Căn cứ vào cơ sở và lý do trên, vấn đề nghiên cứu của đề tài là chỉ ra các yếu tố đặc trưng ngân hàng, đặc trưng ngành và các yếu tố vĩ mô tác động đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Các yếu tố đặc điểm ngân hàng, đặc điểm ngành, kinh tế vĩ mô tác động đến lợi nhuận ngân hàng thương mại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính tôi
Ngoài những tài liệu tham khảo đã được trích dẫn trong luận văn và nguồn
dữ liệu sử dụng để phân tích trong đề tài này là báo cáo tài chính của các ngân hàng, tôi bảo đảm nội dung luận văn là độc lập, không sao chép từ bất kỳ một công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 10 năm 2018
Tác giả
NGUYỄN THỊ LIỄU
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Phương pháp nghiên cứu 4
1.7 Kết cấu luận văn gồm 5 chương 5
1.8 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2 CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6
2.1 Khung lý thuyết về lợi nhuận của các ngân hàng 6
2.1.1 Mô hình cấu trúc – hành vi – hiệu quả 8
2.1.2 Lý thuyết hiệu quả 10
2.2 Tổng quan nghiên cứu trước đây 10
2.2.1 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu 11
2.2.2 Quy mô ngân hàng 12
2.2.3 Chất lượng tài sản 12
2.2.4 Thanh khoản 13
2.2.5 Thuế 14
Trang 52.2.6 Hiệu quả chi phí 14
2.2.7 Thu nhập phi lãi 16
2.2.8 Mức độ tập trung ngành ngân hàng 16
2.2.9 Sự phát triển ngành ngân hàng 17
2.2.10 Sự phát triển thị trường chứng khoán 18
2.2.11 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 19
2.2.12 Lạm phát 20
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 23
3.1 Mô hình nghiên cứu 23
3.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 23
3.1.2 Mô hình và quy trình nghiên cứu 24
3.2 Đo lường biến 25
3.2.1 Lợi nhuận ngân hàng 25
3.2.2 Đặc điểm ngân hàng 26
3.2.3 Đặc điểm của ngành ngân hàng 30
3.2.4 Đặc điểm kinh tế vĩ mô 32
3.3 Phương pháp ước lượng 33
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 Tổng quan về tình hình hoạt động của NHTM Việt Nam 36
4.1.1 Tổng tài sản 36
4.1.2 Dư nợ cho vay 37
4.1.3 Tiền gửi khách hàng 39
4.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM tại Việt Nam 40
4.2.1 Thu nhập lãi thuần 40
4.2.2 Chi phí hoạt động 42
4.2.3 ROA 44
4.3 Kết quả nghiên cứu 46
4.3.1 Thống kê mô tả và ma trận tương quan 46
4.3.2 Kết quả ước lượng xác định lợi nhuận ngân hàng 49
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 61
Trang 65.1 Kết luận 61 5.2 Hàm ý chính sách 62 5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Giải thích
BCTC : Báo cáo tài chính
BCTN : Báo cáo thường niên
CAR : Capital Adequacy Ratio
- Hệ số an toàn vốn tối thiểu
CPI
: Consumer Price Index
- Chỉ số giá tiêu dùng
DPRR : Dự phòng rủi ro
EPS : Earning Per Share
- Thu nhập trên cổ phiếu
GDP
: Gross Domestic Product
- Tổng sản phẩm nội địa
GMM : General Method of Moments
- Phương pháp ước lượng moment
HQTC : Hiệu quả tài chính
NH : Ngân hàng
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NIM : Net Interest Margin
- Thu nhập lãi cận biên
ROA
: Return on Assets
- Lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE : Return on Equity
- Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
SCP : Structer – Conduct – Performance Models
- Mô hình cấu trúc – hành vi – hiệu quả
Trang 8TCNH : Tài chính ngân hàng
VCSH : Vốn chủ sở hữu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tóm lược các nghiên cứu trước đây 20
Bảng 3.1 Mô tả chi tiết các biến trong luận văn 34
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong luận văn 46
Bảng 4.2 Ma trận trương quan các biến trong luận văn 48
Bảng 4.3 Kết quả ước lượng lợi nhuận ROA 50
Bảng 4.4 Kết quả ước lượng lợi nhuận ROE 54
Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả nghiên cứu 59
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 4.1 Tình hình tổng tài sản của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn
Hình 4.6 Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động của các ngân hàng
thương mại trong giai đoạn 2005 – 2017 44
Hình 4.7 Tình hình ROA của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn trong giai
đoạn 2005 – 2017 45
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1.1 Lý do nghiên cứu
Thị trường tài chính luôn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và ổn định nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới Trong đó, hệ thống ngân hàng là trung gian tài chính, vừa đóng vai trò là nhà đầu tư để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đồng thời đóng vai trò là công cụ để Ngân hàng Trung Ương điều tiết chính sách tiền tệ, vì vậy sự ổn định và phát triển của ngành ngân hàng là hết sức quan trọng Một quốc gia có một hệ thống ngân hàng phát triển và ổn định sẽ góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia đó
Đối với hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, là một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống tài chính quốc gia, kể từ khi đổi mới và hội nhập kinh tế thế giới,
đã có sự phát triển vượt bậc không chỉ trong số lượng ngân hàng mà còn ở chất lượng, đa dạng hoá về loại hình sở hữu, nâng cao kỹ năng quản trị điều hành, năng lực hoạt động nhằm phù hợp với yêu cầu đổi mới và phát triển của nền kinh tế hội nhập quốc tế
Bên cạnh đó, kể từ khi gia nhập kinh tế thế giới, hệ thống ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn.Thứ nhất là hệ thống ngân hàng ở nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều chịu sự tác động của các cuộc khủng hoảng kinh tế trong thời gian qua, nên lợi nhuận của ngành ngân hàng cũng bị ảnh hưởng không nhỏ Thứ hai là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, lợi nhuận của các ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước và các NHTM cổ phần tại Việt Nam thấp do trình độ và kỷ thuật còn lạc hậu nên gặp không ít khó khăn trong việc cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài Thứ ba là hệ thống ngân hàng Việt Nam còn những vấn đề cần được cải thiện như : vấn đề nợ xấu của các ngân hàng vẫn còn rất cao trong thời gian hiện nay, vấn đề quy mô ngân hàng vẫn chưa cao, vẫn còn tồn tại rất nhiều ngân hàng yếu kém về năng lực cạnh tranh cũng như khả năng thanh khoản, và đặc biệt là vấn đề sỡ hữu chéo giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng (TCTD) đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng
Trang 12Như tất cả những doanh nghiệp kinh doanh khác, thì hiệu quả hoạt động cũng như lợi nhuận của ngân hàng rất là quan trọng, lợi nhuận của ngân hàng không chỉ được quan tâm bởi những cổ đông mà còn được nghiên cứu bởi những nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách, và nó là yếu tố quyết định sự tồn vong của ngân hàng, quyết định đến giá cổ phiếu, khả năng cạnh tranh của ngân hàng và ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư, của người dân vào ngân hàng Vì vậy, việc tìm hiểu rõ hơn về những nguyên nhân ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là cần thiết trong bối cảnh hiện tại
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài“CÁC YẾU TỐ ĐẶC ĐIỂM NGÂN HÀNG, ĐẶC ĐIỂM NGÀNH, KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM” làm đề tài nghiên cứu luận văn
thạc sĩ
1.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Ví dụ như tại Mỹ thì có nghiên cứu của Smirlock (1985) Tại châu
Âu thì có Molyneux và Thorntton (1992), Dietrich và wanzenried (2011) Không những thế các nghiên cứu còn được mở rộng trên phạm vi quốc tế như nghiên cứu của Bourke (1989), hay các nền kinh tế mới nổi: Sufian (2011), Vong và Chan (2009) Cho dù việc nghiên cứu trên một quốc gia hay nhiều quốc gia đi chăng nữa thì cũng sẽ không có sự khác biệt nhiều Đa số các nghiên cứu trước đây cho rằng hai nhóm yếu tố cơ bản tác động đến lợi nhuận của ngân hàng đó là nhóm yếu tố nội bộ và nhóm yếu tố bên ngoài, và hai nhóm yếu tố này sẽ tác động đến lợi nhuận của ngân hàng theo chiều hướng và mức độ tác động khác nhau
Căn cứ vào cơ sở và lý do trên, vấn đề nghiên cứu của đề tài là chỉ ra các yếu
tố đặc trưng ngân hàng, đặc trưng ngành và các yếu tố vĩ mô tác động đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam, cũng như đưa ra mức độ tác động của các yếu
tố trên, đăc biệt là yếu tố sự phát triển của ngành ngân hàng trên thị trường chứng khoán, Tan và Floros (2012)
Trang 131.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Bài luận văn nhằm nghiên cứu, tìm hiểu các yếu tố và mức độ tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Tìm ra các yếu tố quan trọng
và mức độ ảnh huởng của các yếu tố từ đó giúp các nhà quản trị đưa ra những hàm
ý chính sách hợp lý để nâng cao lợi nhuận của ngân hàng
Mục tiêu cụ thể của đề tài
- Phân tích thực trạng và đánh giá lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2005-2017
- Ứng dụng phương pháp hồi quy dựa trên dữ liệu của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2005-2017 để đánh giá, xác định mức độ tác động của
ba nhóm yếu tố: đặc điểm ngân hàng, đặc điểm ngành, và nhóm yếu tố kinh tế
vĩ mô đến lợi nhuận của Ngân hàng thương mại Việt Nam
- Nêu ra những hàm ý chính sách nhằm nâng cao lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu để đạt được các mục tiêu đã đề ra, các câu hỏi được đặt ra như sau:
- Lợi nhuận các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2005-2017 có hiệu quả hay không?
