1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định sự ảnh hưởng chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CHÂU THÙY TRINH
CHI TIÊU CHÍNH PHỦ LĨNH VỰC GIÁO DỤC ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CHÂU THÙY TRINH
CHI TIÊU CHÍNH PHỦ LĨNH VỰC GIÁO DỤC ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN KIM QUYẾN
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn nghiên cứu với nội dung “Chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Nam Á” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm hay nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, 2018
Châu Thùy Trinh
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4
1.6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ CHI TIÊU CHÍNH PHỦ LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6
2.1 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6
2.1.1 Khái niệm 6
2.1.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng 6
2.1.3 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 7
Trang 52.2 CHI TIÊU CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC 12
2.2.1 Chi tiêu của chính phủ 12
2.2.2 Cơ cấu chi tiêu của chính phủ 12
2.2.3 Chi tiêu của chính phủ trong lĩnh vực giáo dục 13
2.3.4 Vai trò của chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế 14
2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 15
2.3.1 Hai trường phái của chi tiêu chính phủ 15
2.3.2 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế 16
2.3.3 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục và tăng trưởng kinh tế 18
2.4 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM 25
3.2 CỠ MẪU NGHIÊN CỨU 29
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KIỂM ĐỊNH THỰC HIỆN 31
3.3.1 Ưu điểm dữ liệu bảng 31
3.3.2 Kiểm định tính dừng 31
3.3.3 Kiểm định đồng liên kết 32
3.3.4 Kiểm soát các khuyết tật vi phạm các giả thuyết của mô hình 33
3.3.5 Thảo luận lý do phương pháp ước lượng hồi quy 34
Trang 6CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU 36
4.2 KIỂM ĐỊNH SỰ TƯƠNG QUAN CÁC BIẾN 37
4.2.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính 37
4.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình 38
4.3 KIỂM ĐỊNH TÍNH DỪNG DỮ LIỆU BẢNG 38
4.4 KIỂM ĐỊNH ĐỒNG LIÊN KẾT TRÊN DỮ LIỆU BẢNG 39
4.5 MÔ HÌNH NGẮN HẠN 43
4.6 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 KẾT LUẬN 48
5.2 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 49
5.3 ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 49
DANH MỤC THAM KHẢO
PHỤ LỤC BIẾN ĐỘNG DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Cách tính toán biến và dấu kỳ vọng 29
Bảng24.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 36
Bảng34.2: Ma trận tương quan tuyến tính đơn giữa các cặp biến 37
Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai 38
Bảng54.4: Kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình 39
Bảng64.5: Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng 40
Bảng74.6: Kết quả hồi quy mô hình FMOLS 41
Bảng84.7: Kết quả hồi quy ngắn hạn GMM 43
Trang 9lý thuyết và mô hình tăng trưởng kinh tế của họ Các cách tiếp cận lý thuyết chính trong mô hình liên kết giữa giáo dục và hiệu quả kinh tế là các mô hình tăng trưởng tân
cổ điển của Robert Solow (1957) và mô hình Romer (1990) Ngoài các khía cạnh lý thuyết, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã tập trung vào vấn đề giáo dục và phát triển kinh tế
Về giáo dục, theo Ismail (1998), giáo dục được coi là một khoản đầu tư dài hạn ảnh hưởng tới sản lượng cao cho một quốc gia trong tương lai Trên thực tế, các nhà kinh tế lập luận rằng ngành giáo dục tiên tiến chắc chắn sẽ dẫn dắt thành công trong việc phát triển kinh tế và xã hội của một quốc gia Vì vậy, hầu hết các nước phát triển và đang phát triển nhấn mạnh đến việc tăng cường ngành giáo dục Các nước Đông Nam Á cũng không có ngoại lệ trong việc phát triển và nâng cao hệ thống giáo dục của mình
để trở thành một quốc gia đẳng cấp thế giới (Ibrahmim và Awang, 2008) Cam kết của các chính phủ trong việc phát triển các lĩnh vực giáo dục đóng vai trò quan trọng tại xã hội mỗi quốc gia Điều này có thể thấy từ việc phân bổ ngân sách hàng năm của các quốc gia Đông Nam Á, cũng như các hội nghị hội thảo thay đổi về giáo dục luôn là sự quan tâm xã hội
Trang 102
Nhấn mạnh tầm quan trọng của lĩnh vực giáo dục, sự phát triển lĩnh vực này đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được chương trình phát triển quốc gia và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của một quốc gia Theo như nghiên cứu của Sheehan (1971) đã liệt kê một số lợi ích trực tiếp mà đất nước thu được từ giáo dục, cụ thể là bao gồm tăng năng suất, thu nhập của người lao động, tăng trưởng kinh tế của đất nước và tỷ lệ biết chữ Ngoài ra, giáo dục cũng có thể nâng cao hiệu quả phân bổ thu nhập, di chuyển
và chuyển đổi lao động theo nhu cầu công việc của nhân viên được đào tạo
Giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế, và mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế là một lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu kinh tế Giáo dục ảnh hưởng đến hệ thống kinh tế tổng thể quốc gia ở cấp
độ vĩ mô như tổng sản lượng quốc nội GDP Lý thuyết tăng trưởng nội sinh và lý thuyết về nguồn nhân lực cho thấy rằng giáo dục có ảnh hưởng đáng kể đến sự tăng trưởng kinh tế ở cấp vi mô và vĩ mô Hiệu quả tích cực của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế chủ yếu gắn liền với việc sản xuất lao động lành nghề và phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục, đào tạo và kỹ năng
Các quốc gia Đông Nam Á là khu vực tồn tại hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, là liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng chi tiêu công lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng góp phần đóng góp bằng chứng về học thuật và thực nghiệm cho các nhà chính sách liên quan đến tăng trưởng Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện tại khu vực Đông Nam Á với mục tiêu nghiên cứu tồn tại Việt Nam trong cỡ mẫu, đảm bảo đủ
số lượng quan sát tin cậy khi số lượng quan sát nếu chỉ nghiên cứu Việt Nam là không
đủ Hơn nữa khu vực Đông Nam Á là khu vực có góc độ phát triển tương đồng với Việt Nam nhất so với các khu vực khác
Xuất phát từ tầm quan trọng của lĩnh vực giáo dục trong tăng trưởng kinh tế, nhằm
làm rõ mối quan hệ này về lý thuyết và thực nghiệm, tác giả nghiên cứu đề tài “Chi
Trang 113
tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế khu vực
Đông Nam Á”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định sự ảnh hưởng chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Nam Á, cụ thể làm rõ các câu hỏi dưới đây:
Câu hỏi nghiên cứu
- Tồn tại hay không tồn tại tác động chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Nam Á?
- Nếu tồn tại tác động chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Nam Á thì tác động này là cùng chiều hay ngược chiều?
