Một trong những thành công của Đảng bộ tỉnh Yên Bái là động viên được nhân dân các dân tộc trong tỉnh phát triển mạnh các ngành kinh tế, trong đó có kinh tế lâm nghiệp, phát huy tính năn
Trang 1NGUYỄN QUỐC KHƯƠNG
§¶NG Bé TØNH Y£N B¸I l·nh §¹O PH¸T TRIÓN KINH TÕ L¢M NGHIÖP Tõ N¡M 2001 §ÕN N¡M 2015
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2018
Trang 2NGUYỄN QUỐC KHƯƠNG
§¶NG Bé TØNH Y£N B¸I l·nh §¹O PH¸T TRIÓN KINH TÕ L¢M NGHIÖP Tõ N¡M 2001 §ÕN N¡M 2015
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Nguyễn Quốc Khương
Trang 4
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và những
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
2.1 Những nhân tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về
Chương 3: QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO
3.1 Những yêu cầu mới và chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp
3.2 Đảng bộ tỉnh Yên Bái chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp
Trang 5BV&PTR : Bảo vệ và Phát triến rừng
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DVMTR : Dịch vụ môi trường rừng
FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (Food and
Agriculture Organization)
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
FSC : Hội đồng Quản trị Rừng (Forest Stewardship Council)
FFF : Chương trình hỗ trợ rừng và trang trại
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
HTX : Hợp tác xã
HĐND : Hội đồng nhân dân
LNXH : Lâm nghiệp xã hội
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nxb : Nhà xuất bản
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)
PFES : Chi trả dịch vụ môi trường rừng (Payment for Forest Environmental
Service)
REDD : Giảm phát thải (khí nhà kính) từ mất rừng và suy thoái rừng
(Reduced Emission from Deforestation and Forest Degradation
in Developping Countries)
TNHHMTV : Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
THT
Tr
: :
Tổ hợp tác Trang UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tính theo
Bảng 2.2: Kết quả tạo việc làm từ sản xuất lâm nghiệp (2001 - 2010) 62 Bảng 3.1: Giá trị sản xuất lâm nghiệp ở tỉnh Yên Bái theo giá hiện hành
Bảng 3.2: Giá trị sản xuất lâm nghiệp các tỉnh Yên Bái, Lào Cai và Hà Giang
Biểu đồ 3.1: Diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp ở tỉnh Yên Bái
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế đặc thù, giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Nghề rừng là nghề tạo ra một loại tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được, có giá trị phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, giúp điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, rửa trôi, sạt lở, hạn chế thiên tai lũ lụt, hạn hán, chống thoái hóa đất và hoang mạc hóa, bảo tồn
đa dạng sinh học, cung cấp nguồn nhiên liệu sinh học thay thế nhiên liệu hóa thạch và ứng phó tích cực, hiệu quả với biến đổi khí hậu toàn cầu; góp phần hấp thụ và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tạo ra môi trường sống trong lành, an toàn cho con người và tất cả các sinh vật trên trái đất Bên cạnh đó, nghề rừng còn cung cấp các sản phẩm và dịch vụ môi trường cho phát triển sản xuất và đời sống, cung cấp nơi ở, việc làm, tạo sinh kế ổn định và là khởi nguồn đời sống văn hóa tâm linh của những cộng đồng cư dân sống gắn bó với rừng
Đối với Việt Nam, là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, kinh tế lâm nghiệp đã có những đóng góp không nhỏ, góp phần vào thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước và hội nhập quốc tế
Yên Bái là một tỉnh miền núi, nằm giữa hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc của Tổ quốc với tổng diện tích tự nhiên là 688.627,64 ha, bằng 2% diện tích tự nhiên của cả nước và bằng 10,4% diện tích vùng Đông Bắc, xếp thứ 8 so với 11 tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc Trong đó, tính đến năm 2015, rừng chiếm tới 62,2% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh [147], đóng một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội và đảm bảo quốc phòng - an ninh Kinh tế Yên Bái, nhất là sản xuất nông, lâm nghiệp đã có bước phát triển mạnh mẽ, đa dạng, cơ cấu kinh
tế nông - lâm nghiệp chuyển dịch theo hướng tiến bộ, kinh tế - xã hội nông thôn
Trang 8có nhiều khởi sắc Một trong những thành công của Đảng bộ tỉnh Yên Bái là động viên được nhân dân các dân tộc trong tỉnh phát triển mạnh các ngành kinh
tế, trong đó có kinh tế lâm nghiệp, phát huy tính năng động sáng tạo, ý chí tự lực
tự cường, khơi dậy tiềm năng và nguồn lực về đất đai, lao động và nguồn vốn, nội lực của địa phương để xóa đói, giảm nghèo, làm giàu
Thực hiện chủ trương của Đảng về khuyến khích phát triển lâm nghiệp trong những năm đổi mới, kinh tế lâm nghiệp Yên Bái đã có những bước chuyển biến căn bản, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đảm bảo quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu
Những kết quả đạt được từ kinh tế lâm nghiệp ở tỉnh Yên Bái trong những năm đổi mới cho thấy chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quá trình vận dụng sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền và người dân Yên Bái là những nhân tố đặc biệt quan trọng quyết định hình thức, bước đi, tốc độ phát triển của kinh tế lâm nghiệp Cho đến nay, kinh tế lâm nghiệp ở Yên Bái, đã khẳng định được những mặt tích cực nhưng cũng có những hạn chế và đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới
Do đó, việc tổng kết quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp, nhằm đúc rút kinh nghiệm để góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo kinh tế lâm nghiệp của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn hiện nay, là một nội dung quan trọng trong định hướng tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn của 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Chính vì vậy, tìm hiểu, nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trong phát triển kinh tế lâm nghiệp những năm 2001-2015 là một vấn đề cần thiết
Với lý do trên, tôi chọn đề tài "Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển
kinh tế lâm nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015" để viết luận án tiến sĩ lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích
Nhằm làm rõ hoạt động lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp của Đảng
bộ tỉnh Yên Bái từ năm 2001 đến năm 2015
Trang 9Đánh giá những kết quả đạt được trong quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp và bước đầu rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo trong giai đoạn tới
2.2 Nhiệm vụ
- Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu liên quan đến đề tài
- Phân kỳ lịch sử, trình bày và phân tích các sự kiện lịch sử một cách có
hệ thống theo trình tự thời gian, gắn với hoàn cảnh lịch sử trong mỗi giai đoạn
- Phân tích những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp ở Yên Bái
- Trình bày hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế lâm nghiệp trong những năm 2001 - 2015
- Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái quán triệt và vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế lâm nghiệp vào điều kiện thực tiễn của địa phương: từ việc đề ra chủ trương, chính sách và lãnh đạo, tổ chức chỉ đạo thực hiện trong những năm 2001 - 2015
- Nhận xét, đánh giá ưu điểm, hạn chế trong hoạt động lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Yên Bái về phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2015, làm rõ nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm lịch sử
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về phát triển kinh tế lâm nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: từ năm 2001 - năm bắt đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh
Yên Bái lần thứ XV đến năm 2015 - năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII
- Về không gian: Địa bàn tỉnh Yên Bái
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu chủ trương, quá trình tổ chức chỉ đạo
thực hiện của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về phát triển kinh tế lâm nghiệp từ năm
2001 đến năm 2015 Trong đó, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: 1 Phát triển
kinh tế lâm nghiệp theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế; 2 Quy hoạch, giao,
Trang 10khoán rừng và đất lâm nghiệp; 3 Đổi mới tổ chức sản xuất, kinh doanh và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển lâm nghiệp; 4 Xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế lâm nghiệp
4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh
tế nông, lâm nghiệp
4.2 Nguồn tài liệu của luận án
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế lâm nghiệp
- Các văn bản của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái, các cấp bộ Đảng, chính quyền và ban ngành trong tỉnh Yên Bái về lĩnh vực có liên quan
- Nguồn tài liệu được lưu trữ ở Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Hội đồng
nhân dân tỉnh; Báo cáo và số liệu thống kê của Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái; Sở Tài Nguyên và Môi trường có liên quan đến đề tài
