Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 27 Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH Q
Trang 1của riêng tác giả Các số liệu, kết quả nêu trong luận án
là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
Tác giả luận án
Lê Hồ Hiếu
Trang 2TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
3 Cán bộ, công chức, viên chức CBCCVC
4 Công nghiệp hóa, hiện đại CNH, HĐH
6 Giáo dục và đào tạo GD&ĐT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố liên
quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 27
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH QUẢNG NINH VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Quảng Ninh về phát triển nguồn nhân lực 322.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển
2.3 Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực
Chương 3 ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY
MẠNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ NĂM
3.1 Yêu cầu mới và chủ trương đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực
của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2010 - 2015) 763.2 Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo đẩy mạnh phát triển nguồn
4.1 Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát
4.2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo
phát triển nguồn nhân lực (2005-2015) 145
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Phát triển NNL luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất đối với mọi quốcgia, vì nguồn lực con người luôn là một nhân tố quyết định sức mạnh, vị thếcủa đất nước, đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của đời sống KT-XH.Quá trình toàn cầu hóa, sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa nhiều vào tríthức và công nghệ tạo ra nhiều cơ hội phát triển NNL, đồng thời cũng đặt ranhững yêu cầu mới về phát triển nguồn lực con người Tại Việt Nam, tiếntrình đổi mới đất nước, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện CNH, HĐH cũng
là tiến trình đổi mới nhận thức, cũng như phương thức xây dựng, phát triểnNNL Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã xác định:
“Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tậptrung vào đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặtchẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học côngnghệ” Thực tế, đến nay, bên cạnh những thành tựu về xây dựng, phát triểnNNL, nhất là nhân lực chất lượng cao của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế cả
về số lượng và chất lượng, bất cập về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹnăng giao tiếp quốc tế, thái độ và đạo đức nghề nghiệp Những hạn chế vàbất cập đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới thu hút đầu tư, tới sự phát triển, ổnđịnh KT-XH đất nước Do đó, nghiên cứu phát triển NNL trên phạm vi cảnước nói chung, ở cấp độ địa phương nói riêng để đút kết những kinh nghiệmhay, vận dụng vào phát triển NNL hiện nay cũng như tương lai là cần thiết,mang tính thời sự
Quảng Ninh là một tỉnh nằm trong tam giác kinh tế tăng trưởng Hà Nội
- Hải Phòng - Quảng Ninh, sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đãmang diện mạo của một khu vực kinh tế mở, năng động, đạt tốc độ tăngtrưởng cao, quy mô không ngừng được nâng lên Để đạt được những thànhquả đó, ngoài lợi thế về vị thế địa lý, tài nguyên phong phú, trong những năm
Trang 5đổi mới, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã tập trung xây dựng, phát triển NNL và
đã thu được nhiều kết quả Để tạo bước chuyển biến mang tính đột phá, thúcđẩy tăng trưởng kinh tế, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh khóa
XI (3/2001) chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triểnnguồn lực con người; xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chất lượng cao,
có cơ cấu ngành nghề hợp lý và có trình độ tiếp thu công nghệ tiên tiến ứngdụng vào sản xuất” Đảng bộ và nhân dân địa phương đã chọn đúng và giảiquyết tương đối tốt vấn đề phát triển NNL, coi đây là hướng đột phá để pháttriển KT-XH, một nhiệm vụ vừa cấp bách, thường xuyên vừa có tính chiếnlược lâu dài Dẫu vậy, chất lượng NNL của Quảng Ninh, nhiệm vụ phát triểnNNL của địa phương trên cả phương diện chủ trương và tổ chức thực hiện cònbộc lộ những hạn chế, yếu kém
Do đó, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vềphát triển NNL trong những năm 2005-2015 nhằm làm rõ quá trình Đảng bộtỉnh Quảng Ninh vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển NNL vào thựctiễn địa phương, qua đó, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân vàtổng kết kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào giai đoạn tiếp theo Với ý nghĩa
đó, tác giả chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2005 đến năm 2015” làm đề tài luận án tiến sĩ khoa
học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạophát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015, rút ra những kinh nghiệm có giátrị tham khảo cho việc phát triển NNL của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đề đề tài luận án
Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh QuảngNinh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015
Trang 6Phân tích, luận giải làm rõ những chủ trương của Đảng bộ tỉnh QuảngNinh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015.
Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo thực hiện phát triểnNNL từ năm 2005 đến năm 2015
Nhận xét những ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh QuảngNinh lãnh đạo phát triển NNL (2005 - 2015), từ đó rút ra những kinh nghiệm
lịch sử chủ yếu vận dụng vào hiện thực
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về pháttriển NNL
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ chủ trương và sự chỉ
đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, bao gồm: xây dựng quyhoạch phát triển NNL, đào tạo, bồi dưỡng phát triển NNL và đổi mới cơchế chính sách thu hút NNL của Tỉnh (tập trung chủ yếu vào NNL lãnh đạo,quản lý, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan hành chính sựnghiệp trong khu vực Nhà nước và NNL chuyên môn kỹ thuật ngành côngnghiệp - xây dựng, công nhân kỹ thuật lành nghề, NNL ngành du lịch - dịch
vụ, NNL ngành nông, lâm, ngư nghiệp ) trên các mặt số lượng, chất lượng
và cơ cấu NNL
Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong 10 năm, mốc thời gian bắt đầu
từ năm 2005, năm tiến hành Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XII (10/2005).Mốc kết thúc luận án là năm 2015, mốc thời gian kết thúc thực hiện nghịquyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2010-2015) mở đầu Đạihội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV (10/2015) Tuy nhiên, để vấn đề nghiên cứu có
hệ thống, luận án có đề cập một số năm trước năm 2005 và sau năm 2015.
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Trang 74 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp phổ quát của khoa học lịch sử như:Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, kết hợp phương pháp lịch sử vớiphương pháp logic, ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp khácnhư phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh … Cụ thể:
Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và chương
3 khi phân kỳ các giai đoạn lịch sử (2005 - 2010) và (2010 - 2015) nhằm hệthống hóa các quan điểm của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL,đồng thời làm rõ quá trình chỉ đạo của tỉnh Quảng Ninh phát triển NNL từnăm 2005 đến năm 2015
Phương pháp logic chủ yếu được sử dụng nhằm sâu chuỗi các sự kiệnlịch sử cơ bản, khái quát hóa thành những luận điểm, quan điểm cơ bản từcác văn kiện của Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Quảng Ninh nhằm thấy đượcquá trình nhận thức, phát triển về chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ Tỉnh
về phát triển NNL Phương pháp logic đặc biệt được sử dụng phổ biếntrong chương 4 nhằm khái quát, tổng kết lịch sử đưa ra những nhận xét về
Trang 8ưu điểm, về hạn chế và rút ra kinh nghiệm lịch sử trong quá trình lãnh đạo,chỉ đạo thực tiễn phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm
2005 đến năm 2015
Các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được kết hợp sử dụngtrong các chương nhằm làm rõ những nội dung nghiên cứu của luận án
5 Những đóng góp mới của luận án
Hệ thống hoá chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015
Nhận xét đánh giá một cách khách quan, khoa học thành tựu và hạn chếtrong hoạt động lãnh đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từnăm 2005 đến năm 2015
Đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnhQuảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015
Góp phần tổng kết lý luận, thực tiễn phát triển NNL của Đảng thực tiễncủa một Đảng bộ địa phương
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để Đảng bộ tỉnh QuảngNinh tiếp tục bổ sung, điều chỉnh chủ trương, sự chỉ đạo phát triển NNL phục
vụ cho công cuộc phát triển KT-XH của địa phương và đất nước
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu nghiên cứu, thamkhảo cho lãnh đạo phát triển NNL ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng và các địaphương khác trong cả nước nói chung Đồng thời, là tài liệu tham khảo phục
vụ nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các Học viện,nhà trường trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đãcông bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, luận án được kết cấu gồm 4 chương (9 tiết)
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được công bố
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực ở nước ngoài
1.1.1.1 Các công trình của tác giả nước ngoài nghiên cứu về nguồn nhân lực
Phát triển NNL là một mục tiêu cơ bản và quan trọng trong chiến lượcphát triển bền vững của nhiều quốc gia trên thế giới, vì vậy, đây là vấn đềđược nhiều nhà quản lý, nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu, tiêubiểu với một số công trình như sau:
Các tác giả Theodore Schultz (1971), “Investment in Human Capital” (Đầu tư vào vốn con người) [239] và tác giả Gary S.Becker (1964) trong loạt bài giảng về Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysic, with Special Reference to Education (Vốn con người: Một phân tích lý thuyết và thực nghiệm, với sự tham chiếu đặc biệt đến giáo dục) [234] là những người
đầu tiên đưa ra khái niệm về “vốn con người” Thuyết về “vốn con người” đã
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính sách phát triển giáo dục và phát triển kinh
tế của nhiều quốc gia từ thập niên 60 của thế kỷ XX Lý thuyết này đã chứngminh vai trò to lớn của GD&ĐT để phát triển con người-một trong nhữngnguồn vốn quan trọng nhất của sản xuất vật chất
Tác giả Walter W McMahon, “Education and Development: Measuring the Social Benefits” (Giáo dục và phát triển: Đo lường các lợi ích
xã hội) [240] đưa ra một cách tiếp cận mới nhằm đo lường tổng lợi nhuận từ
việc phát triển nhân lực thông qua đầu tư vào GD&ĐT Trên cơ sở sử dụng dữliệu trong khu vực và trên toàn thế giới, ông đã phân tích và ước tính đónggóp cận biên ròng của giáo dục và kiến thức mới đối với tăng trưởng kinh tế,cũng như những ảnh hưởng rộng lớn của nó đối với dân chủ, nhân quyền, ổn
Trang 10định chính trị, y tế, tỷ lệ gia tăng dân số, giảm nghèo, bất bình đẳng trongphân phối thu nhập, tội phạm, sử dụng ma túy, và môi trường.
