bật lên thành tiếng gọi cha trào dâng bao cảm xúc, tình cha con cứ trào dâng mãi Nhà thơ không dùng từ “viếng” như ở đầu đề bài thơ

mà chuyển thành từ “thăm” để làm giảm đi sự đau đớn mà sao vẫn không dấu được nỗi bùi ngùi của cảnh tử biệt sinh ly

Từ xa nhà thơ đã nhìn thấy hình ảnh hàng tre trong sương biết bao thân thuộc:

“Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”.

Hàng tre ẩn hiện trong làn khói sương của quảng trường Ba Đình Đó là màu xanh thân thuộc của làng quê Việt luôn gắn bó với tâm hồn Bác, tâm hồn Người cũng luôn gắn bó với quê hương xứ sở Từ hình ảnh tả thực của cây tre đã được nâng lên thành hình ảnh ẩn dụ “xanh xanh VN” Cây tre bình thường, dung dị trở thành biểu tượng cho phẩm chất cao quí của con người VN: Mộc mạc, dẻo dai, kiên cường, bất khuất Thì ra ở bên Bác vẫn có cả dân tộc VN như đang ở quanh Người Cùng với hình ảnh ẩn dụ là từ cảm “Ôi” được biểu cảm theo lối trực tiếp và điệp từ “xanh” đã thể hiện sự xúc động của nhà thơ khi liên tưởng và tự hào về sức mạnh của dân tộc VN dù trải qua bao “bão táp phong ba” vẫn kiên cường, bất khuất trong suốt bốn ngàn năm lịch sử Nếu ở khổ 1 cảnh vật còn đang trong sương phủ thì lúc này mặt trời đã lên cao Nhà thơ bùi ngùi, xúc động:

“ Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Nhà thơ đã xây dựng 2 hình ảnh mặt trời có kết cấu song song Mặt trời trên lăng là mặt trời của thiên thể ngày ngày đem đến ánh sáng cho muôn loài trên trái đất Đây là hình ảnh tả thực Nhưng nhà thơ còn cảm nhận được một mặt trời rực rỡ hơn Đó là “mặt trời trong lăng” Bằng một hình ảnh ẩn dụ, so sánh độc đáo nhà thơ muốn ca ngợi công lao to lớn trời biển của Bác như vầng thái dương chiếu sáng sưởi ấm trái tim chúng ta Đặc biệt là ở chỗ nhà thơ ví Bác với thiên thể có t/c trường tồn để thể hiện sự ngưỡng mộ,vĩ đại với Người

Hoà vào dòng người vào lăng viếng Bác, nhà thơ đã có sự liên tưởng:

“ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bẩy mươi chín mùa xuân”.

Hai câu thơ với 2 hình ảnh ẩn dụ và cũng là hình ảnh tả thực: Nhìn dòng người vào lăng viếng Bác nhà thơ liên tưởng tới những tràng hoa kết thành vòng, chuỗi để dâng lên một cuộc đời 79 mùa xuân Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp vì là cách nói rất thơ: 79 mùa xuân ấy đã đem lại những mùa xuân cho dân tộc, đất nước VN, đồng thời thể hiện lòng biết ơn ,sự gắn bó của nhân dân đối với Bác

Bốn câu thơ với 2 hình ảnh tả thực và 2 hình ảnh ẩn dụ được kết cấu song song, điệp từ “ngày” được láy lại tạo nên cảm xúc về một cõi trường sinh bất tử, thể hiện lòng thương tiếc vô hạn,

sự biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với Bác

Luận điểm 2 : Cảm xúc của nhà thơ khi ở trong lăng Bác.

Vào lăng viếng Bác, nhà thơ nâng niu, trân trọng giấc ngủ của Người bởi “Trọn cuộc đời Bác

có ngủ yên đâu” Hình ảnh Bác yên nghỉ trong lăng được nhà thơ cảm nhận và diễn tả thật giản dị:

“Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”

Bác đã nhẹ nhàng đi vào cõi vĩnh hằng vô tận trong một giấc ngủ êm đềm, yên bình thanh thản Đó là giấc ngủ của một con người mà trọn cuộc đời đấu tranh cho độc lập tự do Bác như vừa chợp mắt trong ánh sáng dịu dàng của vần trăng ôm ấp, che chở Đó là vẻ đẹp nên thơ, Người đã hoà nhập vào TN vũ trụ bởi sinh thời Người rất yêu trăng, trăng là người bạn tâm giao tri kỷ của Người Nếu ở trên kia ta thấy mặt trời thì nay trong lăng ta gặp lại ánh trăng

Trang 4

Trăng từ thơ Bác đã theo Người vào giấc ngủ hiền hoà Tâm hồn người luôn gắn bó, giao cảm với TN cao rộng, thích hợp với tầm vóc lãnh tụ vĩ đại Có lẽ đây cũng là một trong những nét đẹp nhất của bài thơ này

Ngắm nhìn Bác, nhà thơ vô cùng xúc động:

“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim”.