- Một số yếu tố đặc điểm ngân hàng, đặc điểm ngành tác động và có ý nghĩa như thế nào đến lợi nhuận của ngân hàng?
- Một số yếu tố môi trường kinh tế vĩ mô bên ngoài tác động và có ý nghĩa như thế nào đến lợi nhuận của ngân hàng?
- Mức độ và chiều hướng tác động của các nhóm yếu tố trên như thế nào?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu các yếu tố đặc điểm ngân hàng, đặc điểm ngành, kinh tế vĩ mô tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ 2005 đến 2017
Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nghiên cứu về không gian: Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu 26 ngân hàng thương mại Việt Nam (xem Phụ lục 1 – Danh sách các ngân hàng sử dụng trong nghiên cứu)
+ Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Thu thập, tổng hợp số liệu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2005 – 2017 Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng và cơ sở dữ liệu của FiinPro Ngoài việc sử dụng các số liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần, luận văn cũng sử dụng một số số liệu đại diện cho đặc điểm của ngành ngân hàng cũng như đặc điểm kinh tế vĩ mô Các số liệu này được tác giả thu thập từ cơ sở
dữ liệu Phát triển tài chính toàn cầu (Global Financial Development) và cơ sở dữ liệu Chỉ tiêu phát triển thế giới (World Development Indicators) của WorldBank
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
và sử dụng mô hình phân tích hồi quy dữ liệu bảng để phân tích yếu tố quyết định đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam
Luận văn sử dụng mô hình nghiên cứu của Tan và Floros (2012) đã sử dụng trong nghiên cứu của tác giả với tên đề tài “Lợi nhuận của ngân hàng và lạm phát: trường hợp của Trung Quốc” Cụ thể, phương trình ước lượng được trình bày như sau:
Trang 15đang gánh chịu, 𝐸𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦𝑖𝑡 đo lường cấu trúc vốn của ngân hàng, 𝐶𝑜𝑠𝑡𝑖𝑡 là hiệu quả chi phí của ngân hàng, 𝑁𝑜𝑛𝑖𝑛𝑡𝑖𝑡 thể hiện thu nhập phi lãi, 𝑋𝑖𝑡 là tập hợp các biến số thể hiện đặc điểm của ngành ngân hàng và đặc điểm kinh tế vĩ mô của Việt Nam
Và 𝜀𝑖𝑡 là sai số của mô hình nghiên cứu
1.7 Kết cấu luận văn gồm 5 chương
Chương 1: Giới thiệu tổng quan
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đó
Chương 3: Mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
1.8 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Về mặt khoa học: bài nghiên cứu hệ thống hóa và tổng kết những vấn đề mang tính lý luận về lợi nhuận của NHTM Ngoài ra bài nghiên cứu không chỉ đánh giá thực trạng lợi nhuận của các NHTM Việt Nam mà còn nhận diện, phân tích, đánh giá các yếu tố tác động đến lợi nhuận của NHTM Việt Nam giai đoạn 2005-
2017 Bên cạnh đó, đề tài đưa ra bằng chứng thực nghiệm và bổ sung thêm tài liệu nghiên cứu về lợi nhuận của ngân hàng, và đề ra hướng nghiên cứu tiếp theo chuyên sâu hơn
Về mặt thực tiễn: thông qua kết quả nghiên cứu, nhà quản trị có cơ sở để đưa
ra những chính sách hợp lý, đồng thời gợi ý các hàm ý chính sách giúp nhà lãnh đạo
có thể nâng cao lợi nhuận của ngân hàng, tạo nên một nghành ngân hàng phát triển
và ổn định tại thị trường Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 2 CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khung lý thuyết về lợi nhuận của các ngân hàng
Theo Trần Huy Hoàng (2010), Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của NHTM là một khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu phải thu trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý hợp lệ
Lợi nhuận ngân hàng là yếu tố quyết định đến giá cổ phiếu ngân hàng, là yếu
tố giúp các nhà quản trị đo lường hiệu quả ở các kỹ năng phân tích và kỹ năng xử lý trước sự diễn biến tình hình kinh tế, lợi nhuận ngân hàng còn là động lực thúc đẩy các cổ đông, các nhà điều hành, nhà đầu tư trong việc hoạch định các chiến lược, nhằm quyết định tài trợ, đầu tư trong một giai đoạn nhất định
Vì thế mà lợi nhuận ngân hàng thể hiện sức mạnh tài chính dài hạn của ngân hàng được đánh giá thông qua bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng
Các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận ngân hàng thương mại
Theo Peter S Rose (2002), những tỷ lệ quan trọng nhất để đo lường lợi nhuận của ngân hàng thương mại được sử dụng hiện nay bao gồm: Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập lãi ròng cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập trên cổ phiếu (EPS)
Trong rất nhiều chỉ tiêu đo lường lợi nhuận ngân hàng, trong luận văn tác giả
sử dụng hai đại diện làm đại diện cho lợi nhuận ngân hàng để phân tích:
Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
ROA = Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản
ROA là chỉ tiêu chủ yếu phản ánh hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng
Trang 17ROA thể hiện tính hiệu quả trong việc quản lý tài sản mà không quan tâm đến nguồn vốn hình thành nên tài sản Do đó, các ngân hàng thường so sánh ROA giữa các năm hoặc giữa các ngân hàng có cùng quy mô
Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu
ROE đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng, phản ánh một đồng vốn bỏ ra có thể mang lại cho chủ sở hữu bao nhiều đồng thu nhập, có nghĩa
là nhà đầu tư chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính
Khung lý thuyết về lợi nhuận của ngân hàng
Theo các lý thuyết có liên quan đến lợi nhuận của các ngân hàng trước đây, không có một lý thuyết tổng quát nào đối với việc phân tích lợi nhuận của các ngân hàng, do đó, luận văn này sẽ cố gắng tổng quan lại quan điểm của một số lý thuyết
có liên quan đến lợi nhuận và các yếu tố xác định lợi nhuận của các ngân hàng
Khung lý thuyết mà luận văn này dựa vào để phân tích lợi nhuận của các ngân hàng là phương pháp tiếp cận cấu trúc (structural approaches) Phương pháp tiếp cận cấu trúc chủ yếu dựa vào mô hình cấu trúc – hành vi – hiệu quả (Structure – Conduct – Performance Models) Đồng thời, phương pháp tiếp cận cấu trúc phân tích cách mà một thị trường tập trung làm giảm tính cạnh tranh của thị trường khi cho rằng tồn tại hành vi thỏa hiệp giữa các ngân hàng (Panzar và Rosse, 1987)
Hơn thế nữa, dưới quan điểm của lý thuyết truyền thống của các công ty, mục tiêu chính của các công ty là đơn giản tối đa hóa lợi nhuận của các công ty Tuy nhiên, trong thực tế thì lý thuyết này không thực sự còn chính xác bởi vì trong bối cảnh hiện tại, các công ty cạnh tranh với nhau bằng cách cung cấp nhiều loại sản phẩm và dịch vụ hơn, đồng thời các công ty cũng phải đưa ra các quyết định phức tạp hơn rất nhiều trong môi trường kinh doanh năng động và đầy sự biến động như hiện nay (Devinaga, 2010) Do đó hầu hết các nhà nghiên cứu ưa thích sử dụng
Trang 18lý thuyết cấu trúc thị trường (market structure theory) hơn là lý thuyết truyền thống khi phân tích lợi nhuận của các ngành Tương tự với các nhà nghiên cứu khác, luận văn này cũng sử dụng lý thuyết cấu trúc thị trường để phân tích lợi nhuận của các ngân hàng bằng cách giả định rằng cấu trúc ngành (được đo lường bởi mức độ tập trung của ngành) có tác động đáng kể đến lợi nhuận của các ngân hàng Lý thuyết
