1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2005 đến năm 2015 tt

23 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 217,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vềphát triển NNL trong những năm 2005-2015 nhằm làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vận dụng chủ trương của Đảng về ph

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Phát triển nguồn nhân lực (NNL) luôn là vấn đề quan trọng bậcnhất đối với mọi quốc gia, vì nguồn lực con người luôn là một nhân tốquyết định sức mạnh, vị thế của đất nước, đảm bảo sự phát triển ổn định,bền vững của đời sống kinh tế - xã hội (KT-XH) Quá trình toàn cầu hóa,

sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa nhiều vào trí thức và công nghệ tạo

ra nhiều cơ hội phát triển NNL, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới

về phát triển nguồn lực con người Tại Việt Nam, tiến trình đổi mới đấtnước, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa(CNH, HĐH) cũng là tiến trình đổi mới nhận thức, cũng như phương thứcxây dựng, phát triển NNL Thực tế, đến nay, bên cạnh những thành tựu vềxây dựng, phát triển NNL, nhất là nhân lực chất lượng cao của Việt Namvẫn còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng, bất cập về chuyênmôn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp quốc tế, thái độ và đạo đứcnghề nghiệp Những hạn chế và bất cập đó đã ảnh hưởng không nhỏ tớithu hút đầu tư, tới sự phát triển, ổn định KT-XH đất nước Do đó, nghiêncứu phát triển NNL trên phạm vi cả nước nói chung, ở cấp độ địa phươngnói riêng để đút kết những kinh nghiệm hay, vận dụng vào phát triển NNLhiện nay cũng như tương lai là cần thiết, mang tính thời sự

Quảng Ninh là một tỉnh nằm trong tam giác kinh tế tăng trưởng HàNội - Hải Phòng - Quảng Ninh, sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổimới đã mang diện mạo của một khu vực kinh tế mở, năng động, đạt tốc độtăng trưởng cao, quy mô không ngừng được nâng lên Để đạt được nhữngthành quả đó, ngoài lợi thế về vị thế địa lý, tài nguyên phong phú, trongnhững năm đổi mới, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã tập trung xây dựng, pháttriển NNL và đã thu được nhiều kết quả Đảng bộ và nhân dân địa phương

đã chọn đúng và giải quyết tương đối tốt vấn đề phát triển NNL, coi đây làhướng đột phá để phát triển KT-XH, một nhiệm vụ vừa cấp bách, thườngxuyên vừa có tính chiến lược lâu dài Dẫu vậy, chất lượng NNL của QuảngNinh, nhiệm vụ phát triển NNL của địa phương trên cả phương diện chủtrương và tổ chức thực hiện còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém

Do đó, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vềphát triển NNL trong những năm 2005-2015 nhằm làm rõ quá trình Đảng

bộ tỉnh Quảng Ninh vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển NNL vàothực tiễn địa phương, qua đó, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân

và tổng kết kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào giai đoạn tiếp theo Với ý

nghĩa đó, tác giả chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2005 đến năm 2015” làm đề tài luận án tiến sĩ

khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạophát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015, rút ra những kinh nghiệm có giá trịtham khảo cho việc phát triển NNL của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 2

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đề đề tài luận án

Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnhQuảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015

Phân tích, luận giải làm rõ những chủ trương của Đảng bộ tỉnhQuảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015

Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo thực hiện pháttriển NNL từ năm 2005 đến năm 2015

Nhận xét những ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnhQuảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL (2005 - 2015), từ đó rút ra những

kinh nghiệm lịch sử chủ yếu vận dụng vào hiện thực

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vềphát triển NNL

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ chủ trương và sự

chỉ đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, bao gồm: xây dựngquy hoạch phát triển NNL, đào tạo, bồi dưỡng phát triển NNL và đổi mới

cơ chế chính sách thu hút NNL của Tỉnh (tập trung chủ yếu vào NNL lãnhđạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan hànhchính sự nghiệp trong khu vực Nhà nước và NNL chuyên môn kỹ thuậtngành công nghiệp - xây dựng, công nhân kỹ thuật lành nghề, NNL ngành

du lịch - dịch vụ, NNL ngành nông, lâm, ngư nghiệp ) trên các mặt sốlượng, chất lượng và cơ cấu NNL

Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong 10 năm, mốc thời gian bắt

đầu từ năm 2005, năm tiến hành Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XII (10/2005).Mốc kết thúc luận án là năm 2015, mốc thời gian kết thúc thực hiện nghị quyếtĐại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2010-2015) mở đầu Đại hội Đảng

bộ Tỉnh lần thứ XIV (10/2015) Tuy nhiên, để vấn đề nghiên cứu có hệ thống,

luận án có đề cập một số năm trước năm 2005 và sau năm 2015.

Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vềphát triển NNL

4.2 Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về pháttriển NNL trên địa bàn Tỉnh từ năm 2005 đến năm 2015 với hệ thốngcác nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Tỉnh ủy, các quyết định củaUBND tỉnh Quảng Ninh; các đề án, báo cáo tổng kết hàng năm, tổngkết giai đoạn, quá trình phát triển NNL của tỉnh Quảng Ninh; kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến phát triển NNL;kết quả điều tra, khảo sát thực tế,…

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Trang 3

Tác giả sử dụng các phương pháp phổ quát của khoa học lịch sửnhư: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, kết hợp phương pháp lịch sửvới phương pháp logic, ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương phápkhác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh … Cụ thể:

Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu trong chương 2 vàchương 3 khi phân kỳ các giai đoạn lịch sử (2005 - 2010) và (2010 - 2015)nhằm hệ thống hóa các quan điểm của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về pháttriển NNL, đồng thời làm rõ quá trình chỉ đạo của tỉnh Quảng Ninh pháttriển NNL từ năm 2005 đến năm 2015

Phương pháp logic chủ yếu được sử dụng nhằm sâu chuỗi các sự kiệnlịch sử cơ bản, khái quát hóa thành những luận điểm, quan điểm cơ bản từ cácvăn kiện của Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Quảng Ninh nhằm thấy được quátrình nhận thức, phát triển về chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ Tỉnh về pháttriển NNL Phương pháp logic đặc biệt được sử dụng phổ biến trong chương 4nhằm khái quát, tổng kết lịch sử đưa ra những nhận xét về ưu điểm, về hạn chế

và rút ra kinh nghiệm lịch sử trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn pháttriển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2015

Các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được kết hợp sử dụngtrong các chương nhằm làm rõ những nội dung nghiên cứu của luận án

5 Những đóng góp mới của luận án

Hệ thống hoá chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015

Nhận xét đánh giá một cách khách quan, khoa học thành tựu và hạnchế trong hoạt động lãnh đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài luận án

Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để Đảng bộ tỉnh QuảngNinh tiếp tục bổ sung, điều chỉnh chủ trương, sự chỉ đạo phát triển NNL phục

vụ cho công cuộc phát triển KT-XH của địa phương và đất nước

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu nghiên cứu, thamkhảo cho lãnh đạo phát triển NNL ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng và các địaphương khác trong cả nước nói chung Đồng thời, là tài liệu tham khảophục vụ nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các Họcviện, nhà trường trong và ngoài quân đội

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đãcông bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo vàphụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương, 9 tiết

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Trang 4

1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực ở nước ngoài

1.1.1.1 Các công trình của tác giả nước ngoài nghiên cứu về nguồn nhân lực

Phát triển NNL là một mục tiêu cơ bản và quan trọng trong chiếnlược phát triển bền vững của nhiều quốc gia trên thế giới, vì vậy, đây là vấn

đề được nhiều nhà quản lý, nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu,tiêu biểu với một số công trình như sau:

Tác giả Theodore Schultz (1971), “Investment in Human Capital” (Đầu tư vào vốn con người) và tác giả Gary S.Becker (1964) trong loạt bài giảng về Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysic, with Special Reference to Education (Vốn con người: Một phân tích lý thuyết và thực nghiệm, với sự tham chiếu đặc biệt đến giáo dục); Tác giả Walter W McMahon, “Education and Development: Measuring the Social Benefits” (Giáo dục và phát triển: Đo lường các lợi ích xã hội) Các tác giả Greg G.Wang và Judy Y.Sun (2009),

“Perspectives on Theory Clarifying the Boundaries of Human Resource Development” (Những quan điểm dựa trên lý thuyết làm rõ những ranh giới của phát triển nguồn nhân lực) Tác giả M Jones và P Manu (1992), “International perspectives on development and learning” (Quan điểm quốc tế về phát triển và học tập) Các tác giả Marc Effron,

Robert Gandossy, Marshall Goldsmith đã trình bày kết quả nghiên cứu

trong công trình khoa học “Human Resources in the 21st century” (Nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI).