“Trời xanh” là một hình ảnh ẩn dụ Vẫn biết con người sinh ra là phải tuân theo qui luật của tạo hoá: Sinh, lão, bệnh, tử nhưng nhà thơ vẫn không khỏi bàng hoàng, thảng thốt, xót xa trước một sự thực đau lòng, phũ phàng trước sự ra đi mãi mãi của Người “Nghe nhói” là một nỗi đau đớn khôn cùng bởi cảm nhận ra cái bất tử của Bác càng lớn thì nỗi đau mất Bác càng lớn lao khiến câu thơ như một tiếng nấc nghẹn ngào!Ta thấy 1 sự mâu thuẫn giữa lý trí và t/c trong tâm hồn nhà thơ Qua đó làm nổi bật sự xót thương vô hạn của cả DT trước sự ra đi mãi mãi của Người

Luận điểm 3: Cảm xúc của nhà thơ khi rời lăng Bác.

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”

Câu thơ nhắc đến thì gian Thời gian như đang trôi nhanh hơn bởi sự chia ly đang đến gần Giá

có thể làm cho TG ngừng trôi? T/c da diết, xúc động bị dồn nén; nỗi nhớ thương khôn nguôi trước giờ phút chia tay như vỡ oà khiến nhà thơ trào dâng nước mắt Cảm xúc mãnh liệt, t/c

dồn nén bấy lâu khiến nhà thơ nảy sinh bao ước muốn: “Muốn làm con chim hót

quanh lăng Bác

Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

Điệp ngữ “Muốn” được nhắc lại 3 lần kết hợp với nhịp thơ dồn dập đã khảng định nguyện ước thật chân thành Nhà thơ muốn được hoá thân thành con chim để cất những tiếng ca véo von quanh lăng; Muốn được làm đoá hoa rực rỡ muôn sắc màu để toả hương thơm ngát dâng lên Bác và muốn làm cây tre trung hiếu để canh gữi giấc ngủ cho Người Đó là một sự hoá thân

thật kỳ diệu đươc thể hiện qua những h/a thơ đẹp, ý thơ sâu lắng Các hình ảnh “con chim, đoá

hoa, cây tre” là những hình ảnh ẩn dụ, nhân hoá rất độc đáo Đặc biệt là hình ảnh cây tre trung

hiếu đã thể hiện nguyện ước được sống dâng hiến và lòng trung thành vơí lý tưởng của tác giả Khổ cuối gợi ra 1 sự xa cách về không gian nhưng lại vô cùng gần gũi về t/c Đó là tâm trạng xúc động, tình cảm nhớ thương, lòng kính yêu vô hạn, lưu luyến ngậm ngùi mong mãi mãi được ở bên Bác Bài thơ khép lại nhưng dư âm của nó còn vang vọng mãi, nhắc nhở ta không bao giờ được quên công lao trời biển của Bác và sống, học tập theo tấm gương đạo đức của Người

3 Kết bài:

“Viếng lăng Bác” là một bài thơ hay, đặc sắc với giọng điệu thành kính, trang nghiêm của thể

thơ 8 chữ tự do, nhịp điệu chậm, khi thì sâu lắng, lúc lại thiết tha Các phép ẩn dụ, nhân hoá, điệp ngữ được vận dụng sáng tạo Bài thơ là tấm lòng yêu kính, biết ơn vô hạn của nhà thơ nói riêng và của đồng bào miền Nam nói chung đối với Bác Có thể nói bài thơ như một nén hương trầm thơm ngát của Viễn Phương thành kính dâng lên Bác Đọc bài thơ, em luôn ghi nhớ và làm theo 5 lời Bác dạy, cố gắng phấn đấu tốt để trở thành chủ nhân tương lai của đất nướcẫmứng đáng là con ngoan trò giỏi , cháu ngoan Bác Hồ, học tập và rèn luyện theo tấm gương đạo đức của Người

………

ĐỀ BÀI SỐ 3: Phân tích vẻ đẹp của tình cha con trong bài thơ “ Nói với con” của nhà thơ Y

Phương.

1 Mở bài:

C1

: “ Quê hương là gì hở mẹ?

Mà cô giáo dạy phải yêu

Quê hương là gì hở mẹ?