đề cập đến các cách đo lường cấu trúc thị trường (phương pháp tiếp cận cấu trúc) được chia làm hai loại chính, đó là (i) mô hình cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP)
và (ii) lý thuyết hiệu quả (efficiency hypothesis)
2.1.1 Mô hình cấu trúc – hành vi – hiệu quả
Mô hình cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP) có nguồn gốc từ việc phân tích tân cổ điển của thị trường (neo-classical analysis of market) Nó được nghiên cứu đầu tiên bởi Mason ở năm 1939 như là một phương pháp phân tích thị trường và các công ty (Worthington và các cộng sự, 2001) Mô hình SCP được xây dựng dựa trên các ý kiến tổng hợp từ các công trình thực nghiệm của trường Đại học Harvard trong suốt giai đoạn 1940 – 1960 khi xem xét mối tương quan giữa cấu trúc của ngành và lợi nhuận Sau khi mô hình SCP được công bố, các nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để giải thích mối quan hệ giữa mức độ tập trung của thị trường và lợi nhuận dựa vào mô hình SCP và tìm thấy tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ tập trung và lợi nhuận của các ngân hàng (Goddard và các cộng
sự, 2004)
Mô hình SCP khẳng định rằng tồn tại mối quan hệ giữa mức độ tập trung thị trường và mức độ cạnh tranh của thị trường Mô hình giả định rằng hành vi của các công ty được xác định bởi điều kiện của cấu trúc thị trường, đặc biệt là số lượng và quy mô của các công ty trong ngành và điều kiện gia nhập ngành Sự cạnh tranh này
sẽ dẫn đến sự thống nhất mức giá, lợi nhuận và các khía cạnh khác của hiệu quả hoạt động của thị trường (Berger và các cộng sự, 1989) Mô hình cấu trúc – hành vi – hiệu quả, đôi khi cũng được nhắc đến như là lý thuyết quyền lực thị trường (market power hypothesis), khẳng định rằng sự gia tăng quyền lực thị trường sẽ gia tăng lợi nhuận độc quyền Một trường hợp đặc biệt của mô hình SCP là giả thuyết
Trang 19quyền lực thị trường tương đối (relative-market-power hypothesis), được đề nghị rằng chỉ có các công ty có thị phần lớn và sản phẩm đa dạng mới có thể thực hiện quyền lực thị trường và đạt được nhiều lợi nhuận hơn (Berger, 1995)
Hơn thế nữa, mô hình SCP cũng ghi nhận rằng tính cạnh tranh của các ngân hàng có thị phần nhỏ hoạt động trong thị trường có thị phần lớn thì gần như là yếu, điều này như là kết quả của mối quan hệ cùng chiều giữa sự tập trung của ngành ngân hàng và lợi nhuận của các ngân hàng có thị phần lớn (Berger và Hannan, 1989) Như được đề cập trong mô hình SCP, thị trường tập trung sẽ khuyến khích các công ty có quy mô lớn thỏa hiệp với nhau trong cùng một ngành, và sau đó là sự gia tăng trong lợi nhuận của các công ty này Do vậy, mô hình SCP chỉ ra rằng những sự thay đổi trong thị trường tập trung có thể có một ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các công ty Các công ty hoạt động ở thị trường càng tập trung sẽ càng có thể đạt được lợi nhuận cao hơn các công ty hoạt động trong thị trường ít tập trung hơn, bất kể hiệu quả của các công ty là như thế nào (Goldberg và các cộng sự, 1996)
Giả thuyết quyền lực thị trường tương đối là một trường hợp đặc biệt của mô hình SCP đã chỉ ra rằng chỉ các ngân hàng có thị phần lớn và các dịch vụ đa dạng thì mới có thể thực hiện quyền lực thị trường và đạt được lợi nhuận cao hơn từ việc
có thể thiết lập giá cả (Berger, 1995) Các nghiên cứu được thực hiện bởi Smirlock (1985) và Berger và Hannan (1989) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và lợi nhuận của các ngân hàng dựa vào việc kiểm định giả thuyết quyền lực thị trường tương đối Các tác giả cho rằng mô hình SCP cung cấp hai ưu điểm trong việc phân tích hành vi lợi nhuận của các ngân hàng Đầu tiên, mô hình SCP cung cấp cách mà lợi nhuận của ngân hàng được tạo ra, do đó, nó giải thích được các yếu
tố khác biệt trong việc thu hẹp hoặc mở rộng hoạt động của ngân hàng trong một thị trường Thứ hai, mô hình SCP cung cấp một cơ sở hợp lý cho việc phân tích hành vi của thị trường
Trang 202.1.2 Lý thuyết hiệu quả
Ngoài mô hình cấu trúc – hành vi – hiệu quả dùng để giải thích lợi nhuận của các ngân hàng, lý thuyết hiệu quả cũng thường được sử dụng làm khung lý thuyết khi xem xét lợi nhuận của các ngân hàng Dựa vào lý thuyết hiệu quả, mối quan hệ cùng chiều giữa sự tập trung và lợi nhuận có thể phản ánh mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và sự hiệu quả Lý thuyết này khẳng định rằng các ngân hàng hoạt động hiệu quả trong một thị trường có thể kéo theo sự gia tăng quy mô và thị phần của ngân hàng do hành vi chiếm lĩnh thị trường Hành vi này của các ngân hàng hoạt động hiệu quả cho phép các ngân hàng tập trung và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn với sự nâng cao thị phần của các ngân hàng trong tương lai Các ngân hàng này
có thể tối đa hóa lợi nhuận bằng cách duy trì một mức giá của sản phẩm hoặc phí dịch vụ hiện tại hoặc bằng cách giảm phí dịch vụ và mở rộng quy mô của ngân hàng (Smirlock, 1985)
Cuối cùng, lý thuyết hiệu quả khẳng định rằng mối quan hệ cùng chiều giữa
sự tập trung và lợi nhuận là kết quả từ việc thiết lập một mức giá thấp hơn (Goldberg và các cộng sự, 1996) Ngược lại với mô hình SCP, lý thuyết hiệu quả không thật sự khẳng định rằng lợi nhuận cao của các ngân hàng có quy mô lớn là kết quả của thị trường tập trung Như được giải thích bởi Berger và Hannan (1989),
mô hình SCP và lý thuyết hiệu quả đều cho rằng có tồn tại mối quan hệ giữa sự tập trung và lợi nhuận
2.2 Tổng quan nghiên cứu trước đây
Lợi nhuận của ngân hàng
Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) phản ánh mức lợi nhuận trên tài sản của công ty sau khi đã loại trừ các khoản chi phí và thuế (Van Horne và Wachowicz, 2005) Nó đo lường mức lợi nhuận sau thuế đối với mỗi đô la mà công ty đầu tư vào tài sản Nhìn chung, tỷ lệ này càng cao càng hàm ý tính hữu ích của tài sản mà công
ty đang nắm giữ và hiệu quả quản trị tốt hơn, trong khi tỷ lệ càng thấp càng ngụ ý rằng việc sử dụng tài sản là không hiệu quả Nhiều nghiên cứu đã sử dụng tỷ lệ lợi
Trang 21nhuận trên tổng tài sản là biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu khi giải thích lợi nhuận của các ngân hàng Ví dụ như, Naceur (2003) đã sử dụng tỷ lệ thu nhập lãi thuần và tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản với vai trò là biến phụ thuộc trong nghiên cứu của tác giả khi xem xét lợi nhuận của các ngân hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ Nghiên cứu ở các quốc gia cũng được thực hiện bởi Akhtar và các cộng sự (2011) cũng sử dụng tỷ
lệ lợi nhuận trên tài sản như là cách đo lường lợi nhuận trong nghiên cứu của các tác giả về vấn đề lợi nhuận của các ngân hàng ở Pakistan
Bên cạnh đó, một số tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng tỷ
lệ lợi nhuận trên tài sản làm đại diện cho lợi nhuận Naceur (2003) đã sử dụng tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản như là chỉ tiêu đại diện cho lợi nhuận và là biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu của các tác giả bởi vì các tác giả tin rằng tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản sẽ giúp xác định được mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của ngân hàng
Hassan và Bashir (2003) đã sử dụng cả tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA) và
tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) để đại diện cho lợi nhuận của ngân hàng trong bài nghiên cứu của tác giả khi xác định lợi nhuận của các ngân hàng Hồi giáo Hassan nhấn mạnh rằng tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản có thể phản ánh được khả năng quản lý để có thể tận dụng được nguồn tài nguyên đầu tư và tài chính của ngân hàng
để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng Do đó, nhiều tổ chức cho rằng tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản là một cách đo lường hiệu quả của ngân hàng tốt nhất Theo Flamini và các cộng sự (2009), ROA là một đại diện tốt hơn so với ROE bởi vì việc phân tích dựa vào ROE thì không xem xét đến đòn bẩy tài chính
2.2.1 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu là công cụ để đánh giá tính an toàn của ngân hàng, một
số nhà nghiên cứu giải thích khi một ngân hàng có tỷ lệ vốn càng cao hoặc càng có nhiều vốn chủ sở hữu thì điều này cho thấy rằng ngân hàng đang an toàn hơn và là một điểm thuận lợi để có thể đạt được lợi nhuận cao hơn (Vong và Chan, 2009) Vong và Chan (2009) cũng tìm thấy bằng chứng rằng vốn có ảnh hưởng cùng chiều đến lợi nhuận của ngân hàng trong nghiên cứu của mình khi nghiên cứu các yếu tố
Trang 22tác động đến lợi nhuận ngân hàng tại Macao Trong nghiên cứu của các tác giả, các tác giả lập luận rằng một ngân hàng có vốn càng cao sẽ đối mặt với chi phí phá sản thấp hơn và do đó sẽ có lợi nhuận nhiều hơn Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Abreu và Mendes (2002) khi nghiên cứu về lợi nhuận ngân hàng của các nước liên minh châu âu EU
2.2.2 Quy mô ngân hàng
Quy mô ngân hàng là một trong các biến xác định lợi nhuận của các ngân hàng Boyd và các cộng sự (1993) cho rằng quy mô ngân hàng cũng có tương quan với khái niệm quy mô nền kinh tế Theo Idris và các cộng sự (2011) tác giả tìm thấy rằng quy mô ngân hàng là một biến có ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng và ảnh hưởng này là cùng chiều Idris và các cộng sự (2011) tìm rằng các ngân hàng lớn sẽ có các lợi thế thương mại trong việc đàm phán mức giá đầu vào (được thể hiện qua lãi suất huy động) và do đó sẽ làm giảm chi phí mà ngân hàng phải gánh chịu Vì vậy, các ngân hàng này sẽ có thể tận dụng quy mô nền kinh tế và cải thiện lợi nhuận của mình
2.2.3 Chất lượng tài sản
Bên cạnh tính thanh khoản, quy mô ngân hàng thì chất lượng tài sản cũng là một trong các yếu tố quan trọng trong việc xác định lợi nhuận của các ngân hàng bởi vì chất lượng tài sản của ngân hàng càng thấp có thể gây ra rủi ro tín dụng của ngân hàng cũng như dẫn đến việc phá sản ngân hàng Nhiều bài nghiên cứu kỳ vọng mối quan hệ giữa chất lượng tài sản và lợi nhuận của các ngân hàng là cùng chiều, điều này có thể được hiểu như là nợ xấu của ngân hàng càng cao (chất lượng tài sản càng thấp) thì lợi nhuận của ngân hàng càng thấp Do đó, chất lượng tài sản được biết đến như là chất lượng của các khoản cho vay cần được quan tâm để có thể tạo
ra lợi nhuận tốt cho ngân hàng
Hơn thế nữa, Cooper và các cộng sự (2003) cho rằng sự thay đổi trong rủi ro tín dụng có thể phản ánh được sự thay đổi trong chất lượng tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ và điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng Điều này
Trang 23thể hiện rõ hơn khi ngân hàng càng có chất lượng tài sản càng thấp cho thấy ngân hàng đang nắm giữ lượng tài sản không sinh lời, không những thế, ngân hàng phải trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và sẽ làm giảm lợi nhuận cũng như giảm lợi nhuận của các ngân hàng Các nghiên cứu thực nghiệm cung cấp bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng là ngược chiều bao gồm các nghiên cứu của Athanasoglou và các cộng sự (2008), Trujillo – Ponce (2013), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), Phạm Hữu Hồng Thái (2013)
2.2.4 Thanh khoản
Tỷ lệ thanh khoản là một trong các yếu tố bên trong của ngân hàng có ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng Nhiều nghiên cứu đã sử dụng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ tài trợ trên tổng huy động tiền gửi để làm đại diện cho tính thanh khoản của các ngân hàng Tỷ lệ thanh khoản phản ánh phần trăm tổng tài sản được sử dụng để cho vay các khách hàng
Kosmidou và các cộng sự (2005) đã thực hiện nghiên cứu các ngân hàng thương mại ở Anh và phát hiện ra mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ thanh khoản
và lợi nhuận của các ngân hàng được đại diện bởi tỷ lệ thu nhập lãi thuần Tuy nhiên mối quan hệ này chỉ có ý nghĩa thống kê khi xem xét thêm các yếu tố bên ngoài Bourke (1989) và Sufian và Habibulah (2010) tìm thấy rằng khi sử dụng tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản và tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản làm đại diện cho tính thanh khoản, kết quả cho thấy tính thanh khoản có mối quan hệ cùng chiều với lợi nhuận của các ngân hàng Kết quả này hàm ý rằng các ngân hàng càng
có tính thanh khoản càng cao sẽ càng có nhiều lợi nhuận hơn
Tuy nhiên, với việc sử dụng đại diện tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản và cho vay trên tổng tài sản, Molyneux và Thornton (1992) lại tìm thấy bằng chứng cho rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa tính thanh khoản và lợi nhuận của các ngân hàng với lập luận rằng mức độ thanh khoản của ngân hàng càng thấp
sẽ càng cải thiện lợi nhuận của các ngân hàng và mức độ thanh khoản của ngân hàng càng cao sẽ càng làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng Sự khác biệt trong
Trang 24kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu này là do sự khác biệt trong cơ cấu cho vay của từng mẫu nghiên cứu trong các nghiên cứu
Tương tự với kết quả thực nghiệm được tìm thấy bởi Albertazzi và Gambacorta (2010) khi xem xét mối quan hệ giữa thuế phải nộp và lợi nhuận ngân hàng, Tan và Floros (2012) cũng phát hiện một bằng chứng thực nghiệm ủng hộ cho mối quan hệ này khi cho rằng thuế phải nộp có ảnh hưởng ngược chiều đến lợi nhuận của các ngân hàng Các tác giả cho rằng thuế phải nộp càng cao sẽ dẫn đến chi phí mà ngân hàng gánh chịu càng lớn và do đó sẽ làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng
2.2.6 Hiệu quả chi phí
Quản trị chi phí được các nhà nghiên cứu trước đây về lợi nhuận ngân hàng xem xét như là một thành phần quan trọng trong việc xác định lợi nhuận Cơ chế quản trị chi phí càng yếu kém càng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, và một cơ chế quản trị chi phí hiệu quả sẽ giúp ngân hàng cải thiện lợi nhuận của mình Chi phí hoạt động của ngân hàng bao gồm chi nộp thuế và các khoản phí, lệ phí; chi phí
Trang 25cho nhân viên (bao gồm lương, phụ cấp và các khoản trợ cấp khác); chi về tài sản; chi cho hoạt động quản lý công cụ và các loại chi phí khác Chi phí hoạt động của ngân hàng được kỳ vọng có mối quan hệ ngược chiều với lợi nhuận của các ngân hàng do mức chi phí hoạt động càng thấp sẽ càng cải thiện được lợi nhuận mà ngân hàng có được Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại đề nghị rằng mối quan hệ giữa chi phí hoạt động và lợi nhuận ngân hàng là cùng chiều với lý do rằng các ngân hàng càng chi nhiều chi phí lương, phụ cấp và các khoản trợ cấp khác cho nhân viên thì sẽ có thể gia tăng được năng suất làm việc cũng như mức độ hiệu quả mà nhân viên ngân hàng làm việc tại ngân hàng và do đó, sẽ giúp cải thiện lợi nhuận của ngân hàng
