1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu trong quan hệ thương mại với trung quốc nhằm hạn chế tình trạng nhập siêu

224 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    • ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VỚI TRUNG QUỐC NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NHẬP SIÊU

    • NGUYỄN THỊ NHẬT THU

  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    • ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VỚI TRUNG QUỐC NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NHẬP SIÊU

    • Nguyễn Thị Nhật Thu

  • Với việc cắt giảm thuế của hai nước như đã nói ở trên, xét về tổng quan, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều lợi thế hơn khi xuất khẩu vào Trung Quốc. Theo số liệu từ Bộ Công Thương và Tổng cục Hải quan, tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan ACFTA (bằng tổng giá trị kim ngạch hàng hóa xuất khẩu được hưởng ưu đãi trên tổng giá trị hàng xuất đi) của Việt Nam không ổn định và ở mức thấp, chỉ cao hơn tỷ lệ tận dụng của FTA với khu vực ASEAN. Số liệu năm 2016 cho thấy tỷ lệ này là 32% ưu đãi từ ACFTA, nghĩa là mới gần 1/3 hàng Việt xuất sang Trung Quốc tận dụng được những ưu đãi thuế quan này (Thanh Huyền, 2018).

  • Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu song phương chưa đổi mới để phù hợp với xu thế tự do hóa thương mại giữa hai nước là một vấn đế đáng lo ngại, vì nó càng đẩy tình trạng nhập siêu nặng nề thêm. Khi hàng rào thuế quan dần được gỡ bỏ, hàng Trung Quốc đủ chủng loại càng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam mạnh mẽ hơn. Trong khi đó, cơ cấu hàng xuất khẩu sang nước bạn chưa có sự đổi mới căn bản và phù hợp khiến khoảng cách giữa kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu lớn thêm, cán cân thương mại song phương mất cân bằng nghiêm trọng và khó điều chỉnh.

  • Ngành công nghiệp dệt may chiếm 15-20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt nam và chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp, bình quân mỗi năm tăng 20% . Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt hơn 28 tỷ USD. Để đạt được kim ngạch xuất khẩu đó, ngành dệt may đã tiêu thụ hết 8,9 tỷ m2 vải nhưng các nhà máy trong nước chỉ sản xuất được 2,8 tỷ m2 vải, còn lại phải nhập khẩu hơn 6 tỷ m2 vải và phụ liệu, với tổng giá trị gần 17 tỷ USD (Xuân Anh, 2017). Tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu ngành dệt may chỉ đạt 3 - 8%, còn chủ yếu là nhập nguyên liệu, thậm chí nhập sản phẩm bán thành phẩm về gia công sau đó xuất khẩu để tận dụng nhân công giá rẻ và các ưu đãi của Nhà nước. Theo số liệu của Viện Chiến lược công nghiệp (Bộ Công Thương), ngành dệt may dự kiến nâng tỷ lệ nội địa hóa lên 60% vào năm 2015 và 70% vào 2020, nhưng đến năm 2015 vẫn phải nhập khẩu 99% bông, 60% sợi, 70% vải. Nguyên nhân là năng lực các nhà máy cơ khí chuyên ngành dệt may chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành. Ngay cả Tổng Công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex) dù có tiềm lực lớn trong sản xuất và xuất khẩu nhưng việc phát triển các doanh nghiệp phụ trợ trong Tổng Công ty còn gặp nhiều khó khăn.

    • Mức tiêu dùng của người dân Trung Quốc, đặc biệt là ở các thành phố lớn ngày càng nâng cao. Người dân ở các thành phố có thể bỏ ra số tiền cao hơn cho cùng loại mặt hàng mà họ tin có chất lượng hơn. Nhiều người Trung Quốc cũng đang e ngại chính hàng tiêu dùng nội địa, đặc biệt là đồ dùng cho trẻ em như bình sữa làm từ đĩa compact tái chế, quần áo dùng thuốc nhuộm độc hại không thể giặt sạch, sữa bột giả, đồ chơi có độc tố vượt mức cho phép. Người tiêu dùng Trung quốc, đặc biệt là tầng lớp trung lưu cũng bắt đầu tìm kiếm các sản phẩm tiêu dùng nhập ngoại.

    • Kết nối hai chiều giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp FDI trong các ngành sản xuất đất nước đang cần. Cần chủ động tích cực tăng cường sự chuyển giao công nghệ và năng lực của doanh nghiệp FDI cho doanh nghiệp trong nước. Để hỗ trợ các doanh nghiệp nói chung, chính phủ cần lập cơ sở dữ liệu thông tin giữa doanh nghiệp FDI cũng như các nhà cung cấp trong nước, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam được là nhà cung cấp cho các công ty FDI.

    • Các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhân tố quan trọng đưa nền công nghiệp phụ trợ Việt Nam đi lên. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn vay dài hạn cho đầu tư phát triển, hỗ trợ các doanh nghiệp về thiết kế mẫu và phát triển mẫu, cung cấp thông tin khách hàng cũng như hệ thống tin về các FTA đã và mới ký kết để doanh nghiệp được hưởng lợi tối đa từ các thông tin này.