Trang 5

Mà ai đi xa cũng nhớ nhiều”

Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã diễn tả t/y quê hương của mình bằng những vần thơ thật giản dị Quả thật ai cũng có một quê hương nơi đón nhận tiếng khóc chào đời Viết về quê hương, mỗi nhà thơ có một cách thể hiện khác nhau Nếu như với Đỗ Trung Quân là chiếc cầu tre nhỏ, với

Tế Hanh là chiếc buồm vôi, là “mùi nồng mặn quá” thì nhà thơ Y Phương lại biểu lộ t/y và niềm tự hào về quê hương qua lời tâm sự vói con Bài thơ “ Nói với con” được in trong “Thơ Việt Nam 1945 – 1985” là tiếng lòng của một tấm hồn chân thật, mạnh mẽ, trong sáng của người cha dành cho con Qua đó, thể hiện t/y quê hương thắm thiết và diễn tả niềm tự hào về cội nguồn dân tộc

C2: Trong thành tựu của VH hiện đại VN từ sau CMT8 có đóng góp không nhỏ của thơ ca các

dân tộc anh em như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn Y Phương là một trong những nhà thơ tiêu biểu sau này Y Phương là nhà thơ dân tộc tày, thơ ông giàu chất suy tư, trải nghiệm về lẽ sống, đạo lý làm người, gắn bó với quê hương đất nước Tiêu biểu là bài thơ “Nói với con” được in trong “Thơ Việt Nam 1945 – 1985” Bằng giọng thơ tâm tình, tha thiết, trìu mến, hình ảnh thơ chân thực bài thơ là tiếng lòng của một tâm hồn chân thật, mạnh mẽ, trong sáng của người cha dành cho con Qua đó, thể hiện t/y quê hương thắm thiết và diễn tả niềm tự hào về cội nguồn dân tộc

2 Thân bài:

* Khái quát: Mượn lời người cha nói với con bài thơ đã bộc lộ niềm tự hào về sức sống mạnh

mẽ của quê hương, dân tộc với cách tư duy độc đáo, giàu hình ảnh cụ thể mang phong cách của người dân miền núi – “Nói với con” là khúc tâm tình của người cha dặn dò con Qua đó bộc lộ tình yêu thương con và mong ước thế hệ can cái sau này sẽ phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông

Luận điểm 1: Tình yêu thương của cha mẹ, sự đùm bọc của quê hương đối với con ( Cội

nguồn của hạnh phúc con người chính là gia đình và quê hương)

+ Mở đầu bài thơ, tác giả đã tái hiện và gợi tả khung cảnh một gia đình đầm ấm:

“ Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai tiếng tới tiếng cười”.

Đây là một hình ảnh cụ thể về 1 mái ấm gia đình quen thuộc tràn đầy yêu thương hạnh phúc trong sự chăm chút cho con Phép liệt kê “ Chân phải, chân trái; Một bước, hai bước” đã giúp

ta hình dung một không khí gia đình ấm áp, ngọt ngào, ríu rít, quấn quýt trong từng bước đi, tiếng nói bi bô của con trẻ Con lớn lên trong t/y thương của cha mẹ Tuy tấm lòng cha mẹ có bao dung, yêu thương rộng lớn đến đâu thì với con cũng là chưa đủ Con cần đến bầu sữa tinh thần thứ 2: Đó là quê hương Người cha nói với con về quê hương của mình bằng những h/a

thơ thật giản dị: “ Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát”.

Quê hương trong thơ của Y Phương là “người đồng mình” Đó là cách gọi độc đáo, gần gũi, thân thương về những con người sống trên cùng miền đất, quê hương Người cha đã lý giải với con về những phẩm chất cao quí của người dân quê hương và dạy con yên lấy những gì thân thuộc nhất của người đồng mình Đó là cốt cách tài hoa và tâm hồn trong sáng Dưới bàn tay khéo léo của người đồng mình – những nan nứa, nan tre trở thành những nan hoa tuyệt đẹp Các động từ “ cài, ken” được sử dụng rất uyển chuyển, khéo léo tạo cảm giác quấn quýt, thân thương Vách nhà không chỉ ken bằng gỗ mà còn được ken, cài bằng những câu hát trao duyên tìm bạn của những chàng trai chân chất, mộc mạc Thì ra dưới dáng vẻ thô sơ, mộc mạc ấy là một tâm hồn lãng mạn, lạc quan, yêu đời Có thể nói Y Phương phải là một người yêu quê hương, gắn bó, tự hào về quê hương, dân tộc mình thì mới có được những cảm xúc và diễn tả hay đến vậy