- Các công trình khoa học được xuất bản, công bố trên các tạp chí chuyên
ngành; luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ viết về kinh tế lâm nghiệp
- Các dữ liệu, số liệu thu thập qua điều tra thực tế của tác giả luận án
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu để
mô tả, trình bày một cách hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015
Ngoài ra, luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác như thống kê,
so sánh, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tế và phỏng vấn các nhân chứng lịch
sử Trên cơ sở các số liệu báo cáo của các tổ chức, cơ quan, tác giả thống kê, phân tích và so sánh, đánh giá sự phát triển của kinh tế lâm nghiệp qua các giai đoạn, so sánh với sự phát triển của nền kinh tế tỉnh Yên Bái nói chung và với các ngành kinh tế trong khối ngành nông - lâm - thủy sản nói riêng
Trang 115 Đóng góp mới của luận án
- Làm rõ được những yếu tố tác động đến việc hoạch định chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp của Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm
2001 đến năm 2015
- Khái quát được những chủ trương quan trọng và tái hiện khá cụ thể, chân thực, khách quan quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về phát triển kinh tế lâm nghiệp
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế; phân tích rõ một số nguyên nhân khách quan, chủ quan của ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp của Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm 2001 đến năm 2015 Từ đó, luận
án đúc kết những kinh nghiệm, có thể tham khảo cho quá trình bổ sung, hoàn thiện chủ trương cũng như quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp của Đảng bộ Tỉnh cho hiện tại và tương lai
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
- Hệ thống hóa chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về phát
triển kinh tế lâm nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015
- Rút ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế, đúc rút kinh nghiệm từ quá
trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp, góp phần tổng kết sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam từ một Đảng bộ tỉnh
- Góp phần cung cấp những cơ sở khoa học, kinh nghiệm để Đảng bộ tỉnh
Yên Bái tiếp tục lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp trong giai đoạn mới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần tổng kết thực tiễn, cung cấp một số dữ liệu để Đảng bộ tỉnh
Yên Bái tiếp tục hoạch định chủ trương, chỉ đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái hiện nay và những năm tiếp theo
- Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các địa phương khác có điều kiện, hoàn cảnh tương đồng như tỉnh Yên Bái và những độc giả quan tâm đến phát triển kinh tế lâm nghiệp
Trang 12- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác
nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng bộ địa phương cũng như Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc thành 4 chương, 8 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Kinh tế lâm nghiệp luôn được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và những người trực tiếp làm nghề rừng Nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề này đã được công bố dưới dạng sách, đề tài, đề án, chương trình khoa học, luận văn, luận án và các bài viết đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành, ở các khía cạnh khác nhau
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp trên thế giới
* Một số cuốn sách về kinh tế lâm nghiệp của các học giả nước ngoài
Nghiên cứu những lợi ích đem lại từ rừng, Font, X và Tribe, J với bài viết
“Recreation, Conservaton and Timber Prodcution: a Sustainable Relationship”
(tác giả tự dịch: Giải trí, bảo vệ rừng và gỗ rừng: một mối quan hệ bền vững) đăng trong cuốn sách Du lịch và Du lịch Lâm nghiệp - Các nghiên cứu điển hình
về Quản lý Môi trường, đã chỉ rõ giá trị nhiều mặt của rừng như là cung cấp gỗ,
bảo vệ nguồn nước, bảo vệ và phục hồi đất, điều hòa khí hậu, hấp thụ cacbon, tạo vẻ đẹp cảnh quan cho giải trí Những giá trị này của rừng đã đem lại rất nhiều lợi ích khác nhau cả về kinh tế, sinh thái, môi trường Việc đánh giá đầy đủ giá trị của rừng và môi trường rừng là cơ sở để khai thác và quản lý rừng bền vững Mặc dù, đã nhận biết được giá trị nhiều mặt của rừng nhưng trong một thời gian dài con người mới chỉ quan tâm đến giá trị từ khai thác gỗ Chỉ đến khi các vấn đề về ảnh hưởng của việc khai thác gỗ quá mức gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường thì những vai trò của môi trường của rừng và dịch vụ môi trường rừng mới được thực sự quan tâm Theo bài viết này, để quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng phải đảm bảo chức năng kinh tế - xã hội của rừng [156] Công trình nghiên cứu đã chỉ ra việc quản lý rừng hiện tại ở khu vực này không chỉ đơn thuần là quản lý để khai thác các giá trị sử dụng trực tiếp của
Trang 14rừng (giá trị thị trường), mà còn phải bao gồm việc quản lý để khai thác các giá trị sử dụng gián tiếp (giá trị dịch vụ môi trường rừng) hay giá trị phi thị trường Cũng trong cuốn sách này, Kearsley, G có bài viết “Balancing Tourism and Wilderness Qualities in New Zealand’s Native Forests” (tác giả tự dịch: Cân bằng du lịch và tính hoang dã của rừng bản địa ở New Zealand) Nghiên cứu tại Newzealand cho thấy, diện tích che phủ của rừng tự nhiên chiếm 1/4 diện tích cả nước và các rừng tự nhiên này phần lớn được bảo vệ hoàn toàn bởi một hệ thống các vườn quốc gia và lâm viên Chính phủ có quan điểm rằng bảo tồn được đặt lên trên tất cả các lợi ích khác, các hoạt động giải trí truyền thống như săn bắn trong rừng hoặc câu cá ở một số sông, hồ đều bị kiểm soát trong các giới hạn nhất định Trong những năm gần đây, nhu cầu về giải trí ngoài trời đã tăng nhanh nhưng các hệ thống rừng vẫn được quản lý rất tốt do sự quản lý chặt chẽ cũng như quan điểm nhất quán về bảo tồn của Chính phủ [158]
Natasha Landell - Mills trong cuốn sách A global view of markets for forest
environment services and their impact on the poor (tác giả tự dịch: Quan điểm toàn cầu về thị trường dịch vụ môi trường rừng và tác động của chúng đến người nghèo) đã có những đánh giá cho thấy, rừng có thể cung cấp nhiều loại
dịch vụ khác nhau và mỗi dịch vụ này sẽ có một giá trị nhất định trong tổng giá trị kinh tế của rừng, như: Hấp thụ các bon chiếm 27%; Bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%; Bảo vệ đầu nguồn chiếm 21%; Vẻ đẹp cảnh quan chiếm 17% và giá trị khác chiếm 10% [159] Sự đánh giá này cho thấy, rừng có thể cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau và mỗi dịch vụ này sẽ có một giá trị nhất định trong tổng giá trị kinh tế của rừng
* Một số công trình nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp đã được công bố dưới dạng các báo cáo khoa học và các bài viết trên các tạp chí có uy tín trên thế giới
Từ năm 1992, báo cáo của tổ chức Liên Hiệp Quốc đã chỉ ra, trong những thập kỷ gần đây người ta mới nhận thức được rằng một trong những nguyên nhân cơ bản của suy thoái rừng là không xác định được giá trị môi trường của rừng bên cạnh sự phá rừng của cộng đồng địa phương [155] Những sự thay đổi
Trang 15về nhận thức giá trị môi trường rừng được thể hiện rõ nét thông qua những thay đổi về chính sách và luật về lâm nghiệp của nhiều nước trên thế giới
Sven Wunder với công trình nghiên cứu “Payments for environmental
services” (tác giả tự dịch: Chi trả cho các dịch vụ môi trường) khẳng định giá trị
của rừng là rất lớn Với tầm quan trọng này nhiều tổ chức, quốc gia đã hình thành các cơ chế khác nhau nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng trên quan điểm coi dịch vụ môi trường là một loại hàng hoá Một số quốc gia đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường rừng - PFES (Payment for Environment Services) nhằm quản lý bền vững các dịch vụ môi trường rừng Theo đó, các khái niệm và thuật ngữ được thừa nhận để chỉ sự thương mại các dịch vụ môi trường như: chi trả, đền đáp, thị trường, bồi thường [160] Đây được coi là những xu hướng mới nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng và hướng tới phát triển bền vững
Bước sang thế kỷ XXI, vai trò của rừng đã được đánh giá một cách toàn diện hơn Theo đánh giá của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp
quốc (FAO) trong “Making forest pay” (đăng trên Tạp chí Quốc tế về lâm nghiệp
và công nghiệp rừng), rừng được coi là bộ phận không thể thay thế của môi
trường sinh thái, giữ vai trò quan trọng trong đời sống con người và là cơ sở để phát triển nhiều ngành kinh tế khác [156] Vì vậy, giá trị của rừng không chỉ là giá trị trực tiếp mà còn có giá trị gián tiếp (giá trị dịch vụ môi trường rừng) Hultala.A với bài viết “What price recreation in Finland? Contingent valuation study of non - market benefits of public outdoor recreation areas (tác
giả tự dịch: Giá nào cho hoạt động giải trí ở Phần Lan? Nghiên cứu định giá
ngẫu nhiên các lợi ích phi thị trường của các khu vui chơi ngoài trời công cộng)