Các tác giả Greg G.Wang và Judy Y.Sun (2009), “Perspectives on Theory Clarifying the Boundaries of Human Resource Development” (Những quan điểm dựa trên lý thuyết làm rõ những ranh giới của phát triển nguồn nhân lực ) [235], đã công bố những kết quả nghiên cứu về khái niệm và phạm
vi phát triển NNL trên khía cạnh học thuật; luận giải sự khác biệt giữa pháttriển NNL với phát triển vốn nhân lực và phát triển con người, qua đó có thểứng dụng để làm rõ về mặt lý luận nghiên cứu NNL trong một lĩnh vực cũngnhư một tổ chức nhất định
Bên cạnh đó, một số tài liệu được xuất bản ở nước ngoài cho thấy rõhơn về yêu cầu đào tạo NNL cho phát triển của mỗi quốc gia, như nghiên cứu
của M Jones và P Manu (1992), “International perspectives on development and learning” (Quan điểm quốc tế về phát triển và học tập) [238], đã đề cập
đến chính sách khuyến khích phát triển NNL thông qua đào tạo và quản lýcon người; vai trò của của phát triển NNL trong công cuộc xây dựng kinh tế ởcác quốc gia châu Phi và châu Á Tác giả đề xuất các giải pháp và đề cập đếncác chính sách, các bước tiến hành phát triển NNL Các tác giả Marc Effron,Robert Gandossy, Marshall Goldsmith đã trình bày kết quả nghiên cứu trong
công trình khoa học “Human Resources in the 21st century” (Nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI) [237] Đó là những ý tưởng được đề xuất qua khảo sát của
các chuyên gia hàng đầu về nhân lực trên các phương diện như chính sáchđào tạo, quản lý, sử dụng lao động nhằm tạo nên NNL cho thế kỷ 21
1.1.1.2 Các công trình của tác giả trong nước nghiên cứu về nguồn nhân lực ở nước ngoài
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về NNL ở các nước khác nhau trênthế giới của các học giả nước ngoài, các tác giả trong nước cũng có nhiềucông trình nghiên cứu công phu về NLL ở các nước, cũng như những kinh
Trang 11nghiệm sử dụng NNL ở nhiều nước trên thế giới, tiêu biểu là các công trìnhcủa các học giả sau:
Các tác giả Trần Văn Tùng và Lê Thị Ái Lâm (1996), “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” , đã chỉ ra rằng
sự phát triển thành công của một đất nước luôn gắn chặt với chính sách, chiếnlược phát triển NNL, nhất là chiến lược phát triển giáo dục và khái quát kinhnghiệm phát triển NNL ở khía cạnh phát triển giáo dục ở một số nước trên thếgiới, đặc biệt, các tác giả đã tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá vấn đềGD&ĐT trong chính sách phát triển NNL ở Việt Nam, từ thực trạng đến việcđịnh hướng GD&ĐT nhằm phát triển NNL cũng như việc lựa chọn chính sáchphát triển NNL ở nước ta
Tác giả Lê Thị Ái Lâm (2003), “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo- kinh nghiệm của Đông Á” , đã đi từ thực tiễn thành công
một cách thần kỳ của một số nước, vùng lãnh thổ ở Đông Á, Đông Nam Á, nhưNhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Singapo, Indonexia, Malaixia,…trong việc phát triển NNL để luận giải một số lý thuyết phát triển NNL thông
qua GD&ĐT trên các nội dung sau: Một là, vai trò của phát triển NNL thông qua GD&ĐT ở các nước Đông Á Hai là, chiến lược công nghiệp hóa phù hợp với phát triển GD&ĐT ở các nước Đông Á Ba là, điều chỉnh phát triển NNL thông qua GD&ĐT ở các nước Đông Á Bốn là, vấn đề phát triển NNL hiện
nay thông qua GD&ĐT ở các nước Đông Á Từ việc phân tích thực trạng pháttriển NNL thông qua GD&ĐT ở các nước Đông Á, tác giả rút ra những bài họckinh nghiệm và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Kim Bảo (2004) trong công trình“Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (giai đoạn 1992 - 2010)” , đã tìm hiểu về
những nhân tố tác động và nội dung chính trong điều chỉnh chính sách kinh tế
ở Trung Quốc giai đoạn 1992 - 2010 và những tác động của việc điều chỉnhchính sách kinh tế đó với thế giới cũng như khu vực và Việt Nam Đặc biệt,
Trang 12trong chương VI của cuốn sách, tác giả đã trình bày về vấn đề điều chỉnh chính sách KH&CN và chính sách phát triển NNL Các điều chỉnh đó bao gồm: Thứ nhất, điều chỉnh các chính sách KH&CN; Thứ hai, điều chỉnh
chính sách phát triển NNL Trong bước điều chỉnh thứ nhất, tác giả trình bày
3 nội dung: Chính sách KH&CN trong thập kỷ 90; một số thành tựu và nhữngtồn tại; xu hướng điều chỉnh chính sách KH&CN của Trung Quốc đến năm
2010 Trong bước điều chỉnh thứ hai, tác giả làm rõ các vấn đề liên quan, nhưchính sách phát triển NNL trong thập kỷ 90; thành tựu và những vấn đề tồntại; xu hướng phát triển NNL đến năm 2010
Tác giả Trần Văn Tùng (2005) trong cuốn: Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng - kinh nghiệm của thế giới , trên cơ sở quan
điểm của nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nhân tài là nguồn lực quan trọng vàquý báu nhất thúc đẩy quá trình phát triển KT - XH, tạo ra các giá trị vật chất,tinh thần to lớn cho toàn thể cộng đồng, do vậy, trên thế giới đang diễn ra mộtcuộc đua - cuộc đua phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng tài năng, song ởmỗi quốc gia lại có những bí quyết riêng, tác giả đã nghiên cứu về các trườnghợp điển hình ở các nước như Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc, HànQuốc và một số nước khác nhằm giúp độc giả có cái nhìn khái quát về vấn đềđào tạo, sử dụng nguồn lực tài năng ở các quốc gia này Trên cơ sở đó, tác giảkhẳng định rằng việc đổi mới chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồnlực tài năng ở Việt Nam là một trong những yêu cầu cấp bách để đưa đất nướcphát triển
Tác giả Vũ Bá Thể (2005), “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL của
một số nước tiên thế giới và thực trạng NNL ở nước ta, từ đó đưa ra nhữngquan điểm về NNL và phát triển NNL; vai trò của NNL đối với tăng trưởngkinh tế và sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam; định hướng và những giải phápnhằm phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay
Trang 131.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài
1.1.2.1 Nhóm nghiên cứu chung về phát triển nguồn nhân lực ở
Tác giả Trần Văn Tùng (2001), “Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam” , bàn về vai trò của tri thức với kinh tế thế giới, khu
vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và sự nghiệp đổi mới ở Việt Namnói riêng Từ đó tác giả nêu lên những yêu cầu đối với sự nghiệp GD - ĐTnhằm đáp ứng sự nghiệp xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng NNL cho quốc gia
Tác giả Bùi Thị Ngọc Lan (2002),“Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” , đã chỉ ra vai trò quan trọng của nguồn lực trí tuệ đối
với sự phát triển của xã hội; làm rõ đặc điểm, thực trạng phát huy và xuhướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam, từ đó khẳng định sự cần thiếtphải chăm lo phát triển và phát huy cao độ sức mạnh của nguồn lực trí tuệtrong công cuộc đổi mới ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất nhữngquan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu như: nâng cao nhận thức củatoàn xã hội về sự cần thiết phải phát huy nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổimới; cải cách hệ thống GD&ĐT nhằm tạo nguồn cho quá trình phát huynguồn lực trí tuệ; tạo động lực thúc đẩy quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ;xây dựng môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh thúc đẩy sự phát triển cao vàbền vững của nguồn lực trí tuệ Việt Nam
Trang 14Tác giả Nguyễn Thanh (2002),“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”,, đã luận giải nhằm làm rõ quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủtrương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người, về vai trò củaGD&ĐT trong chiến lược phát triển con người; phân tích về NNL có chất lượngtrong công cuộc CNH, HĐH ở nước ta hiện nay trên cơ sở phát triển GD&ĐTvới tính cách “quốc sách hàng đầu”, coi đó là điều kiện tiên quyết để thực hiệnthành công sự nghiệp đổi mới nói chung và CNH, HĐH đất nước nói riêng
Tập thể tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa và Đặng Hữu
Toàn chủ biên (2002) trong cuốn: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn”, , đã đề cập đến nhiều vấn đề con người, những
bất cập, đòi hỏi về nguồn lực con người trước sự nghiệp CNH, HĐH, nhữngvấn đề quan tâm, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn lực con người dướicác khía cạnh khác nhau
Tác giả Nguyễn Hữu Dũng (2003), “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” , đã trình bày hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn
có liên quan đến phát triển, phân bố và sử dụng nguồn lực con người trongphát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; đánh giáthực trạng 15 năm đổi mới lĩnh vực NNL; giới thiệu kinh nghiệm của Mỹ,Nhật Bản và Trung Quốc về vấn đề này; từ đó đề xuất các giải pháp nhằmphát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người trong quátrình phát triển kinh tế ở nước ta tới năm 2010