Các nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để xem xét mối quan hệ giữa chi phí hoạt động và lợi nhuận của các ngân hàng Với quan điểm cho rằng chi phí hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng thì bao gồm các nghiên cứu của Athanasoglou và các cộng sự (2008), Kosmidou và các cộng sự (2005) và Sufian và Habibullah (2010) đã tìm thấy bằng chứng cho thấy mối quan
hệ giữa chi phí hoạt động và lợi nhuận của các ngân hàng là ngược chiều khi sử dụng tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động và chi phí hoạt động trên tổng tài sản làm đại diện cho chi phí hoạt động của các ngân hàng Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Ramadan và các cộng sự (2011) cũng cho thấy có tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa chi phí hoạt động và lợi nhuận của ngân hàng, tuy nhiên kết quả của tác giả chỉ đúng trong trường hợp sử dụng tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản làm đại diện cho lợi nhuận ngân hàng
Ngược lại, Molyneux và Thornton (1992) lại tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng chi phí hoạt động có ảnh hưởng cùng chiều đến lợi nhuận của các ngân hàng Điều này ngụ ý rằng một ngân hàng có chi phí hoạt động càng cao sẽ có thể tạo ra lợi nhuận càng nhiều cho ngân hàng Như đã đề cập ở trên, các tác giả lập luận rằng khi các ngân hàng càng chi nhiều chi phí lương, phụ cấp và các khoản trợ cấp khác cho nhân viên thì sẽ có thể gia tăng được năng suất làm việc cũng như mức độ hiệu
Trang 26quả mà nhân viên ngân hàng làm việc tại ngân hàng và do đó, sẽ giúp cải thiện lợi nhuận của ngân hàng
2.2.7 Thu nhập phi lãi
Ngoài việc kinh doanh truyền thống của ngân hàng thông qua nghiệp vụ huy động và cho vay, các ngân hàng có thể hoạt động với các hoạt động khác bao gồm hoạt động dịch vụ, hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh và đầu tư và các hoạt động khác; thu nhập từ các hoạt động này được phân loại vào thu nhập phi lãi Do đó, các nghiên cứu trước đây đề nghị nên đưa thu nhập phi lãi vào mô hình khi xem xét lợi nhuận của các ngân hàng
Hồ Thị Hồng Minh và Hồ Thị Cành (2015), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016) tìm thấy mối quan hệ giữa thu nhập phi lãi và lợi nhuận là cùng chiều, điều này có thể hiểu như là khi ngân hàng càng có thu nhập ở các hoạt động dịch vụ, hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh và đầu tư và các hoạt động khác thì lợi nhuận của các ngân hàng sẽ được gia tăng Các tác giả lập luận rằng các ngân hàng chuyển hướng sang đa dạng hóa nguồn thu nhập, tạo ra nguồn thu nhập ngoài lãi suất làm tăng lợi nhuận của ngân hàng Ngoài ra, Trujillo – Ponce (2013) cũng tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa thu nhập phi lãi và lợi nhuận của các ngân hàng của Tây Ban Nha, tuy nhiên, mối quan hệ này lại không có ý nghĩa thống kê
2.2.8 Mức độ tập trung ngành ngân hàng
Trong bối cảnh sau khi cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra, nền kinh tế của các quốc gia đang trong giai đoạn phục hồi, tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp vẫn tương đối cao Để có thể tồn tại trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, các ngân hàng bắt buộc phải hoàn thiện bản thân ngân hàng để có thể thu hút khách hàng và tìm kiếm nhiều lợi nhuận hơn Điều này hàm ý rằng ngành ngân hàng đang có sự canh tranh tương đối cao (mức độ tập trung ngành ngân hàng tương đối thấp) Rasiah (2010) tìm thấy rằng sự gia tăng trong tính cạnh tranh của ngành ngân hàng là do các quy
Trang 27định của ngành ngân hàng cho phép các tổ chức tài chính tham gia vào ngành ngân hàng Các nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện để xem xét ảnh hưởng của tính cạnh tranh đến lợi nhuận của các ngân hàng, trong đó các kết quả thực nghiệm
có phần chưa được nhất quán Theo lý thuyết, ngành ngân hàng càng cạnh tranh sẽ càng làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng với lý do lợi nhuận của các ngân hàng
sẽ được chia sẻ cho các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Emery (1971) là người đầu tiên thực hiện việc nghiên cứu tác động của tính cạnh tranh của ngành ngân hàng đến lợi nhuận của các ngân hàng, tuy nhiên tác giả lại không tìm thấy mối quan hệ đáng kể giữa hai yếu tố này
Demirguc – Kunt và Huizinga (2001) tìm thấy tính cạnh tranh có ảnh hưởng ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến lợi nhuận của các ngân hàng Kết quả này hàm ý rằng lợi nhuận của các ngân hàng sẽ giảm do sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các đối thủ trong ngành Bên cạnh đó, Hassan và Bashir (2003) cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tính cạnh tranh và lợi nhuận của các ngân hàng trong nghiên cứu của các tác giả Trong nghiên cứu của các tác giả, các tác giả sử dụng số lượng ngân hàng trong ngành làm đại diện cho tính cạnh tranh của ngành ngân hàng khi xem xét ảnh hưởng của tính cạnh tranh đến lợi nhuận của các ngân hàng Kết quả cho thấy ảnh hưởng này là ngược chiều nhưng lại không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, Heggested và Mingo (1976) đã sử dụng thị phần như là một cách đo lường của tính cạnh tranh và tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tính cạnh tranh
và lợi nhuận của các ngân hàng Điều này ngụ ý rằng mức độ độc quyền và sức mạnh của thị phần có thể tạo ra quyền kiểm soát giá và dịch vụ lớn hơn, và do đó sẽ mang lại lợi nhuận nhiều hơn cho ngân hàng
2.2.9 Sự phát triển ngành ngân hàng
Lợi nhuận của các ngân hàng phụ thuộc đáng kể vào sự phát triển của ngành ngân hàng ở quốc gia đó (Tan và Floros, 2012) Tuy nhiên, cũng tương đối khan hiếm các nghiên cứu đưa biến số này vào mô hình nghiên cứu lợi nhuận của các ngân hàng Nghiên cứu đầu tiên đưa sự phát triển ngân hàng để đại diện cho cấu trúc tài chính của quốc gia khi xem xét lợi nhuận của các ngân hàng là công trình
Trang 28của Demirguc – Kunt và Huizinga (1999), các tác giả phân tích lợi nhuận và thu nhập lãi thuần của các ngân hàng trong giai đoạn 1988 – 1995 ở 80 quốc gia trên thế giới Qua việc ước lượng phương trình hồi quy, các tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa vốn hóa và lợi nhuận của các ngân hàng Các tác giả lập luận rằng các ngân hàng hoạt động trong thị trường có sự phát triển ngành ngân hàng càng cao sẽ càng có thể đạt được lợi nhuận càng nhiều với lý
do (i) các ngân hàng hoạt động trong thị trường này sẽ ít tốn kém chi phí để huy động các nguồn vốn bên ngoài và do đó sẽ có thể cải thiện được lợi nhuận của ngân hàng và (ii) khi ngành ngân hàng tại thị trường này tương đối phát triển thì hàm ý rằng quốc gia này đang có tỷ trọng cho vay tương đối cao, do đó sẽ mang lại lợi nhuận nhiều cho các ngân hàng trong thị trường này
Hơn thế nữa, kết quả nghiên cứu của Tan và Floros (2012) cũng ủng hộ cho các bằng chứng thực nghiệm của Demirguc – Kunt và Huizinga (1999), với việc sử dụng dữ liệu của các ngân hàng Trung Quốc trong giai đoạn 2003 – 2009, các tác giả cho thấy rằng ngành ngân hàng của Trung Quốc càng phát triển sẽ mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho các ngân hàng đang hoạt động tại quốc gia này