    • Tiếp tục triển khai sâu rộng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”: Các đơn vị Xúc tiến thương mại cần tiếp tục triển khai sâu rộng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” để tạo điều kiện cho hàng Việt Nam phát triển rộng khắp. Cuộc vận động cần giúp tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong sản xuất-kinh doanh cũng như không ngừng nâng cao chất lượng, giá cả hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước nhằm nâng cao sức cạnh tranh đáp ứng tốt hơn yêu cầu thị trường nội địa.

    • Công tác xúc tiến thương mại trong nước cần phối hợp chặt chẽ thông qua việc tổ chức nhiều hội chợ bán hàng Việt, quảng bá, khuyến mãi, đặc biệt tại các khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa... giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường trong nước. Nhà nước cần có giải pháp tuyên truyền hiệu quả hơn, đánh vào tâm lý yêu nước và lòng tự hào dân tộc của người Việt Nam. Cần tuyên truyền về việc sử dụng hàng Việt với những khẩu hiệu mạnh, không đơn thuần là “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” hay “Dùng hàng Việt Nam là yêu nước”.

    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền: Nhà nước cần kết hợp tuyên truyền trên mọi phương tiện như báo viết, truyền hình, mạng internet, đài phát thanh, poster… Nhà nước cũng cần dành riêng một hoặc một số kênh truyền hình, truyền thanh miễn phí quảng cáo thương hiệu và sản phẩm cho các doanh nghiệp “thuần Việt” để phát trong nước. Nội dung quảng bá cần được tư vấn sao cho hấp dẫn và nổi bật, thể hiện được ưu thế về chất lượng, nguyên liệu…của sản phẩm, khơi gợi được tinh thần dân tộc đối với người tiêu dùng Việt Nam.

    • (2) Tăng cường kết nối doanh nghiệp với người tiêu dùng

    • Nhà nước rất cần chú trọng các hoạt động xúc tiến thương mại trong nước để tăng cường kết nối cung cầu. Các hoạt động quảng bá sản phẩm đến các địa phương lân cận và trên cả nước cần tiếp tục được đẩy mạnh để tạo thị trường tiêu thụ bền vững. Các sản phẩm nông sản của từng vùng cần được hỗ trợ về xây dựng thương hiệu và đảm bảo chất lượng. Sở Công Thương tại các địa phương cần phối hợp chặt chẽ để hỗ trợ lẫn nhau trong việc tiêu thụ hàng nông sản vào mùa vụ để giải quyết tình trạng mất cân đối cung cầu gây ảnh hưởng đến người nông dân.

      • Các hội chợ quốc tế tổ chức tại Trung Quốc cũng là nơi lý tưởng để doanh nghiệp Việt tiếp cận thị trường, xây dựng mối quan hệ bạn hàng tại thị trường Trung Quốc. Hội chợ Canton Fair Quảng Châu, Hội chợ Trung Quốc-ASEAN là hai hội chợ thường niên quy mô rất lớn với nhiều ngành nghề tham dự. Ngoài ra các doanh nghiệp cũng có thể tham gia các hội chợ đa ngành khác như Hội chợ Phúc Kiến, Hội chợ Côn Minh hoặc Hội chợ nhập khẩu quốc tế Trung Quốc-CIIE từ 2018 sẽ trở được tổ chức định kỳ hàng năm. Doanh nghiệp ngành dệt may có thể tham dự Triển lãm quốc tế phụ kiện và máy móc ngành may thêu Trung Quốc, Hội chợ quốc tế nguyên phụ liệu dệt may Thượng Hải mùa xuân, Triển lãm quốc tế ngành dệt may Thượng Hải. Doanh nghiệp hàng máy móc thiết bị có thể tham gia Hội chợ quốc tế trang thiết bị y tế, dụng cụ y khoa Trung Quốc, Triển lãm quốc tế ngành sản xuất thiết bị y tế Medtec China, Triển lãm quốc tế Bắc Kinh về máy xây dựng, Triển lãm thiết bị điện Thượng Hải, Triển lãm thiết bị nguyên phụ liệu ngành chế biễn gỗ Trung Quốc, Triển lãm quốc tế ngành giấy Trung Quốc. Các doanh nghiệp ngành mỹ phẩm làm đẹp Việt Nam có thể tham gia Hội chợ mỹ phẩm và sắc đẹp Trung Quốc.

  • 172. Nhật Minh, 2018, Khuyến khích doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mới, Báo Nhân dân điện tử, ngày  20/01/2018 tại http://www.nhandan.com.vn/khoahoc/khoa-hoc/item/35334202-khuyen-khich-doanh-nghiep-tiep-can-cong-nghe-moi.html, truy cập ngày 10/3/1018 (trích dẫn Nhật Minh, 2018)

  • 173. Thanh Nhàn, 2016, Năm người Việt vào top 1% các nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới, Báo Tia Sáng điện tử ngày 22/11/2016, http://tiasang.com.vn/-tin-tuc/Nam-nguoi-Viet--vao-top-1-cac-nha-khoa-hoc-anh-huong-nhat-the-gioi--10227 truy cập ngày 10/3/2017 (Trích dẫn Thanh Nhàn, 2016)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU NHẰM HẠN CHẾ NHẬP SIÊU