Tác giả Trần Nhân (2004), “Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới” , luận
bàn về phát triển nguồn lực, con người nhân tố quyết định thắng lợi của đổi mới
và phát triển, tiếp tục khẳng định con người là trung tâm của phát triển, conngười vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển KT-XH Tác giả khẳng địnhchiến lược phát triển con người không chỉ là phát triển từng mặt, mà là phát triểntoàn diện đạo đức và tài năng, thể lực, trí lực, và tay nghề
Trang 15Các tác giả Nguyễn Văn Đễ, Bùi Xuân Trường (2004) trong cuốn
“Nhân lực Việt Nam trong chiến lược kinh tế 2001-2010” , đã tập hợp chi tiết
các bài viết về vai trò của NNL Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế
2001 - 2010 Cuốn sánh chia làm 4 phần: Kinh tế tri thức; chiến lược pháttriển NNL Việt Nam trong chiến lược KT-XH giai đoạn 2001 - 2010; hướngtới nền kinh tế tri thức - cả nước với chương trình phát triển NNL giai đoạn2001- 2010 và những thông tin về giáo dục - đào tạo Nội dung sách xoayquanh vấn đề phát triển NNL do Đại hội IX của Đảng đề ra "Nguồn lực conngười, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bềnvững - con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đấtnước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"
Tác giả Phạm Thành Nghị (2007), “Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” , đã hệ
thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản, những nhận thức mới và hiện đại vềquản lý NNL như vấn đề vốn con người và phát triển vốn con người; các môhình quản lý NNL; các yếu tố tác động đến quản lý NNL và các chính sách vĩ
mô tác động đến quản lý NNL Đặc biệt, là việc phân tích những khác biệttrong quản lý NNL ở một số lĩnh vực: hành chính nhà nước, sự nghiệp và sảnxuất kinh doanh qua kết quả điều tra xã hội học Qua đó kiến nghị áp dụngnhững mô hình quản lý NNL phù hợp thay thế cho các mô hình đã lạc hậu.Đồng thời đề xuất hệ thống những quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằmnâng cao hiệu quả quản lý NNL trong ba khu vực: hành chính nhà nước, sựnghiệp và sản xuất kinh doanh Các đề xuất này khá toàn diện, đồng bộ, có cơ
Trang 16giá và các yếu tố tác động tới phát triển NNL chất lượng cao để hình thànhnền kinh tế tri thức Xem xét kinh nghiệm phát triển NNL chất lượng cao đểhình thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia tiêu biểu Đánh giá quátrình phát triển NNL chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở ViệtNam từ năm 2001 đến 2009 theo những nội dung và tiêu chí đã xác định Đềxuất một số quan điểm và giải pháp nhằm phát triển NNL chất lượng cao đểhình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Đối với công tác đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núiphía Bắc nước ta, tác giả Lô Quốc Toản (2009), trong công trình khoa học
“Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta” , đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển nguồn cán bộ
dân tộc, đồng thời đánh giá thực trạng của công tác này qua những số liệu cụthể Từ đó đề ra phương hướng cũng như hệ giải pháp phát triển nguồn cán bộdân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả Trần Khánh Đức (2010), “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” , đã trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn giáo
dục; quản lý giáo dục và vai trò của giáo dục đối với phát triển NNL Tác giảcũng nêu lên triết lí mới về xã hội và nền giáo dục hiện đại; lý thuyết hệ thống
và hệ thống giáo dục hiện đại, nhà trường trong các nền văn minh và nhữngkịch bản nhà trường tương lai; sư phạm kỹ thuật và công nghệ dạy học, pháttriển chương trình giáo dục hiện đại; đo lường và đánh giá kết quả học tập,quản lý và quản lý giáo dục, chính sách và chiến lược giáo dục; chất lượnggiáo dục và quản lý chất lượng giáo dục nhằm tạo điều kiện để giáo dục làmtốt chức năng đào tạo, bồi dưỡng NNL cho đất nước
Tác giả Nguyễn Văn Tài (2010), “Tích cực hoá đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đã tập trung phân
tích làm rõ thực chất quá trình phát huy tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ,trong đó chỉ ra hệ thống động lực phát huy tính cực của người cán bộ, đó là
Trang 17động lực lợi ích, dân chủ và trí tuệ; chỉ ra vai trò nhân tố con người của độingũ cán bộ trong nâng cao chất lượng tổng hợp của HTCT, trong mối quan hệgiữa cán bộ với quần chúng và nhân viên thuộc quyền, trong mối quan hệ vớichức trách, nhiệm vụ Đặc biệt với phương pháp tiếp cận vấn đề một cách có
hệ thống, tác giả đã đưa ra những đánh giá sát thực về tình hình cán bộ nước
ta hiện nay, đề xuất những giải pháp cụ thể, có tính khả thi để góp phần kiệntoàn, nâng cao chất lượng cán bộ các cấp
Bên cạnh những công trình nghiên cứu lý luận chung về NNL, nhữngcông trình nghiên cứu riêng về NNL vùng, miền, các địa phương cũng đượcnhiều tác giả tập trung nghiên cứu:
Tác giả Bùi Tiến Lợi (2002), “Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hoá đến năm 2010 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” , đã đánh giá thực
trạng NNL của tỉnh Thanh Hóa Đồng thời, căn cứ vào yêu cầu của sự nghiệpCNH, HĐH, tác giả đã đề ra một số giải pháp cơ bản để phát triển NNL đáp ứngyêu cầu của địa phương đến năm 2010 và những năm sau, trong đó tác giả đã đềcập đến đào tạo NNL cho 11 huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Trần Thị Minh Ngọc (2010), “Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020” , đã làm rõ những khái niệm liên quan trực tiếp đến vấn đề như: việc
làm, thiếu việc làm, thất nghiệp, từ đó làm rõ đặc điểm việc làm nông thônhiện nay Tác giả phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn cũng nhưnhững thành tựu, hạn chế trong quá trình giải quyết việc làm cho nông dânvùng Đồng bằng sông Hồng trong quá trình CNH, HĐH, từ đó đề ra phươnghướng và giải pháp cụ thể thiết thực nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả hơnchính sách này
Bên cạnh các công trình chuyên khảo, trên các tạp chí khoa học cónhiều bài viết nghiên cứu về phát triển NNL, trong đó tiêu biểu là các bài viết:
Trang 18Tác giả Mạc Văn Tiến (2005),“Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Namtrên bước đường toàn cầu hóa” ; Nguyễn Thanh Tuấn (2007) , “Đa dạng hóa
cơ cấu để phát triển số lượng và chất lượng nguồn nhân lực” của” ; TrầnThanh Đức (2007), “Giáo dục đào tạo với sự phát triển nguồn nhân lực” ;Nguyễn Thắng Lợi (2007), “Về công tác đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳđổi mới” ; Hồ Văn Vĩnh (2009), “Nâng cao chất lượng lao động đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn” ; Các bài báocủa các tác giả đều nghiên cứu sâu về chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH nôngnghiệp của Đảng, đồng thời nhất quán chủ trương coi đào tạo nhân lực chấtlượng cao là một trong ba khâu đột phá để thực hiện thành công sự nghiệpCNH, HĐH Trên cơ sở đó các tác giả nêu rõ thực trạng về đào tạo và sử dụngNNL ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XXI: đông về số lượng nhưngchất lượng lại chưa đáp ứng được yêu cầu KT - XH đặt ra; Các tác giả chỉ rõ:bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đòi hỏi NNL làm sao có thể chuyểnmình kịp với nhu cầu của đất nước, thời đại
Luận giải sâu sắc đặc trưng, sức mạnh và vai trò của nguồn lực conngười trong quan hệ với các nguồn lực khác Tác giả Đoàn Văn Khái với một
số bài viết “Nguồn lực con người - yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” ; “Nguồn lực con người dưới sự tác động của việc giải quyết các mối quan hệ lợi ích” ; “Bàn thêm về khái niệm nguồn lực con người” , đã khẳng định vai trò của trí tuệ, phẩm chất đạo đức, tinh thần
chất lượng nguồn lực con người Đánh giá thực trạng, đề xuất phương hướng
và giải pháp về phát triển NNL
Khẳng định đào tạo NNL thực sự có hiệu quả, quan trọng hơn phải cóchính sách đào tạo, sử dụng NNL đúng tư tưởng chỉ đạo Tác giả Phạm Minh
Hạc (2001) trong bài viết “Giáo dục và nguồn nhân lực” , đã nêu lên quan
điểm mới về phát triển NNL, lấy phát triển bền vững làm trung tâm, mỗi con
Trang 19người là cá nhân độc lập, làm chủ quá trình lao động của mình, lấy lợi ích củangười lao động làm nguyên tắc cơ bản quản lý lao động, nhằm tăng năng suấtlao động, bảc đảm môi trường dân chủ thuận lợi để tiến hành giao lưu đồngthuận, tạo cơ hội thăng tiến cho tất cả mọi người; có chính sách giải phóng vàphát hiện tiềm năng người lao động, bảo đảm hiệu quả công việc, phát triểnNNL bám sát thị trường lao động Đây là vấn đề phức tạp, mấu chốt phải xâydựng chính sách quản lý phát triển GD&ĐT đúng đắn, sử dụng phù họp NNLbao gồm tuyển dụng, chính sách lao động, phân công lao động, phân bổ NNL,cán bộ, tiền lương, khen thưởng