2.2.10 Sự phát triển thị trường chứng khoán
Ngoài việc thực hiện vay nợ ở các ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính, thì các doanh nghiệp có thể tận dụng thị trường chứng khoán để huy động vốn khi cần thiết với mục đích bổ sung vốn kinh doanh cũng như phát triển doanh nghiệp Hơn thế nữa, Tan và Floros (2012) cho rằng thị trường chứng khoán càng phát triển, càng chủ động và càng hiệu quả thì quốc gia đấy càng trở nên giàu có
Một số nghiên cứu thực nghiệm (Demirguc – Kunt và Maksimovic, 1998; Levine và Zervos, 1998; Demirguc – Kunt và Huizinga, 1999, 2001) cho rằng sự phát triển của thị trường chứng khoán có thể dẫn đến sự tăng trưởng cho các công
ty Đặc biệt hơn, Demirguc – Kunt và Maksimovic (1998) cho rằng các công ty ở các quốc gia có sự chủ động của thị trường chứng khoán hơn thì có thể tăng trưởng nhanh hơn so với những gì dự báo dựa vào đặc điểm của các công ty Vì vậy, các công ty này sẽ có dòng tiền dư thừa khá nhiều và sẽ gia tăng lượng tiền gửi cho các
Trang 29ngân hàng; kết quả là các ngân hàng sẽ gánh thêm chi phí tiền gửi từ sự gia tăng tiền gửi của các công ty dành cho ngân hàng và dẫn đến sự sụt giảm trong lợi nhuận của các ngân hàng cũng như lợi nhuận của các ngân hàng
2.2.11 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tổng sản lượng quốc nội (GDP) là chỉ tiêu đo lường hoạt động của nền kinh
tế và cũng là biến số được sử dụng nhiều khi đo lường sự tăng trưởng kinh tế trong một quốc gia bằng việc tính toán chênh lệch giữa GDP năm t và năm t – 1 so với năm t – 1 Đồng thời, Levine và Zevros (1998) xác định tốc độ tăng trưởng kinh tế như là một trong các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng và cho rằng mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và lợi nhuận của ngân hàng là cùng chiều Nhiều nghiên cứu thực hiện xem xét ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng kinh tế đến lợi nhuận của các ngân hàng Chẳng hạn như, Sufian và Habibullah (2010) đánh giá tác động của tốc độ tăng trưởng kinh tế đến lợi nhuận của các ngân hàng Các tác giả tìm thấy bằng chứng rằng tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và lợi nhuận của các ngân hàng Kết quả của các tác giả tương tự với các bằng chứng của Pasiouras và Kosmidou (2007) khi cho rằng điều kiện kinh tế vĩ mô chẳng hạn như tốc độ tăng trưởng kinh tế thì có tác động đáng kể và là tác động cùng chiều đến lợi nhuận của các ngân hàng nội địa cũng như các ngân hàng nước ngoài ở 15 quốc gia Châu Âu
Tuy nhiên, Naceur và Goaied (2001) khi thực hiện nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của cấu trúc tài chính, điều kiện kinh tế vĩ mô và các đặc điểm của ngân hàng đến thu nhập lãi thuần và lợi nhuận của các ngân hàng thì tìm được bằng chứng cho thấy rằng các điều kiện kinh tế vĩ mô không có tác động đến thu nhập lãi thuần và lợi nhuận của các ngân hàng Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Anthanasoglou và các cộng sự nghiên cứu các ngân hàng ở các quốc gia Đông Nam của Châu Âu cũng tìm thấy rằng GDP không thể hiện ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của các ngân hàng
Trang 30Asutay và Izhar (2007) đã sử dụng chỉ số giá tiêu dùng làm đại diện cho lạm phát trong nghiên cứu của các tác giả khi xem xét ảnh hưởng của lạm phát đến lợi nhuận của các ngân hàng Tuy nhiên, các tác giả tìm thấy rằng lạm phát có tương quan cùng chiều với các cách đo lường lợi nhuận và kết quả này phù hợp với công trình nghiên cứu của Molyneux và Thorton (1992), Athanasoglou và các cộng sự (2008)
Ngoài ra, Perry (1992) cho rằng mối quan hệ giữa lạm phát và lợi nhuận phụ thuộc vào việc lạm phát có được dự báo trước hay không? Bởi việc có thể dự báo được lạm phát, các nhà quản lý có thể gia tăng lãi suất cho vay nhanh hơn mức mà chi phí hoạt động gia tăng, cho nên lạm phát sẽ có ảnh hưởng cùng chiều đối với lợi nhuận của ngân hàng Trong trường hợp, lạm phát không thể dự báo được, các nhà quản lý sẽ điều chỉnh lãi suất cho vay chậm hơn mức mà chi phí hoạt động gia tăng
và vì vậy lạm phát sẽ có ảnh hưởng ngược chiều đến lợi nhuận của ngân hàng
Bảng 2.1 Tóm lược một số các nghiên cứu trước đây
Biến phụ thuộc
Kết quả nghiên cứu và chiều
tác động
ROE Vốn chủ sở hữu (+)
3 Idris và các cộng sự (2011) ROA Quy mô ngân hàng (+)
Trang 314 Trujillo – Ponce (2013)
ROA ROE
Rủi ro tín dụng (-) Chi phí hoạt động (-) Lạm phát (+)
7 Sufian và Habibullah (2010)
ROA ROE
Thanh khoản (+) Rủi ro tín dụng (+) Chi phí hoạt động (-) Tăng trưởng kinh tế (+)
8 Molyneur và Thornton (1992) ROA
Thuế (-)
Sự phát triển ngành ngân hàng (+)
Sự phát triển thị trường chứng khoán (-)
11 Ramadan và các cộng sự (2011)
ROA ROE Chi phí hoạt động (-)
12
Demirgur-Kunt và Huiziga
(2001)
ROA NIM
Mức độ tập trung ngành (-)
Sự phát triển thị trường chứng khoán (-)
13 Hassan và Bashir (2003)
ROA ROE NIM
Sự phát triển ngành ngân hàng (+)
Trang 32 Sự phát triển thị trường chứng khoán (-)
15 Levine và Zervos (1998) ROA
Sự phát triển thị trường chứng khoán (-)
Tăng trưởng kinh tế (+)
16 Pasiouras và Kosmidou (2007) ROA Tăng trưởng kinh tế (+)
17 Phạm Hữu Hồng Thái (2013) ROE Rủi ro tín dụng (-)
18
Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn
Thị Cành (2015)
ROA ROE
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về về lợi nhuận ngân hàng, khung lý thuyết
mà tác giả dựa vào để phân tích lợi nhuận của các ngân hàng là phương pháp tiếp cận cấu trúc (structural approaches) Bên cạnh đó, chương 2 cũng được tác giả tổng hợp các tổng quan các nghiên cứu trước đây về các đặc điểm ngân hàng, đặc điểm ngành và các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng lợi nhuận của các ngân hàng được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Trang 33CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương này sẽ mô tả phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu cũng như dữ liệu nghiên cứu mà bài nghiên cứu sử dụng bao gồm các ngân hàng và giai đoạn quan sát Đồng thời, đưa ra các mô hình nghiên cứu và các kết quả của mô hình nghiên cứu Sau đó tác giả sẽ tổng hợp, kiểm định mô hình và phân tích kết quả hồi quy cũng như các giả thuyết nghiên cứu
3.1 Mô hình nghiên cứu
3.1.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu bao gồm dữ liệu của các ngân hàng thương mại cổ phần đang hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 –
2017, được thu thập từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng và cơ sở dữ liệu của FiinPro Trong đó, tác giả thực hiện việc lựa chọn các ngân hàng thương mại cổ phần theo quy trình sau:
- Loại trừ các ngân hàng thương mại cổ phần có tình trạng hoạt động kinh doanh yếu kém, các ngân hàng trong tình trạng bị kiểm soát đặc biệt cũng như các ngân hàng bị mua lại 0 đồng và các ngân hàng bị sáp nhập vào các ngân hàng khác trong thời gian vừa qua
- Loại trừ các ngân hàng thương mại cổ phần không công bố đầy đủ thông tin cũng như báo cáo tài chính trong giai đoạn nghiên cứu 2005 – 2017
- Loại trừ các ngân hàng thương mại cổ phần không có sẵn số liệu liên tục trong giai đoạn 2005 – 2017