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của bài nghiên cứu này là tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ cho giáo dục
Về thực nghiệm, đối tượng của bài này là các quốc gia Đông Nam Á gồm 9 quốc gia trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2016 Chi tiết ở chương 3
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và sử dụng mô hình phân tích hồi quy dữ liệu bảng Bao gồm tổng hợp các nghiên cứu trước xây dựng mô hình
Trang 12Công cụ sử dụng trong bài là Stata 13, Eviews 8 Lý do tác giả sử dụng các công
cụ này vì các công cụ này cung cấp đủ các phương pháp phân tích trong bài nghiên cứu
1.5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn
Về mặt khoa học, mặc dù tồn tại một vài nghiên cứu tương tự đã được thực hiện tại các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên tại khu vực Đông Nam Á vấn đề này hiện có rất ít nghiên cứu chuyên sâu Đề tài đưa ra mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, đề tài cũng đưa ra bằng chứng thực nghiệm tại khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn nghiên cứu
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu là cơ sở tham khảo cho các nhà quản trị vĩ
mô, đặc biệt các nhà chính sách làm công tác phân bổ nguồn lực chính phủ trong chi tiêu thường xuyên Nghiên cứu đưa ra mức ý nghĩa và chiều hướng ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế Điều này góp phần bổ sung vào các thảo luận và thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế tại khu vực, giúp sự phát triển kinh tế ổn định khu vực
1.6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Nội dung của đề tài nghiên cứu bao gồm các chương sau:
Trang 135
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Các nghiên cứu trước đây về lý thuyết và thực nghiệm
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, cách thu thập dữ liệu, mô tả mô hình nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết nghiên cứu
Chương 4: Chương này trình bày kết quả, các kiểm định cần thiết, phân tích định lượng và giải thích kết quả
Chương 5: Đưa ra kết luận , kiến nghị và hướng đề xuất nghiên cứu
Trang 146
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY VỀ CHI TIÊU CHÍNH PHỦ LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ TĂNG TRƯỞNG
2.1.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng
Để đo lưởng tăng trưởng kinh tế, người ta có một số cách tính như sau:
công ty phân phối cho các chủ thể hộ gia đình dưới hình thức tiền lãi, lợi nhuận, tiền lương, tiền thuê
trị gia tăng của tất cả giá trị gia tăng trong một thời kỳ của nền kinh tế
khoản chi tiêu:
Y = GDP = NX + C + I + G Trong đó: Chi tiêu đầu tư (I), Chi tiêu của chính phủ (G), Xuất khẩu ròng (NX), Chi tiêu tiêu dùng (C)
Trang 157
2.1.3 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế được xây dựng dọc theo chiều dài lịch sử phát triển các lý thuyết kinh tế học Các lý thuyết ban đầu của tăng trưởng kinh tế có thể kể đến là lý thuyết của Ricardo (1817), sau đó là các mô hình của Lewis (1954), mô hình Harrord Doman (1947) và mô hình của Solow (1956) Đây có thể xem là những bước phát triển bền vững của lý thuyết tăng trưởng kinh tế
Mô hình Ricardo (1817)
David Ricardo (1772 - 1823) là nhà kinh tế học người Anh Ông đã đặt những nền móng đầu tiên về tăng trưởng kinh tế Ông đã đóng góp xây dựng lý thuyết giá trị lợi thế so sánh quy luật năng suất biên giảm dần và địa tô Theo lý luận của Ricardo, đất là sản phẩm của tự nhiên và có giới hạn và giới hạn này là tuyệt đối Điều này dẫn đến một thừa nhận tất yếu đó là đất là tài nguyên khan hiếm của xã hội và nó có ảnh hưởng trực tiếp đến 2 khu vực sản xuất nông nghiệp và công nghiệp Cụ thể, Ricardo
đã lý luận rằng giới hạn sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thay đổi sản lượng nông nghiệp, mặt khác tăng sản lượng còn gọi là tăng trưởng Vì vậy, giới hạn đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng tới tăng trưởng nông nghiệp Thêm vào đó, ở khu vực công nghiệp, đây là khu vực chịu ảnh hưởng từ khu vực nông nghiệp, do giới hạn về đất sản xuất ở khu vực nông nghiệp, chi phí sản xuất công nghiệp tăng Điều này làm tăng chi phí sản xuất hàng hóa, do chi phí nguyên liệu đầu vào từ công nghiệp tăng Nó dẫn đến một kết quả tất yếu đó là giá hàng hóa tăng cao và gây ra lạm phát Khi lạm phát xảy ra thì tiền lương thực của công nhân nhận về giảm, điều này thúc đẩy các tổ chức công đoàn đấu tranh đòi tăng lương cho công nhân Tuy nhiên lương chính là một yếu tố chi phí sản xuất công nghiệp và khi lương tăng thì cũng kéo theo chi phí sản xuất tăng Hậu quả là sản lượng công nghiệp sẽ giảm Theo cách lập luận này của Ricardo, giới hạn về đất (Resources) ảnh hưởng đến sản lượng của nông nghiệp và công nghiệp
Trang 16mẽ lên tăng trưởng kinh tế và để chứng minh cho nhận định của mình Ông đã xây dựng đường TPA (Total Produch of Agriculture) của khu vực nông nghiệp Tính chất của đường biểu diễn này là một đường biểu diễn quan hệ dương giữa số lượng lao động trong nền kinh tế và tổng sản lượng theo quy luật giá trị sản lượng biên giảm dần Như vậy nếu giả định, khu vực nông nghiệp đang ở trạng thái cân bằng với số lượng lao động là L0 và tổng sản lượng là Y0 thì khi L0 tăng lên Ll (L1>L0) thì Yo sẽ tăng lên Yl(với Y1>Y0) Điều này cho thấy rằng lao động là yếu tố tác động lên tăng trưởng nông nghiệp
Trong công nghiệp, với yếu tố vốn (Capital) cho truớc K1 khi ta có L1 tương ứng
là điểm cân bằng Khi lao động dồi dào từ khu vực nông nghiệp dịch chuyển qua khu
Trang 179
vực công nghiệp, thì ngay lập lức cung lao động càng làm giảm chi phí sản xuất Điều này làm gia tăng lợi nhuận của các nhà sản xuất Chính nguồn lợi nhuận này được dùng tái đầu tư lại và nó là tác nhân gia tăng vốn lên K2 tương ứng với nguồn lao động L2 Kết quả là, ta thấy rất rõ được tác động của lao động lên khu vực công nghiệp