Một số vấn đề lý thuyết về đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

1.1.1 Khái niệm và phân loại cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu Để làm rõ khái niệm “Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu”, có thể xuất phát từ định nghĩa về “cơ cấu” Theo từ điển Oxford (2012), cơ cấu là “Sự sắp xếp và mối quan hệ giữa các bộ phận hoặc nhân tố cấu thành của một phức thể” Tại Việt Nam, “cơ cấu“ được định nghĩa là “Cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnh thể” (Hoàng Phê, 2003, tr214) hay “Cơ cấu là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó” (Nguyễn Hữu Khải, 2007, tr7)

Cơ cấu xuất khẩu, theo Nguyễn Hữu Khải (2007), được định nghĩa là tổng thể các nhóm hàng và mặt hàng xuất khẩu trong toàn bộ kim ngạch xuất khẩu, bao gồm vị trí, tỷ trọng tương ứng và mối liên hệ hữu cơ tương đối ổn định.

Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu được hiểu là sự sắp xếp và mối quan hệ tỷ trọng giữa các mặt hàng và nhóm hàng trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của quốc gia.

1.1.1.2 Phân loại cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa

Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu có thể được phân tích từ nhiều khía cạnh khác nhau, tùy thuộc vào từng quốc gia, từng tác giả và mục đích nghiên cứu Dưới đây là một số phương pháp phân loại phổ biến trong lĩnh vực này.

Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu có thể được phân loại dựa trên hàm lượng, bao gồm tài nguyên, trình độ lao động và công nghệ nghiên cứu phát triển Phân loại này rất phổ biến trong nhiều nghiên cứu, tuy nhiên, các tác giả thường có cách phân chia khác nhau.

Theo phân loại của Lall (2000), hàng hóa được chia thành nhiều nhóm khác nhau, bao gồm hàng thâm dụng tài nguyên như nông sản và hàng thâm dụng tài nguyên khác Ngoài ra, còn có hàng chế biến công nghệ thấp, bao gồm các sản phẩm dệt, may, da giày, và các sản phẩm chế biến công nghệ thấp khác Các sản phẩm chế biến công nghệ trung bình được phân chia thành ba loại: ngành tự động, sử dụng trong quá trình sản xuất, và ngành cơ khí Cuối cùng, hàng chế biến công nghệ cao bao gồm thiết bị điện và điện tử cùng với các sản phẩm chế biến công nghệ cao khác.

Theo phân loại của UNCTAD (2002), cơ cấu hàng xuất nhập khẩu được chia thành 6 nhóm dựa trên thống kê SITC phiên bản 2 cấp độ 3 chữ số Nhóm A bao gồm hàng hóa sơ cấp, Nhóm B là hàng thâm dụng lao động và tài nguyên, Nhóm C chứa hàng thâm dụng kỹ năng lao động và công nghệ thấp, Nhóm D là hàng thâm dụng kỹ năng lao động và công nghệ trung bình, Nhóm E đại diện cho hàng thâm dụng kỹ năng lao động và công nghệ cao, và Nhóm F là hàng hóa không phân loại.

Theo phân loại của OECD (2011), hàng công nghiệp được chia thành bốn nhóm dựa trên hàm lượng công nghệ R&D: công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp công nghệ trung bình-cao, công nghiệp công nghệ trung bình-thấp và công nghiệp công nghệ thấp.

(2) Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu theo mục đích sử dụng

Phân theo mục đích sử dụng, hàng hóa thường được chia thành các nhóm: Tư liệu sản xuất, hàng hóa trung gian và hàng tiêu dùng.

Tư liệu sản xuất: những mặt hàng không dùng cho sinh hoạt gia đình mà dùng để sản xuất ra những mặt hàng khác

Hàng hóa trung gian: đầu vào sản xuất ra những hàng hóa khác

Hàng tiêu dùng: hàng hóa dùng cho sinh hoạt nói chung, được chia thành ba loại:

Hàng tiêu dùng lâu; hàng tiêu dùng bán lâu bền và hàng tiêu dùng không lâu bền.

(3) Cách phân loại hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam

Phân loại theo nhóm hàng: Theo Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê Việt

Theo Tổng cục Thống kê (GSO), kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm được phân loại theo cơ cấu ngành kinh tế, bao gồm ba nhóm hàng chính: Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản, Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, cùng với Hàng nông lâm thủy sản.

Chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2001-2010 phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu thành bốn nhóm chính Nhóm khoáng sản hoàn toàn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên; nhóm nông lâm thủy sản kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên và lao động với hàm lượng công nghệ không cao; nhóm hàng chế biến chính có hàm lượng công nghệ ổn định nhưng yêu cầu lao động cao và kỹ năng thấp; và cuối cùng, nhóm hàng chế biến cao với hàm lượng công nghệ tiên tiến và kỹ năng lao động phức tạp.

Trong luận án này, tác giả áp dụng nhiều phương pháp phân loại cơ cấu hàng hóa để thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu Cụ thể, tác giả phân loại theo mục đích sử dụng dựa trên hệ thống phân loại BEC và theo nhóm hàng dựa trên hệ thống phân loại SITC với 9 nhóm hàng Bên cạnh đó, khi thống kê theo hàm lượng, tác giả sử dụng phương pháp của Lall (2000) và UNCTAD (2002) để phân tích cơ cấu xuất nhập khẩu.