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu giải trí đã chỉ ra rằng, hiện nay môi trường rừng
đang bị coi là thứ hàng hoá công cộng nên mọi người đều có thể tự do tiếp cận,
tự do sử dụng và hưởng lợi từ giá trị của môi trường rừng [157] Theo bài viết, tình trạng này, nhất là ở những nước nghèo, đã không khuyến khích người làm lâm nghiệp bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng, dẫn đến thiệt hại cho nhiều ngành sản xuất và đời sống nói chung Thực tế đó đã buộc những người làm nghề rừng và những người hưởng lợi chính từ giá trị môi trường rừng
Trang 16phải hợp tác với nhau, chia sẻ với nhau trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng Trong quá trình đó, những giá trị môi trường rừng được phân tích, lượng giá, mua bán, trao đổi như những hàng hoá và dịch
vụ khác Người ta gọi những lợi ích môi trường của rừng được đưa ra trao đổi, mua bán như vậy là dịch vụ môi trường rừng Tuy nhiên, trong thời gian dài kết quả nghiên cứu giá trị của môi trường rừng chỉ có ý nghĩa làm tăng kiến thức của con người về giá trị nhiều mặt của rừng, làm thay đổi giá trị của rừng mà chưa trở thành căn cứ cho những quyết định về biện pháp tác động vào rừng
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở Việt Nam
* Một số cuốn sách về kinh tế lâm nghiệp
Ở Việt Nam, các cuốn sách viết về lâm nghiệp rất đa dạng và phong phú, chủ yếu tập trung vào khía cạnh kĩ thuật trên 3 lĩnh vực: lâm sinh, công nghiệp rừng, chính sách kinh tế lâm nghiệp
Trong cuốn sách Lâm nghiệp Việt Nam 1945 - 2000, tác giả Nguyễn Văn
Đắng (chủ biên), đã tập hợp nhiều bài viết của nhiều nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu khoa học lâm nghiệp tổng kết quá trình phát triển lâm nghiệp Việt Nam Trong đó, khái quát quá trình xây dựng và phát triển ngành Lâm nghiệp Việt Nam trong 55 năm từ 1945 đến năm 2000 [47] Cuốn sách đã hệ thống những tư liệu, sự kiện, thành tựu và hạn chế của ngành lâm nghiệp qua 55 năm phát triển Cũng qua thực tiễn nghiên cứu, tổng hợp, các nhà lãnh đạo, nhà khoa học lâm nghiệp bước đầu đã đúc rút những kinh nghiệm về sự quản lý, xây dựng, bảo vệ
và phát triển của ngành Lâm nghiệp giai đoạn 1945 - 2000 Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế lâm nghiệp chưa khái quát một cách hệ thống, xuyên suốt, liên tục, nên khó nhận thấy sự khác biệt giữa các giai đoạn phát triển của ngành
Trong cuốn sách Nghiên cứu nhu cầu nông dân, do Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn (NN&PTNT) và UNDP biên soạn, các tác giả đã đánh giá quá trình phát triển lâm nghiệp Việt Nam (tr.90-97) dưới góc độ tổ chức quản lý trong lâm nghiệp, về quyền chứng nhận sổ đỏ, về thái độ đối với lâm nghiệp
Tác giả Nguyễn Duy Quý trong cuốn sách Việt Nam - 20 năm đổi mới đã
phân tích, so sánh, tổng kết, đánh giá thành tựu trên tất cả các lĩnh vực của 20 năm đổi mới, trong đó có những thành tựu về kinh tế nông - lâm nghiệp - thủy
Trang 17sản; đồng thời chỉ ra những khó khăn, hạn chế của ngành lâm nghiệp, nhất là hiện tượng rừng và tài nguyên bị xâm hại nghiêm trọng [77]
Trong cuốn sách Lâm nghiệp Việt Nam - nhìn lại chặng đường hơn 20 năm
đổi mới cùng đất nước [14], các tác giả đã đánh giá về thành tựu của ngành Lâm
nghiệp qua hơn 20 năm đổi mới Cuốn sách gồm 15 chương, với nhiều nội dung khác nhau, trong đó chương "Lâm nghiệp Việt Nam trước thời kỳ đổi mới" luận giải nhiều vấn đề của ngành Lâm nghiệp trước thời kỳ đổi mới Chương VI của cuốn sách viết về ngành chế biến, thương mại gỗ và lâm sản trong thời kỳ đổi mới Số lượng các doanh nghiệp trong ngành chế biến gỗ, sự phân bố doanh nghiệp, khối lượng xuất khẩu gỗ, nhập khẩu gỗ của Việt Nam được thống kê một cách chi tiết từ năm 2004 đến năm 2008
Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu khái quát những kết quả chính của ngành lâm nghiệp như: sự thay đổi trong hệ thống chính sách, thể chế, phương thức quản lý Cuốn sách chưa phân tích toàn diện về chuyển biến của kinh tế lâm nghiệp trong các giai đoạn lịch sử như xuất nhập khẩu, dịch vụ lâm nghiệp, tác động lâm nghiệp đến môi trường
Cuốn sách Chi trả dịch vụ môi trường (PFES) vì người nghèo ở Việt Nam
của tác giả Trần Hải đã phân tích tác động của lâm nghiệp đối với việc xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn [50]
Đánh giá về sự phát triển của ngành lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2010,
Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam đã xuất bản cuốn sách Lâm nghiệp Việt Nam
trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI Trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó
khăn, thách thức đối với ngành lâm nghiệp trong những năm đầu thế kỉ XXI, các nhà khoa học đã đánh giá những thành tựu và hạn chế của ngành lâm nghiệp trong suốt những năm 2001 - 2010 [112]
Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế lâm nghiệp chưa được tìm hiểu sâu sắc, toàn diện Bên cạnh đó, vai trò của kinh tế lâm nghiệp đối với môi trường và giải quyết việc làm tăng thu nhập cho một bộ phận người dân ở các vùng sâu, vùng
xa chưa được đề cập đầy đủ
Trang 18* Một số đề tài nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học về kinh tế lâm nghiệp
Cuốn Kỷ yếu Chính sách và thực tiễn phục hồi rừng ở Việt Nam, do Bộ
NN&PTNT hợp tác với IUCN ấn hành năm 1999 trên cơ sở Hội thảo Quốc gia
"Chính sách và thực tiễn phục hồi rừng ở Việt Nam” ngày 04 - 05/11/1999 tại Hòa Bình, là một công trình tập hợp nhiều bài báo khác nhau, trong đó thống kê, đánh giá chi tiết về thực trạng mất và thoái hóa rừng trong giai đoạn 1986 -
1999 Các bài viết đã phân tích và chỉ ra được các nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất và thoái hóa rừng là do nhu cầu lấy gỗ củi của người dân, do khai thác quá tải gỗ và lâm sản ngoài gỗ của nhà nước, do hiện tượng cháy rừng
Xem xét về mối quan hệ giữa lâm nghiệp với các mục tiêu xã hội, trong
đề tài nghiên cứu Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn Việt Nam [92]
(Chương trình Hỗ trợ ngành Lâm nghiệp & Đối tác - FSSP&P), tác giả Đinh Đức Thuận và các cộng sự đã đưa ra những luận giải về tác động và mối quan hệ sâu sắc qua lại giữa đói nghèo và rừng ở khu vực nông thôn miền núi, vùng đặc biệt khó khăn Qua điều tra và nghiên cứu quá trình thực hiện các chương trình
dự án lâm nghiệp, các phương kế giảm nghèo cho khu vực này đã có những cải thiện đáng kể Trong nghiên cứu, các tác giả cũng đã đưa ra một số nhận xét, kiến nghị về việc thực hiện các phương thức giảm nghèo đạt hiệu quả
Định giá rừng là một nội dung quan trọng trong quản lý sử dụng rừng và là
cơ sở xác định giá thuê rừng ở Việt Nam Tiêu biểu trong lĩnh vực này là
Nguyễn Nghĩa Biên với công trình nghiên cứu Phương pháp định giá rừng tự
nhiên ở Việt Nam [4] Trong công trình này, tác giả đã xác định các hợp phần giá
trị của rừng và phương pháp định giá rừng tự nhiên với kết quả tổng hợp lại Tuy nhiên, việc hạch toán đầy đủ các giá trị trên là vô cùng khó khăn hoặc nếu có hạch toán được để xác định giá cho thuê thì chắc chắn mức giá đó sẽ rất cao, không mang tính khả thi và nghiên cứu này chủ yếu mới dừng lại ở khía cạnh định hướng và gợi ý về phương pháp thực hiện việc định giá rừng tự nhiên
Trong công trình Nghiên cứu định giá rừng ở Việt Nam [69], tác giả Vũ
Tấn Phương và nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu khá toàn diện và quy mô cả về
lý luận và thực tiễn về định giá rừng ở nước ta cho đến nay Đề tài đã tập trung nghiên cứu 4 nội dung chính là: Cơ sở khoa học về nguyên tắc và phương pháp
Trang 19xác định giá rừng; định giá một số loại rừng tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam; xây dựng nguyên tắc, phương pháp và khung giá rừng tại các địa điểm và đối tượng nghiên cứu; thử nghiệm, hoàn thiện nguyên tắc và phương pháp xác định giá trị các loại rừng Nhìn chung, các điểm khảo sát tương đối đại diện cho mẫu nghiên cứu Tuy nhiên, việc lý giải về chọn điểm nghiên cứu chưa được trình bày một cách rõ ràng và thuyết phục Tác giả chưa làm rõ được lý do khảo sát và tính đại diện của điểm nghiên cứu Việc nghiên cứu định giá rừng được tiếp cận dưới hai giác độ là giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp của rừng Giá trị sử dụng trực tiếp của rừng được tính toán cụ thể cho từng loại rừng tự nhiên và rừng trồng Giá trị sử dụng gián tiếp của rừng, được khẳng định
là những giá trị rất khó hạch toán được một cách chính xác
Nhóm tác giả Phạm Thu Thủy, trong nghiên cứu Chi trả dịch vụ môi
trường rừng tại Việt Nam - Từ chính sách đến thực tiễn [93], đã đưa ra những
đánh giá so sánh về PFES đang triển khai thí điểm ở Việt Nam, từ đó so sánh các cách tiếp cận cho việc triển khai và nhận biết các bài học thực tiễn trong quá trình thực hiện Qua nghiên cứu này, có thể thấy được thực tiễn chi trả dịch vụ môi trường rừng trong những năm gần đây
Tác giả Tô Xuân Phúc và Trần Hữu Nghị trong Báo cáo Giao đất Giao
rừng trong bối cảnh tái cơ cấu ngành lâm nghiệp: Cơ hội và thách thức, xác
định Việt Nam có gần 15,4 triệu ha đất lâm nghiệp, trong đó có trên 13 triệu ha
là đất rừng Vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay chính là việc giao quyền quản