Tác giả Lê Thị Ngân (2003), “Phát triển nguồn nhân lực trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn” , tập trung làm
rõ vẩn đề mang tính lý luận và thực tiễn yêu cầu phát triển NNL Trên cơ sởquan điểm của Đảng, chính sách phát triển và sử dụng NNL của Nhà nước,tác giả tập trung phân tích vai trò và sự cần thiết phát triển NNL cho nôngnghiệp, nông thôn
Tác giả Phạm Công Nhất (2003), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lựcđáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” Tác giả khái quát kết quả hơnhai mươi năm đổi mới đất nước và hơn một năm gia nhập Tổ chức thươngmại thể giới, đồng thời chỉ rõ thực trạng phát triển NNL và đưa ra giải pháp
cơ bản nâng cao chất lượng NNL, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quôc tế
Trang 20Tác giả Lê Thị Chiên (2011) , “Quan điểm của Đại hội IX về phát triểnnguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế trithức” trên cơ sở trình bày các quan điểm khác nhau về NNL, tác giả đã đưa
ra khái niệm NNL chất lượng cao: “nội hàm khái niệm này chỉ những ngườilao động có sức khỏe tốt, được đào tạo căn bản, được trang bị kiến thức vềnghề nghiệp, có kỹ năng kỹ xảo trong lao động Họ không chỉ vượt về trithức, trí tuệ mà còn có khả năng nắm bắt được xu thế của thời đại, biết thíchnghi nhanh và luôn chủ động hội nhập Họ chính là những người lao động tiêntiến, đóng vai trò quyết định đến sự phát triển nền kinh tế tri thức” Bên cạnh
đó, từ những quan của Đảng ở Đại hội XI về phát triển NNL trong thời kỳCNH, HĐH tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm từng bước nâng cao chấtlượng NNL nước ta
Bên cạnh đó, nhiều bài viết tập trung khai thác vào vấn đề đào tạo, pháttriển NNL ở các địa phương trong cả nước: Tác giả Thanh Tùng (2004), “Giảipháp về đào tạo nguồn nhân lực cho các khu chế xuất, khu công nghiệp thànhphố Hồ Chí Minh” ; Vũ Minh Hùng (2004), “Về đào tạo và sử dụng nguồnnhân lực phục vụ cho sự phát triển công nghiệp ở tỉnh Bình Dương” ; ĐàoHoàng Nam (2004), “Về phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Bạc Liêu” ; Nguyễn Ngọc Thạch (2005), “HàTây nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng tỉnh côngnghiệp” ; Đỗ Văn Thông (2005), “Chuyển dịch cơ cấu lao động và công tácđào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Ninh Thuận” ; Tác giả ĐỗHùng, Thanh Tùng (2005), “Giáo dục đào tạo Lào Cai góp phần quan trọngđào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” ; Lê Thi(2005), “Phát huy nguồn nhân lực nữ và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn” ;
Vũ Thị Vinh (2005), “Phát triển nguồn nhân lực ở Bình Thuận” ; Nguyễn ĐứcThảo (2006), “Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển
Trang 21nông nghiệp, nông thôn tỉnh Sơn La” ; Nguyễn Tấn Vinh (2006), “Giải phápphát triển nguồn nhân lực của tỉnh Lâm Đồng” ; Phan Sỹ Giản (2006), “Một
số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh Bình Phước” ; Trương Xuân Cừ (2006), “Phát triểnnguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh ĐiệnBiên” ; Hà Minh Trần (2008), “Cao Bằng: gắn giải quyết việc làm với đào tạonguồn nhân lực” ; Lê Thị Mỹ Phượng (2009), “Đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ sự nghiệp CNH, HĐH ở Đồng Nai” ; Nguyễn Thị Mỹ Dung và Cung ThịNgọc Mai (2009), “Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầukinh tế xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long trong xu thế hội nhập” ; TrầnThị Minh Ngọc (2009), “Đào tạo nguồn nhân lực khoa học cho Hà Nội trongthời kỳ đổi mới” ; Nguyễn Thị Mỹ Hương (2009), “Phát triển nguồn nhân lực
ở Nghệ An trong bối cảnh hội nhập: những vấn đề đáng lưu tâm” ; NguyễnBình Đức (2013), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch thànhphố Đà Nằng” Những công trình trên đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề líluận về đào tạo NNL, đồng thời xuất phát từ thực trạng NNL của các địaphương đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ phát triển NNL phục vụ cho sự nghiệpCNH, HĐH của tỉnh
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về NNL trên đã cung cấp chongười đọc cách nhìn tổng quan về NNL trên thế giới và Việt Nam ở cả haiphương diện lý luận và thực tiễn Các công trình nghiên cứu lý luận làm sáng
tỏ các vấn đề khái niệm, cấu trúc, mô hình về NNL Các công trình nghiêncứu thực tiễn giúp người đọc nhận thấy trong các nguồn lực đối với sự pháttriển, thì NNL là nguồn lực quan trọng nhất đóng vai trò nền tảng, quyết định
sự phát triển và hưng thịnh của mỗi quốc gia, dân tộc
Trang 221.1.2.2 Nhóm nghiên cứu liên quan đến phát triển nguồn nhân lực tỉnh
Quảng Ninh
Tác giả Vũ Thị Phương Mai (2004), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay” , đã có những đánh giá tương đối đầy đủ thực trạng
NNL của tỉnh Quảng Ninh trước năm 2004, trên cơ sở đó tác giả đã đề ra một
số giải pháp cơ bản để phát triển NNL chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của địaphương
Tác giả Nguyễn Thị Mai Linh (2006), “Phát triển nguồn nhân lực du
lịch Quảng Ninh trong quá trình hội nhập” , đã nêu bật vị thế và vai trò của
ngành du lịch đối với sự phát triển KT-XH của Quảng Ninh Để góp phần đẩymạnh phát triển ngành du lịch của tỉnh trong các giai đoạn tiếp theo, tác giả đã
có những phân tích, đánh giá về chất lượng NNL du lịch của Quảng Ninh từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển NNL du lịch Quảng Ninh trongquá trình hội nhập
Tác giả Vũ Hồng Phong (2007),“Định hướng và giải pháp giải quyết
việc làm tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010” , đã nhấn mạnh yêu cầu pháttriển NNL là động lực quan trọng để Quảng Ninh phát triển và chỉ rõ thựctrạng về lực lượng lao động của tỉnh, nhấn mạnh đào tạo nghề để giải quyếtlao động dôi dư, tạo việc làm để góp phần phát triển KT-XH của tỉnh
Tác giả Hà Minh Tâm (2007), “Quảng Ninh: Nâng cao chất lượngnguồn nhân lực gắn với giải quyết việc làm” , trên cơ sở đánh giá về thành tựu
về phát triển KT-XH của Quảng Ninh giai đoạn trước năm 2005 và những yêucầu đặt ra cho giai đoạn 2006-2010 đã chỉ rõ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,thực hiện CNH, HĐH, phát triển kinh tế, tạo mở nhiều việc làm đã đặt ra yêucầu phải đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo, nâng cao chất lượng NNL củatỉnh
Trang 23Tác giả Vũ Thị Hạnh (2011), “Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015” , đã tập trung nghiên cứu về nhân lực và
phát triển NNL trong ngành du lịch Quảng Ninh dưới góc độ cơ quan quản lýNhà nước về du lịch; Đánh giá thực trạng phát triển NNL du lịch Quảng Ninhgiai đoạn 2007 - 2010 và đề xuất một số giải pháp phát triển NNL du lịchQuảng Ninh giai đoạn 2011 - 2015
Tác giả Trần Văn Minh (2012), “Nghiên cứu phát triển thị trường côngnghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản,chuyên sâu về thị trường công nghệ, trong đó chỉ ra bài học từ kinh nghiệmphát triển thị trường công nghệ ở trong nước và ngoài nước, đặc biệt, tác giả
đã tập trung phân tích thực trạng phát triển thị trường công nghệ trên địa bàn tỉnhQuảng Ninh, dự báo những tác động mới, nhận diện các nhu cầu công nghệ củatỉnh đến năm 2020, đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển thị trườngcông nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, trong đó nhấn mạnh việc hình thànhNNL-kết cấu hạ tầng phần mềm của thị trường thông qua việc thực hiện sự liênkết giữa cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp; chuẩn hóa chương trình đào tạonhân lực cho thị trường công nghệ Tỉnh đầu tư ngân sách cho đào tạo nhân lực,đổi mới cơ chế sử dụng và quản lý NNL Trước hết, là sớm ban hành và tổ chứcthực hiện có hiệu quả Chiến lược công tác cán bộ, quy chế đào tạo và thu hútNNL chất lượng cao, quy hoạch phát triển NNL của tỉnh đến năm 2020
Tác giả Lê Hồng Huyên (2015), “Một hướng phát triển nguồn nhân lựcngành du lịch tỉnh Quảng Ninh” một mặt đã khẳng định sự phát triển mạnh
mẽ của du lịch Quảng Ninh trong thời gian qua Mặt khác, tác giả cũng chothấy, chất lượng NNL vẫn là vấn đề lớn đối với ngành du lịch địa phương và
là nguyên nhân chủ yếu tác động tới chất lượng dịch vụ, nhất là các dịch vụđược cung cấp trong các nhà hàng, khách sạn Theo tác giả, để cung ứng kịpNNL cho ngành du lịch, Quảng Ninh cần tập trung vào việc đẩy mạnh công