1.1.2 Một số vấn đề lý thuyết về đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu

1.1.2.1 Khái niệm đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu

"Đổi mới" hay "Đổi mới sáng tạo" trong tiếng Anh được gọi là "Innovation" Có nhiều định nghĩa về "Đổi mới sáng tạo", nhưng định nghĩa phổ biến nhất đến từ OECD: "Thực hiện một sản phẩm mới hoặc một sự cải tiến đáng kể trong hàng hóa, dịch vụ, quy trình, phương pháp marketing, hoặc tổ chức trong kinh doanh, nơi làm việc, và các mối quan hệ đối ngoại" (OECD, 2005).

Theo OECD (2005), có bốn loại Đổi mới sáng tạo: Đổi mới sản phẩm, bao gồm hàng hóa và dịch vụ được cải tiến về thông số kỹ thuật, thành phần, vật liệu và tính năng thân thiện với người dùng; Đổi mới quy trình, liên quan đến phương pháp sản xuất hoặc phân phối mới với những thay đổi đáng kể về kỹ thuật và thiết bị; và Đổi mới hoạt động tiếp thị, đề cập đến các phương pháp tiếp thị mới hoặc cải tiến.

Marketing mới liên quan đến những thay đổi quan trọng trong thiết kế sản phẩm, bao bì, sắp xếp sản phẩm, quảng bá và định giá Đổi mới sáng tạo tổ chức đề cập đến các phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh, cải tiến môi trường làm việc và nâng cao quan hệ đối ngoại.

(2)Khái niệm “Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu”

Theo định nghĩa về “Đổi mới sáng tạo” của OECD (2005), “Đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu” có thể được hiểu là sự thay đổi và cải tiến trong cơ cấu hàng hóa được xuất khẩu và nhập khẩu, nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Quan hệ giữa đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và việc giảm nhập siêu song phương

1.2.1 Một số vấn đề lý thuyết về nhập siêu

Cán cân thương mại, hay còn gọi là xuất khẩu thuần (ký hiệu là NX), là sự chênh lệch giữa tổng giá trị xuất khẩu và tổng giá trị nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, được tính bằng đồng tiền của quốc gia đó (Sullivan, Sheffrin, 2003).

Cán cân thương mại có ba trạng thái chính: cân bằng, thặng dư và thâm hụt Cân bằng xảy ra khi tổng kim ngạch xuất khẩu bằng tổng kim ngạch nhập khẩu Thặng dư là khi tổng kim ngạch xuất khẩu vượt qua tổng kim ngạch nhập khẩu, trong khi thâm hụt, hay còn gọi là nhập siêu, xảy ra khi tổng kim ngạch xuất khẩu nhỏ hơn tổng kim ngạch nhập khẩu.

1.2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến nhập siêu song phương

(1) Nguyên nhân từ xuất khẩu

Tăng trưởng xuất khẩu thấp hơn nhập khẩu có thể gây ra tình trạng nhập siêu song phương, ảnh hưởng đến sự cân bằng thương mại Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển các chuỗi dịch vụ, sản xuất, cũng như tài chính - tiền tệ (Gros, 2013) Khi tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa không đạt mức cao hơn hoặc tương đương với nhập khẩu từ đối tác, nền kinh tế sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì sự ổn định thương mại.

Tỷ trọng hàng thô và sơ chế cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu có thể gây tác động tiêu cực đến cán cân thương mại song phương Nhóm hàng này thường có sự tăng trưởng sản lượng hạn chế và giá cả xuất khẩu biến động mạnh, khó lường Khi kim ngạch xuất khẩu phụ thuộc vào giá thị trường thế giới, nằm ngoài kiểm soát của doanh nghiệp và cơ quan chức năng, xuất khẩu nhóm hàng này sang một thị trường sẽ dễ bị ảnh hưởng.

Tỷ lệ nội địa hóa hàng hóa xuất khẩu hiện đang ở mức thấp, phản ánh sự phụ thuộc vào nguyên vật liệu và phụ tùng công nghiệp nhập khẩu Gia tăng tỷ lệ nội địa hóa đồng nghĩa với việc tăng cường sử dụng nguyên vật liệu và phụ tùng sản xuất trong nước (Yean, 2001; Palanca, 2004) Khi hàng hóa xuất khẩu có tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá trị xuất khẩu ròng sẽ giảm, dẫn đến việc chưa tạo ra nền tảng vững chắc để bù đắp cho nhập khẩu.

(2) Nguyên nhân từ nhập khẩu

Cơ cấu nhập khẩu chủ yếu của một quốc gia thường tập trung vào hàng hóa đầu vào sản xuất, bao gồm nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và hàng hóa thiết yếu Khi nhóm hàng này chiếm ưu thế trong cơ cấu hàng hóa nhập khẩu, nguy cơ nhập siêu sẽ gia tăng do kim ngạch nhập khẩu rất cao (Mesquita, 2007; Soo, 2007).