lý cho người lao động [68] Báo cáo cũng có những nghiên cứu và luận giải về vấn đề giao đất, giao rừng mang tính khách quan
* Một số luận án tiến sĩ thuộc nhiều chuyên ngành viết về đề tài Lâm nghiệp
Tiêu biểu là luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế của tác giả
Nguyễn Thanh Huyền Hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên
rừng ở Việt Nam hiện nay, đã đánh giá các vai trò của pháp luật đối với việc
quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng và khẳng định pháp luật là cơ sở cho việc quản lý rừng bền vững Luận án đã đưa ra các định hướng hoàn thiện pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, đưa ra các định hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này như: Quan điểm, đường lối của Đảng về hoàn thiện pháp luật
Trang 20quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng; bảo đảm quản lý của Nhà nước đối với tài nguyên rừng Tác giả cũng đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng như: đổi mới quản lý nhà nước; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng [59]
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp của tác giả Bùi Thị
Minh Nguyệt với đề tài Chính sách cho thuê môi trường rừng tại các vườn quốc
gia ở khu vực phía Bắc Việt Nam - Nghiên cứu tại Vườn quốc gia Ba Vì, Tam Đảo, Bến En đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách cho thuê môi trường
rừng và cho thuê với mục đích kinh doanh du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia; tổng kết kinh nghiệm cho thuê môi trường rừng trên thế giới và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; tổng hợp các văn bản chính sách có liên quan đến thuê môi trường rừng ở Việt Nam, phân tích những hạn chế và tồn tại của chính sách cho thuê môi trường tại các vườn quốc gia [67] Tác giả đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng; đánh giá những mặt tích cực, tiêu cực trong tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng; đánh giá tính phù hợp của các chính sách liên quan đến thuê môi trường; đưa ra những bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các vườn quốc gia Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đã đề xuất ra những định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách
và tổ chức thực hiện chính sách cho thuê môi trường rừng tại các vườn quốc gia
ở khu vực phía Bắc Việt Nam
Tác giả Đỗ Thị Diệu với luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam:
Quá trình phát triển của kinh tế lâm nghiệp Việt Nam từ năm 1991 đến năm
2010, đã hệ thống và làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận, chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước, của Bộ NN&PTNT, các cơ quan chuyên trách về phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 1991 - 2010 [27] Luận án dựng lại bức tranh
về kinh tế lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 1991 - 2010 dưới góc độ lịch sử; làm
rõ những chuyển biến trong kinh tế lâm nghiệp giữa 2 giai đoạn 1991 - 2000 và
2001 - 2010; phân tích những tác động của quá trình chuyển biến kinh tế lâm
Trang 21nghiệp đối với kinh tế - xã hội đất nước, góp phần đánh giá khách quan vai trò của kinh tế lâm nghiệp với nền kinh tế quốc dân
* Một số bài nghiên cứu về lâm nghiệp đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước
Trong bài viết “Vài nét về quá trình hình thành và phát triển ngành Lâm nghiệp Việt Nam” [154], tác giả Phan Thanh Xuân đã khái quát sự phát triển lâm nghiệp theo từng giai đoạn với chu kỳ 10 năm Các giai đoạn được chia nhỏ như giai đoạn trước năm 1945, giai đoạn 1945 - 1960, giai đoạn 1960 - 1975, giai đoạn 1975 - 1985, giai đoạn 1985 - 1995 và giai đoạn từ năm 1995 trở đi Bài viết chủ yếu đề cập dưới góc độ quản lý của các tổ chức lâm nghiệp, việc đánh giá hiệu quả kinh tế lâm nghiệp chưa được bàn luận sâu sắc
Trong bài viết “Người Việt, rừng núi và nạn phá rừng” [128], tác giả Nguyễn Tùng đã nghiên cứu sâu về phong tục, tín ngưỡng người Việt gắn với rừng và thực trạng phá rừng của Việt Qua nghiên cứu của tác giả làm rõ hơn vai trò của rừng đối với người dân sống gần rừng và luận giải lý do phá rừng
Tác giả Vũ Long trong bài "Phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững" đã khái quát thực trạng ngành lâm nghiệp Việt Nam và đưa ra những nhận định về nguyên nhân dẫn đến hạn chế của ngành lâm nghiệp từ năm 1991 đến năm 2004 Đồng thời, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm xây dựng một nền kinh tế lâm nghiệp bền vững trong thời kỳ hội nhập quốc tế [63]
Tác giả Nguyễn Từ trong bài viết "Thành tựu nông nghiệp Việt Nam sau 20 năm đổi mới" [129], đã có những đánh giá sự phát triển của ngành lâm nghiệp trong xu hướng phát triển chung của khối ngành nông nghiệp qua 20 năm đổi mới Trong đó, xác định nguồn thu của ngành lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 5% GDP khối nông nghiệp hằng năm
1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái
* Một số cuốn sách viết về tỉnh Yên Bái, về kinh tế lâm nghiệp của tỉnh
Tiêu biểu là cuốn sách Kinh tế trang trại gia đình ở tỉnh miền núi Yên Bái
của nhóm tác giả Vũ Ngọc Kỳ, Trần Đức và Vũ Sửu Cuốn sách là sự tổng kết bước đầu về một mô hình sản xuất có hiệu quả của tỉnh Yên Bái [61] Tác giả đã
Trang 22khái quát quá trình hình thành, phát triển của mô hình kinh tế trang trại trong những năm đầu của thời kì đổi mới, đặc biệt có những trang trại lâm nghiệp có quy mô lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao như ở huyện Yên Bình Bên cạnh đó, tác giả còn đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để giải quyết nhằm đưa
mô hình kinh tế này ở Yên Bái phát triển đúng hướng
Cuốn sách Nông nghiệp nông thôn Yên Bái trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hóa [81] của Vũ Sửu (chủ biên) đã có những phân tích, đánh giá
sâu sắc về tình hình sản xuất lâm nghiệp ở tỉnh Yên Bái Theo tác giả, nếu sản xuất lâm sinh ở Yên Bái không phát triển hoặc phát triển không tương ứng với nhu cầu khai thác rừng thì đến một lúc nào đó rừng sẽ cạn kiệt Thực trạng kinh
tế lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái cho thấy còn nhiều hạn chế về công tác quản lý đất lâm nghiệp Từ đó, tác giả đề ra một số giải pháp để phát triển loại hình kinh tế này
Cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái, Tập II (1975 - 2005) [2] đã phản
ánh trung thực và có hệ thống các sự kiện lịch sử tiêu biểu của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, nhằm giáo dục truyền thống, nhân lên niềm tự hào của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh; góp phần vào tổng kết thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của địa phương Cuốn sách cũng đã khái quát tình hình kinh tế lâm nghiệp ở tỉnh Yên Bái dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương từ những năm đầu tái lập tỉnh đến năm 2005
* Một số đề tài nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học có liên quan đến kinh tế lâm nghiệp tỉnh Yên Bái
Kinh tế lâm nghiệp ở Yên Bái cũng được phát triển mạnh mẽ với mô hình trang trại lâm nghiệp Ngày 23/3/1999, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Yên Bái
tổ chức cuộc Hội thảo khoa học về kinh tế trang trại Loại hình trang trại lâm
nghiệp và tính hiệu quả của nó được đề cập đến trong nhiều bài tham luận đăng trong Kỷ yếu Tiêu biểu như: “Chính sách đất đai đối với phát triển kinh tế nông lâm nghiệp và kinh tế trang trại” của Trần Cương; “Những vấn đề về tổ chức và quản lý kinh tế trang trại ở Yên Bái hiện nay” của Trần Viết Hưởng Theo các
Trang 23tác giả, ở thời điểm năm 1999, có 777 trang trại hộ gia đình trồng rừng ở tỉnh Yên Bái Đây là những hộ có diện tích rừng từ 10 ha trở lên, chủ yếu trồng các loại rừng kinh tế như bồ đề, keo, quế Theo tác giả, Đảng bộ tỉnh Yên Bái cần tiếp tục bổ sung và đề ra những chủ trương, chính sách mới nhằm khai thác có hiệu quả thế mạnh của mô hình kinh tế này [97]
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ NN&PTNT Đánh giá hiệu quả các
mô hình trang trại Lâm nghiệp ở Yên Bái và Phú Thọ của tác giả Trần Thị Thu
Thuỷ Đề tài đi sâu điều tra, nghiên cứu các mô hình trang trại lâm nghiệp ở 8
xã thuộc huyện Yên Bình (Yên Bái) và huyện Hạ Hoà (Phú Thọ) Kết quả nghiên cứu đã khẳng định hiệu quả kinh tế của các trang trại lâm nghiệp ở Yên Bái nhìn chung lớn hơn các trang trại lâm nghiệp ở Phú Thọ Tác giả cũng đề ra một số khuyến nghị về chính sách phát triển kinh tế trang trại lâm nghiệp tại hai tỉnh Yên Bái và Phú Thọ [94]
Phạm Xuân Hoàn và Ngô Đình Quế (2007) với đề tài nghiên cứu khoa
học cấp tỉnh Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý đất sau nương rẫy của bà con
người Dao tại Yên Bái Trên cơ sở tìm hiểu tập quán canh tác trên sườn đất dốc,
nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và sử dụng đất sau nương rẫy của người Dao ở tỉnh Yên Bái, nhóm tác giả đã đề xuất giải pháp nhằm từng bước thay thế phương thức đốt nương làm rẫy của người Dao bằng cách trồng quế theo hướng
có hiệu quả và ổn định [53]
* Một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ về kinh tế Yên Bái nói chung