Trang 24tác tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông để nâng cao nhận thức củacác cấp, các doanh nghiệp và người lao động về tầm quan trọng của hoạt độngđào tạo nói chung và đào tạo phát triển NNL trong lĩnh vực du lịch nói riêng;thông qua phân tích nhu cầu thực tế, lập kế hoạch đào tạo, định hướng đàotạo, thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp để nâng cao nghiệp vụ cho laođộng ngành du lịch; đa dạng hóa các hình thức đào tạo; tăng cường chính sáchkhuyến khích phát triển NNL, xã hội hóa công tác GD&ĐT; tăng cường hoạtđộng hợp tác đào tạo, phối hợp với các trường đại học, cao đẳng trong nước
và nước ngoài có năng lực và uy tín để đào tạo nhân lực chất lượng cao tronglĩnh vực du lịch
Tác giả Hoàng Chí Cảnh (2016), “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực tỉnh Quảng Ninh” đã phân tích, đánh giá thực trạng NNL ở Quảng
Ninh với những điểm mạnh, điểm yếu, hạn chế và nguyên nhân Trên cơ sở
dự báo sự phát triển với cung-cầu lao động, tác giả đã đề xuất một số giảipháp cơ bản để phát triển NNL tỉnh Quảng Ninh trong những năm tới, trong
đó nhấn mạnh việc đổi mới công tác quản lý nhà nước về NNL; nâng caotrình độ học vấn và chuyên môn-kỹ thuật; phát triển hệ thống y tế, chăm sócsức khỏe; mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển, nâng cao chấtlượng NNL
Tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2016) trong bài viết “Một số kết quả vàkinh nghiệm về cải cách hành chính ở tỉnh Quảng Ninh” đã chỉ rõ, sau 5 nămthực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ banhành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-
2020, công tác cải cách hành chính nhà nước ở tỉnh Quảng Ninh đã đạt đượcnhững kết quả quan trọng, góp phần vào sự phát triển toàn diện KT-XH của
tỉnh và một trong những kinh nghiệm được rút ra đó là: Xác định con người
là yếu tố quyết định nhất Để công tác cải cách hành chính nhà nước đạt kết
Trang 25quả bền vững, yếu tố quyết định hàng đầu là con người trong nền công vụ vớiphẩm chất, trình độ tương xứng và điều này phụ thuộc vào hệ thống thể chế,
tổ chức bộ máy, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, cơ chế quản lý, chính sáchđãi ngộ và ý thức vươn lên của chính bản thân mỗi cán bộ, công chức Theo
đó, tỉnh Quảng Ninh đã tiến hành rà soát, sắp xếp lại bộ máy Công tác tuyểndụng công chức được thực hiện đúng quy định, đảm bảo công khai, minhbạch Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được đầu tư lớn Tổchức thí điểm thi tuyển các chức danh lãnh đạo, quản lý cấp sở, ngành, cácchức danh lãnh đạo cấp phòng và tương đương của đơn vị, địa phương Banhành các quy định về chế độ phụ cấp cho cán bộ, công chức làm việc tại bộphận tiếp nhận và trả kết quả ở các cấp và quy định về chế độ hỗ trợ cán bộđầu mối làm nhiệm vụ kiểm soát trung tâm hành chính
Tác giả Nguyễn Thị Mai Phương (2015), “Phát triển nhân lực tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” , tập trung nghiên cứu làm
rõ một số vấn đề lý luận và nội dung của phát triển nhân lực tại tập đoàn kinh
tế Đánh giá một số kết quả và hạn chế của phát triển nhân lực tại Tập đoànCông nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2006 - 2014, từ đó đềxuất bốn nhóm giải pháp nhằm phát triển nhân lực tại Tập đoàn Công nghiệpThan - Khoáng sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đó là:Hoạch định phát triển nhân lực; thu hút, tuyển dụng nhân lực; đào tạo, bồidưỡng nhân lực; sử dụng và đãi ngộ nhân lực
Hai cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh - Tập III (1954-1975) vàLịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh - Tập IV (1975-2005) đã trình bày khácông phu, ghi lại những chặng đường lịch sử của Đảng bộ tỉnh, trong đó đãlàm rõ thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, anninh, quốc phòng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh Đặc biệt,cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (1975-2005), đã đề cập tới sự lãnh
Trang 26đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong thời kỳ đổi mới,nhất là lãnh đạo phát triển NNL nhằm đẩy mạnh phát triển KT-XH củaĐảng bộ tỉnh, tạo tiền đề vững chắc để Quảng Ninh cùng cả nước thực hiệnđẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Với những công trình khoa học đã được công bố nêu trên, có thể nhậnthấy, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về NNL và phát triển NNL ở tỉnhQuảng Ninh, đặc biệt, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quá trìnhĐảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL từ năm 2005 đến năm
Một là, các công trình khoa học nghiên cứu dù tiếp cận ở nhiều góc độ,
phạm vi khác nhau nhưng đều khẳng định tầm quan trọng và yêu cầu kháchquan phải phát triển NNL như là cơ sở tiền đề quan trọng để thúc đẩy quá trìnhphát triển KT - XH của đất nước Bước đầu làm rõ khái niệm, cấu trúc, môhình về NNL và mối liên hệ của nó với nguồn lực khác Một số công trình khoahọc đã đi sâu luận giải sâu sắc vai trò của phát triển NNL trong quá trình CNH,HĐH đất nước và trong nền kinh tế quốc dân Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu
đã tập trung phân tích làm rõ mối quan hệ, tác động của quá trình phát triểnNNL với phát triển KT - XH Các công trình này giúp nghiên cứu sinh có thêmcái nhìn tổng quát về phát triển NNL trong quá trình phát triển đất nước
Trang 27Hai là, nhiều công trình khoa học đã khái quát tương đối toàn diện quá
trình hoạch định chủ trương, chính sách phát triển NNL Một số công trình
đã đi sâu làm rõ thực trạng, kết quả và kinh nghiệm trong phát triển NNL
ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài Đây là cơ sở quan trọng để nghiêncứu sinh kế thừa, tham khảo để có những nhận định, đánh giá khách quan khithực hiện đề tài
Ba là, một số công trình khoa học đã nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm,
đánh giá về kết quả, đề xuất được nhiều định hướng, giải pháp có giá trị thiếtthực để thúc đẩy nhanh quá trình phát triển NNL Một số công trình khoa học
đề xuất các định hướng, giải pháp ở tầm vĩ mô, một số công trình khoa học lại
đề xuất giải pháp ở phạm vi của một số vùng kinh tế, một địa phương hay ởtừng ngành, từng vấn đề cụ thể Đây là tiền đề quan trọng để nghiên cứu sinh
kế thừa, so sánh vận dụng vào thực hiện đề tài
Bốn là, mỗi công trình khoa học đều có đối tượng và mục tiêu nghiên
cứu khác nhau nhưng về cơ bản các công trình đã sử dụng các phương phápnghiên cứu và các cách tiếp cận khoa học, hợp lý Đây thực sự là những gợi ýquan trọng giúp nghiên cứu sinh kế thừa có chọn lọc và sử dụng các phươngpháp nghiên, cách tiếp cận một cách hợp lý nhất ở cả góc độ phương phápnghiên cứu chung và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để giải quyếtđược mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Như vậy, xung quanh vấn đề quan điểm của Đảng về phát triển NNL vàtình hình thực hiện phát triển NNL ở Việt Nam có nhiều công trình khoahọc nghiên cứu đề cập ở góc độ và mức độ khác nhau, tùy theo yêu cầu vàmục đích nghiên cứu của từng công trình Tuy vậy, chưa có công trìnhnghiên cứu nào có hệ thống, toàn diện và trực tiếp về sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015,đây là khoảng trống về khoa học luận án tập trung nghiên cứu Những côngtrình nghiên cứu có liên quan đến đề tài là những nguồn tư liệu phong phú,
Trang 28đa dạng mà nghiên cứu sinh có thể khai thác, kế thừa, nghiên cứu, xây dựng
và hoàn thiện luận án của mình
1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
Kế thừa những thành tựu của các công trình khoa học có liên quan đến
đề tài đã được công bố, nắm bắt khoảng trống xung quanh vấn đề nghiên cứu,bám sát đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, tiếp cận vấn đề nghiên cứu thuộc nộihàm của đề tài luận án dưới góc độ lịch sử Đảng, tác giả luận án định hướng
đi sâu, làm rõ các vấn đề cơ bản sau:
Một là, Làm rõ tầm quan trọng và những yêu cầu khách quan đặt ra tác
động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL từ năm
2005 đến năm 2015, bao gồm: Vị trí vai trò NNL trong quá trình phát triển XH; điều kiện tự nhiên, KT-XH tỉnh Quảng Ninh; thực trạng NNL tỉnh QuảngNinh trước năm 2005 cũng như những chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
KT-về phát triển NNL
Hai là, phân tích luận giải làm sáng tỏ chủ trương, sự chỉ đạo phát triển
NLL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt trong các nhiệm kỳ từ năm 2005đến năm 2015
Ba là, trong khuân khổ của luận án, nghiên cứu sinh tập trung vào
các vấn đề: 1 Chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển NNL; 2 Chỉ đạo đàotạo, bồi dưỡng phát triển NNL; 3 Chỉ đạo đổi mới cơ chế chính sách thuhút NNL
Bốn là, từ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL
2005-2015, luận án đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế, chỉ rõ nguyênnhân của những ưu điểm, hạn chế đó Đồng thời đúc rút những kinh nghiệmlịch sử để vận dụng vào hiện thực
Có thể khẳng định, từ góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng, đến naychưa có chuyên khảo đề cập hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninhlãnh đạo phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015 Trên cơ sở kế thừa kết
Trang 29quả nghiên cứu công trình trước, đi sâu tìm hiểu có hệ thống về chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước và sự chỉ đạo cụ thể của Đảng bộ tỉnh, tácgiả luận án sẽ dựng lại bức tranh toàn cảnh quá trình Đảng bộ tỉnh QuảngNinh lãnh đạo phát triển NNL trên địa bàn trong thời gian nói trên Từ đó, đưa
ra nhận xét khách quan trung thực và những thành tựu, hạn chế, rút ra kinhnghiệm cho giai đoạn tiếp theo
Trang 30Kết luận chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án cho thấy, pháttriển NNL có vai trò, vị trí, tầm quan trọng trong chiến lược phát triển KT-XHchung của đất nước, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.Chính vì vậy, phát triển NNL đã trở thành chủ đề được các nhà khoa học cũngnhư các nhà hoạch định chính sách trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau được thể hiện bằng sự đa dạng, phong phúcủa các công trình, từ các sách chuyên luận, chuyên khảo, đề tài khoa học cáccấp, luận án tiến sĩ cho đến các báo cáo khoa học tham gia hội thảo, các bàibáo được đăng tải trên các tạp chí…
Có thể khẳng định, thành công của các công trình khoa học liên quanđến đề tài luận án là tương đối toàn diện, phản ánh rõ nét vai trò, yêu cầukhách quan và thực tiễn phát triển NNL ở Việt Nam trong một không gian vàthời gian rộng lớn Những thành công đó đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn
đề lý luận và thực tiễn về phát triển NNL của cả nước nói chung và ở các địaphương nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu mộtcách có hệ thống về sự lãnh đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
từ năm 2005 đến năm 2015, dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng
Trên cơ sở nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố có liênquan đến đề tài luận án, kết hợp với quá trình khảo sát, đánh giá về tình hìnhphát triển NNL ở Quảng Ninh trong thời gian qua, nghiên cứu sinh đã lựa
chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực
từ năm 2005 đến năm 2015” làm đề tài luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Các công trình khoa học đã được công bốliên quan đến đề tài luận án là tài liệu để nghiên cứu sinh tham khảo, kế thừatrong quá trình thực hiện luận án của mình, đảm bảo cho luận án thực sự làcông trình khoa học độc lập, có ý nghĩa khoa học, thực tiễn thiết thực
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
Trang 31TỈNH QUẢNG NINH VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển nguồn nhân lực
2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
2.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
"Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực" là khái niệm được hình
thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồnlực, là động lực của sự phát triển Các công trình nghiên cứu trên thế giới vàtrong nước gần đây đề cập đến khái niệm NNL với các góc độ khác nhau.Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuấthàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển củalực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyết định đếnnăng suất lao động và tiến bộ xã hội Ở đây, con người được xem xét từ góc
độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
đưa ra quan niệm về NNL như sau: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp
sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp sức lực con người cho sự phát
triển Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho
sự phát triển KT-XH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, cókhả năng tham gia vào quá trình lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ cánhân có thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực,trí lực, tâm lực được huy động vào quá trình lao động
Theo Phạm Minh Hạc cho rằng: xét trên bình diện quốc gia hay địaphương, NNL được xác định là “tổng thể các tiềm năng lao động của mộtnước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độkhác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là nhữngngười lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung) bằng con đường đáp ứngđược yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo
Trang 32hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Có thể hiểu NNL là số lượng và chấtlượng dân số, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực,phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể NNL hiện có thực tế
và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển KT-XH của mộtđịa phương hay một quốc gia nào đó Độ tuổi lao động được qui định cụ thể ởmỗi nước có khác nhau Ở Việt Nam hiện nay, theo qui định của Bộ Luật laođộng 2012, tuổi lao động của nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và của nữ từ 15 tuổiđến 55 tuổi
Như vậy, từ xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những kháiniệm khác nhau về NNL, theo tác giả, NNL là tổng hòa các yếu tố về sốlượng, cơ cấu và chất lượng nhân lực (trí lực, thể lực, tâm lực) đã, đang và
sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh để huy động vào quá trình thúc đẩy phát triển
KT-XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh Theo đó, số lượng NNL là tổng số
người lao động đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển KT- XH Mộtquốc gia nếu không có số lượng nhân lực lao động cần thiết thì không thểphát huy sức mạnh của NNL trong quá trình phát triển KT- XH Chất lượngNNL là tổng hợp của nhiều yếu tố tạo nên nhưng được đặc trưng bởi cácyếu tố cơ bản là: thể lực, trí lực và tâm lực của từng người lao động và cảcộng đồng nhân lực Cơ cấu NNL là cơ cấu về dân số, độ tuổi, giới tính; cơcấu lao động trong các ngành, các lĩnh vực; cơ cấu về trình độ học vấn,chuyên môn nghiệp vụ Các yếu tố: số lượng, chất lượng, cơ cấu có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành NNL Số lượng đông, chất lượng cao
mà cơ cấu nhân lực không hợp lý thì hiệu quả phát huy NNL trong phát triển
KT - XH sẽ hạn chế Trong mối quan hệ biện chứng, các yếu tố này tác động,chi phối lẫn nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp của NNL đối với quá trìnhphát triển KT - XH
2.1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển NNL TheoUNESCO, phát triển NNL là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn
Trang 33luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước Các nhà kinh
tế có quan niệm phát triển NNL gần với quan niệm của UNESCO là phải gắnvới sản xuất và chỉ nên giới hạn phát triển NNL trong phạm vi phát triển kỹnăng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm Theo Tổ chức Lao độngquốc tế (ILO), phát triển NNL bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là kỹnăng lao động, vấn đề đào tạo nói chung mà còn đề cập đến phát triển nănglực và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệuquả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Sự lành nghềđược hoàn thiện nhờ bổ sung, nâng cao kiến thức trong quá trình sống và làmviệc Theo Liên hợp quốc, phát triển NNL bao gồm GD&ĐT và sử dụng tiềmnăng con người nhằm thúc đẩy phát triển KT - XH và nâng cao chất lượngcuộc sống
Như vậy, theo tác giả phát triển NNL là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển KT - XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh Theo đó, sự lãnh đạo phát triển NNL là tác động của chủ thể lãnh đạo bằng những chủ trương, chính sách, định hướng lớn nhằm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL Trong
quá trình phát triển, sự tăng lên về số lượng nhân lực có ý nghĩa rất quantrọng, là cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển ngành nghề, lĩnh vực trong từng giaiđoạn nhất định Phát triển chất lượng nhân lực là sự tăng lên không ngừng vềthể lực, trí lực và tâm lực của người lao động (vừa với tư cách là cá nhân, vừavới tư cách là cộng đồng, tập thể người lao động) Phát triển về cơ cấu là quátrình xây dựng cơ cấu NNL khoa học, hợp lý, làm cơ sở để phát triển về chấtNNL, làm thay đổi cơ cấu về giới, độ tuổi, trình độ của nhân lực ở các vùng,miền, khu vực khác nhau một cách phù hợp nhằm huy động sức mạnh từ NNLnày Sự thay đổi về cơ cấu theo hướng khoa học và hợp lý là yếu tố góp phần
Trang 34quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của NNL, góp phần phát triển bềnvững nền kinh tế đất nước, địa phương.