Chúng ta thấy rằng, ở cả nông nghiệp và công nghiệp Theo các lập luận của Lewis thì lao động là yếu tố tác động lên cả hai khu vực này Hay nói tóm lại, khi lao động thay đổi sẽ tác động lên tăng trưởng kinh tế
Mô hình Harrod (1939) - Domar (1947)
Evsey David Domar (1914 - 1977) nhà kinh tế học người Mỹ và Henry Roy Forbes Harrod (1900 - l978) nhà kinh tế học người Anh là hai học giả có những đóng góp rất lớn trong lý thuyết về vốn - tăng trưởng kinh tế Điều thú vị là 2 nhà kinh tế học này đã tiến hành nghiên cứu độc lập về tăng trưởng kinh tế Vì vậy, mô hình tăng trưởng kinh tế này đã được đặt tên là mô hình Harrod - Domar
Theo Harrod - Domar thì tăng trưởng kinh tế có nguồn gốc từ vốn (Incremental Capital) hoặc tiết kiệm (Savings) Họ lý luận rằng khi vốn (K) thay đổi thì sản lượng quốc gia sẽ thay đổi Nghĩa là: ∆K => ∆Y
Trang 1810
Để biểu diễn mối quan hệ này, Harrod - Domar đã xây dựng chỉ số ICOR (incremental capital - output rate) còn gọi là hệ số tăng vốn - đầu ra Chỉ số này được tính bằng công thức:
ICOR= ∆K/∆Y (1) Với biểu diễn trên, có thể thấy rằng ICOR biểu diễn để tổng sản lượng tăng thêm 1 đơn vị thì cần bao nhiêu đơn vị vốn Từ (1), để thấy được tác động từ vốn thì (1) sẽ được viết lại thành:
∆K = ICOR*∆Y (2) Trên thực tế, các hoạt động làm vốn tăng thêm chủ yếu đến từ hoạt động đầu tư (l) Vì Vậy (2) có thể được viết dưới dạng:
∆K = I= ICOR*∆Y (3)
Từ đây ta thấy được mối quan hệ giữa đầu tư và thay đổi tổng sản lượng
∆Y=∆K/ICOR=I/ICOR (4) Với giả định nền kinh tế đang là nền kinh tế đóng và không có ngoại thương thì I=S Thế nên từ công thức (4) ta cũng thấy được mối quan hệ giữa tiết kiệm và tăng trưởng Nói tóm lại, với mô hình Harrod - Domar thì tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào vốn tăng thêm hoặc đầu tư mới hàng năm sau khi đã trừ đi khấu hao Dựa trên kết luận này mà trên thực tế các quốc gia hàng năm đều đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế
Mô hình Solow (1956)
Robert Merton Solow là nhà kinh tế người Mỹ rất nổi tiếng với giải Nobel kinh
tế năm 1987 và đóng góp của ông chủ yếu ở mô hình tăng trưởng kinh tế Với mô hình của Solow, ông lập luận rằng vốn chỉ có tác động đến tăng trưởng trong ngắn hạn và trong dài hạn thì yếu tố công nghệ mới là nhân tố sống còn của tăng trưởng kinh tế
Trang 1911
Điều này thể hiện rõ Solow là người theo chủ nghĩa Keynes mới (kết hợp Keynes và Tân cổ điển) Để chứng minh cho lập luận của mình, Solow đã xây dựng mô hình như hình 1.4 với giả định ban đầu nền kinh tế ở vị trí cân bằng với mức vốn trên lao động (K/L)0 và mức sản lượng trên lao động là (Y/L)0 theo đường sản lượng Y(t) Nếu tiếp tục tăng vốn đầu tư như kết quả của mô hình Harrod - Domar thì các chỉ số sẽ tăng từ (K/L)0 lên (K/L)1 rồi (K/L)2 và (K/L)3; tương tự (Y/L)0 sẽ tăng lên (Y/L)l và (Y/L)2 rồi (Y/L)3 Chúng ta cần lưu ý rằng mức tăng này giảm dần theo thời gian và khi vốn tăng từ (K/L)2 lên (K/L)3 thì đường sản lượng gần như nằm ngang Nói một cách cách ngắn gọn thì lúc này nếu tiếp tục tăng vốn đầu tư thì tăng trưởng sản lượng vẫn không đổi hay vốn không còn tác dụng giúp tăng trưởng trong dài bạn nữa Tuy nhiện, Solow đã chỉ ra rằng nếu các quốc gia tập trung phát triển công nghệ thì với công nghệ cao hơn thì sản lượng sẽ tăng với một giá trị vốn trên lao động cho trước Vì vậy trong dài hạn, công nghệ mới là yếu tố tác động đến tăng trưởng
Trang 2012
2.2 CHI TIÊU CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
2.2.1 Chi tiêu của chính phủ
Theo nghĩa rộng, chi tiêu của chính phủ là tổng hợp tất cả các khoản chi của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và của toàn dân khi cùng trang trải kinh phí cho các hoạt động của chính phủ Tuy nhiên, theo nghĩa hẹp, chi tiêu chính phủ là các khoản chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công, phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng (Dương Thị Bình Minh, 2005) Khái niệm theo nghĩa hẹp thì được sử dụng phổ biến hơn trong các nghiên cứu về tài chính và chính sách công
Chi tiêu của chính phủ là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa vào mục đích sử dụng Chi tiêu của chính phủ
có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, chi tiêu của chính phủ luôn gắn liền với nhiệm vụ kinh tế, chính trị xã hội mà Nhà nước đảm nhận Mức độ và phạm vi chi tiêu phụ thuộc vào nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ
Thứ hai, các khoản chi tiêu của chính phủ là các khoản không mang tính hoàn trả trực tiếp
Thứ ba, tính hiệu quả của các khoản chi tiêu thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao
2.2.2 Cơ cấu chi tiêu của chính phủ
Phân loại chi tiêu của chính phủ giúp cho Nhà nước thiết lập được những chương trình hành động cũng như tăng cường hiệu quả trong thi hành ngân sách để thực hiện các chức năng của Nhà nước Bên cạnh đó, việc phân loại này cũng quy định
Trang 2113
tính trách nhiệm trong việc phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của Nhà nước
và cho phép phân tích ảnh hưởng từ những hoạt động tài chính của Nhà nước đối với nền kinh tế Có hai cách phổ biến để phân loại chi tiêu của chính phủ
Căn cứ vào chức năng vĩ mô của nhà nước, chi tiêu chính phủ được chi cho các hoạt động: xây dựng cơ sở hạ tầng; tòa án và Viện kiểm sát; hệ thống quân đội và an ninh xã hội; hệ thống giáo dục; hệ thống an sinh xã hội; hỗ trợ doanh nghiệp; hệ thống quản lý hành chính nhà nước; chi cho các chính sách đặc biệt của Chính phủ; chi khác
Căn cứ vào tính chất kinh tế, chi tiêu của chính phủ được phân loại thành chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển
2.2.3 Chi tiêu của chính phủ trong lĩnh vực giáo dục
Dựa trên cục thống kê Châu Âu (Eurostat Statistics) định nghĩa chi tiêu chính phủ cho giáo dục là chi tiêu cho các thành phần bộ phận giáo dục: gồm giáo dục mầm non và tiểu học, giáo dục trung học, giáo dục sau trung học, giáo dục đại học, giáo dục không thể định nghĩa theo cấp, ví dụ chi phí cho việc cung cấp xe buýt trường học, chi cho nghiên cứu và phát triển Theo OECD, chi tiêu công cho giáo dục bao gồm chi tiêu trực tiếp cho các tổ chức giáo dục cũng như trợ cấp công cộng liên quan đến giáo dục cho các hộ gia đình và được quản lý bởi các tổ chức giáo dục