Trang 6

+ Quê hương trong lòng nhà thơ là hình ảnh những con đường nghĩa tình và cảnh TN đẹp đẽ của quê hương: “ Rừng cho hoa - Con đường cho những tấm lòng”

Bằng cách nói nhân hoá “rừng, con đường” kết hợp với điệp từ “cho” đã làm rõ hình ảnh TN của quê hương thật nghĩa tình Rừng không chỉ cho con người lâm sản quí giá mà còn chở che Con đường đâu chỉ đi ngược về xuôi, lên non xuống bể mà còn soi đường mở lối Con đường người cha nói với con trong bài thơ có hai hình ảnh độc đáo Trước hết là con đường đi vào bản làng, đường ra sông, ra suối đến trường Song đằng sau h/a cụ thể ấy là h/a ẩn dụ rất sáng tạo Đó cũng chính là con đường đi tới ước mơ, con đường đi đến mọi chân trời, con đường đi tới tương lai của con

+ Qua lời thơ giản dị người cha muốn nói với con về gia đình, quê hương và khảng định đó cũng là cái nôi nuôi con khôn lớn và nhắc nhở con về ý thức cội nguồn sinh dưỡng:

“ Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”.

Người cha đã nhắc đến kỷ niệm khởi đầu cho hạnh phúc để giúp con vững bước trên con đường tương lai dài rộng

Luận điểm 2: Những pchất cao đẹp của người đồng mình và lời nhắn nhủ con.

+ Y Phương đã vận dụng lối diễn đạt của người dân miền núi với cách nói dân dã, mộc mạc về những phẩm chất cao quý của người dân quê hương Nếu như ở khổ thơ thứ nhất người cha mở

ra cho con những ký ức đẹp đẽ về gia đình, quê hương thì ở khổ thơ thứ 2 người cha đã nhấn mạnh sự gắn bó của con với những con người quê hương Cụm từ “Người đồng mình” được điệp đi, điệp lại:

“ Người đồng mình thương lắm con ơi”

Cách gọi ấy gợi cảm giác thân quen gây 1 ấn tượng sâu sắc về con người quê hương, lời gọi con cất lên thật tha thiết, chân thành “con ơi”

Người cha lần lượt ca ngợi những phẩm chất của người đồng mình với cách nói cụ thể:

“ Cao đo nỗi buồn - Xa nuôi chí lớn”.

Đó là những con người giàu ý chí, nghị lực, luôn luôn vượt lên mọi khó khăn thử thách với bao nỗi buồn, niềm vui của cuộc đời Nhà thơ lấy sự từng trải để đo chiều cao; lấy ý chí để đánh giá sự bền vững Hai câu thơ 4 chữ đăng đối như một câu tục ngữ đúc kết 1 thái độ, 1 phương châm ứng xử cao quý, thể hiện 1 bản lĩnh sống đẹp của người dân tộc Tày

+ Phẩm chất cao đẹp của người đồng mình cứ lần lượt hiện dần lên qua lời tâm tình với con, nhẹ nhàng gieo vào lòng con những cảm xúc chân thành tha thiết Đó là lối sống thuỷ chung tràn đầy niềm tin của người đồng mình:

“Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông, như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc”.

Giọng điệu tâm tình của đoạn thơ đã gieo vào lòng người đọc những cảm xúc trước những lời căn dặn thân thương, tha thiết Đó cũng là ước muốn của người cha dù hoàn cảnh ntn, cuộc sống ra sao, trên đường đời dẫu chiến thắng hay thất bại thì con phải biết chấp nhận và không bao giờ gục ngã Con hãy sống xứng đáng với người đồng mình bởi người đồng mình không bao giờ sợ gian khổ, sợ nghèo đói Sự chấp nhận và đương đầu với gian khổ được thể hiện trong các điệp ngữ “ không chê, không lo” và cũng là lời nhắc nhở chân tình mà cha muốn truyền dạy cho con bài học đạo lý làm người: Con phải biết gắn bó với quê hương xứ sở Ba từ

“sống” được đặt ở dầu câu cùng với phép so sánh đã trở thành lời nhắc nhở con về lẽ sống ở đời Bằng các hình ảnh ẩn dụ, so sánh, thành ngữ dân gian “Lên thác xuống ghềnh” kết hợp các điệp từ “sống” vang lên, đoạn thơ đã khảng định 1 tâm thế, 1 bản lĩnh sống, 1 dáng đứng

Trang 7

của người đồng mình và đó cũng là điều mà người cha hy vọng con hãy sống sao cho xứng đáng với quê hương

+ Phẩm chất cao đẹp của người đồng mình còn được nhà thơ thể hiện bằng cách nói rất cụ thể của bà con dân tộc Tày, không hề biết nói hay, nói khéo:

“ Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”.