2.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Quảng Ninh
2.1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Quảng Ninh là một tỉnh biên giới, miền núi và hải đảo, nằm ở phía ĐôngBắc Việt Nam, là cửa ngõ giao thông quan trọng với nhiều cửa khẩu biên giới,với hệ thống cảng biển thuận tiện, nhất là cửa khẩu quốc tế Móng Cái, cảng nướcsâu Cái Lân, Quảng Ninh có điều kiện giao thương thuận lợi với các nước ĐôngBắc Á và các nước thuộc khu vực Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, là điểm kết nốiquan trọng của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Là tỉnh có diệntích đất tự nhiên là 6.102km2, có đường biên giới trên bộ (118,8 km) và trên biển(gần 190 km) giáp với Trung Quốc, có ba cửa khẩu lớn (Móng Cái, Hoành Mô,Bắc Phong Sinh) tiếp giáp với vùng duyên hải Nam Trung Quốc rộng lớn; cóđường bờ biển dài 250 km, có 2.077 hòn đảo lớn nhỏ, có trên 40.000 hécta bãitriều và hơn 20.000 hécta diện tích eo biển và vịnh
Với vị trí đặc biệt quan trọng tiếp giáp với nước láng giềng Trung Quốc
và nhiều tỉnh trong nước tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa
- xã hội Quảng Ninh có khả năng thiết lập các mối quan hệ hàng hải với cácnước trên thế giới với hệ thống mạng lưới giao thông vận tải đa phương thức,trong đó có 1 cảng biển (Cảng Quảng Ninh) gồm 11 bến cảng; 73 cảng và bếnthủy nội địa; 06 tuyến Quốc lộ với 401 km chiều dài và 01 tuyến đường sắtquốc gia với tổng 64 km chiều dài chạy qua Quảng Ninh Cảng hàng khôngnội địa tại Vân Đồn đang được xây dựng, sân bay có năng lực đón nhận nhữngchuyến bay quốc tế dự kiến sẽ đi vào hoạt động từ năm 2017, với năng lựctrung chuyển 02 triệu hành khách/năm
Trang 35Quảng Ninh là một trong những tỉnh giàu tài nguyên với 140 mỏ vàđiểm quặng, thuộc nhiều loại khoáng sản khác nhau Bao gồm: nhiên liệu, vậtliệu, kim loại màu, phi kim loại, vật liệu xây đựng, nước khoáng Trong đó,than đá là khoáng sản nhiên liệu quan trọng nhất của Quảng Ninh, là bể thanlớn nhất của nước ta, kéo dài từ Phả Lại đến Vạn Hoa, diện tích phân bốkhoảng 1.300km2 Mỏ đá dầu Đồng Ho là mỏ đá dầu duy nhất ở Việt Namthuộc địa phận huyện Hoành Bồ Bên cạnh đó, Quảng Ninh cũng có tàinguyên du lịch đa dạng và phong phú, nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Bái TửLong, bãi tắm Trà Cổ, cửa khẩu Móng Cái, khu di tích lịch sử văn hóa Yên Tử
- Bạch Đằng, khu bảo tồn thiên nhiên Cái Bầu, Cô Tô Với cảnh quan thiênnhiên kì vĩ, thắng cảnh Vịnh Hạ Long nổi tiếng đang hấp dẫn và thu hút sựchú ý của quốc gia và quốc tế, là tiềm năng to lớn để tỉnh tranh thủ mọi tiềmnăng du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế chủ lực và đầy triển vọng.Hơn nữa, Quảng Ninh là tỉnh có vùng biển rộng lớn và dải bờ biển dài cónhiều hải đảo, ngoài nguồn lợi hải sản, tỉnh có điều kiện phát triển kinh tếbiển, xây dựng và khai thác cảng biển, mở mang vận tải dịch vụ cảng và hànghải, phát triển công nghiệp tàu thủy
2.1.2.2 Điều kiện kinh tế
Quảng Ninh là tỉnh có tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ lệ lớntrong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp gần như không đáng kể Sau hơn
20 năm đổi mới, Quảng Ninh đã đạt được những thành tựu quan trọng, kinh
tế tiếp tục phát triển toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tiềm lực, quy
mô nền kinh tế tăng mạnh Giai đoạn 2005 - 2010, tăng trưởng kinh tế của tỉnhduy trì ở mức hợp lý, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt12,7%/năm (cả nước là 7%), cao gần gấp đôi so với bình quân chung cả nước
và nằm trong nhóm các địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước
Trang 36Quy mô GDP giá hiện hành năm 2010 gấp 1,8 lần năm 2005 Tổng thu ngânsách nhà nước trên địa bàn 5 năm ước đạt 69.869 tỷ đồng, tăng bình quân29,4%/năm, là một trong 6 địa phương có số thu ngân sách cao nhất toàn quốc.