Đối với tổ chức Ngân hàng Thế giới (Worldbank), định nghĩa chi tiêu cho giáo dục đó là tổng chi tiêu của chính phủ nói chung (địa phương, khu vực và trung ương)
về giáo dục (hiện tại, vốn và chuyển đổi), thể hiện dưới dạng phần trăm của tổng chi tiêu của chính phủ đối với tất cả các ngành (bao gồm y tế, giáo dục, dịch vụ xã hội, vv) Chi tiêu này bao gồm các khoản chi được tài trợ bằng việc chuyển từ các nguồn quốc tế cho chính phủ Chi tiêu giáo dục công cộng bao gồm chi tiêu của chính quyền địa phương, khu vực và quốc gia (trừ đóng góp của hộ gia đình) đối với các cơ sở giáo dục (cả nhà nước và tư nhân), quản lý giáo dục và trợ cấp cho các cá nhân (sinh viên, hộ
Trang 2214
gia đình và các cá nhân khác) Trong một số trường hợp, dữ liệu về tổng chi tiêu công cho giáo dục chỉ đề cập đến Bộ giáo dục và có thể loại trừ các bộ khác dành một phần ngân sách cho các hoạt động giáo dục Chỉ số này được tính bằng cách chia tổng chi tiêu công cho giáo dục do tất cả các cơ quan, ban ngành của chính phủ cho tổng chi tiêu của chính phủ và nhân lên 100 để tính phần trăm
2.3.4 Vai trò của chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế
Trước thế kỷ XIX, đầu tư hệ thống vào vốn nhân lực không được coi là đặc biệt quan trọng ở bất kỳ quốc gia nào Chi phí cho việc học, đào tạo tại chỗ và các hình thức đầu tư tương tự khác khá nhỏ Điều này bắt đầu thay đổi triệt để trong thế kỷ này với việc áp dụng khoa học vào việc phát triển hàng hóa mới và phương pháp sản xuất hiệu quả hơn, đầu tiên ở Anh, và sau đó dần dần ở các nước khác Trong thế kỷ hai mươi, giáo dục, kỹ năng và việc mua lại kiến thức đã trở thành yếu tố quyết định quan trọng về tính dẫn động của một người và của một quốc gia Người ta thậm chí có thể gọi thế kỷ hai mươi là “Kỷ nguyên của vốn con người” theo nghĩa việc phát triển và sử
dụng các kỹ năng, kiến thức, nâng cao sức khỏe và giáo dục phần lớn dân số của quốc gia là yếu tố quyết định một quốc gia thành công như thế nào
Theo Ozturk (2001), không có quốc gia nào đạt được sự phát triển kinh tế liên tục mà không đầu tư đáng kể vào nguồn nhân lực Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy sự tác động với các hình thức tích lũy vốn nhân lực khác nhau: giáo dục cơ bản, nghiên cứu và đào tạo, học tập và xây dựng năng khiếu Tác giả này khẳng định giáo dục không bình đẳng có xu hướng có tác động tiêu cực đến thu nhập bình quân đầu người ở hầu hết các quốc gia Đầu tư vào vốn nhân lực có thể tác động đến tăng trưởng
và phát triển kinh tế của một quốc gia thông qua việc cải thiện đầu ra của nền kinh tế bằng việc gia tăng hiệu suất sản xuất từ việc nâng cao chất lượng lực lượng lao động sản xuất Như vậy, chính việc chi tiêu của chính phủ trong lĩnh vực giáo dục sẽ đóng
Trang 2315
góp rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế và tăng trưởng của một quốc gia Đặc biệt, khu vực Đông Nam Á là nơi tập trung đa số các quốc gia đang phát triển, nơi mà với công nghệ sản xuất còn hạn chế thì việc đầu tư vào vốn con người sẽ trở nên hiệu quả
và có ý nghĩa tích cực hơn
2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.3.1 Hai trường phái của chi tiêu chính phủ
Đã từ rất lâu mối quan hệ giữa chi tiêu của chính phủ đối với mức độ phát triển
và tăng trưởng kinh tế đã nhận được sự chú ý rất lớn trong giới học thuật Cụ thể, phân tích mối quan hệ lâu dài giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã cho những kết luận khác nhau Nhìn chung, lý thuyết khác nhau về mối quan hệ này có thể được tạm chia thành hai nhóm chính Trường phái Keynes và trường phái Wagner Quan điểm của Wagner (1883) về tăng trưởng kinh tế là do quá trình công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế tác động tới sự gia tăng tỷ lệ chi tiêu công Ngược lại, quan điểm của Keynes giả định rằng chi tiêu của Chính phủ là một công cụ của nhà nước trong việc thực hiện chính sách tài khóa và công cụ này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Adolph Wagner là người đầu tiên nhận ra mối tương quan dương giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế, quan điểm này được đề cập trong các tài liệu như Luật lệ Wagner (1883) Quan điểm này cho thấy vai trò của Chính phủ gia tăng là do tăng trưởng kinh tế Điều này được giải thích bởi nhu cầu ngày càng tăng cho các chức năng quản lý và bảo vệ thì cần thiết để duy trì mức độ gia tăng sức mạnh kinh tế Có ba
lý do để giải thích cho quan điểm này Thứ nhất: nền kinh tế phát triển, khu vực công công sẽ tiến hành các chức năng hành chính và bảo vệ mà trước đây nó được thực hiện bởi khu vực tư nhân Thứ hai: khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu cung cấp hàng hóa xã hội, văn hóa và dịch vụ tăng lên Thứ ba, khi nền kinh tế phát triển, sự can thiệp của
Trang 2416
Chính phủ lớn hơn là cần thiết để kiềm chế độc quyền tự nhiên và duy trì tốt chức năng cho các lực lượng thị trường (Bird, 1971) Một số nghiên cứu như Gandhi (1971), Cvupta (1967) và Dritsakis và Adnmopoulos (2004) xác nhận lý thuyết này Quan điểm của Keynes lập luận rằng tăng trưởng kinh tế xảy ra là kết quả của sự gia tăng chi tiêu khu vực công tăng Trong bối cảnh này, chi tiêu của chính phủ được coi là một biến ngoại sinh độc lập và có thể được sử dụng như là một biến chính sách hiệu quả để ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Lý thuyết này được xác nhận bởi Ansari el al (1997)
2.3.2 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa chi tiêu của chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã trải qua nhiều tranh luận giữa các học giả Vai trò cốt lõi của Chính phủ là thực thi hai chức năng cơ bản về đảm bảo an ninh quốc phòng và cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, nhằm để giảm thiểu rủi ro về tội phạm đảm bảo đời sống, giữ gìn tài sản người dân và bảo vệ lãnh thổ quốc gia tránh sự xâm lược từ bên ngoài Trong đó, việc cung cấp hàng hóa công chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như: quốc phòng, giao thông, giáo dục, y tế, điện lực Do đó, Abdullah (2000) lập luận rằng tăng chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội sẽ khuyến khích tăng trưởng kinh tế và tăng chi tiêu công vào lĩnh vực y