Nhu cầu nhập khẩu máy móc và thiết bị cho các dự án đầu tư đang gia tăng, đặc biệt là trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, nếu kim ngạch nhập khẩu từ các nước đối tác chiếm tỷ trọng quá lớn mà hiệu quả đầu tư không cao, điều này có thể dẫn đến tình trạng nhập siêu hàng hóa Sự thiếu hụt giá trị xuất khẩu từ các ngành này sẽ làm gia tăng rủi ro cho nền kinh tế (Kilpatrick, 2006).

Tâm lý ưa chuộng hàng ngoại của người tiêu dùng ngày càng gia tăng, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu hàng tiêu dùng tăng cao Nhiều sản phẩm nội địa chưa đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu, đặc biệt là các mặt hàng xa xỉ như ô tô và điện thoại di động Nếu nhu cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu vượt quá khả năng phát triển kinh tế và không có sự kiểm soát chặt chẽ từ nhà nước, điều này sẽ tạo áp lực gia tăng nhập siêu.

(3) Nguyên nhân từ khả năng và cơ cấu của nền kinh tế

Năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp thấp khiến hàng hóa của một quốc gia khó có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu, đặc biệt khi đối tác có nền công nghiệp chế biến phát triển vượt trội (Porter, 2008) Khi nhu cầu về máy móc, thiết bị và sản phẩm phụ trợ cho sự phát triển kinh tế quá lớn, trong khi đối tác có khả năng cung cấp nhanh chóng với mức giá hợp lý, và quốc gia đó không thể xuất khẩu hàng hóa có giá trị tương xứng, cán cân thương mại giữa hai nước sẽ bị thâm hụt trong dài hạn.

Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nếu tận dụng hiệu quả các ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương Tuy nhiên, các FTA cũng có thể tạo ra áp lực lớn hơn đối với nhập siêu khi doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận hàng hóa nhập khẩu từ đối tác, dẫn đến tăng cường cạnh tranh với hàng hóa nội địa.

(4) Nguyên nhân từ tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái, hay còn gọi là tỷ giá Forex, là mức giá mà một đồng tiền có thể được trao đổi với một đồng tiền khác Nó thể hiện giá trị của một quốc gia thông qua tiền tệ của nước khác (O’Sullivan, Steven, 2003).

Tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá cả hàng hóa trong nước so với thị trường quốc tế, ảnh hưởng đến kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Khi đồng tiền nội tệ mất giá, giá xuất khẩu giảm, nâng cao sức cạnh tranh và gia tăng cầu hàng hóa xuất khẩu, trong khi nhập khẩu trở nên đắt hơn và bị hạn chế Sự tăng lên của tỷ giá hối đoái giúp nền kinh tế thu hút nhiều ngoại tệ, cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán Ngược lại, nếu tỷ giá giảm, xuất khẩu sẽ giảm, nhập khẩu tăng, dẫn đến cán cân thanh toán xấu hơn.

1.2.2 Các nhân tố tác động chung đến đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu và cán cân thương mại song phương

1.2.2.1 Sáu thành tố thuộc mô hình Kim cương của Michael Porter

Cán cân thương mại hàng hóa và cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của một quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ và đều chịu ảnh hưởng từ sự vận hành của nền kinh tế Việc xác định những "nguyên nhân chung" tác động đến cả hai vấn đề này là cần thiết, từ đó làm cơ sở để xây dựng các giải pháp cho Nhà nước, Doanh nghiệp và Nhà khoa học Khi tác động vào những yếu tố chung này, cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa sẽ được đổi mới, dẫn đến cải thiện rõ rệt trong cán cân thương mại hàng hóa song phương.

Trong nghiên cứu của mình, tác giả nhận diện sáu thành tố trong mô hình Kim cương của Michael Porter (1998) có khả năng giải thích sự thành công quốc tế của một quốc gia trong một ngành cụ thể Mô hình này chỉ ra rằng năng lực cạnh tranh quốc gia được hình thành từ sự kết hợp của các thể chế, chính sách và nhân tố quyết định hiệu quả và năng suất Cụm từ "Lợi thế cạnh tranh quốc gia" được hiểu trong bối cảnh thương mại song phương, không mở rộng ra toàn bộ lĩnh vực Một yếu tố quan trọng trong mô hình là điều kiện về các yếu tố sản xuất, bao gồm nguồn lao động có kỹ năng và cơ sở hạ tầng cần thiết để cạnh tranh.

Các điều kiện về nhu cầu (Dưới đây gọi tắt là Nhu cầu): nhu cầu trong nước đối với hàng hóa hoặc dịch vụ.

Các ngành phụ trợ và liên quan, được gọi tắt là các ngành phụ trợ, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sự hiện diện hoặc thiếu hụt của các ngành công nghiệp này.

Kinh nghiệm đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập với Trung Quốc để giảm nhập siêu

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu định hướng xuất khẩu như Trung Quốc, nhiều quốc gia châu Á đã phải đối mặt với tình trạng nhập siêu Tuy nhiên, một số nền kinh tế, sau giai đoạn nhập siêu, đã thành công trong việc cân bằng cán cân thương mại và tiến tới xuất siêu sang Trung Quốc Bài viết này sẽ tập trung vào Malaysia như một ví dụ điển hình về những kinh nghiệm trong việc đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu nhằm hạn chế nhập siêu từ Trung Quốc.