và kinh tế lâm nghiệp nói riêng
Tiêu biểu là luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Lương Văn Phượng,
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lãnh thổ ở Yên Bái Trên cơ sở phân
tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Yên Bái trong nửa đầu thập niên
90, tác giả khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế lâm nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương [70]
Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Quốc Cường, Giải pháp phát triển
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở tỉnh Yên Bái đã nghiên cứu thực
trạng sản xuất nông - lâm nghiệp của tỉnh Yên Bái Từ đó, đưa ra định hướng,
Trang 24mục tiêu và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy phát triển nông - lâm nghiệp Yên Bái theo hướng sản xuất hàng hoá [24]
Trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp ở tỉnh Yên Bái, những kiến thức bản địa, kinh nghiệm truyền thống của đồng bào thiểu số đã phát huy hiệu quả tích
cực Tác giả Dương Thị Thanh Vân với luận văn thạc sĩ Kiến thức bản địa của
người Dao trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp ở tỉnh Yên Bái đã phân
tích những phương thức ứng xử văn hóa với môi trường tự nhiên trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của người Dao ở tỉnh Yên Bái, thông qua hệ thống kiến thức bản địa Làm rõ được những biến đổi của các kiến thức bản địa trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của người Dao hiện nay Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của kiến thức bản địa trong sản xuất nông, lâm nghiệp của người Dao, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
và đảm bảo sự phát triển bền vững cho đồng bào [152]
Nghiên cứu về công tác khuyến lâm, luận văn thạc sĩ với đề tài Đánh giá
hiệu quả một số mô hình khuyến lâm tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010 - 2014 của
tác giả Lương Văn Hiệp đã tiến hành nghiên cứu một số mô hình khuyến lâm trên địa bàn 2 huyện Yên Bình và Văn Chấn là 2 huyện đại diện cho 2 vùng có địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng tương đối khác nhau của tỉnh Yên Bái và có diện tích đất lâm nghiệp lớn, nhiều mô hình khuyến lâm đã được triển khai Bên cạnh
đó, tác giả cũng nghiên cứu các mô hình khuyến lâm do Trung tâm Khuyến nông khuyến lâm tỉnh Yên Bái và phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) các huyện thực hiện từ năm 2010 - 2014 [52] Tuy nhiên, đề tài này chỉ tiến hành so sánh đánh giá các mô hình hiện còn tồn tại và có thể thu thập được đủ thông tin Trên cơ sở phân tích, đánh giá các mô hình khuyến lâm
ở các địa phương, tác giả đề xuất lựa chọn các mô hình hiệu quả, phương pháp chuyển giao tốt để nhân rộng cho người dân và giúp cho các nhà quản lý hoạch định chính sách phù hợp cho chương trình xây dựng mô hình khuyến lâm
* Những nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp tỉnh Yên Bái trên các tạp chí và các phương tiện thông tin và truyền thông
Tác giả Nguyễn Trung Lợi trong bài viết “Yên Bái qua 10 năm phát triển
kinh tế đồi rừng và trang trại gia đình” đã chỉ ra kết quả rõ nét nhất trong việc
Trang 25thúc đẩy phát triển kinh tế đồi rừng và trang trại ở tỉnh Yên Bái là đã hình thành được các vùng sản xuất hàng hóa tập trung Tác giả nhận định, tỉnh Yên Bái đã thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa nghề rừng đồng thời khẳng định tính hiệu quả của các chương trình 327 và chương trình 661 về đầu tư phát triển lâm nghiệp [65]
Nguyễn Quốc Khương với bài viết: “Tỉnh Yên Bái phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững (2006 - 2015)”, đã phân tích thực trạng kinh tế lâm nghiệp tỉnh Yên Bái Theo tác giả, bằng nhiều giải pháp và hướng đi phù hợp, kinh tế lâm nghiệp ở Yên Bái đã được khẳng định rõ nét, là trụ cột của kinh tế nông, lâm nghiệp Kinh tế lâm nghiệp ở Yên Bái không chỉ đóng góp lớn vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương, xóa đói giảm nghèo, làm giàu mà còn góp phần bảo
vệ môi trường sinh thái Song, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn những tồn tại cần tháo gỡ từ phát triển vùng nguyên liệu đến chế biến [60]
Tác giả Nguyễn Thị Kim Phượng trong bài viết “Chi trả dịch vụ môi trường rừng - một động lực thúc đẩy công tác quản lý bảo vệ rừng” nhận định, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng, khoán bảo vệ rừng, giao đất giao rừng cho người dân hiện nay đang là một trong những động lực thúc đẩy người dân sống bằng nghề rừng, yên tâm với công việc và đồng thời cũng đang ngày càng thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp tỉnh Yên Bái phát triển bền vững [71]
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT
1.2.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên về phương diện nào đó đã chỉ ra những vấn đề liên quan, một khía cạnh nhất định của kinh tế lâm nghiệp, cũng như những kinh nghiệm nhất định Trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập và phát triển kinh tế thì việc đổi mới, hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn
về kinh tế lâm nghiệp là xu thế tất yếu ở Việt Nam nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng
Các công trình trên đã làm rõ lịch sử phát triển của ngành lâm nghiệp nói chung và sự chuyển biến của kinh tế lâm nghiệp trong quá trình xây dựng nền
Trang 26kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình phát triển kinh tế lâm
nghiệp được nghiên cứu ở từng giai đoạn, từng nội dung cụ thể như hoạt động trồng và bảo vệ rừng, công nghiệp khai thác, chế biến và xuất nhập khẩu lâm sản Mỗi vấn đề được các nhà nghiên cứu luận giải dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng vẫn thể hiện rõ sự thay đổi giữa các giai đoạn phát triển của kinh tế lâm nghiệp Những tác động của kinh tế lâm nghiệp đối với kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái và quốc phòng - an ninh cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Lâm nghiệp ở Yên Bái đã sớm được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, hiện chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt và hệ thống nào về “Đảng
bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015” Các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung khai thác ở một số khía cạnh của ngành Lâm nghiệp trong một giai đoạn nhất định, vì thế các số liệu tổng kết
ở từng năm, hoặc một số năm còn có tính rời rạc, chưa thể hiện rõ ràng sự liên kết, so sánh giữa các giai đoạn Về thành tựu của kinh tế lâm nghiệp tỉnh Yên Bái, có nhiều công trình nghiên cứu nhưng mang tính đơn lẻ, chưa phân tích sâu nguyên nhân của kết quả lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động kinh tế lâm nghiệp Về cơ bản chỉ tập trung đánh giá công tác trồng rừng, diện tích rừng hiện có mà chưa thống kê đầy đủ giá trị kinh tế mang lại từ rừng Về giá trị từ chế biến, khai thác
gỗ và lâm sản ngoài gỗ, xuất nhập khẩu hàng hóa lâm sản cũng chưa được quan tâm tổng kết một cách liên tục Phần đánh giá về hạn chế và nguyên nhân của các các thành tựu, hạn chế ít được đưa ra trong tài liệu Đồng thời, việc đánh giá, làm rõ sự chuyển biến của kinh tế lâm nghiệp qua mỗi giai đoạn phát triển, phần lớn thể hiện trên góc độ ngành lâm nghiệp mà chưa đánh giá về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đối với kinh tế lâm nghiệp
Phần lớn các công trình khoa học trên đều đề cập đến thực trạng vấn đề rừng, lâm nghiệp nhưng chủ yếu ở góc độ kinh tế học Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu đề xuất phương hướng cụ thể và đề ra hệ thống các giải pháp nhằm phát triển kinh tế lâm nghiệp trong những năm sắp tới Đó là những
Trang 27tài liệu quý mà nghiên cứu sinh có thể tham khảo, kế thừa về nội dung, phương pháp tiếp cận, trình bày và khai thác tư liệu trong quá trình thực hiện luận án của mình
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục làm rõ
Để làm sáng tỏ vai trò của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015, luận án tập trung làm
rõ một số vấn đề:
Thứ nhất, luận án nghiên cứu, làm rõ những nhân tố tác động đến sự lãnh
đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn
2001-2015 như: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; thực trạng kinh tế lâm nghiệp của tỉnh trước năm 2001; quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về
phát triển kinh tế lâm nghiệp (2001 - 2015)
Thứ hai, phân tích, luận giải chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Yên Bái về phát triển kinh tế lâm nghiệp, bao gồm: Mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp (trên cơ sở các văn kiện, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh) Đồng thời, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh chỉ đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: Phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế; quy hoạch, giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp; đổi mới tổ chức sản xuất, kinh doanh và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển lâm nghiệp; xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế lâm nghiệp