Đó là vẻ đẹp của tâm hồn cao thượng, của nhân cách làm người được diễn tả qua cách nói tương phản đối lập giữa hình thức và phẩm chất bên trong Dù mộc mạc, giản dị như cây cỏ thì cũng không được sống tầm thương mà phải ngẩng cao đầu Bộc lộ những suy nghĩ về người dân quê hương, người cha như nhắn nhủ con phải biết gắn bó, qúi trọng nơi sinh thành; trân trọng yêu mến con người quê hương

+ Chính vẻ đẹp ấy mà người đồng mình sống rất thuỷ chung, nhân hậu:

“ Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

Còn quê hương thì làm phong tục”.

Người đồng mình kiên trì, bền bỉ trong công cuộc lao động để vun đắp, xây dựng xóm làng, biết dệt lên những phong tục để tôn vinh quê hương Với cách nói cụ thể “ đục đá kê cao quê hương” - Nhà thơ đã sử dụng h/a ẩn dụ thật đọc đáo để ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của

họ như cần cù, chăm chỉ, chịu khó và ý thức tự tôn dân tộc, ý thức bảo vệ cội nguồn

Có thể nói người cha đã nói với con tất cả những gì tốt đẹp nhất của con người quê hương – Cái nôi đã sinh ra con, nuôi con lớn khôn và trưởng thành Một lần nữa quê hương hiện lên như nguồn tiếp sức nhưng không phải là vỗ về, âu yếm giống như thời thơ bé mà giờ đây là lời nhắc nhở con ngẩng cao đầu mà đi

+ Kết thúc bài thơ là lời khuyên con của người cha thật tha thiết, chân thành với tiếng gọi âu yếm:

“ Con ơi!

Tuy thô sơ da thịt

Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được

Nghe con”

Đó cũng là lời căn dặn con không bao giờ được nhỏ bé, tầm thường mà phải biết gữi lấy cái cốt cách giản dị, mộc mạc của người đồng mình Hai tiếng “ Nghe con” là cả 1 tấm lòng mênh mông của người cha Cái điều cha nhắn nhủ thật là ngắn gọn, hàm súc mà sâu sắc biết nhường nào Ta nghe âm vang của nó như có cả mệnh lệnh của trái tim Câu thơ ngắn lại, có câu chỉ có

2 tiếng nhưng lại là sức mạnh của người cha đang tiếp cho con, nhắc nhở con phải khắc cốt ghi tâm để khi con bước trên con đường đời phải biết sống cao thượng, tự trọng, xứng đáng với những phẩm chất cao quí của người đồng mình áng thơ đã giúp ta cảm nhận được vẻ đẹp của tình phụ tử cao quý và sự xúc động trước lời căn dặn yêu thương mà người cha muốn con thấu hiểu

3 Kết bài: “Nói với con” là 1 bài thơ đặc sắc của Y Phương với thể thơ tự do, bằng cách nói

mộc mạc, giàu hình ảnh phóng khoáng vừa cụ thể vừa giàu sức khái quát, các BP điệp từ, điệp ngữ được vận dụng linh hoạt Bài thơ là một điệp khúc về t/y con, t/y quê hương đất nước, đồng thời cũng là điệp khúc về lòng tự hào về những truyền thống cao đẹp của dân tộc Qua bài thơ, ta hiểu thêm về vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của người dân miền núi và ta cũng như đang bắt gặp lại chính làng quê mình, tâm hồn mình Đọc xong bài thơ, một lần nữa ta cúi đầu thành kính nhớ về cội nguồn với những gì thân thương nhất và đem đến cho chúng ta một bài học làm người : “ Không bao giờ được quên đi xứ sở, cội nguồn Đó là sức mạnh, là niềm tự hào của lòng ta”

Trang 8

ĐỀ BÀI SỐ 4: Phân tích bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải.

1 Mở bài:

Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời, người ta thường hay bộc lộ tâm trạng bi quan, chán nản và tuyệt vọng nhưng với nhà thơ Thanh Hải lại khác Bởi trước khi ra đi mãi mãi, ông đã để lại cho đời những vần thơ thiết tha, thanh thản không hề gợn nét u buồn của một một cuộc đời sắp tắt Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác năm 1980 khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh kề cận với cái chết Bài thơ không giống như một lời trăn trối mà

là cảm xúc về một mùa xuân tươi tắn, rộn ràng và ước nguyện chân thành, cao đẹp muốn làm một mùa xuân nho nhỏ để dâng cho cuộc đời

2 Thân bài:

* Khái quát: Với thể thơ 5 chữ, nhịp điệu biến đổi linh hoạt theo mạch cảm xúc, âm hưởng

nhẹ nhàng, tha thiết – Bài thơ là tiếng lòng tha thiết mến yêu và gắn bó với đất nước, cuộc đời

và khát vọng được sống cống hiến, góp một phần nhỏ của mình vào mùa xuân của đất nước, dân tộc

Luận điểm 1: Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân của TN, đất trời, sông núi.