Lý do tác giả lựa chọn quốc gia này để nghiên cứu kinh nghiệm là:

Malaysia là một quốc gia châu Á có trình độ phát triển thấp hơn so với Việt Nam, nhưng nghiên cứu kinh nghiệm của Malaysia lại rất phù hợp với Việt Nam, một nước đang phát triển với cơ cấu kinh tế chậm cải tiến Trong khi Trung Quốc xuất siêu sang Nhật Bản và Hàn Quốc, hai quốc gia này đã vượt xa Việt Nam về công nghệ và sản xuất.

Malaysia từng có cơ cấu hàng xuất nhập khẩu tương đồng với Việt Nam và áp dụng mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu Tuy nhiên, nước này đã chuyển đổi từ xuất khẩu sản phẩm tài nguyên thiên nhiên sang hàng hóa công nghệ tiên tiến Trong khi đó, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc vẫn chủ yếu là hàng hóa sơ cấp, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên và lao động, chưa có sự cải thiện Kinh nghiệm của Malaysia trong việc đổi mới cơ cấu xuất nhập khẩu để hạn chế nhập siêu và tiến tới xuất siêu là bài học quý giá cho Việt Nam.

Malaysia đã từng trải qua giai đoạn nhập siêu từ Trung Quốc, nhưng hiện nay đã cân bằng được cán cân thương mại và chuyển sang xuất siêu Do đó, việc chọn Malaysia làm hình mẫu nghiên cứu kinh nghiệm đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và giảm nhập siêu với Trung Quốc là một quyết định hợp lý.

1.3.1 Giới thiệu về nền kinh tế Malaysia

Malaysia, một quốc gia có thu nhập trung bình, đã chuyển mình từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ kể từ những năm 1970 Từ việc chủ yếu sản xuất nguyên liệu thô, Malaysia hiện nay đã trở thành một nền kinh tế mới nổi với sự phát triển đa ngành.

Malaysia và Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ từ năm 1974 Kể từ năm

Kể từ năm 1990, xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa giữa Malaysia và Trung Quốc đã tăng trưởng mạnh mẽ, đặc biệt sau khi ký kết ACFTA Malaysia đã chuyển từ tình trạng nhập siêu trước năm 1991 sang xuất siêu ổn định sang Trung Quốc từ năm 1992, với giá trị nhập siêu cao nhất đạt 452 triệu USD vào năm 1990 Trong giai đoạn từ 1981 đến 1991, Malaysia cũng có những năm xuất siêu như 1984-1986 và 1987-1989 Từ năm 1992, giá trị xuất siêu của Malaysia sang Trung Quốc liên tục gia tăng với tốc độ cao.

1.3.2 Đổi mới trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Malaysia với Trung Quốc

Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu có sự khác biệt rõ rệt trong giai đoạn Malaysia nhập siêu và xuất siêu với Trung Quốc

1.3.2.1 Giai đoạn nhập siêu với Trung Quốc

Trong giai đoạn nhập siêu với Trung Quốc, Malaysia chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô, chiếm hơn 80% vào năm 1984 và khoảng 40% vào năm 1992 Hàng hóa chế biến cũng chiếm tỷ trọng cao, khoảng trên 70% vào năm 1985 Đặc biệt, tỷ trọng hàng máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng trong cơ cấu xuất khẩu sang Trung Quốc đã có sự thay đổi lớn, mặc dù tỷ lệ xuất khẩu máy móc thiết bị vẫn còn thấp, dưới 10% trong giai đoạn này.

Tính đến năm 1995, Malaysia xuất khẩu hàng hóa sơ cấp sang Trung Quốc chiếm 55%, trong khi hàng thâm dụng lao động và tài nguyên đạt 25% Hàng thâm dụng kỹ năng và công nghệ thấp chỉ chiếm 2%, hàng thâm dụng kỹ năng và công nghệ trung bình chiếm 9%, và nhóm hàng sử dụng kỹ năng lao động và công nghệ cao chỉ chiếm 8% Các loại hàng hóa khác chiếm phần còn lại.

(2)Cơ cấu nhập khẩu: Trước năm 1992 là mốc Malaysia bắt đầu xuất siêu sang

Trung Quốc là nguồn nhập khẩu chính của Malaysia, chủ yếu cung cấp thực phẩm và động vật sống (SITC 0), chiếm khoảng 75% tổng kim ngạch nhập khẩu Ngoài ra, hàng chế biến (SITC 6) cũng được nhập khẩu nhiều trong giai đoạn này Các nhóm hàng hóa hóa chất (SITC 5) và nhiên liệu (SITC 3) có xu hướng biến động không ổn định Mặc dù nhóm máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng (SITC 7) chưa chiếm tỷ trọng lớn, nhưng đã có sự gia tăng ổn định qua các năm.

Malaysia nhập khẩu từ Trung Quốc 5 nhóm hàng hóa với tỷ trọng tương đối đồng đều, trong đó hàng sơ cấp và hàng thâm dụng tài nguyên chiếm khoảng 20% Nhóm hàng thâm dụng kỹ năng và công nghệ trung bình chiếm khoảng 19%, trong khi hàng thâm dụng kỹ năng và công nghệ cao chiếm tỷ trọng cao nhất với 23% Các nhóm hàng hóa còn lại chiếm phần còn lại.