Các khu vực kinh tế đều có bước phát triển phù hợp với tình hình thực
tế, các ngành kinh tế trọng điểm: công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ,cảng biển có sự phát triển, quy mô được mở rộng, hiệu quả được nâng lên,từng bước khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng trong vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ Các thành phần kinh tế phát triển mạnh, số doanh nghiệp thànhlập mới giai đoạn 2005-2010 cao gấp 2,2 lần, vốn đăng ký cao gấp 4,7 lần sovới giai đoạn 5 năm trước Đã hoàn thành sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhànước Quan tâm củng cố, phát triển kinh tế hợp tác với nòng cốt là hợp tác xã.Các hợp tác xã đã tạo việc làm cho 20% lao động (138.000 người), góp phầntích cực phát triển kinh tế, đặc biệt ở khu vực nông thôn, đóng góp 3,5% GDPcủa tỉnh Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực hiện 565 triệu USD, gópphần đổi mới công nghệ, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, phát triển kinh tếcủa tỉnh
2.1.2.3 Về văn hóa - xã hội
Quảng Ninh là tỉnh có dân số không cao so với bình quân chung của cảnước, theo điều tra dân số thời điểm 1/4/2009, dân số Quảng Ninh là1.144.988 người đứng thứ 30/63 tỉnh thành trong toàn quốc, đứng thứ 6 trongvùng đồng bằng sông Hồng Với 22 dân tộc khác nhau, trong đó, có 5 dân tộc
có dân số trên 1.000 người, tỉnh Quảng Ninh là “nơi hội tụ, giao thoa, thống nhất trong đa dạng của nền văn minh Sông Hồng”, các dân tộc phân bố đều
trên lãnh thổ của Tỉnh, có tinh thần đoàn kết, chung sống hòa thuận tạo điềukiện thuận lợi trong việc cố kết cộng đồng dân cư của toàn tỉnh
Trang 37Quảng Ninh có 4 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện trực thuộc, trong đó có
186 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 61 phường, 10 thị trấn và 115 xã Các
tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh có nhiệm vụ và chức năng riêng, góp phầntạo nên sự thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị của Tỉnh, có chức nănglãnh đạo và quản lý nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng vàNhà nước đề ra
Tín ngưỡng ở Quảng Ninh có nhiều nét tương đồng với tín ngưỡng cácvùng trên toàn lãnh thổ Việt Nam do chịu ảnh hưởng của những quy luật hìnhthành và phát triển chung, song do những đặc điểm về tự nhiên xã hội, trướchết là đặc điểm dân tộc và những diễn biến trong lịch sử trên vùng Đông Bắc,tín ngưỡng Quảng Ninh có những nét đặc thù thể hiện trên 3 đặc điểm nổi bật:
Đó là hiện tượng phân vùng tín ngưỡng, hiện tượng ghi đậm dấu ấn lịch sử vàhiện tượng đấu tranh dung hòa các dòng phái tín ngưỡng Quảng Ninh cònbiết đến là trung tâm của Phật giáo Việt Nam với các công trình nghệ thuậtmang đậm dấu ấn của đạo Phật nhiều thế kỷ, với gần 600 di tích lịch sử, vănhóa, nghệ thuật đặc sắc từ thời Lý, Trần, Lê Mạc, Nguyễn trong đó chùa Yên
Tử, đền Cửa Ông, chùa Ngọa Vân, chùa Ba Vàng , khu di tích lịch sử chiếnthắng Bạch Đằng là những điểm thu hút khách du lịch văn hóa, tôn giáo rấtlớn, nhất là vào những dịp lễ hội; Quảng Ninh cũng là vùng đất có truyềnthống cách mạng quật cường, cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam với
tinh thần của giai cấp công nhân Vùng Mỏ “kỷ luật và đồng tâm”, là di sản
tinh thần vô giá, là nền tảng thuận lợi xây dựng khối đoàn kết tạo nên sứcmạnh tổng hợp để phát triển tỉnh trên mọi lĩnh vực
Các đặc điểm cơ bản về KT-XH của Quảng Ninh, đều có những thuậnlợi thúc đẩy sự phát triển NNL của địa phương Kinh tế phát triển mạnh, quy
mô sản xuất được mở rộng, giải quyết việc làm cho người lao động; thu nhậpbình quân đầu người cao, điều kiện sống được cải thiện; các dịch vụ y tế, giáo
Trang 38dục, giải trí ngày càng phát triển, người dân có điều kiện và cơ hội để nângcao dân trí, sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần Đây chính là yếu tố vật chấtảnh hưởng lớn và trực tiếp đến chất lượng nguồn lao động, đến việc phân bổ,
sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện cho Quảng Ninh có hoà nhậpvào quá trình phát triển của các tỉnh năng động trong vùng và của cả nước
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển KT-XH, vấn đề phát triển NNL,bên cạnh những tác động tích cực, sự phát triển NNL của tỉnh Quảng Ninhcòn gặp nhiều khó khăn do dân số ít, chất lượng nguồn lao động thấp, đặc biệt
là thiếu những chính sách, biện pháp tổng thể mang tính chiến lược của tỉnh
trong việc phát triển, sử dụng NNL
2.1.3 Thực trạng nguồn nhân lực ở Quảng Ninh trước năm 2005
Theo thống kê, năm 2005 dân số tỉnh Quảng Ninh là 1.096.112 ngườiđứng thứ 30/63 tỉnh, thành trong toàn quốc, đứng thứ 6 trong vùng đồng bằngsông Hồng, có 702.121 người trong độ tuổi lao động, chiếm 64,1%, số laođộng có việc làm 533.730 người đạt 76% Đây là nguồn lực quan trọng gópphần phát triển KT-XH của tỉnh Sự gia tăng cả về số lượng và chất lượngNNL đóng vai trò quyết định, đưa KT-XH của tỉnh phát triển nhanh, cơ cấukinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ,giảm tỷ trọng nông nghiệp, điều đó đưa đến sự thay đổi quan trọng trong cơcấu và chất lượng NNL
Trong 5 năm 2001 - 2005, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm mớicho trên 2,1 vạn lao động, đưa gần 2.500 người đi lao động ở nước ngoài Đếnnăm 2005, số lao động được đào tạo đạt tỷ lệ 33%, trong đó đào;tạo nghề đạt21,2% Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 76% năm 2000 nânglên 80% năm 2005; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị từ 7,42% năm 2000 giảmxuống còn 5,7% năm 2005 Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch phù hợp vớichuyển dịch cơ cấu kinh tế: giảm ở khu vực nông nghiệp, tăng ở khu vực công
Trang 39nghiệp, xây dựng và dịch vụ Điều kiện làm việc, năng suất và thu nhập củangười lao động được cải thiện rõ rệt Có thể nói, trước năm 2005, NNL củatỉnh không chỉ duy trì được tốc độ phát triển hợp lý về mặt số lượng mà cònđược cải thiện khá rõ rệt về mặt chất lượng và tình trạng việc làm, tạo điềukiện thuận lợi cho các bước phát triển tiếp theo ở những năm tới.
Tuy nhiên, NNL ở Quảng Ninh trước năm 2005 cũng bộc lộ nhiều điểmhạn chế: Công tác quy hoạch chưa theo kịp tiến trình phát triển, quản lý quyhoạch còn yếu, điều chỉnh quy hoạch chưa kịp thời Đặc biệt là quy hoạchphát triển NNL chưa được chú ý đúng mức Nhu cầu việc làm đối với lựclượng lao động trẻ trong tỉnh đang bức xúc, còn có tình trạng sinh viên đãtốt nghiệp đại học, nhưng chưa tìm kiếm được việc làm; việc bố trí công táccho số sinh viên này thường gặp khó khăn do chất lượng và ngành nghề đàotạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng của các đơn vị (đây là biểu hiệncủa công tác hướng nghiệp chưa tốt) Số lao động được giải quyết việc làmhàng năm liên tục tăng nhưng chưa bền vững Sự phối hợp giữa các ngành,đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở trong công tác giải quyết việc làm và dạy nghềchưa được phát huy, hiệu quả thấp Việc đào tạo ở một số lĩnh vực còntrong tình trạng tự phát, thiếu quy hoạch và chưa sát nhu cầu sử dụng; cơcấu đào tạo và sử dụng còn mất cân đối giữa các ngành, các vùng; chấtlượng đào tạo, bồi dưỡng còn thấp; tỷ lệ đào tạo giữa các ngành khoa học
tự nhiên, kỹ thuật với khoa học xã hội chưa hợp lý so với định hướng pháttriển và cơ cấu kinh tế của tỉnh Vấn đề đào tạo sau đại học cũng trong tìnhtrạng tự phát, thiếu quy hoạch và chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu sử dụng
Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng như chất lượngcuộc sống có sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, cơ cấu lao độngchưa hợp lý Năng suất lao động thấp so với một số tỉnh trong vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ Công tác đào tạo, phát triển NNL khoa học và công
Trang 40nghệ của tỉnh còn thụ động, trông chờ vào các nguồn cung cấp từ cáctruờng đại học và sự “di chuyển” từ tỉnh ngoài vào Nguồn đào tạo tại tỉnhchủ yếu là đại học hệ tại chức, chất lượng hạn chế do đào tạo không cơbản, thiếu hệ thống và ẩn chứa nhiều nhược điểm Công tác đào tạo nghềtheo phương châm xã hội hoá tuy có nhiều tiến bộ, nhưng chưa đáp ứngđược yêu cầu của thị trường lao động, mới chỉ tập trung đào tạo đại trà,ngắn hạn chưa đủ điều kiện đào tạo lực lượng lao động có chuyên môn kỹthuật cao, chưa đáp ứng kịp yêu cầu thị trường lao động, cơ cấu ngành,nghề đào tạo lao động còn nhiều bất cập với yêu cầu của nền kinh tế và củathị trường lao động.
Các cơ chế, chính sách đối với trí thức còn thiếu và chưa phù hợp, chưasát với thực tiễn, nhất là về chính sách đãi ngộ (tiền lương, đào tạo, thuhút…), chưa tạo được môi trường làm việc phù hợp, thuận lợi cho trí thứccống hiến và phát huy năng lực Công tác quản lý tổ chức cán bộ, nhất là khâuđánh giá, sử dụng trí thức còn nhiều điểm không hợp lý, chưa khuyến khích,tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức chuyên tâm cống hiến, phát triển
Đánh giá về NNL của tỉnh, Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XII(12/2005) của tỉnh Quảng Ninh cũng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chếyếu kém trong phát triển NNL, đó là: “Chất lượng nguồn nhân lực chưa đápứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thiếu nhân lực chất lượng cao:chuyên gia, nghệ nhân, công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật, còn cókhoảng cách lớn về trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật giữa miền núi,nông thôn, hải đảo với thành thị Năng suất lao động thấp so với một sốtỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Quy hoạch phát triểnnguồn nhân lực chưa được quan tâm đúng mức; công tác đào tạo, phát triểnnguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và nguồn nhân lựckhoa học và công nghệ còn thụ động Cơ cấu ngành, nghề đào tạo lao độngchưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế; chưa có sự gắn kết giữa đào tạo và