+ Mạch cảm xúc bắt nguồn từ những t/c hồn nhiên, trong trẻo của nhà thơ trước mùa xuân tươi đẹp của xứ Huế:

“Mọc giữa dòng sông xanh

Một bông hoa tím biếc

Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời”.

Bằng 3 nét chấm phá: Dòng sông xanh, bông hoa tím, âm thanh chim chiền chiện nhà thơ đã khắc hoạ cảnh mùa xuân tươi đẹp tràn đầy sức sống Nhà thơ đã vẽ ra một không gian cao rộng với màu sắc tươi thắm của dòng sông xanh, màu tím mộc mạc của bông hoa lục bình và âm thanh vang vọng, tươi vui của tiếng chim hót vang trời Hai câu thơ đầu, ta gặp 1 cách viết rất

lạ Tác giả đảo trật tự cú pháp: ĐT “ Mọc” được đảo lên trước CN, đầu đoạn, đầu bài thơ đã tạo ra ấn tượng đột ngột, bất ngờ, sống động về hình ảnh 1 bông hoa đang từ từ xoè nở trên dòng sông như hiện dần ra trước mắt người đọc Bức tranh xuân không chỉ có màu sắc mà còn

có âm thanh vang vọng đậm chất Huế Nhà thơ dùng từ cảm “ Ơi” ở đầu câu và từ “chi” liền sau ĐT “Hót” là cách nói dịu dàng, trìu mến, yêu thương Bốn câu thơ đầu, cho ta cảm nhận về

1 bức tranh mùa xuân trong sáng, đằm thắm, tươi vui, ấm áp, rộn ràng, náo nức

+ Từ vẻ đẹp của khung cảnh mùa xuân ấy, cảm xúc nhà thơ rạo rực:

“Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng”

Chim chiền chiện là loài chim nhỏ thường bay cao, bay thành đôi mới cất tiếng hót Tiếng hót lảnh lót, trong trẻo như cô đúc thành giọt âm thanh có thể đưa tay ra nhẹ nhàng hứng được Nhà thơ đã khéo léo sử dụng NT ẩn dụ chuyển đổi cảm giác Âm thanh của tiếng chim được cảm nhận từ thính giác chuyển sang cảm nhận bằng xúc giác Âm thanh đã hoá thành vật thể, tiếng chim hót vang trời ấy không còn là âm thanh bình thường nữa mà là tiếng của mùa xuân, từng giọt âm thanh của mùa xuân long lanh rơi xuống Động tác “hứng” là 1 cử chỉ diễn tả sự nâng niu, trân trọng, quyến luyến của thi nhân trước vẻ đẹp của mùa xuân Hình như lúc này, nhà thơ đang quên đi thực tại của mình để sống trọn vẹn, tắm mình trong sức xuân tươi đẹp để tận hưởng những giây phút ngọt ngào của mùa xuân xứ Huế với niềm say sưa, ngây ngất

Luận điểm 2: Cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân đất nước, của CM.

+ Từ cảm xúc trước mùa xuân của TN, đất trời nhà thơ chuyển sang suy ngẫm về mùa xuân của đất nước, CM Khi đất nước vào xuân, khi bản nhạc mừng xuân như vang cả đất trời, tràn ngập cả không gian và làm bừng lên cuộc sống – Thì nhà thơ nhắc đến 2 hình ảnh tiêu biểu:

“ Mùa xuân người cầm súng

Lộc giắt đầy quanh lưng

Mùa xuân người ra đồng

Trang 9

Lộc trải đầy nương mạ”.