tế và giáo dục sẽ làm tăng hiệu suất lao động, dẫn đến gia tăng sản lượng quốc gia Đồng thời, chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng như đường sá, truyền thông, điện lực sẽ làm giảm chi phí sản xuất, làm tăng đầu ra Cùng quan điểm với ý kiến này còn có sự ủng
hộ của các học giả như Aschaucr (l989), EíLĩterly và Rebelo (l993), Haque và Kim (2003)
Lý thuyết về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa đi đến sự thống nhất mà vẫn còn nhiều mâu thuẫn gay gắt về vai trò chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh lế Nổi bật là sự tranh luận về gánh nặng tài chính mà Chính phủ áp đặt lên công chúng và nền kinh tế, tiền đề cho sự tranh luận
Trang 2517
này dựa trên hai khía cạnh: (i) ngân sách càng lớn thì gánh nặng tài chính áp đặt lên nền kinh tế càng lớn; và (ii) khu vực tư sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn Chính phủ, nền kinh tế trở nên đánh đổi giữa hai khu vực (Sử Đình Thành, 2012)
Mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế như Barro (1990), Cashin (1995), Bajo-Rubio (2000) và Milboume et al (2003) dự đoán rằng tác động tích cực dự kiến sẽ được tìm thấy trong nước có kích thước của Chính phủ nhỏ hơn một ngưỡng nhất định và có tác động tiêu cực ở những nước mà kích thước của Chính phủ lớn hơn (Raul Alberto Chamorro-Narvaez, 2012)
Trong khi đó, các quan điểm ủng hộ Chính phủ lớn hơn tranh luận rằng, trong nền kinh tế Chính phủ thực hiện các chương trình cung cấp hàng hóa công có gíá trị, từ
đó tác động đến tổng sản lượng thông qua sự tác động với khu vực tư nhân, phát triển
cơ sở hạ tầng, loại bỏ hay điều tiết các ngoại tác sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế và cải thiện sự phân bố nguồn lực, hoặc các khoản thanh toán chuyển giao cũng giúp duy trì sự hài hòa của xã hội cũng như làm gia tăng hiệu suất lao động Các học giả (Abdullah, 2000; Al - Yousỉf Y 2000; Ranjan KD 2008: Cooray A 2009) đã kết luận rằng sự mở rộng chi tiêu của chính phủ đóng góp tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, các quan điểm ủng hộ chính phủ nhỏ hơn cho rằng chính phủ càng lớn thì càng nhiều nguồn lực bị phân phối bởi lực lượng chính trị hơn lực lượng thị trường; có hai yếu tố chính cho thấy hiệu ứng tăng trưởng trở nên yếu ớt và tiêu cực Thứ nhất, càng mở rộng khu vực công để thực thi các chính sách tăng trưởng sẽ làm thâm hụt ngân sách nhà nước trầm trọng hơn Trong nỗ lực gia tăng tài trợ chi tiêu công, chính phủ có thể lựa chọn gia tăng thuế và vay nợ Đánh thuế cao sẽ gây tổn thất
xã hội bởi thuế tạo ra gánh nặng thu nhập và làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng Vay nợ để tài trợ chi tiêu công có thể làm gia lăng lãi suất trên thị trường vốn Kết quả là vay nợ gây ra hiện tượng chèn lấn đầu tư khu vực tư nhân dẫn đến thuế trong tương lai tăng cao Thực tế có nhiều nghiên cứu đã minh chứng chi tiêu công lớn
Trang 2618
lại gây ra hiệu ứng âm đối với tăng trưởng kinh tế (Laudau D l986; Barro R 1991; Enan EM 1991: Folster 5 2001) Thứ hai, tiến trình chính trị ít năng động hơn so với thị trường Chi tiêu càng nhiều làm xói mòn tăng trưởng kinh tế bởi sự chuyển giao thêm nguồn lực từ khu vực sử dụng hiệu quả nhất của nền kinh tế sang khu vực Chính phủ - nơi sử dụng kém hiệu quả hơn Vì Chính phủ thiếu thông tin trong việc ra quyết định chính sách, đồng thời do các nhà chính trị theo đuổi những lợi ích riêng nên ra quyết định chính sách phân bổ sai nguồn lực và gây cản trở tăng trưởng kinh tế Lý thuyết của Kiskanen (1971) cho rằng đội ngũ công chức trong khu vực công có khuynh hướng tối đa hóa ngân sách để tối đa hóa lợi ích riêng của họ Hệ quả là, hàng hóa cung cấp không đáp ứng được nhu cầu tối ưu của xã hội nhưng bộ máy khu vực công ngày càng phình to (Sử Đình Thành, 2012)
Như vậy, với các bằng chứng ở trên, có thể nói rằng có mối quan hệ giữa chi tiêu của chính phủ và tăng trường kinh tế, ngoài ra quy mô chi tiêu công cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nhưng làm thế nào để biết mối quan hệ đó là âm hay dương thì cần đến các nghiên cứu thực nghiệm để xem xét
2.3.3 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục và tăng trưởng kinh tế
Về sự phát triển các nghiên cứu học thuyết tăng trưởng, ban đầu các học thuyết tập trung vào vai trò quan trọng của nguồn vốn như Lý thuyết số nhân đầu tư, Lý thuyết gia tốc đầu tư, Lý thuyết đầu tư trong mô hình Harrod – Domar Tiếp đến là học thuyết tân cổ điển Solow (1956), học thuyết này sự nhấn mạnh nguồn vốn, công nghệ
và lao động trong phương trình tăng trưởng, thêm nữa là tiến bộ về phương diện kỹ thuật cũng là yếu tố ảnh hưởng cốt lõi tăng trưởng Phát triển tiếp theo mô hình Solow (1956), các tiếp cận mới về tỉ lệ tăng trưởng cung lao động, về tỉ lệ tiết kiệm, và nhịp
độ thay đổi công nghệ cố định một cách ngoại sinh, trình độ kỹ năng lao động, đó là các mô hình Romer (1986) và Lucas (1988)
Trang 2719
Các mô hình này vẫn có những thông điệp chính, nhất quán với nhau về tiết kiệm, đầu tư vào y tế và giáo dục, sử dụng các yếu tố sản xuất một cách hiệu quả và năng suất cao, và tìm ra những công nghệ mới phù hợp Khi thảo luận về vấn đề này, Bose và cộng sự (2007) đã khái quát lại đó là trong lý thuyết tăng trưởng thì giáo dục, chăm sóc y tế , môi trường, công nghệ và khoa học, là yếu tố cốt lõi cho sự thịnh vượng kinh tế của những thời kỳ tương lai Như vậy, các học thuyết về tăng trưởng đã đánh giá cao sự đóng góp của trình độ kỹ năng lao động, công nghệ có ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế
Các khung lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ với giáo dục như Mankiw và cộng sự (1992), Barro và Sala-i-Martin (1995), Romer (1990), Barro (1991, 2002), Barro và Lee (2013), Krueger và Lindahl (2001), Benhabib và Spiegel (1994) Các thảo luận này tổng kết đều cho thấy mối quan hệ tích cực giữa giáo dục ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế
Mô hình tăng trưởng nội sinh do Mankiw và cộng sự (1992), cho thấy mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giáo dục, đã được khái quát thành dạng hàm Một dạng hàm khái quát với các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng:
ED : chi tiêu chính phủ cho giáo dục
Các nhà kinh tế học nghiên cứu đưa ra nhiều lý thuyết và mô hình liên quan đến giáo dục cho tăng trưởng kinh tế Giáo dục nâng cao tiềm năng thu nhập của một cá
Trang 2820
nhân, nhưng cũng tạo ra một hiệu ứng "gợn sóng" trong toàn bộ nền kinh tế thông qua hàng loạt các ngoại tác tích cực
Michaelowa (2000) trình bày tác động dưới góc độ vĩ mô và vi mô Trong góc
độ vi mô, giáo dục làm tăng lên: trình độ thành tựu con người, sức khỏe và tinh thần sức khỏe mỗi cá nhân, giảm tỷ lệ sinh quá cao từ đó tăng năng suất của nền kinh tế Thông qua việc tham gia đội ngũ lao động, ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng kinh tế
2.4 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Trong các nghiên cứu thực nghiệm, quan hệ giữa chi tiêu chính phủ đối với giáo dục và tăng trưởng kinh tế đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà kinh tế học
và các nhà nghiên cứu về kinh tế và tài chính công Bằng cách sử dụng các phương pháp khác nhau, để kiểm tra tác động của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế, trong các nghiên cứu gần đây hàm Cobb Douglas được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng (Lin
2004, Aziz và cộng sự, 2008, Loening 2002, Odit và cộng sự, 2010)
Lin (2004) phân tích sự phát triển kinh tế của Đài Loan từ năm 1965 đến năm
2000 cho thấy giáo dục đại học đã đóng vai trò tác động quan trọng và thuận lợi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế ở Đài Loan
Kết quả của giáo dục đại học về phát triển kinh tế ở Pakistan cũng được Aziz et
al (2008) sử dụng mô hình Cobb Douglas trong giai đoạn giữa năm 1972 và 2008, khi những phát hiện cho thấy những thành quả của giáo dục đại học đã ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Pakistan
Các kết quả tương tự cũng được Loening (2002) sử dụng theo mô hình tương tự, nghiên cứu của ông kết luận rằng một lực lượng lao động có trình độ và trình độ thông thạo sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế thuận lợi và đáng kể Nguồn nhân lực được
Trang 29Asteriou và Agiomirgianakis (2001) đã kiểm tra mối liên hệ giữa lực lượng lao động và tăng trưởng kinh tế ở Hy Lạp và phát hiện ra mối quan hệ thống nhất giữa giáo dục và GDP đầu người
Changzheng và Jin (2009) sử dụng cùng một cách phân tích cho giai đoạn giữa năm 1978 và năm 2004 cho Trung Quốc, và những phát hiện này cho thấy mối liên hệ thuận chiều giữa sự chi tiêu chính phủ giáo dục và sự phát triển kinh tế
Nghiên cứu của Musila và Belassi (2004) về Uganda giữa những năm 1965 và
1999 cũng chỉ ra mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục của chính phủ cho mỗi người lao động và sự phát triển kinh tế Bằng cách sử dụng mô hình điều chỉnh sai số ECM, tác giả tìm thấy rằng chi tiêu của chính phủ cho giáo dục có vai trò thiết yếu trong việc ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển và là nhân tố chủ chốt ở quốc gia Uganda
O'Neill (1995) nghiên cứu và tìm thấy trong những phát hiện của mình rằng sự hội tụ trong trình độ học vấn đã làm giảm sự phân tán thu nhập Ông nói thêm rằng đối với thế giới nói chung, thu nhập đã khác biệt mặc dù hội tụ đáng kể trong trình độ học vấn Đây là kết quả của sự gia tăng trở lại trong giáo dục mà ưu tiên cho các nước phát triển với chi phí cao hơn so với các nước kém phát triển
Sylwester (2000) nghiên cứu cơ chế chuyển đổi có thể liên kết sự bất bình đẳng
về thu nhập và tăng trưởng kinh tế Các phát hiện cho thấy rằng dành nhiều nguồn lực hơn cho giáo dục có thể là một cách để giảm mức độ bất bình đẳng thu nhập
Trang 3022
Barro (2001) kiểm tra dữ liệu bảng điều tra của khoảng 100 quốc gia được quan sát từ năm 1965 đến 1995 và thấy rằng tăng trưởng có liên quan tích cực đến số năm học đạt được của nam giới trưởng thành ở cấp trung học trở lên Tăng trưởng không có
ý nghĩa quan trọng đối với việc đạt được học vấn của nữ giới ở trình độ trung học cơ sở
và cao hơn, cũng như ở trường tiểu học
Chandra (2010) tổng hợp các nghiên cứu về chi tiêu chính phủ cho giáo dục và tăng trưởng đã cho thấy sự thống nhất của hầu hết các nghiên cứu về giáo dục là điều quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế và tính gắn kết xã hội của xã hội Nhiều lợi ích tiềm năng cho xã hội từ các loại hình đầu tư công trong giáo dục không phải là ngay lập tức rõ ràng nhưng vẫn rất quan trọng trong dài hạn Chandra (2010) lấy ví dụ điển hình nhất liên quan đến bối cảnh của Ấn Độ là sự bùng nổ phần mềm phản ánh ít nhất một phần sự đầu tư công trước đó vào Viện Công nghệ Ấn Độ (IIT), đây là hiệu quả của chi tiêu chính phủ giáo dục mang lại cho tăng trưởng kinh tế Ấn Độ Hơn nữa, xã hội có những lợi ích to lớn trong việc nâng cao trình độ giáo dục nói chung, không chỉ
vì chất lượng của lực lượng lao động được cải thiện mà còn vì nhiều khía cạnh khác như sức khoẻ, vệ sinh an toàn thực phẩm và dinh dưỡng cũng được ảnh hưởng tích cực,
và vì công dân có học thức có thể hiệu quả hơn những người tham gia vào một xã hội
Chi tiêu giáo dục mang lại cho hệ thống kinh tế những tác động bên ngoài và các tác động gián tiếp khác như đạt được trình độ học vấn cao hơn và thành tích của trẻ
em, sức khoẻ tốt hơn và tỷ suất tử vong trẻ em thấp hơn, sức khoẻ cá nhân tốt hơn và