1.1.1.2 Các công trình của tác giả trong nước nghiên cứu về nguồn nhân lực ở nước ngoài

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về NNL ở các nước khác nhautrên thế giới của các học giả nước ngoài, các tác giả trong nước cũng có nhiềucông trình nghiên cứu công phu về NLL ở các nước, cũng như những kinhnghiệm sử dụng NNL ở nhiều nước trên thế giới, tiêu biểu là các công trìnhcủa các học giả sau:

Các tác giả Trần Văn Tùng và Lê Thị Ái Lâm (1996), “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” Tác giả Lê Thị Ái Lâm (2003), “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo- kinh nghiệm của Đông Á” Tác giả Nguyễn Kim Bảo (2004) trong công trình“Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (giai đoạn 1992 - 2010)” Tác giả Trần Văn Tùng (2005) trong cuốn: Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng - kinh nghiệm của thế giới Tác giả Vũ Bá Thể (2005), “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài

1.1.2.1 Nhóm nghiên cứu chung về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về nguồnnhân lực đã được công bố, có thể kể đến như:

Tác giả Mai Quốc Chánh (1999), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Tác giả

Trang 5

Trần Văn Tùng (2001), “Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam” Tác giả Bùi Thị Ngọc Lan (2002),“Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” Tác giả Nguyễn Thanh (2002),“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Tập thể tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa và Đặng Hữu Toàn chủ biên (2002) trong cuốn: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn” Tác giả Nguyễn Hữu Dũng (2003), “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt

Nam” Tác giả Trần Nhân (2004), “Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới” Các tác giả Nguyễn Văn Đễ, Bùi Xuân Trường (2004) trong cuốn

“Nhân lực Việt Nam trong chiến lược kinh tế 2001-2010” Tác giả Phạm Thành Nghị (2007), “Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Tác giả Lê Thị Hồng Điệp (2010), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” Tác giả Lô Quốc Toản (2009), với công trình khoa học “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta” Tác giả Trần Khánh Đức (2010),

“Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” Tác giả Nguyễn Văn Tài (2010), “Tích cực hoá đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về NNL trên đã cung cấpcho người đọc cách nhìn tổng quan về NNL trên thế giới và Việt Nam ở cảhai phương diện lý luận và thực tiễn Các công trình nghiên cứu lý luận làmsáng tỏ các vấn đề khái niệm, cấu trúc, mô hình về NNL Các công trìnhnghiên cứu thực tiễn giúp người đọc nhận thấy trong các nguồn lực đối với

sự phát triển, thì NNL là nguồn lực quan trọng nhất đóng vai trò nền tảng,quyết định sự phát triển và hưng thịnh của mỗi quốc gia, dân tộc

1.1.2.2 Nhóm nghiên cứu liên quan đến phát triển nguồn nhân lực tỉnh

Quảng Ninh

Tác giả Vũ Thị Phương Mai (2004), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay” Tác giả Nguyễn Thị Mai Linh (2006), “Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh trong quá trình hội nhập” Tác giả Vũ Hồng Phong (2007),“Định

hướng và giải pháp giải quyết việc làm tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010” Tácgiả Hà Minh Tâm (2007), “Quảng Ninh: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn

với giải quyết việc làm” Tác giả Vũ Thị Hạnh (2011), “Phát triển nguồn nhân lực

du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015”.

Tác giả Trần Văn Minh (2012), “Nghiên cứu phát triển thị trường côngnghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” Tác giả Lê Hồng Huyên (2015), “Mộthướng phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh” Tác giảHoàng Chí Cảnh (2016), “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh

Quảng Ninh” Tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2016) trong bài viết “Một số kết

quả và kinh nghiệm về cải cách hành chính ở tỉnh Quảng Ninh” Tác giả

Nguyễn Thị Mai Phương (2015), “Phát triển nhân lực tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam”

Trang 6

Với những công trình khoa học đã được công bố nêu trên, có thểnhận thấy, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về NNL và phát triển NNL

ở tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quátrình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL từ năm 2005 đếnnăm 2015 dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có

liên quan đến đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các công trình khoahọc nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, tác giả nhận thấy những kếtquả nghiên cứu mà các công trình đã được công bố là khá toàn diện, gópphần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển NNL trênnhững nội dung cơ bản sau:

Một là, các công trình khoa học nghiên cứu dù tiếp cận ở nhiều góc độ,

phạm vi khác nhau nhưng đều khẳng định tầm quan trọng và yêu cầu kháchquan phải phát triển NNL như là cơ sở tiền đề quan trọng để thúc đẩy quátrình phát triển KT - XH của đất nước Bước đầu làm rõ khái niệm, cấutrúc, mô hình về NNL và mối liên hệ của nó với nguồn lực khác Một sốcông trình khoa học đã đi sâu luận giải sâu sắc vai trò của phát triển NNLtrong quá trình CNH, HĐH đất nước và trong nền kinh tế quốc dân Bêncạnh đó, nhiều nghiên cứu đã tập trung phân tích làm rõ mối quan hệ, tácđộng của quá trình phát triển NNL với phát triển KT - XH Các công trìnhnày giúp nghiên cứu sinh có thêm cái nhìn tổng quát về phát triển NNLtrong quá trình phát triển đất nước

Hai là, nhiều công trình khoa học đã khái quát tương đối toàn diện quá

trình hoạch định chủ trương, chính sách phát triển NNL Một số công trình đã đisâu làm rõ thực trạng, kết quả và kinh nghiệm trong phát triển NNL ở Việt Namcũng như ở nước ngoài Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa, thamkhảo để có những nhận định, đánh giá khách quan khi thực hiện đề tài

Ba là, một số công trình khoa học đã nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm,

đánh giá về kết quả, đề xuất được nhiều định hướng, giải pháp có giá trị thiếtthực để thúc đẩy nhanh quá trình phát triển NNL Một số công trình khoa học

đề xuất các định hướng, giải pháp ở tầm vĩ mô, một số công trình khoa học lại

đề xuất giải pháp ở phạm vi của một số vùng kinh tế, một địa phương hay ởtừng ngành, từng vấn đề cụ thể Đây là tiền đề quan trọng để nghiên cứu sinh

kế thừa, so sánh vận dụng vào thực hiện đề tài

Bốn là, mỗi công trình khoa học đều có đối tượng và mục tiêu

nghiên cứu khác nhau nhưng về cơ bản các công trình đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu và các cách tiếp cận khoa học, hợp lý

Như vậy, xung quanh vấn đề quan điểm của Đảng về phát triển NNL

và tình hình thực hiện phát triển NNL ở Việt Nam có nhiều công trình khoahọc nghiên cứu đề cập ở góc độ và mức độ khác nhau, tùy theo yêu cầu vàmục đích nghiên cứu của từng công trình Tuy vậy, chưa có công trìnhnghiên cứu nào có hệ thống, toàn diện và trực tiếp về sự lãnh đạo của Đảng

bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015,

Trang 7

đây là khoảng trống về khoa học luận án tập trung nghiên cứu Những côngtrình nghiên cứu có liên quan đến đề tài là những nguồn tư liệu phong phú,

đa dạng mà nghiên cứu sinh có thể khai thác, kế thừa, nghiên cứu, xây dựng

và hoàn thiện luận án của mình

1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công

bố, bám sát đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khoa học lịch sửĐảng, luận án tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:

Một là, làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

Quảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015, bao gồm: Vị trí vai tròNNL trong quá trình phát triển KT-XH; điều kiện tự nhiên, KT-XH tỉnh Quảng Ninhtác động đến phát triển NNL; thực trạng NNL tỉnh Quảng Ninh trước năm 2005; chủtrương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển NNL

Hai là, làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo phát triển NLL của Đảng bộ

tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2015

Ba là, trong khuân khổ của luận án, nghiên cứu sinh tập trung vào các

vấn đề: 1 Chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển NNL; 2 Chỉ đạo đào tạo, bồidưỡng phát triển NNL; 3 Chỉ đạo đổi mới cơ chế chính sách thu hút NNL

Bốn là, từ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển

NNL 2005-2015, luận án đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế, chỉ rõnguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó Đồng thời đúc rút những kinhnghiệm lịch sử để vận dụng vào hiện thực

Kết luận chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án cho thấy, pháttriển NNL có vai trò, vị trí, tầm quan trọng trong chiến lược phát triển KT-XHchung của đất nước, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Chính

vì vậy, phát triển NNL đã trở thành chủ đề được các nhà khoa học cũng như cácnhà hoạch định chính sách trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc

độ, phạm vi khác nhau được thể hiện bằng sự đa dạng, phong phú của các côngtrình, từ các sách chuyên luận, chuyên khảo, đề tài khoa học các cấp, luận án tiến

sĩ cho đến các báo cáo khoa học tham gia hội thảo, các bài báo được đăng tải trêncác tạp chí…

Có thể khẳng định, thành công của các công trình khoa học liênquan đến đề tài luận án là tương đối toàn diện, phản ánh rõ nét vai trò, yêucầu khách quan và thực tiễn phát triển NNL ở Việt Nam trong một khônggian và thời gian rộng lớn Những thành công đó đã góp phần làm sáng tỏnhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển NNL của cả nước nói chung và ởcác địa phương nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiêncứu một cách có hệ thống về sự lãnh đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnhQuảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2015, dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng.Trên cơ sở nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố cóliên quan đến đề tài luận án, kết hợp với quá trình khảo sát, đánh giá về tìnhhình phát triển NNL ở Quảng Ninh trong thời gian qua, nghiên cứu sinh đã

lựa chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2005 đến năm 2015” làm đề tài luận án tiến sĩ Lịch sử,

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 8

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ

TỈNH QUẢNG NINH VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển nguồn nhân lực

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

2.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

"Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực" là khái niệm được hình

thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển Các công trình nghiên cứu trên thế giới

và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm NNL với các góc độ khác nhau.Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuấthàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lựclượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyết định đến năng suấtlao động và tiến bộ xã hội Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là lực lượnglao động cơ bản của xã hội Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra quan niệm

về NNL như sau: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp sức lực con người cho sự phát triển Theo nghĩa hẹp,

NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KT-XH,bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào quátrình lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ cá nhân có thể tham gia vào quátrình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực được huy độngvào quá trình lao động

Từ xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về NNL, theo tác giả, NNL là tổng hòa các yếu tố về số

lượng, cơ cấu và chất lượng nhân lực (trí lực, thể lực, tâm lực) đã, đang và sẽtạo ra năng lực, sức mạnh để huy động vào quá trình thúc đẩy phát triển KT-

XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh Theo đó, số lượng NNL là tổng số ngườilao động đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển KT- XH Một quốc gianếu không có số lượng nhân lực lao động cần thiết thì không thể phát huysức mạnh của NNL trong quá trình phát triển KT- XH Chất lượng NNL làtổng hợp của nhiều yếu tố tạo nên nhưng được đặc trưng bởi các yếu tố cơbản là: thể lực, trí lực và tâm lực của từng người lao động và cả cộng đồngnhân lực Cơ cấu NNL là cơ cấu về dân số, độ tuổi, giới tính; cơ cấu lao độngtrong các ngành, các lĩnh vực; cơ cấu về trình độ học vấn, chuyên mônnghiệp vụ Các yếu tố: số lượng, chất lượng, cơ cấu có mối quan hệ chặt chẽvới nhau, tạo thành NNL Số lượng đông, chất lượng cao mà cơ cấu nhân lựckhông hợp lý thì hiệu quả phát huy NNL trong phát triển KT - XH sẽ hạnchế Trong mối quan hệ biện chứng, các yếu tố này tác động, chi phối lẫnnhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp của NNL đối với quá trình phát triển KT -XH

2.1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển NNL

Theo tác giả phát triển NNL là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát

Trang 9

triển KT - XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh Theo đó, sự lãnh đạo phát triển NNL là tác động của chủ thể lãnh đạo bằng những chủ trương, chính sách, định hướng lớn nhằm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL Trong quá trình phát triển, sự tăng lên về số lượng nhân lực có ý nghĩa

rất quan trọng, là cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển ngành nghề, lĩnh vực trongtừng giai đoạn nhất định Phát triển chất lượng nhân lực là sự tăng lên khôngngừng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động (vừa với tư cách là cánhân, vừa với tư cách là cộng đồng, tập thể người lao động) Phát triển về cơcấu là quá trình xây dựng cơ cấu NNL khoa học, hợp lý, làm cơ sở để pháttriển về chất NNL, làm thay đổi cơ cấu về giới, độ tuổi, trình độ của nhân lực ởcác vùng, miền, khu vực khác nhau một cách phù hợp nhằm huy động sứcmạnh từ NNL này Sự thay đổi về cơ cấu theo hướng khoa học và hợp lý là yếu

tố góp phần quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của NNL, góp phầnphát triển bền vững nền kinh tế đất nước, địa phương