1.3.2.2 Giai đoạn xuất siêu sang Trung Quốc

Trong giai đoạn xuất siêu sang Trung Quốc, Malaysia ghi nhận tỷ trọng xuất khẩu máy móc thiết bị chiếm ưu thế so với các nhóm hàng khác Giá trị xuất khẩu nhóm hàng này đã liên tục tăng kể từ năm 1994, đạt đỉnh cao 60% vào năm 2006.

Cơ cấu nhập khẩu của Malaysia đang có xu hướng giảm tỷ trọng nhóm thực phẩm, đồ uống, nguyên liệu và nhiên liệu, trong khi các sản phẩm hóa học, hàng chế biến và máy móc thiết bị từ Trung Quốc ngày càng chiếm ưu thế Đến năm 2014, tỷ trọng nhập khẩu hàng sơ cấp từ Trung Quốc của Malaysia đã giảm mạnh, với nhóm hàng thâm dụng lao động và tài nguyên cũng như nhóm hàng thâm dụng kỹ năng và công nghệ thấp giảm xuống Ngược lại, nhóm hàng thâm dụng kỹ năng và công nghệ trung bình tăng lên, đặc biệt là nhóm hàng sử dụng kỹ năng lao động và công nghệ cao, hiện chiếm khoảng 50% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc Điều này cho thấy tỷ trọng hàng hóa công nghệ cao trong cơ cấu xuất khẩu và nhập khẩu của Malaysia với Trung Quốc đang tương đương nhau.

Từ năm 1995 đến nay, giá trị xuất siêu nhóm hàng máy móc thiết bị của Malaysia sang Trung Quốc không ngừng tăng, chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất siêu từ năm 2005 đến 2011 Từ năm 2012 trở đi, xuất siêu nhóm hàng này còn vượt mức xuất siêu chung, cho thấy vai trò quan trọng của máy móc thiết bị, đặc biệt là linh phụ kiện thiết bị điện-điện tử, trong việc bù đắp cho các nhóm hàng cần nhập khẩu và đạt thặng dư thương mại với Trung Quốc.

1.3.3 Giải pháp đổi mới cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Malaysia

1.3.3.1 Về giải pháp của Nhà nước

(1) Linh hoạt và nhạy bén trong chuyển đổi chiến lược phát triển kinh tế

Từ những năm 50-60, Malaysia đã triển khai Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, với sự hỗ trợ từ Chính phủ cho doanh nghiệp máy móc thiết bị và các ưu đãi thuế Chiến lược này đã giúp Malaysia phát triển thành nền kinh tế đa ngành, giảm thiểu sự phụ thuộc vào hàng tiêu dùng nhập khẩu, khai thác nguồn lực tự nhiên, tạo ra việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Yue, 2011).

Chính sách kinh tế mới (NEP) được Malaysia triển khai từ năm 1970, tập trung vào chiến lược công nghiệp hóa phục vụ xuất khẩu nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp và tạo cơ hội cho người dân bản địa khởi nghiệp Hai ngành dệt may và điện tử đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, mở rộng sản xuất hàng chế biến nhờ vào các Khu thương mại tự do Tuy nhiên, chính phủ Malaysia nhận thấy sự tăng trưởng trong lĩnh vực hàng chế biến còn hạn chế và chỉ giới hạn ở một số sản phẩm Do đó, nước này đã chuyển sang Chiến lược công nghiệp hóa phục vụ xuất khẩu giai đoạn hai, chủ yếu tập trung vào phát triển công nghiệp nặng với sự can thiệp trực tiếp của chính phủ trong nửa đầu những năm 80, theo "chính sách học tập các nước Đông Á".

THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM NHẰM HẠN CHẾ NHẬP SIÊU VỚI TRUNG QUỐC

GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU ĐỂ GIẢM NHẬP SIÊU VỚI TRUNG QUỐC