“Người cầm súng” là người bảo vệ đất nước; “Người ra đồng” là người xây dựng đất nước Khổ thơ có cấu trúc song hành, nhà thơ chỉ rõ 2 nhiệm vụ chiến lược quan trọng của đất nước

ta những năm 1980 là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc và xây dựng đất nước Ý thơ vừa có hình ảnh tả thực chỉ mùa xuân với chồi non lộc biếc, vừa là hình ảnh ẩn dụ chỉ sức sống mãnh liệt của đất nước H/a người cầm súng giắt lộc trên lưng vòng lá nguỵ trang như mang theo sức xuân vào trận đánh Người ra đồng như gieo sự sống mùa xuân trên từng nương mạ “Tất cả như hối hả, xôn xao” gặt hái mùa xuân về cho đất nước Tác giả sử dụng điệp từ, điệp ngữ, các

từ láy đã diễn tả không khí khẩn trương, sôi động của đất nước đang vào xuân Nhịp thơ rộn ràng, tươi vui như nhịp sống đi lên của đất nước đang vào xuân

+ Từ sức sống rộn ràng của mùa xuân đất nước, nhà thơ suy ngẫm:

“ Đất nước bốn ngàn năm

Vất vả và gian lao

Đất nước như vì sao

Cứ đi lên phía trước”.

Đất nước được nhân hoá như một bà mẹ tần tảo, vất vả, gian nan Chặng đường 4000 năm văn hiến của DT với bao thăng trầm, thử thách đã tạo nên sức mạnh vĩnh cửu Đất nước đã được

so sánh với vì sao – Một h/a tuyệt đẹp biểu tượng cho sức mạnh trường tồn mà không có 1 thế lức nào ngăn cản nổi Đồng thời diễn tả niềm tự hào, kiêu hãnh và niềm tin sắt đá, ý chí quyết tâm trong hành trình dẫn đến ngày mai của DT

Luận điểm 3: Ước nguyện chân thành của nhà thơ.

+ Từ cảm xúc về mùa xuân của đất nước, của CM – Nhà thơ đã tự nhìn lại cuộc đời mình và bộc lộ tâm nguyện, ước vọng chân thành:

“ Ta làm con chim hót

Ta làm một nhành hoa

Ta nhập vào hoà ca

Một nốt trầm xao xuyến”.

Điệp từ “Ta làm” được điệp đi điệp lại cùng các ĐT “nhập, hoà” và các hình ảnh “ Con chim, cành hoa, nốt trầm” Đó là ước nguyện được hoá thân – Một sự hoá thân kỳ diệu Đây là các h/a ẩn dụ tượng trưng cho cái đẹp, cho tài trí của mỗi chúng ta Đoạn thơ đã có sự thay đổi đại

từ “Ta” là nhà thơ và cũng là của tất cả mọi người Cái riêng như đã hoà quện vào cái chung

Đó là khát vọng được sống có ý nghĩa, hoà nhập, cống hiến cho cuộc đời Tâm niệm của nhà thơ thật nhỏ bé tự nhiên, giản dị, chân thành mà cao đẹp biết bao Nếu đã là một cành hoa thì

cả đất nước ta sẽ là một vườn hoa rực rỡ khoe sắc, toả hương Nếu mỗi người là 1 nốt nhạc thì

cả đất nước sẽ trở thành một bản hoà ca ngân nga, hùng tráng Nếu mỗi người là 1 mùa xuân nho nhỏ thì cả đất nước sẽ là 1 mùa xuân rực rỡ

=> Bằng các h/a đẹp, tự nhiên, giọng thơ chân thành, giàu cảm xúc đã thể hiện nguyện ước cao đẹp: Đó là sống cống hiến cho cuộc đời, Tổ quốc

+ Nhà thơ muốn làm một mùa xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng cho đời:

“ Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc”.

Mùa xuân nho nhỏ là 1 h/a ẩn dụ độc đáo tượng trưng cho những tấm lòng cao cả của nhà thơ

Cả cuộc đời cống hiến cho đời, cho đất nước không ồn ào mà thật lặng lẽ, khiêm nhường Điệp

từ “ Dù là” được nhắc đi nhắc lại như 1 lời nhắc nhở dù bất cứ hoàn cảnh nào Còn sống là còn cống hiến, cống hiến cho đến hơi thở cuối cùng Nhà thơ luôn nhìn đời với cái nhìn lạc quan nhất, muốn làm tất cả để dâng cho đời dù thân xác có trở thành cát bụi nhưng nguyện ước được làm 1 mùa xuân nho nhỏ vẫn còn mãi với thời gian, vẫn lặng lẽ dâng cho đời Đó là lẽ sống cao cả, đẹp đẽ, đáng trân trọng Chính vì vậy mà mùa xuân nho nhỏ của ông ánh lên 1 sức

Trang 10

xuân tươi sáng: Niềm tin vào cuộc sống Đó là nguyện ước của 1 con người có cuộc đời đẹp như những mùa xuân, muốn giữ cho tâm hồn tràn đầy sức xuân và luôn muốn mình là 1 mùa xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng cho đời, muốn làm 1 nốt trầm thôi để góp vào bản hoà ca của đất nước thật lặng lẽ, khiêm nhường

Luận điểm 4: Niềm tự hào về những giá trị truyền thống bền vững của dân tộc

Khổ thơ cuối là tiếng hát về mùa xuân xứ Huế yêu thương:

“ Mùa xuân ta xin hát

Câu Nam ai, Nam bình

Nước non ngàn dặm mình

Nước non ngàn dặm tình

Nhịp phách tiền đất Huế”.