2.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Quảng Ninh

2.1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Quảng Ninh là một tỉnh biên giới, miền núi và hải đảo, nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, là cửa ngõ giao thông quan trọng với nhiều cửa khẩu biên giới, với hệ thống cảng biển thuận tiện, nhất là cửa khẩu quốc tế Móng Cái, cảng nước sâu Cái Lân, Quảng Ninh có điều kiện giao thương thuận lợi với các nước Đông Bắc Á và các nước thuộc khu vực Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, là điểm kết nối quan trọng của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Là tỉnh có diện tích đất tự nhiên là 6.102km2, có đường biên giới trên bộ (118,8 km) và trên biển (gần 190 km) giáp với Trung Quốc, có ba cửa khẩu lớn (Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh) tiếp giáp với vùng duyên hải Nam Trung Quốc rộng lớn; có đường bờ biển dài 250 km, có 2.077 hòn đảo lớn nhỏ,

có trên 40.000 hécta bãi triều và hơn 20.000 hécta diện tích eo biển và vịnh.

2.1.2.2 Điều kiện kinh tế

Quảng Ninh là tỉnh có tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ lệ lớntrong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp gần như không đáng kể Sauhơn 20 năm đổi mới, Quảng Ninh đã đạt được những thành tựu quantrọng, kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởngcao, tiềm lực, quy mô nền kinh tế tăng mạnh Giai đoạn 2005 - 2010, tăngtrưởng kinh tế của tỉnh duy trì ở mức hợp lý, tốc độ tăng trưởng GDP bìnhquân 5 năm đạt 12,7%/năm (cả nước là 7%), cao gần gấp đôi so với bìnhquân chung cả nước và nằm trong nhóm các địa phương có tốc độ tăngtrưởng cao nhất cả nước Quy mô GDP giá hiện hành năm 2010 gấp 1,8 lầnnăm 2005 Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm ước đạt 69.869

tỷ đồng, tăng bình quân 29,4%/năm, là một trong 6 địa phương có số thungân sách cao nhất toàn quốc

2.1.2.3 Về văn hóa - xã hội

Quảng Ninh là tỉnh có dân số không cao so với bình quân chungcủa cả nước, theo điều tra dân số thời điểm 1/4/2009, dân số Quảng Ninh là

Trang 10

1.144.988 người đứng thứ 30/63 tỉnh thành trong toàn quốc, đứng thứ 6 trongvùng đồng bằng sông Hồng Với 22 dân tộc khác nhau, trong đó, có 5 dân tộc có

dân số trên 1.000 người, tỉnh Quảng Ninh là “nơi hội tụ, giao thoa, thống nhất trong đa dạng của nền văn minh Sông Hồng”, các dân tộc phân bố đều trên lãnh

thổ của Tỉnh, có tinh thần đoàn kết, chung sống hòa thuận tạo điều kiện thuận lợitrong việc cố kết cộng đồng dân cư của toàn tỉnh

2.1.3 Thực trạng nguồn nhân lực ở Quảng Ninh trước năm 2005

Theo thống kê, năm 2005 dân số tỉnh Quảng Ninh là 1.096.112người đứng thứ 30/63 tỉnh, thành trong toàn quốc, đứng thứ 6 trong vùngđồng bằng sông Hồng, có 702.121 người trong độ tuổi lao động, chiếm64,1%, số lao động có việc làm 533.730 người đạt 76% Đây là nguồn lựcquan trọng góp phần phát triển KT-XH của tỉnh Sự gia tăng cả về số lượng

và chất lượng NNL đóng vai trò quyết định, đưa KT-XH của tỉnh phát triểnnhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng côngnghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, điều đó đưa đến sự thay đổiquan trọng trong cơ cấu và chất lượng NNL

Tuy nhiên, NNL ở Quảng Ninh trước năm 2005 cũng bộc lộ nhiềuđiểm hạn chế: Công tác quy hoạch chưa theo kịp tiến trình phát triển, quản

lý quy hoạch còn yếu, điều chỉnh quy hoạch chưa kịp thời Đặc biệt là quyhoạch phát triển NNL chưa được chú ý đúng mức Nhu cầu việc làm đốivới lực lượng lao động trẻ trong tỉnh đang bức xúc, còn có tình trạng sinhviên đã tốt nghiệp đại học, nhưng chưa tìm kiếm được việc làm; việc bố trícông tác cho số sinh viên này thường gặp khó khăn do chất lượng và ngànhnghề đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng của các đơn vị (đây làbiểu hiện của công tác hướng nghiệp chưa tốt) Sự phối hợp giữa các ngành,đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở trong công tác giải quyết việc làm và dạy nghề chưađược phát huy, hiệu quả thấp Việc đào tạo ở một số lĩnh vực còn trong tìnhtrạng tự phát, thiếu quy hoạch và chưa sát nhu cầu sử dụng; cơ cấu đào tạo và