Sau khi thực hiện quy trình trên, tác giả có được 26 ngân hàng thương mại cổ phần được sử dụng trong luận văn này Danh sách cụ thể các ngân hàng thương mại
cổ phần được đề cập trong phụ lục 1 của luận văn
Ngoài việc sử dụng các số liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần, luận văn cũng sử dụng một số số liệu đại diện cho đặc điểm của ngành ngân hàng cũng như đặc điểm kinh tế vĩ mô Các số liệu này được tác giả thu thập từ cơ sở dữ liệu Phát triển tài chính toàn cầu (Global Financial
Trang 34Development) và cơ sở dữ liệu Chỉ tiêu phát triển thế giới (World Development Indicators) của WorldBank
3.1.2 Mô hình và quy trình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu
Với mục đích xem xét ảnh hưởng của các đặc điểm bên trong được thể hiện bởi các đặc điểm của ngân hàng và các đặc điểm bên ngoài được đại diện bởi đặc điểm của ngành ngân hàng và các đặc điểm kinh tế vĩ mô đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2017, luận văn
sử dụng mô hình nghiên cứu của Tan và Floros (2012) đã sử dụng trong nghiên cứu của các tác giả với tên đề tài “Lợi nhuận của ngân hàng và lạm phát: trường hợp của Trung Quốc” Cụ thể, phương trình ước lượng được trình bày như sau:
Và 𝜀𝑖𝑡 là sai số của mô hình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu
Luận văn thực hiện quy trình nghiên cứu như sau:
Bước 1: Thống kê mô tả Luận văn thực hiện thống kê mô tả các biến nghiên cứu thông qua việc sử dụng các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, trung vị và giá trị lớn nhất để có thể tổng quan các biến trong luận văn
Bước 2: Ma trận tương quan giữa các biến
Trang 35Tác giả phân tích ma trận tương quan giữa các biến số trong luận văn nhằm xem xét mối tương quan tuyến tính đơn biến giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, và cũng xem xét mức độ tương quan giữa các biến độc lập để xem liệu có tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu hay không Trong trường hợp tồn tại thì việc sử dụng phương pháp ước lượng GMM là điều cần thiết và có thể khắc phục được hiện tượng đa cộng tuyến
Bước 3: Hồi quy và phân tích kết quả ước lượng Tác giả tiến hành hồi quy phương trình nghiên cứu với hai biến phụ thuộc tương ứng là ROA và ROE Từ đó phân tích sơ lược mối quan hệ giữa các biến Đồng thời, do phương pháp ước lượng GMM có thể khắc phục hiện tượng tự tương quan, phương sai thay đổi, nội sinh cho nên chỉ cần kết quả ước lượng từ phương pháp GMM là đáng đáng tin cậy thì các vấn đề ước lượng có thể sẽ được giải quyết
Từ đó, tác giả phân tích kết quả đạt được từ việc ước lượng phương trình nghiên cứu tương ứng với hai biến phụ thuộc
3.2 Đo lường biến
3.2.1 Lợi nhuận ngân hàng
Với việc đo lường lợi nhuận của các ngân hàng, các nghiên cứu trước đây có nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung các nghiên cứu chủ yếu sử dụng hai tỷ số là ROA và ROE Theo Flamini và các cộng sự (2009), ROA là một đại diện tốt hơn so với ROE bởi vì việc phân tích dựa vào ROE thì không xem xét đến đòn bẩy tài chính Mặt khác, Goddard và các cộng sự (2004) lập luận rằng việc
sử dụng ROE là thích hợp hơn ROA Trong nghiên cứu của Goddard và các cộng sự (2004), sử dụng biến ROE là biến phụ thuộc và dùng để đo lường cho lợi nhuận của ngân hàng thương mại ROE càng cao cho thấy ngân hàng càng hoạt động kinh doanh hiệu quả
Vì vậy, theo như sự đề nghị của các nghiên cứu trước đây bao gồm Dietrich
và Wanzenried (2011), Phan Thị Hằng Nga (2011), Tan và Floros (2012) khi đo lường lợi nhuận của các ngân hàng, tác giả sử dụng hai biến số là ROA được tính
Trang 36toán bởi lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản và ROE là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu để nhằm gia tăng độ tin cậy đối với các kết quả nghiên cứu mà luận văn có được
3.2.2 Đặc điểm ngân hàng
Quy mô ngân hàng
Trong hầu hết các nghiên cứu trước đây về lợi nhuận của ngân hàng, quy mô được xem xét là yếu tố quan trọng trong việc xác định lợi nhuận của ngân hàng và thường được đo lường bởi tổng tài sản của ngân hàng Có thể nhận thấy rằng, quy
mô của ngân hàng có liên quan đến việc đa dạng hóa của ngân hàng và điều này sẽ ảnh hưởng đến rủi ro và lợi nhuận mà ngân hàng gánh chịu Lợi thế kinh tế được thể hiện qua quy mô của ngân hàng có thể giúp các ngân hàng có thể giảm thiểu chi phí huy động của các ngân hàng và việc xử lý thông tin của ngân hàng (Boyd và các cộng sự, 1993) và do đó, quy mô của ngân hàng càng lớn sẽ càng giúp các ngân hàng đạt được nhiều lợi nhuận hơn Các nghiên cứu sau này cũng tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận ngân hàng là cùng chiều chẳng hạn như Short (1979), Smirlock (1985), Goddard và các cộng sự (2004) Do đó, trong luận văn này, tác giả kỳ vọng một mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận của các ngân hàng và đo lường quy
mô ngân hàng bằng logarith tự nhiên của tổng tài sản của các ngân hàng
Giả thuyết H 1 : Mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận của các ngân hàng là cùng chiều
Rủi ro tín dụng của ngân hàng
Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng của ngân hàng đến lợi nhuận của các ngân hàng là đáng kể và được phát hiện trong nhiều nghiên cứu trước đây (Tan và Floros, 2012; Phạm Hữu Hồng Thái, 2013; Gizaw và các cộng sự, 2015) Do đó, trong luận văn này tác giả đưa biến rủi ro tín dụng ngân hàng vào khi phân tích lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam
Bên cạnh đó, Cooper và các cộng sự (2003) cho rằng sự thay đổi trong rủi ro tín dụng có thể phản ánh được sự thay đổi trong chất lượng tài sản mà ngân hàng
Trang 37đang nắm giữ và điều nảy sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng Điều này thể hiện rõ hơn khi ngân hàng càng có chất lượng tài sản càng thấp cho thấy ngân hàng đang nắm giữ lượng tài sản không sinh lời, không những thế, ngân hàng phải trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và sẽ làm giảm lợi nhuận cũng như giảm lợi nhuận của các ngân hàng Các nghiên cứu thực nghiệm cung cấp bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận của ngân hàng là ngược chiều bao gồm các nghiên cứu của Athanasoglou và các cộng sự (2008), Phạm Hữu Hồng Thái (2013)
Ngoài ra, để đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng, Gizaw và các cộng sự (2015) đã đề nghị sử dụng cả bốn đại diện lần lượt là tỷ lệ vốn an toàn CAR, tỷ lệ
nợ xấu, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi và tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng Tuy nhiên, mục đích chính của nghiên cứu chỉ là xem xét ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của ngân hàng và Tan và Floros (2012) đã sử dụng tỷ
lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng để đại diện cho rủi ro tín dụng của các ngân hàng Vì vậy, trong luận văn này, tác giả đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng bởi
tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và kỳ vọng một mối quan hệ ngược chiều giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng
Giả thuyết H 2 : Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng là ngược chiều
Khả năng thanh toán của ngân hàng