Thứ ba, nghiên cứu, đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
trong lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp của Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm
2001 đến năm 2015
Thứ tư, đúc rút một số kinh nghiệm, cung cấp thêm cơ sở khoa học - thực
tiễn giúp Đảng bộ tỉnh Yên Bái nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp trong giai đoạn tiếp theo
Trang 28Tiểu kết chương 1
Như trên đã trình bày, những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
“Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp từ năm 2001 đến năm 2015” khá đa dạng, phong phú Các công trình này nghiên cứu dưới nhiều
góc độ, phạm vi khác nhau, đề cập khá sâu sắc về vị trí, vai trò của rừng, của kinh tế lâm nghiệp đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và quốc phòng - an ninh Tuy không trực tiếp nghiên cứu về sự lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp của Đảng bộ tỉnh Yên Bái nhưng qua khảo cứu các cuốn sách, các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho tác giả luận án phương pháp tiến hành, kinh nghiệm tổng kết thực tiễn trong quá trình nghiên cứu về sự phát triển kinh tế lâm nghiệp của Yên Bái dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Việc tổ hợp nghiên cứu, phân tích, đánh giá khái quát những công trình trên
là cần thiết, giúp tác giả có thêm kiến thức và phương pháp trong quá trình thực hiện luận án
Trang 29Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÂM NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI (2001 - 2010)
2.1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÂM NGHIỆP
2.1.1 Những nhân tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển kinh
tế lâm nghiệp của Đảng bộ tỉnh Yên Bái
2.1.1.1 Khái niệm kinh tế lâm nghiệp
Nói đến kinh tế lâm nghiệp là nói đến rừng Luật bảo vệ và phát triển
rừng năm 2004 (số 29/2004/QH11) chỉ rõ:
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng [74, tr.1]
Rừng là yếu tố cơ bản của môi trường tự nhiên, góp phần quan trọng vào phát triển bền vững đất nước, vào sự tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và an ninh quốc phòng Rừng đóng một vai trò không thể thiếu trong việc cung cấp các sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và xã hội, bảo vệ môi trường sống, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý bền vững cảnh quan và góp phần bảo vệ
an ninh quốc gia, tạo việc làm cho nhân dân, nhất là người dân miền núi, góp phần xoá đói giảm nghèo Nếu như trong sự nghiệp bảo vệ đất nước, rừng là căn
cứ địa kháng chiến, là vành đai bảo vệ biên giới, thì trong công cuộc xây dựng đất nước, rừng là vành đai phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, là tư liệu sản xuất chính trong lâm nghiệp, là công cụ chống ô nhiễm, bảo vệ môi sinh, là nguồn sinh thủy cho sản xuất và phục vụ đời sống
Bản chất kinh tế của rừng thế hiện ở chỗ rừng chính là đối tượng cung cấp nguyên liệu đầu vào cho ngành sản xuất kinh doanh lâm nghiệp Rừng không chỉ cung cấp nguyên liệu, rừng còn là đối tượng khai thác, là tư liệu sản xuất mà
Trang 30trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, rừng trở thành một tài sản quan trọng của các nhà kinh doanh rừng và nghề rừng Trên thực tế, con người luôn có quan hệ với rừng trên nhiều mặt của đời sống và dựa trên các quy luật khách quan Rừng là nguồn cung cấp gỗ và các loại lâm sản ngoài gỗ (tre nứa, măng, mật ong, các loại thảo dược ) cho sản xuất của các ngành kinh tế, cho tiêu dùng xã hội và bảo vệ môi trường thiên nhiên
Theo tổ chức Liên Hiệp Quốc, lâm nghiệp được hiểu là một ngành kinh tế bao gồm tất cả các hoạt động chủ yếu gắn với sản xuất hàng hóa có liên quan tới
gỗ, sản xuất, chế biến lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ từ rừng [161]
Ở Việt Nam, học giả Đào Duy Anh, trong cuốn Hán Việt từ điển giản yếu,
đã giải thích khái niệm “lâm” là rừng, “nghiệp” là công việc làm hay nghề làm
ăn [1] Như vậy, lâm nghiệp có thể được hiểu là công việc hay nghề kiếm sống
có liên quan đến rừng
Luật Lâm nghiệp (số 16/2017/QH14) đã đưa ra khái niệm lâm nghiệp như
sau: “Lâm nghiệp là ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển,
sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản” [75, tr.1]
Như vậy, có thể thấy rõ vai trò, vị trí của lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Ngoài việc khẳng định lâm nghiệp là một ngành kinh tế - kỹ thuật, còn phản ánh đầy đủ chu trình khép kín trong sản xuất lâm nghiệp đó là gây trồng, khai thác, vận chuyển, chế biến, cung cấp các dịch vụ từ rừng
Bên cạnh đó, ngành Lâm nghiệp còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học Hơn nữa, ngành Lâm nghiệp còn góp phần xóa đói, giảm nghèo, hướng tới đối tượng chính là người dân miền núi, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng ở các khu vực vùng sâu, vùng xa
Mặc dù trên bình diện quốc tế và trong nước chưa có khái niệm thống nhất
về kinh tế lâm nghiệp Tuy nhiên, trong bản thân khái niệm về lâm nghiệp đã thể hiện rõ nội hàm lâm nghiệp là một ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân với những đặc trưng riêng biệt, lấy rừng và đất rừng làm tư liệu sản xuất chủ yếu Kinh tế lâm nghiệp với tư cách là một ngành kinh tế bao gồm những nhiệm vụ
Trang 31đặc thù là nuôi trồng và phát triển rừng, khai thác, chế biến và xuất nhập khẩu hàng hóa lâm sản, cùng với các hoạt động dịch vụ môi trường rừng
Là một ngành kinh tế nên các hoạt động sản xuất kinh doanh trong lâm nghiệp cũng giống như tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế khác, phải tuân thủ theo các quy luật kinh tế Đồng thời, khi nói đến kinh tế lâm nghiệp là tính đến các yếu tố tác động đến sự phát triển sản xuất như đối tượng sản xuất, nguồn vốn, khoa học công nghệ, nhân lực cũng như vấn đề lưu thông hàng hóa lâm sản mà ở đây chính là gỗ, các sản phẩm từ
gỗ, cũng như các loại lâm sản ngoài gỗ Quan trọng hơn, xác định lâm nghiệp
là một ngành kinh tế còn phải tính đến giá trị hay hiệu quả của sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong lâm nghiệp
Trên cơ sở khảo cứu các quan niệm, khái niệm nêu trên, theo tác giả luận
án, kinh tế lâm nghiệp là một bộ phận trong nền kinh tế quốc dân, bao gồm các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, phân phối hay thương mại, tiêu thụ các loại hàng hóa lâm sản và dịch vụ môi trường nhất định bởi các tác nhân khác nhau trong một vị trí địa lý nhất định Kinh tế lâm nghiệp tuân thủ theo sự dẫn dắt, chi phối của các nguyên tắc và bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng
Các tác nhân này có thế là các hộ gia đình lâm nghiệp, các công ty lâm nghiệp, các công ty chế biến lâm sản, các doanh nghiệp thương mại, các tổ chức
có liên quan đến rừng và hưởng lợi từ rừng (nhà máy thủy điện, nhà máy cấp nước, thủy lợi ), và cả Chính phủ Sự giao dịch các loại hàng hóa lâm sản và dịch vụ môi trường rừng được thực hiện trên cơ sở sự đồng thuận về giá trị và giá cả hàng hóa, dịch vụ giữa hai bên tham gia trong ngành, hoặc liên quan đến ngành lâm nghiệp theo cơ chế thị trường, hoặc theo một cơ chế đặc thù nhất định (hiện nay đang áp dụng cho chi trả dịch vụ môi trường rừng), được thể hiện qua một đơn vị tiền tệ nhất định (VND, USD )
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
* Điều kiện tự nhiên
- Về vị trí địa lý: Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm giữa hai vùng Đông
Bắc và Tây Bắc, phía Tây Bắc giáp tỉnh Lào Cai và tỉnh Lai Châu; phía Đông và
Trang 32Đông Bắc giáp tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang; phía Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ và phía Tây giáp tỉnh Sơn La Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 6.886,28 km2, xếp thứ 8 so với 12 tỉnh thuộc vùng núi và trung du phía Bắc về quy mô đất đai [2]
Toàn tỉnh có 9 đơn vị hành chính, gồm các huyện: Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn, Văn Yên, Lục Yên, Trấn Yên, Yên Bình; thành phố Yên Bái; thị xã Nghĩa Lộ, với 180 xã, phường, thị trấn
Với vị trí địa lý là cửa ngõ miền Tây Bắc, nằm trên trung điểm của một trong những tuyến hành lang kinh tế chủ lực Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, có hệ thống giao thông tương đối đa dạng đã tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi để Yên Bái tăng cường hội nhập và giao lưu kinh tế thương mại, phát triển văn hóa xã hội…không chỉ với các tỉnh trong vùng, các trung tâm kinh tế lớn trong cả nước mà còn cả trong giao lưu kinh tế quốc tế, đặc biệt là với các tỉnh phía Tây Nam của Trung Quốc và các nước trong khối ASEAN
- Về địa hình: Yên Bái nằm ở vùng núi phía Bắc, có đặc điểm địa hình cao
dần từ Đông Nam lên Tây Bắc và được kiến tạo bởi 3 dãy núi lớn đều có hướng chạy Tây Bắc - Đông Nam: phía Tây có dãy Hoàng Liên Sơn - Pú Luông nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đà, tiếp đến là dãy núi cổ Con Voi nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Chảy, phía Đông có dãy núi đá vôi nằm kẹp giữa sông Chảy