Ngày đăng: 28/05/2021, 21:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục thống kê, 2016, Báo cáo tóm tắt Năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, 2016 (Trích dẫn Bộ Kế hoạch và đầu tư, GSO, 2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt Năng suấtlao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, 2016
10. Bộ Thương mại, 2005, Đánh giá thực trạng và định hướng chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2005-2015, Bộ Thương mại, mã số 2005-78-011 (trích dẫn Bộ Thương mại, 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và định hướng chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2005-2015
Tác giả: Bộ Thương mại
Nhà XB: Bộ Thương mại
Năm: 2005
11. Nguyễn Kim Chi, 2006, Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Viện nghiên cứu thương mại (trích dẫn Nguyễn Kim Chi, 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Chi
Nhà XB: Viện nghiên cứu thương mại
Năm: 2006
12. Hạ Thị Thiều Dao, 2010, Một số giải pháp giảm nhập siêu của Việt Nam nhìn từ cơ cấu xuất nhập khẩu, Tạp chí Ngân hàng số 22/2010 (trích dẫn Hạ Thị Thiều Dao, 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp giảm nhập siêu của Việt Nam nhìn từ cơ cấu xuất nhập khẩu
Tác giả: Hạ Thị Thiều Dao
Nhà XB: Tạp chí Ngân hàng
Năm: 2010
13. Cao Anh Dũng, 2006, Phân tích sự dịch chuyển cơ cấu thương mại của Việt Nam và nguyên nhân chủ yếu của nó, Luận án tiến sĩ Đại học Kobe, Nhật Bản, 2006 (trích dẫn Cao Anh Dũng, 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích sự dịch chuyển cơ cấu thương mại của ViệtNam và nguyên nhân chủ yếu của nó
14. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, 2013 Tổng quan chính sách đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2012 (Trích dẫn Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan chính sáchđổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2012
15. Nguyễn Tiến Dũng, 2011, Tác động của Khu vực Thương mại Tự do ASEAN - Hàn Quốc đến thương mại Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 27 (2011) 219 231 (trích dẫn Nguyễn Tiến Dũng, 2011) ‐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của Khu vực Thương mại Tự do ASEAN -Hàn Quốc đến thương mại Việt Nam
16. Bùi Trường Giang, Phạm Sỹ An, 2011, Vấn đề nhập siêu 2011 nhìn từ yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế trong kế hoạch 2011-2015, Viện Kinh tế Việt Nam (Trích dẫn Bùi Trường Giang, Phạm Sỹ An, 2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhập siêu 2011 nhìn từ yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế trong kế hoạch 2011-2015
Tác giả: Bùi Trường Giang, Phạm Sỹ An
Nhà XB: Viện Kinh tế Việt Nam
Năm: 2011
17. Nguyễn Văn Hậu, 2013, Về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2013 (trích dẫn Nguyễn Văn Hậu, 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Hậu
Nhà XB: Tạp chí Lý luận chính trị
Năm: 2013
18. Nguyễn Thị Hiền, 2006, Phân tích thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn hiện nay, Tạp chí Ngân hàng Số 23/2010 (trích dẫnNguyễn Thị Hiền, 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: Tạp chí Ngân hàng
Năm: 2006
19. Hà Văn Hội, 2012, Chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam: Những bất lợi, khó khăn và biện pháp đối phó, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 28 (2012) 241 251 ‐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam: Những bất lợi, khó khăn và biện pháp đối phó
Tác giả: Hà Văn Hội
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh
Năm: 2012
20. Đỗ Văn Huân, 2009, Nhập siêu không thể coi thường, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 16/2009 (trích dẫn Đỗ Văn Huân, 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập siêu không thể coi thường
Tác giả: Đỗ Văn Huân
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế và dự báo
Năm: 2009
21. Lê Văn Hùng, 2010, Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo mô hình tăng trưởng bền vững, Báo cáo Hội thảo “Thương mại Việt Nam: những vấn đề về cơ cấu“, Viện Kinh tế Việt Nam, 2010 (trích dẫn Lê Văn Hùng, 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo mô hình tăng trưởng bền vững
Tác giả: Lê Văn Hùng
Nhà XB: Báo cáo Hội thảo “Thương mại Việt Nam: những vấn đề về cơ cấu“
Năm: 2010
22. Dương Duy Hưng, 2013, Cán cân thương mại Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, luận án Tiến sỹ kinh tế, Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Công thương, 2013 (trích dẫn Dương Duy Hưng, 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cán cân thương mại Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Dương Duy Hưng
Nhà XB: Viện nghiên cứu thương mại
Năm: 2013
23. Nguyễn Hữu Khải, Đào Ngọc Tiến, Vũ Thị Hiền, 2007, Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, NXB Thống kê, 2007 (trích dẫn Nguyễn Hữu Khải, 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Khải, Đào Ngọc Tiến, Vũ Thị Hiền
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
24. Đỗ Tuyết Khanh, 2014, Trung Quốc và thương mại đa phương, Báo Thời Đại Mới số tháng 7, 2014, tr49-75, (Trích dẫn Đỗ Tuyết Khanh, 2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và thương mại đa phương
25. Doãn Công Khánh, 2007, Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam- Trung Quốc trong tiến trình khu vực hóa, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 6 (67)- 2007 (trích dẫn Doãn Công Khánh, 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam- Trung Quốctrong tiến trình khu vực hóa
26. Thái Kiệt, 2007, Trung Quốc trong quan hệ với các nước Asean, Tạp chí Cộng sản, số 18 (138)/2007 (trích dẫn Thái Kiệt, 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc trong quan hệ với các nước Asean
27. Lương Văn Khôi và cộng sự, 2012, Phân tích định lượng để tìm ra nguyên nhân nhập siêu cao và kéo dài của nền kinh tế Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 2012 (trích dẫn Lương Văn Khôi, 2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích định lượng để tìm ra nguyênnhân nhập siêu cao và kéo dài của nền kinh tế Việt Nam
28. Nguyễn Văn Lập, 2016, Điều gì đang xảy ra với kinh tế Trung Quốc, NXB Thông Tấn, 2016 (Trích dẫn Nguyễn Văn Lập, 2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều gì đang xảy ra với kinh tế Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Văn Lập
Nhà XB: NXB Thông Tấn
Năm: 2016

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w