sử dụng còn mất cân đối giữa các ngành, các vùng; chất lượng đào tạo, bồidưỡng còn thấp; tỷ lệ đào tạo giữa các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật vớikhoa học xã hội chưa hợp lý so với định hướng phát triển và cơ cấu kinh tế củatỉnh Vấn đề đào tạo sau đại học cũng trong tình trạng tự phát, thiếu quy hoạch

và chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu sử dụng

2.1.4 Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tích cực chủ động hội nhập quốc tế và chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực

2.1.4.1 Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tích cực chủ động hội nhập quốc tế

Thực tiễn của nước ta và các nước đi trước đã chứng minh, quá trìnhCNH, HĐH diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp phụthuộc vào nhiều yếu tố nhưng trước hết tuỳ thuộc vào chất lượng NNL, bởinền kinh tế thế giới đã phát triển theo hướng kinh tế tri thức, yếu tố tri thức

đã chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm, tỷ lệ lao động giản đơn trongsản phẩm chỉ còn 1/10, trí tuệ được coi là thước đo trình độ CNH và động lựccủa quá trình phát triển Vì vậy, Việt Nam cũng như tất cả các nước trên thếgiới đều quan tâm tới việc đầu tư phát triển NNL

Trang 11

2.1.4.2 Chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực

Xuất phát từ nhận thức khách quan, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác Lênin, từ khi ra đời, để thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam,Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức rõ vai trò quan trọng của vấn đềcon người

-Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), lần đầu tiên thuậtngữ “nguồn lực con người” được sử dụng trong văn kiện của Đảng: “Lấyviệc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triểnnhanh và bền vững” Sự nghiệp CNH, HĐH được Đại hội VIII của Đảngkhẳng định với tính chất là chiến lược thì vấn đề phát triển NNL càng đượcchú trọng Đại hội khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huynguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi

của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại”

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), vấn đề “nguồn lựccon người” tiếp tục được Đảng ta khẳng định, trong đó nhấn mạnh “pháthuy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởngkinh tế nhanh và bền vững”

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng đã chỉ rõ đểthực hiện thắng lợi công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế trithức phải phát triển NNL chất lượng cao, tức là chuyển hướng chiến lượcphát triển NNL theo chiều rộng sang chiều sâu, coi trọng và gia tăng nhanhchất lượng của NNL: “phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao,nhất là chuyên gia đầu ngành Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụngnhân tài; nhanh chóng xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý về ngànhnghề, trình độ đào tạo, dân tộc, vùng miền”

2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển nguồn nhân lực (2005 - 2010)

2.2.1 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực của Đảng bộ tỉnh Quảng

Ninh

Một là, phát triển và nâng cao chất lượng NNL là một trong những

khâu đột phá, là nhân tố quyết định sự phát triển KT-XH tỉnh, là trách nhiệmcủa cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh, nhằm huyđộng nguồn lực toàn xã hội để xây dựng, phát triển NNL của tỉnh có chấtlượng, đáp ứng tốt yêu cầu trước mắt và lâu dài

Hai là, phát triển NNL có trọng tâm, trọng điểm, tập trung đào tạo

lao động chất lượng cao, gắn với bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên làmkhâu đột phá; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, côngchức, viên chức, lao động đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa và hội nhập quốc tế

Ba là, có chính sách, cơ chế hợp lý phát triển, bồi dưỡng, thu hút cán bộ

chuyên môn, khoa học, công nghệ có trình độ cao về công tác tại tỉnh; ưu tiêncác ngành, lĩnh vực đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh Đào tạo độingũ lao động có tay nghề cao, có năng lực cạnh tranh tìm việc làm, gắn với cácchương trình phát triển KT-XH của tỉnh, đặc biệt chú ý đào tạo công nhân lànhnghề cho các khu, cụm công nghiệp và lao động xuất khẩu

2.2.2 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực

Ngày đăng: 28/05/2021, 21:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w