và sông Lô Địa hình khá phức tạp nhưng có thể chia thành 2 vùng lớn: Vùng cao và vùng thấp Vùng cao có độ cao trung bình 600 m trở lên, chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh Vùng này dân cư thưa thớt, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản, có khả năng huy động vào phát triển kinh tế - xã hội Vùng thấp có
độ cao dưới 600 m, chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa, chiếm 32,44 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh [152]
- Về khí hậu: Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ
trung bình là 22 - 23ºC; (cao nhất từ 37 - 39ºC, thấp nhất từ 2 - 4ºC); tổng nhiệt
độ trong năm từ 7.500 - 8.000ºC lượng mưa trung bình 1.500 - 2.200 mm/năm;
độ ẩm trung bình 83 - 87% [22], thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp
- Về thủy văn: Hệ thống sông ngòi ở Yên Bái khá dày đặc, có 2 sông lớn
là sông Hồng, sông Chảy chảy qua và một số ngòi tương đối lớn như Ngòi Thia,
Trang 33Ngòi Hút, Ngòi Lâu, Ngòi Lao, có tiềm năng lớn về thuỷ điện, thuỷ lợi và giao thông vận tải Qua mấy chục năm xây dựng, Yên Bái đã tạo ra hàng trăm hồ lớn, nhỏ, trong đó lớn nhất là hồ Thác Bà trên sông Chảy Hồ Thác Bà được coi như
“Hạ Long nổi trên lục địa” Nơi đây có những điều kiện rất thuận lợi để phát
triển mô hình trang trại lâm nghiệp
- Về thổ nhưỡng: Đất đai của tỉnh phong phú với 19 loại đất thuộc 5
nhóm đất chính Trong đó, tập trung tới 94,7% thuộc nhóm đất đỏ vàng (đất Feralit) và đất mùn Feralit Đặc điểm nổi bật là đa số có tầng đất dày hơn 70cm Trong đó diện tích có lớp đất dày hơn 100cm chiếm 50% [53] Đất đai Yên Bái màu mỡ, cùng với khí hậu thuận lợi rất thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây nhiệt đới, trong đó có những loại cây quan trọng như lúa, ngô, chè, quế, mía, nhãn, cam, bưởi, chè Suối Giàng, gạo nếp Tú Lệ, quế Văn Yên là những đặc sản nổi tiếng trong nước và thế giới Rừng có nhiều loại
động, thực vật quý hiếm
* Điều kiện kinh tế - xã hội
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng: Hệ thống giao thông thủy, bộ tỉnh
Yên Bái được hình thành và phát triển qua nhiều thập niên, và là một trong số ít tỉnh có mạng lưới giao thông tổng hợp, đa dạng bao gồm 4 loại hình: đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không, tạo thành một hệ thống khá hoàn
chỉnh, đáp ứng được nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
Cùng với việc hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc, bưu điện tỉnh Yên Bái đã khẩn trương mở rộng mạng lưới bưu chính rải đều ở các huyện, thị xã, các khu dân cư kết hợp với phát hành báo chí, thư tín và các dịch vụ điện thoại, điện báo nhanh chóng thuận tiện phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng
Yên Bái là tỉnh tập trung đầy đủ hệ thống giáo dục từ mầm non cho đến đại học Nơi đây, còn là trung tâm đào tạo cán bộ nghiệp vụ kỹ thuật như: trường Cao đẳng sư phạm, các trường trung học chuyên nghiệp đáp ứng được nhu cầu học tập của địa phương và trong vùng
Hệ thống trung tâm y tế, bệnh viện, phòng khám đa khoa của Yên Bái đang được đầu tư nâng cấp trang thiết bị cho các bệnh viện với các trung tâm
Trang 34chuyên ngành Mạng lưới các trạm y tế của tỉnh cũng được quan tâm và không ngừng nâng cấp về trang thiết bị, trình độ đội ngũ y, bác sĩ phục vụ, chăm sóc tận tình sức khỏe của nhân dân
Nhìn chung hệ thống “Điện - đường - trường - trạm” và các cơ quan hành chính đang được dần hình thành đồng bộ và có quy hoạch góp phần tạo điều kiện cho kinh tế lâm nghiệp ở Yên Bái ngày càng phát triển
- Về dân cư: Năm 2015, tổng dân số toàn tỉnh Yên Bái là 793.076 người
với 30 dân tộc anh em Trong đó, số lao động trong độ tuổi là 512.464 người, chiếm 65% Mật độ dân số trung bình là 115 người/km2, tập trung ở một số khu đô thị như thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ, và các thị trấn huyện lỵ
[22, tr.57]
Qua nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Yên Bái, có thể thấy rõ những thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi: Tỉnh Yên Bái có tiềm năng đa dạng và điều kiện thuận lợi để
xây dựng và phát triển kinh tế lâm nghiệp đa dạng do vị trí địa lý, tự nhiên, lịch
sử để lại Vị trí địa lý của Yên Bái là một yếu tố thuận lợi cho việc phát triển nền sản xuất nông, lâm nghiệp Yên Bái còn có những điều kiện rất thuận lợi về giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không, về nguồn tài nguyên rừng, đất đai và khí hậu, có tiềm năng lớn để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến
Nhìn chung, đất đai của tỉnh có độ phì cao, thảm thực vật đa dạng, khả năng phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp còn lớn, phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau, cho phép phát triển sản xuất kinh doanh tổng hợp về rừng, cây
công nghiệp
Khí hậu Yên Bái mang nét chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm
và có một mùa đông lạnh Vùng địa hình thấp thuận lợi cho phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày; ở vành đai núi, cao nguyên núi có thể trồng rừng, cây ăn quả, cây đặc sản; ở vùng đồi núi cao, vùng cận nhiệt đới và ôn đới phát triển cây dược liệu
Trang 35Hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn tỉnh tạo nên nguồn nước bề mặt rất quan trọng phục vụ cho sản xuất và đời sống
Tài nguyên rừng khá phong phú, nếu bảo vệ và phát triển tốt sẽ có khả năng cung cấp sản phẩm cho chế biến, tiêu dùng và xuất khẩu, nhất là những sản phẩm quý hiếm như gỗ Pơ mu và các loại gỗ quý hiếm khác
Về cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông phát triển thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa, nhất là hàng hóa nông lâm sản, trong tương lai có khả năng phát triển được cả đường hàng không dân dụng Điều đó đã tạo điều kiện mở rộng giao lưu với các tỉnh lân cận (Phú Thọ, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu) với cả nước cũng như các cửa khẩu quốc tế với Trung Quốc Đồng thời, với hệ thống giao thông vận tải, Yên Bái còn có hệ thống điện lưới quốc gia được trải rộng hầu hết trong tỉnh thuận lợi cho việc mở rộng sản xuất, nhất là công nghiệp chế biến và phục vụ điện cho thủy lợi hệ thống thông tin liên lạc cũng phát triển mạnh, có khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc trong và ngoài nước cũng như xuống các vùng sản xuất nông, lâm nghiệp tập trung
Yên Bái có lực lượng lao động có kinh nghiệm sản xuất và canh tác trên đất đồi núi Nhìn chung Yên Bái là tỉnh có nhiều tiềm năng có điều kiện để phát triển nền kinh tế đa dạng trong đó có kinh tế lâm nghiệp
* Khó khăn: Tỉnh Yên Bái có trên 70% đất đai là địa hình cao dốc, độ chia
cắt phức tạp và đa dạng, bên cạnh đó lại có khí hậu nóng ẩm, mùa mưa nhiều nên đất thường bị xói mòn mạnh gây bạc màu, ngòi suối thường bị lũ quét làm thiệt hại tài sản mùa màng Mùa đông ở một vài nơi xuất hiện sương muối và trời thường âm u kéo dài tạo điều kiện cho các loại sâu bệnh hại cây trồng phát triển, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng
Cơ sở hạ tầng của tỉnh nhìn chung còn nghèo và lạc hậu Các cơ sở đã có hiện đang bị xuống cấp nghiêm trọng, nhất là ở vùng cao, vùng xa Do đó, có thể nói cơ sở hạ tầng ở Yên Bái chưa đáp ứng được cho sự phát triển của một nền sản xuất hàng hóa trong cơ chế mới
Là một tỉnh miền núi nên nhiều dân tộc còn giữ những phong tục tập quán lạc hậu, trình độ dân trí không đồng đều ở các vùng, nhất là ở nông thôn, ở vùng
Trang 36cao, vùng sâu, vùng xa đường giao thông; trình độ canh tác còn thấp, tiếp thu kiến thức khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất còn bị hạn chế Một bộ phận lớn nông dân vẫn sản xuất theo kiểu tự cấp tự túc là chính, chưa có khả năng và điều kiện để sản xuất hàng hóa Đây chính là trở lực đối với sự phát triển của kinh tế lâm nghiệp ở tỉnh Yên Bái
2.1.1.3 Thực trạng kinh tế lâm nghiệp tỉnh Yên Bái trước năm 2001
Năm 2000, Yên Bái có diện tích rừng các loại so với quỹ đất tự nhiên của tỉnh chiếm tỷ lệ 38,36% (264065,3 ha) Trong đó, rừng tự nhiên 180436,3 ha; rừng trồng 83627,6 ha và đất ươm cây giống 1,4 ha [19] Diện tích đất rừng phân
bố khá đều trên các địa bàn huyện, thị trong tỉnh và có nhiều hơn cả là các huyện Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn, Lục Yên, Mù Cang Chải
So sánh với tổng diện tích rừng của 11 tỉnh miền núi Đông Bắc thì diện tích rừng Yên Bái chiếm 11,25% và có diện tích rừng nhiều thứ ba, xếp sau Tuyên Quang 297.100 ha, Hà Giang 284.500 ha, Yên Bái 264.065 ha, Lạng Sơn 243.300 ha, Lào Cai 240.200 ha, Bắc Kạn 235.200 ha, Quảng Ninh 221.800 ha, Cao Bằng 208.600 ha, Thái Nguyên 139.400 ha, Phú Thọ 115.100
ha và Bắc Giang 98.000 ha Đặc biệt, “rừng trồng ở Yên Bái so với 11 tỉnh vùng Đông Bắc chiếm 17,92%, và là tỉnh có diện tích rừng trồng nhiều nhất vùng Đông Bắc với 83.627,6 ha, Tuyên Quang 61.500 ha, Lạng Sơn 59.300 ha, Phú Thọ 58.600 ha, Quảng Ninh 51.000 ha, Thái Nguyên 39.600 ha, Lào Cai 37.600 ha, Bắc Giang 33.800 ha, Hà Giang 21.600 ha, Bắc Kạn 11.100 ha và Cao Bằng 8.900 ha” [81, tr.56]
Trong số diện tích rừng trồng của Yên Bái thì rừng sản xuất chiếm 81,96%; rừng phòng hộ chiếm 18,04% Toàn tỉnh có 120 trang trại lâm nghiệp