Khổ thơ cuối ngân lên khúc hát mùa xuân vang vọng trải dài cùng âm hưởng của dân ca xứ Huế mênh mang, tha thiết Nhà thơ muốn hoà lòng mình vào làn điệu dân ca nổi tiếng xứ Huế Nhịp phách tiền là nhạc cụ dân tộc để nhịp cho lời ca Nhà thơ có cảm xúc dạt dào với quê hương yêu dấu trong buổi xuân về Quê hương, đất nước trải ngàn dặm chan chứa yêu thương

Đó là ngàn dặm mình, ngàn dặm tình với nước non và đất nước, quê hương Câu thơ của người con sông Hương núi Ngự thật ngọt ngào trong điệu dân ca với cảm xúc dạt dào

3 Kết bài:

“Mùa xuân nho nhỏ” là 1 bài thơ đặc sắc Trước khi từ giã cõi đời, Thanh Hải đã để lại cho đời

1 bài thơ xuân đậm đà tình nghĩa Với thể thơ 5 chữ, giọng điệu biến đổi linh hoạt: Lúc thì tha thiết, ngân vang- lúc thì mạnh mẽ, hào hùng Ngôn ngữ trong sáng, giàu sắc thái biểu cảm Các BPTT ẩn dụ, điệp từ, so sánh, nhân hoá được vận dụng linh hoạt Bài thơ là 1 bức tranh mùa xuân tươi sáng, sống động và là tiếng lòng tha thiết, yêu mến gắn bó với đất nước, với cuộc đời – Thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ góp 1 mùa xuân nho nhỏ của mình vào mùa xuân lớn của DT Chính vì vậy mà “Một mùa xuân nho nhỏ” sống mãi với thời gian Bài thơ được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc thành 1 khúc ca xuân say đắm lòng người Đọc bài thơ, ta thêm yêu cuộc sống, như tiếp thêm cho ta sức mạnh, bồi dưỡng cho ta niềm lạc quan, yêu đời

và nhắc nhở chúng ta hãy sống có ích, hãy sống cống hiến để làm nên mùa xuân tươi đẹp cho đất nước

ĐỀ BÀI SỐ 7: Phân tích bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của nhà thơ Huy Cận.

1 Mở bài:

* Cách 1: Huy Cận là một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới” Trước CM 1945 với

các tập thơ nổi tiếng như “ Lửa thiêng”, “Vũ trụ ca” là sự cảm nhận cô đơn nhỏ bé, bơ vơ qua hình ảnh “cành củi khô” hay những cánh bèo dập dếnh trôi nổi Nhưng sau CM tháng 8 ông có một sự đổi thay rất kì diệu Ông mau chóng hoà nhập vào cuộc k/c vĩ đại của dân tộc Ánh sáng cuộc sống mới đem lại cho nhà thơ một cái nhìn tươi trẻ, ấm áp, tràn đầy niêm tin và hạnh phúc Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng” là một minh chứng được sáng tác năm 1958 nhân dịp đi thực tế ở vùng biển Quảng Ninh, phản ánh không khí lao động sôi nổi của nhân dân miền Bắc trong xây dựng cnxh Cả bài thơ là một bức tranh TN tráng lệ ca ngợi vẻ đẹp của biển quê hương và là bài ca hào hùng về những con người lao động phấn khởi, hăng say của cuộc đời làm chủ

* Cách 2: Trước CM tháng 8, thơ Huy Cận thường mang nỗi sầu thiên cố “buồn não nhưng

lòng chẳng thấy nguôi” thì sau CM thơ ông có một bước chuyển biến mới từ cảm hứng, cách nhìn Đọc thơ ông ta thấy tràn ngập một niềm vui của những con người làm chủ cuộc sống mới “Đoàn thuyền đánh cá” là một bài thơ như thế Bài thơ được sáng tác năm 1958 trong một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hòn Gai – Quảng Ninh, in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng” Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của vùng biển quê hương và phản ánh khí thế lao động hăng say, sôi nổi của người ngư dân trong buổi đầu xây dựng cuộc sống mới

Ngày đăng: 29/05/2021, 02:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w