số trẻ sinh ra thấp hơn, thu nhập tăng, sự tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động như tăng nhân công; tất cả những điều này cùng với sự gia tăng dân số thấp hơn và sức khoẻ của người dân có xu hướng ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế cao hơn (Michaelowa, 2000)
Blankenau và cộng sự (2005) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về mối quan
hệ chi tiêu chính phủ giáo dục trong bối cảnh mô hình tăng trưởng nội sinh Họ nhận
Trang 3123
thấy rằng mối quan hệ phụ thuộc vào mức độ chi tiêu của chính phủ, cơ cấu thuế và các thông số của công nghệ sản xuất Việc nghiên cứu tài liệu rộng rãi trong lĩnh vực này vượt quá phạm vi của bài báo này, nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào các nghiên cứu hiện đại và liên quan nhất về mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục và tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu trước đã tập trung vào mối liên hệ giữa mức chi tiêu công với giáo dục
và tăng trưởng kinh tế; phần lớn các nghiên cứu cho rằng tăng trưởng kinh tế là nội sinh trong quan hệ với sự tích tụ vốn con người trong tăng trưởng kinh tế (Chakraborty, 2005) và rằng đầu tư vào giáo dục rất có lợi cho xã hội, cả ở mức độ vi mô cũng như vĩ
mô và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trực tiếp và gián tiếp (Dahlin, 2005)
Nhằm xác định mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục và tăng trưởng kinh tế, hầu hết các nhà nghiên cứu đã áp dụng các thử nghiệm tác động hai chiều Granger Causality tuyến tính, điều này chứng tỏ là cần thiết để xác định khả năng tiên đoán của các mô hình chuỗi thời gian (Alexakis và Siriopoulos, 1999) Cụ thể hơn, tất cả các nghiên cứu về các mối quan hệ nhân quả đều dựa vào các thử nghiệm Causality tuyến tính truyền thống với các mô hình hiệu chỉnh sai số ECM
Mặt khác, Shaari (2014) đã nghiên cứu sự liên quan giữa mức độ giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia trong giai đoạn 1982-2011 Ông phát hiện ra rằng không có dấu hiệu nào cho thấy giáo dục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Thêm nữa, Jaoul (2004) nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục đại học và tổng sản phẩm quốc nội ở Pháp và Đức từ năm 1899 đến năm 1937 Ông phát hiện ra rằng nền giáo dục đại học có ảnh hưởng đến GDP trong trường hợp Pháp, trong khi nó không xuất hiện quan hệ này cho nước Đức
Một nghiên cứu khác của Babalola (2011) cho Nigeria cho giai đoạn 1977-2008 cho thấy một mối quan hệ nhân quả đơn phương từ tăng trưởng kinh tế đến giáo dục
Daunnacica et al (2010) và Mariana (2015) sử dụng mô hình VAR và kiểm định quan hệ nhân quả Granger nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa giáo dục đại học và sự
Trang 3224
phát triển kinh tế trong thời kỳ 1980-2008 và 1980-2013, đối với trường hợp của Rumani Các phát hiện của nghiên cứu này đã đạt được bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ lâu dài giữa GDP đầu người và giáo dục thông qua giai đoạn, cho thấy giáo dục đã tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Hussin và cộng sự (2012) đã khẳng định rằng ở Malaysia, trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến năm 2010, nền giáo dục có mối quan hệ tác động lâu dài với tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Hầu hết các nghiên cứu với các khu vực khác nhau, áp dụng các phương pháp khác nhau cho thấy có mối liên hệ lâu dài tích cực giữa chi tiêu giáo dục và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên vẫn tồn tại một vài trường hợp thực nghiệm không tìm thấy ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ đối với giáo dục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Chính vì lý do vẫn còn nhiều tranh luận và xung đột về ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ, đặc biệt là chi tiêu dành cho lĩnh vực giáo dục đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, điều đó thúc đẩy nghiên cứu này được thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh kinh
tế Việt Nam hiện nay
Trang 33Bài nghiên cứu dựa trên các khung lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và mối quan
hệ với giáo dục Mankiw và cộng sự (1992), Barro và Sala-i-Martin (1995), Romer (1990), Barro (1991, 2002), Barro và Lee (2013), Krueger và Lindahl (2001), Benhabib
và Spiegel (1994) Các thảo luận này tổng kết đều cho thấy mối quan hệ tích cực giữa chi tiêu giáo dục chính phủ ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Trong các khung lý thuyết này, mô hình tăng trưởng nội sinh do Mankiw và cộng sự (1992) đã khái quát thành dạng hàm với các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng:
ED : Chi tiêu chính phủ cho giáo dục
Từ mô hình lý thuyết này, các biến được logarit tự nhiên nhằm chuyển sang dạng tốc độ tăng trưởng Đây cũng là tiếp cận của Ozatac (2018) khi nghiên cứu mối
Trang 34GDP : Tổng sản phẩm quốc nội được đo lường bằng GDP thực
K : Vốn đầu tư nền kinh tế hình thành
L : Số lượng lao động của nền kinh tế
ED : Chi tiêu chính phủ cho giáo dục
uit : Sai số mô hình hồi quy
i : quốc gia
t : thời gian năm Ngoài ra, nhằm kiểm soát thêm các yếu tố tránh hiện tượng thiếu biến, dựa trên nghiên cứu Wei (2008), gồm thêm biến kiểm soát là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bên cạnh vốn đầu tư nền kinh tế hình thành, lao động, chi tiêu chính phủ cho giáo dục,
độ mở thương mại Hàm hồi quy dài hạn như sau:
Trang 3527
Phân tích các biến trong mô hình:
Vốn đầu tư nền kinh tế hình thành (K):
Nhiều nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng, từ các lý thuyết số nhân đầu tư, lý thuyết gia tốc đầu tư, lý thuyết đầu tư trong mô hình Harrod – Domar, lý thuyết Solow (1956), đến các nghiên cứu gần đây như Jwan and James (2014), Kongphet và Masaru (2012)
Số lao động của nền kinh tế (L):
Trong mô hình tân cổ điển, lao động là một yếu tố cốt lõi ảnh hưởng tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu trên hàm sản xuất Cobb-Douglass, mô hình Solow (1956) đều nhấn mạnh vai trò của lao động Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, vai trò của lao động cũng được khẳng định tác động quan trọng tới tăng trưởng