và 46 trang trại nông, lâm, thuỷ sản kết hợp trong tổng số 695 trang trại (phân định theo tiêu chí hướng dẫn tại Thông tư 69 LB/BNN-TCTK ngày 23/9/2000 Theo phân định cũ của tỉnh lên tới 7.252 trang trại)
Trong thời kỳ đổi mới, tốc độ tăng trưởng sản xuất sản phẩm lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh qua các năm khá đều và ổn định Trong đó có 2 chỉ tiêu: sản lượng gỗ khai thác và sản lượng củi khai thác trong năm 2000 của tỉnh Yên Bái phát triển khá và đạt sản lượng cao hơn tất cả 10 tỉnh còn lại thuộc vùng
Trang 37núi Đông Bắc Sản lượng gỗ khai thác của Yên Bái năm 2000 chiếm 19,87%
so với tổng sản lượng gỗ khai thác của 11 tỉnh vùng Đông Bắc Hiện tượng rừng bị cháy và tàn phá đã được hạn chế và khắc phục đến mức thấp nhất Tuy nhiên so với mục tiêu đề ra trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh đến năm 2000 thì vẫn còn một số chỉ tiêu chưa đạt như: Diện tích rừng trồng theo kế hoạch là 93.000 ha, thực tế đạt 83.627 ha bằng 89,92% mức kế hoạch đề ra; cơ cấu rừng phòng hộ và rừng sản xuất theo kế hoạch với tỷ lệ 70% và 30% Nhưng thực tế, tỷ lệ này tính cho rừng tự nhiên lại là 64,23% và 35,77% Thực hiện trồng rừng theo Dự án “5 triệu ha”, theo
kế hoạch hằng năm phấn đấu đạt diện tích rừng trồng mới từ 7.500 ha - 8.000
ha, nhưng thực tế 2 năm 1999 và 2000 chỉ mới đạt mức trên 6.000 ha [81]
Về giá trị sản xuất sản phẩm, chi phí trung gian trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp để dễ dàng xác định chỉ tiêu giá trị tăng thêm (GDP) trong lâm nghiệp, theo mục tiêu dự tính đến năm 2000 sẽ đạt được 224.150 triệu đồng theo giá so sánh năm 1994 theo tỷ lệ cơ cấu: sản xuất lâm sinh 27,92%; khai thác 66,39% và dịch vụ lâm nghiệp 5,69% Nhưng kết quả thực hiện của cả thời kỳ
1995 - 2000, theo số liệu hạch toán thống kê thì chưa có năm nào giá trị tăng thêm (theo giá so sánh 1994) của sản xuất lâm nghiệp đạt được mức đề ra
Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất lâm nghiệp nói chung và sản xuất rừng kinh tế nói riêng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và giá trị thực của nó Sản lượng khai thác thì nhiều nhưng năng suất và giá trị mang lại rất thấp Bên cạnh đó, do thiếu quản lý, quy hoạch đã bung ra quá nhiều cơ sở chế biến làm ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất lâm nghiệp và môi trường
Sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái trước năm 2001 cho thấy hiện tượng mất cân đối, bất hợp lý giữa sản xuất lâm sinh với khai thác lâm sản Trong khi sản xuất lâm sinh hầu như dẫm chân tại chỗ thì hoạt động khai thác bình quân mỗi năm tăng khoảng 8%/năm
Do đó, vấn đề đặt ra là phải tổ chức, quản lý sản xuất lâm nghiệp hợp lý, cân đối giữa sản xuất lâm sinh và khai thác rừng sao cho tốc độ phát triển sản xuất lâm sinh phải tương ứng với tốc độ phát triển của khai thác rừng Bởi vì cơ
sở và nguồn gốc khai thác rừng phải xuất phát và bắt nguồn từ sản xuất lâm sinh
Trang 38Sản xuất lâm sinh không phát triển hoặc phát triển không tương ứng với nhu cầu khai thác rừng, thì đến một lúc nào đó khả năng khai thác rừng sẽ cạn kiệt
2.1.1.4 Chủ trương, chính sách phát triển kinh tế lâm nghiệp của Đảng
và có chính sách hỗ trợ để định canh định cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi Ngăn chặn nạn đốt rừng, phá rừng Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế, tạo nguồn gỗ trụ mỏ, nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy, công nghiệp chế biến gỗ và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu, nâng cao giá trị sản phẩm rừng [38, tr.171]
Nhiệm vụ trước mắt của ngành Lâm nghiệp những năm 2001 - 2005, được Đảng nhấn mạnh là: “Tiếp tục thực hiện dự án 5 triệu ha rừng Tăng nhanh diện tích trồng rừng mới, kết hợp với khoanh nuôi, bảo vệ tái sinh rừng Trồng mới 1,3 triệu ha rừng tập trung, nâng độ che phủ rừng lên khoảng 38 - 39% vào năm 2005; hoàn thành cơ bản công tác định canh định cư và ổn định đời sống nhân dân vùng núi” [38, tr.277]
Tiếp đó, bổ sung vào định hướng phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn
2006 - 2010, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) nêu rõ:
Phát huy lợi thế khí hậu nhiệt đới, tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình bảo vệ và phát triển rừng Nâng cao chất lượng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, phát triển mạnh việc trồng mới và khai thác bền vững rừng sản xuất để nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài về nguyên liệu gỗ cho chế biến hàng tiêu dùng và xuất khẩu; bảo đảm lợi ích thoả đáng của người được giao kinh doanh, chăm sóc và bảo vệ rừng [42, tr.192]
Trang 39Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp quy, chính sách và thể chế lâm nghiệp trong giai đoạn mới Các văn bản
về lâm nghiệp thể hiện rõ định hướng trong chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn này Đó là: Từ một ngành kinh tế lâm nghiệp có nhiệm vụ khai thác
gỗ tự nhiên là chủ yếu sang thành ngành kinh tế lâm nghiệp có nhiệm vụ cơ bản là xây dựng vốn rừng và sản xuất lâm nghiệp Từ một nền kinh tế lâm nghiệp với chủ thể thực hiện chỉ có Nhà nước và tập thể theo tinh thần cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung sang một nền kinh tế lâm nghiệp với đa dạng các chủ thể thực hiện, thu hút các thành phần kinh tế và lực lượng xã hội tham gia kinh doanh và xây dựng rừng Từ một ngành kinh tế lâm nghiệp chỉ tập trung vào khai thác gỗ và chế biến gỗ tự nhiên chuyển thành ngành kinh tế lâm nghiệp với đa dạng các sản phẩm từ rừng (gỗ, sản phẩm từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ) với nhiều ngành nghề khác nhau Từ một ngành kinh tế lâm nghiệp với tình trạng quảng canh, trình độ kỹ thuật thấp, chủ yếu khai thác, chế biến thủ công thành ngành kinh tế lâm nghiệp tập trung, với những phương tiện kỹ thuật cao, hiện đại, đảm bảo có sự hội nhập quốc tế trên nhiều phương diện
Năm 2002, Bộ NN&PTNT đề ra “Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2010” (kèm theo Quyết định số 199/QĐ - BNN - PTLN ngày 22/01/2002 của Bộ NN&PTNT) [5] Chiến lược xác định công tác trồng rừng và bảo vệ rừng là mục tiêu, định hướng mà Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng trong thời gian này Đó là chú ý đến giá trị kinh tế từ rừng mang lại trên cơ sở đáp ứng nhu cầu về chế biến và xuất khẩu lâm sản Đặc biệt, chú ý đến đời sống của người làm nghề rừng và đảm bảo nâng cao đời sống của người dân trong tương lai
Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà khoa học lâm nghiệp thì Chiến lược này chưa phân tích đầy đủ về ngành, chưa tính được các giá trị trực tiếp và gián tiếp của rừng, chưa liên kết được với các nguồn tài chính của Chính phủ, của các nhà tài trợ và đầu tư quốc tế và đặc biệt là của khu vực ngoài quốc doanh Đồng thời, chủ yếu vẫn dựa trên cách tiếp cận cũ về quản lý và phát triển rừng và ít liên kết với các kinh nghiệm của khu vực và quốc tế cũng như xu hướng hội
Trang 40nhập trong tương lai Bên cạnh đó, “Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp giai đoạn
2001 - 2010” là một văn kiện chỉ được phê duyệt ở cấp Bộ, nên hiệu lực đối với các Bộ, các ngành khác và các địa phương chưa cao
Vì vậy, “Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020” (ban hành kèm theo Quyết định số 18/2007/QĐ - TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ) là một sự kế thừa, bổ sung với nhiều điểm mới Chiến lược đã thể hiện được các nội dung chính về các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và các ngành có liên quan, các công ước và hiệp định quốc tế mà Việt Nam đã ký kết “Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020” với phương thức tiếp cận mới về lâm nghiệp là đánh giá đầy đủ các đóng góp trực tiếp của ngành (bao gồm cả 3 loại rừng và công nghiệp chế biến lâm sản) và gián tiếp của rừng (các dịch vụ môi trường như hấp thụ khí thải C02, phòng hộ đầu nguồn, ven biển, bảo vệ môi trường đô thị, du lịch sinh thái) và các định hướng dựa trên cơ sở các phân tích về ảnh hưởng của ngành Đồng thời, Chiến lược này vẫn đảm bảo sự cân đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường
“Chiến lược Phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020” xác định mục tiêu: Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp; nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42 - 43% vào năm 2010 và 47% vào năm 2020; đảm bảo có sự tham gia rộng rãi hơn của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp nhằm đóng góp ngày càng tăng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ môi trường, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn miền núi và góp phần giữ vững an ninh quốc phòng [87; tr.12]
Đặc biệt, “Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam 2006 - 2020” đã xác định: đến năm 2020, dự kiến xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7
tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phấm lâm sản ngoài gỗ), lâm sản ngoài
gỗ trở thành một trong các ngành hàng sản xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp Đồng thời, giá trị xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ tăng bình