Khả năng thanh toán của ngân hàng đo lường khả năng mà ngân hàng đối mặt với các nghĩa vụ hoặc các cam kết ngắn hạn đến hạn Theo hình thức kinh doanh truyền thống, các ngân hàng sẽ sử dụng các khoản huy động được từ các khách hàng và bắt đầu cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn Với lý do này, tỷ lệ
dư nợ cho vay trên tổng tài sản được sử dụng để làm đại diện cho khả năng thanh toán của ngân hàng, cách đại diện này tương tự với cách đại diện của Tan và Floros (2012) Khi tỷ lệ này gia tăng đồng nghĩa ngân hàng đang nhận được nhiều thu nhập hơn từ nghiệp vụ cho vay và do đó sẽ làm gia tăng lợi nhuận của ngân hàng Quan điểm này được tìm thấy bởi bằng chứng thực nghiệm trong các nghiên cứu của
Trang 38Bourke (1989) Tuy nhiên, điều này cũng hàm ý rằng ngân hàng đang giảm khả năng thanh toán của ngân hàng xuống vì các khoản huy động được từ khách hàng được dùng để cho vay và sẽ dẫn đến việc gia tăng các rủi ro mà ngân hàng đang đối mặt Nói cách khác, lúc này ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro thanh khoản do do tài sản của ngân hàng bị phụ thuộc vào các khoản cho vay của ngân hàng Chính điều này có thể làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng như các phát hiện của Molyneux
và các cộng sự (1992) Vì vậy, ảnh hưởng của khả năng thanh toán đến lợi nhuận của các ngân hàng có thể là cùng chiều hoặc là ngược chiều
Giả thuyết H 3 : Mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và lợi nhuận của các ngân hàng có thể là cùng chiều hoặc là ngược chiều
Thuế phải nộp
Tan và Floros (2012) cho rằng ngoài các yếu tố đặc điểm của ngân hàng khác, thuế mà ngân hàng nộp cũng là một trong các yếu tố quan trọng khi xác định lợi nhuận của các ngân hàng Do đó, trong luận văn này tác giả cũng xem xét thuế phải nộp như là một yếu tố quan trọng và tính toán bởi tỷ lệ thuế phải nộp trên thu nhập hoạt động trước thuế thu nhập doanh nghiệp như Tan và Floros (2012) đã đo lường trong nghiên cứu của các tác giả Đồng thời, có thể thấy rằng, khi mức thuế
mà các ngân hàng phải nộp cho nhà nước tăng tương đối so với mức thu nhập hoạt động trước thuế thu nhập doanh nghiệp của ngân hàng thì điều này cho thấy rằng lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng đang giảm tương đối so với trước kia và vì vậy sẽ làm giảm thiểu lợi nhuận của các ngân hàng này Với lập luận này, tác giả kì vọng mối quan hệ giữa thuế phải nộp và lợi nhuận của các ngân hàng là ngược chiều
Giả thuyết H 4 : Mối quan hệ giữa thuế phải nộp và lợi nhuận của các ngân hàng có thể là ngược chiều
Cấu trúc vốn của ngân hàng
Cấu trúc vốn của ngân hàng có nét tương tự với cấu trúc vốn của doanh nghiệp bao gồm hai phần vốn chủ sở hữu và các nghĩa vụ nợ Đồng thời, các nghiên cứu trước đây xem xét vốn chủ sở hữu như là yếu tố quan trọng khi phân tích lợi nhuận của các ngân hàng Hơn thế nữa, trong nghiên cứu của McShane và Sharpe
Trang 39(1985), các tác giả sử dụng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản như là một đại diện cho mức độ e ngại rủi ro của các ngân hàng Một nghiên cứu khác như Saunders và Schumacher (2000) cũng sử dụng biến này với cách đo lường tương tự Một khi mức độ e ngại rủi ro càng lớn, đồng nghĩa với việc các ngân hàng sử dụng vốn chủ sở hữu tương đối nhiều trong tổng tài sản của họ, thì các ngân hàng sẽ càng gia tăng mức thu nhập lãi thuần (Islam và Nishiyama, 2016) và do đó sẽ gia tăng lợi nhuận sau thuế cũng như cải thiện lợi nhuận của ngân hàng Vì vậy, trong luận văn này, tác giả kỳ vọng mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và lợi nhuận của ngân hàng
là cùng chiều và tính toán bởi tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
Giả thuyết H 5 : Mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và lợi nhuận của các ngân
hàng có thể là cùng chiều
Hiệu quả chi phí của ngân hàng
Hiệu quả chi phí của ngân hàng cho thấy mức độ hiệu quả trong việc điều hành các khoản chi phí hoạt động mà ngân hàng cần phải chi trả trong năm tài khóa Chi phí hoạt động của một ngân hàng bao gồm chi phí phi lãi, chi phí quản trị và điều hành, chi phí bảo dưỡng, và các chi phí khác Việc kiểm soát các chi phí này giúp các ngân hàng cải thiện lợi nhuận và nâng cao tính cạnh tranh của ngân hàng Nếu chi phí hoạt động của ngân hàng càng cao (ít hiệu quả), ngân hàng sẽ cố gắng
bù đắp chi phí hoạt động bằng cách gia tăng lãi suất cho vay hay gia tăng thu nhập lãi thuần của ngân hàng và dẫn đến sự gia tăng của lợi nhuận sau thuế cũng như lợi nhuận của các ngân hàng Tuy nhiên, trong trường hợp các ngân hàng không thể gia tăng lãi suất cho vay đối với các khách hàng thì ngân hàng sẽ phải gánh chịu khoản chi phí hoạt động này vào lợi nhuận của ngân hàng và vì vậy sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Do đó, trong luận văn này, tác giả kỳ vọng mối quan hệ giữa hiệu quả chi phí và lợi nhuận của các ngân hàng có thể là cùng chiều hoặc ngược chiều
và tác giả cũng đo lường hiệu quả chi phí bằng tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản
Giả thuyết H 6 : Mối quan hệ giữa hiệu quả chi phí và lợi nhuận của các ngân hàng có thể là cùng chiều hoặc là ngược chiều
Trang 40 Thu nhập phi lãi của ngân hàng
Ngoài việc kinh doanh truyền thống của ngân hàng thông qua nghiệp vụ huy động và cho vay, các ngân hàng có thể hoạt động với các hoạt động khác bao gồm hoạt động dịch vụ, hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh và đầu tư và các hoạt động khác; thu nhập từ các hoạt động này được phân loại vào thu nhập phi lãi Cho nên nếu các ngân hàng càng đẩy mạnh các hoạt động này thì đồng nghĩa với việc thu nhập phi lãi của các ngân hàng càng gia tăng từ đó khuếch đại thu nhập hoạt động của ngân hàng cũng như cải thiện lợi nhuận của ngân hàng Các nghiên cứu thực nghiệm của Hồ Thị Hồng Minh và Hồ Thị Cành (2015), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016) cũng tìm thấy bằng chứng cho lập luận này Do đó, trong luận văn này, tác giả kỳ vọng mối quan
hệ giữa thu nhập phi lãi và lợi nhuận của các ngân hàng có thể là cùng chiều và tác giả cũng đo lường thu nhập phi lãi bằng tỷ lệ thu nhập phi lãi trên tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng
Giả thuyết H 7 : Mối quan hệ giữa thu nhập phi lãi và lợi nhuận của các ngân hàng có thể là cùng chiều
3.2.3 Đặc điểm của ngành ngân hàng
Mức độ tập trung của ngành ngân hàng
Mức độ tập trung của ngành ngân hàng được đo lường bởi hai đại diện lần lượt là tỷ lệ tổng tài sản của 5 ngân hàng lớn nhất trong hệ thống ngân hàng trên tổng tài sản của hệ thống ngân hàng và tỷ lệ tổng tài sản của 3 ngân hàng lớn nhất trong hệ thống ngân hàng trên tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Theo giả thuyết của Cấu trúc – hành vi – hiệu quả (Structure – Conduct – Performance, SCP), thị trường với mức độ tập trung càng cao có xu hướng sẽ thông đồng với nhau và cho nên sẽ có thể đạt được lợi nhuận từ việc độc quyền như các bằng chứng thực nghiệm được tìm thấy bởi Short (1979) và Fisher và Molyneux (1996) Naceur (2003) nghiên cứu các ngân hàng thương mại ở Thỗ Nhĩ Kỳ và tìm thấy mối quan
hệ đáng kể giữa mức độ tập trung ngành ngân hàng và lợi nhuận của các ngân hàng Đồng thời, Fungacova và Poghosyan (2011) nghiên cứu các ngân hàng tại Nga tìm