Chi tiêu chính phủ lĩnh vực giáo dục (ED):
Chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực giáo dục: Chi tiêu chính phủ chung cho giáo dục (hiện tại, vốn và chuyển đổi) được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm so với GDP của quốc gia đó Nó bao gồm chi phí được tài trợ bởi các nguồn tài trợ quốc tế cho chính phủ Chi tiêu chính phủ bao gồm cả chi tiêu của chính quyền địa phương, khu vực và trung ương Trong nghiên cứu này, tác giả giả định tỷ lệ chi tiêu của chính phủ trong lĩnh vực giáo dục càng cao thì càng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó
Độ mở thương mại (Trade):
Độ mở thương mại của nền kinh tế được đo bằng tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP Độ mở thương mại ảnh hưởng quan trọng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ làm gia tăng nguồn vốn đầu tư quốc tế chảy vào trong nước và thông qua đó mà tích lũy vốn và gia tăng nguồn lực con người Bên cạnh đó đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đã phát hiện độ mở thương mại có
Trang 36tế từ việc tăng xuất khẩu dịch vụ và hàng hóa
Các nghiên cứu Jwan và James (2014), Kandenge (2010) tìm ra trong tăng trưởng kinh tế vai trò xuất khẩu là quan trọng
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đề cập đến dòng vốn đầu tư trực tiếp trong nền kinh
tế báo cáo Đó là tổng số vốn cổ phần, tái đầu tư thu nhập và vốn khác Đầu tư trực tiếp
là một loại đầu tư xuyên biên giới gắn liền với một cư dân trong một nền kinh tế có kiểm soát hoặc mức độ ảnh hưởng đáng kể đến việc quản lý một doanh nghiệp cư trú
trong một nền kinh tế khác Quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng là chủ
đề phổ biến trong các nghiên cứu Các kết quả cho thấy cả mối quan hệ tích cực và tiêu cực Như Balasubramanyam và cộng sự (1996) phân tích FDI có yếu tố cốt lõi trong xuất khẩu, kết quả này thu thập dữ liệu và chứng minh tại 46 quốc gia thực nghiệm
Ngoài ra, Karikari (1992) cũng nghiên cứu tại Ghana và cho thấy FDI không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các bằng chứng về FDI thường không đồng nhất Sử Đình Thành và Minh Tiến (2014) thấy rằng FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kết quả này trong dài hạn khi thực nghiệm tại các tỉnh thành Việt Nam trong thời kỳ 1997-2012
Dựa vào các thảo luận trên, tác giả tổng hợp bảng kỳ vọng dấu như sau:
Trang 3729
Bảng 3.1: Cách tính toán biến và dấu kỳ vọng
Ký hiệu Tên biến Mô tả dữ liệu Kỳ vọng dấu GDP Tổng sản phẩm
quốc nội thực
Tổng sản phẩm quốc nội thực GDP năm gốc 2010 (USD)
3.2 CỠ MẪU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiến hành ước lượng hồi quy dữ liệu bảng Dữ liệu nghiên cứu gồm
9 các quốc gia Đông Nam Á có dữ liệu đầy đủ Bao gồm:
Trang 38Myanmar không là quốc gia nghiên cứu mặc dù thuộc khu vực Đông Nam Á lý
do là thiếu dữ liệu chi tiêu chính phủ cho giáo dục trong giai đoạn này ở dữ liệu công
Trang 3931
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KIỂM ĐỊNH THỰC HIỆN
Trước khi đi vào các bước kiểm định dữ liệu mô hình, tác giả thực hiện việc đánh giá sơ bộ về thống kê mô tả các biến nghiên cứu Thống kê về giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, độ lệch chuẩn, giá trị trung bình, …
Xem xét đánh giá số lượng quan sát và các quan sát khác biệt trong cỡ mẫu nghiên cứu
3.3.1 Ưu điểm dữ liệu bảng
Dựa trên tổng hợp Baltagi (2008) về ưu điểm dữ liệu bảng Dữ liệu bảng gồm hai thành phần không gian và thời gian
Không gian có thể là quốc gia, công ty, người, ngân hàng, các chủ thể khác Yếu
tố này thay đổi theo thời gian, tạo ra bộ dữ liệu bảng
Luận văn này nghiên cứu tại các quốc gia Đông Nam Á trong thời gian
2000-2016 cũng trên dữ liệu bảng
Dữ liệu bảng làm tăng số lượng quan sát, giảm đa cộng tuyến, tăng bậc tự do ước lượng, cho kiểm định tin cậy hơn Ngoài ra, các phương pháp trên ước lượng dữ liệu bảng cho phép loại bỏ các yếu tố khác biệt giữa các quốc gia không quan sát được,
ví dụ là ngôn ngữ, khoáng sản, văn hóa … so với mô hình trên chuỗi thời gian không
đo lường và kiểm soát loại bỏ được các yếu tố này
3.3.2 Kiểm định tính dừng
Trong phân tích chuỗi thời gian, chuỗi thời gian nào có tính chất dừng mới cho
ra một kết quả ước lượng đáng tin cậy, nhằm tránh hồi quy giả mạo
Vì vậy, trước khi thực hiện lựa chọn phương pháp phân tích, điều tiên quyết trước hết cần phải kiểm định xem chuỗi dữ liệu quan sát là dừng hay không
Trang 4032
Biến có tính dừng (stationarity) là biến có giá trị thống kê không thay đổi theo thời gian Ngược lại, biến không có tính dừng là biến có giá trị thống kê thay đổi theo thời gian
Có nhiều phương pháp khác nhau để kiểm định tính dừng như phương pháp kiểm định tính dừng, với dữ liệu bảng và cỡ mẫu N và T tương đối bằng nhau, kiểm định IPS (2003) là phù hợp với cỡ mẫu
3.3.3 Kiểm định đồng liên kết
Tính không dừng của dữ liệu chuỗi thời gian là cơ sở để tiến hành bước tiếp theo chính là kiểm định đồng liên kết cho dữ liệu Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết được phát triển bởi Pedroni, đây là kiểm định đồng liên kết phổ biến trong phân tích dữ liệu bảng
Mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến được tìm thấy rất quan trọng cho phép kiểm soát thông tin dài hạn trong phương trình cân bằng hiệu chỉnh sai số ECM có ý nghĩa
Giả thiết H0: Không tồn tại hiện tượng đồng liên kết
Giả thiết H1: Tồn tại hiện tượng đồng liên kết
Để quyết định bác bỏ hay chấp nhận giả thiết H0 cần so sánh giá trị thống kê với giá trị tới hạn Critical Value ở mức ý nghĩa xác định được lựa chọn
Nếu tồn tại đồng liên kết trong mô hình, cho phép phân tích dài hạn bằng phương trình ước lượng với dữ liệu gốc và phân tích ngắn hạn bởi phương pháp ước lượng ECM trên sai phân bậc 1 của dữ liệu
Sau khi đã lựa chọn được mô hình phù hợp, phần tiếp theo tác giả kiểm định các giả thiết định lượng nhằm lựa chọn phương pháp ước lượng tin cậy