1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến nhân cách người cán bộ hậu cần quân đội nhân dân việt nam hiện nay

179 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến nhân cách người cán bộ hậu cần quân đội nhân dân việt nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Việt Hà
Người hướng dẫn PGS,TS Nguyễn Văn Thế, PGS,TS Doãn Thị Chín
Trường học Học Viện Chính Trị
Chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Thể loại Luận án tiến sĩ triết học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 27Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ HẬU CẦN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT 2.1 Nhân cách và ả

Trang 1

NGUYỄN VIỆT HÀ

ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

ĐẾN NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ HẬU CẦN QUÂN ĐỘI

NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Mã số: 922 90 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1: PGS,TS Nguyễn VănThế 2: PGS,TS, Doãn Thị Chín

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình

nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng Không trùng lắp với các công trình khoa học đã công bố.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Việt Hà

Trang 3

vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 27

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ HẬU CẦN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT

2.1 Nhân cách và ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa đến nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội

2.2 Những nhân tố quy định ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa đến nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 53

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TÙ ẢNH

HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ HẬU CẦN QUÂN ĐỘI NHÂN

3.1 Thực trạng ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

đến nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 71 3.2 Những vấn đề đặt ra từ ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa đến nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 100

Chương 4 GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH

CỰC, KHẮC ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NHẰM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ HẬU CẦN QUÂN ĐỘI

4.1 Giáo dục nâng cao nhận thức và định hướng phát triển nhân cách cho

cán bộ hậu cần quân đội từ ảnh hưởng của kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 110 4.2 Giải quyết hài hòa, hợp lý các mối quan hệ và kiện toàn, phát huy

vai trò các tổ chức trong quản lý, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm của cán bộ hậu cần quân đội từ ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 125 4.3 Xây dựng môi trường tạo thuận lợi và phát huy tính tự tu

dưỡng, rèn luyện trong phát triển nhân cách người cán bộ hậu

cần quân đội từ ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 141

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢCCÔNG

Trang 4

04 Quân đội nhân dân Việt Nam QĐNDVN

05 Quân ủy Trung ương QUTƯ

06 Xã hội chủ nghĩa XHCN

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Phát triển KTTT định hướng XHCN là đường lối chiến lược nhất quán,

là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở ViệtNam Phát triển KTTT định hướng XHCN đã tác động rất mạnh mẽ và toàndiện đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, các địa phương, khu vực, tổ chức và

cá nhân, đến Nhân cách con người nói chung, Nhân cách cán bộ nói riêng với

cả mặt tích cực và tiêu cực

Cán bộ hậu cần quân đội là lực lượng nòng cốt thực hiện tham mưu và bảođảm công tác hậu cần cho các nhiệm vụ của quân đội và tham gia phát triển kinh tếđất nước Do đặc thù công việc và các mối quan hệ của mình, cán bộ hậu cần quânđội chịu ảnh hưởng rất rõ rệt cả mặt tích cực và mặt tiêu cực của KTTT Nhân cáchcủa cán bộ hậu cần với hai yếu tố cấu thành, chủ yếu là phẩm chất và năng lực đangchịu ảnh hưởng hai mặt của KTTT định hướng XHCN ở nước ta

Thực tế những năm qua cho thấy, đại đa số cán bộ hậu cần quân đội đãnhận thức được những tác động tích cực của nền KTTT định hướng XHCN,

từ đó không ngừng phấn đấu tu dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độnăng lực để ngày càng hoàn thiện nhân cách đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.Nhưng vẫn còn một số cán bộ hậu cần quân đội nhận thức thiếu đầy đủ vềthực chất, mức độ, tác hại ảnh hưởng tiêu cực của KTTT định hướng XHCNđến năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, lối sống Trướctác động của những tiêu cực từ KTTT định hướng XHCN đã làm cho một bộphận cán bộ hậu cần quân đội thiếu tu dưỡng, rèn luyện đã không giữ vữngđược lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị, tha hóa về phẩm chất đạo đức,lối sống, nhất là không giữ được đức “Liêm” đức “Kiệm” của người cán bộhậu cần Để phát triển, hoàn thiện nhân cách người cán bộ hậu cần quân độiđáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình hiện nay, đòi hỏi phải tạo dựng,

Trang 6

phát huy được những ảnh hưởng tích cực, đồng thời khắc phục những ảnhhưởng tiêu cực của KTTT đến nhân cách của họ một cách khoa học, hiệu quả.

Trước tình hình đặt ra như vậy, nhưng về mặt khoa học cho đến nay chưa

có công trình khoa học và luận án nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, hệthống và toàn diện về ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN đến nhân cáchngười cán bộ hậu cần QĐNDVN Bởi vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề nàylàm đề tài luận án là có tính cấp thiết và không trùng lặp với các công trình khoahọc, các luận án đã được công bố

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về ảnh

hưởng của KTTT định hướng XHCN ở nước ta đến nhân cách người cán bộhậu cần quân đội; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cơ bản phát huynhững ảnh hưởng tích cực, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của KTTTđịnh hướng XHCN ở nước ta nhằm xây dựng và phát triển nhân cách ngườicán bộ hậu cần quân đội

* Nhiệm vụ

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Làm rõ thực chất ảnh hưởng của KTTT và xác định những nhân tố quyđịnh ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN đến nhân cách người cán bộ hậucần QĐNDVN

Đánh giá thực trạng, nguyên nhân, xác định những vấn đề đặt ra từảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN đến nhân cách người cán bộ hậucần QĐNDVN

Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực,khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của KTTT định hướng XHCN ở nước tanhằm xây dựng và phát triển nhân cách người cán bộ hậu cần QĐNDVN

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trang 7

* Đối tượng nghiên cứu: Thực chất và những nhân tố quy định ảnh hưởng

của KTTT định hướng XHCN đến nhân cách người cán bộ hậu cần QĐNDVN

* Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Nghiên cứu những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của

KTTT định hướng XHCN ở nước ta đến nhân cách (giới hạn ở phẩm chấtchính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; năng lực nhận thức, trình độ chuyên mônnghiệp vụ) người cán bộ hậu cần ở các đơn vị trong quân đội Trọng tâm là cán

bộ hậu cần cấp Trung, Sư đoàn và tương đương

Về không gian: Tập trung nghiên cứu, khảo sát ở một số đơn vị phía

Bắc: Quân khu 1, Quân khu 2, Quân khu 3, Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Cácđơn vi của Tổng cục Hâu cần và có sử dụng số liệu của một số Quân chủng,Binh chủng, Học viện Hậu cần để tham chiếu

Về thời gian: Các tư liệu, số liệu sử dụng trong luận án được giới hạn

trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Luận án dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về vấn đề xây dựng nhân cách cán bộ và nhân cách người cán bộ hậu cầnquân đội Quan điểm của ĐCSVN về xây dựng và phát triển nền KTTT địnhhướng XHCN, về vấn đề con người và phát triển con người Việt Nam tronggiai đoạn cách mạng mới Đồng thời, luận án kế thừa và phát triển kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài

* Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn thực hiện chức trách, nhiệm vụ và phẩm chất chính trị, tưtưởng, đạo đức, lối sống, trình độ nhận thức và năng lực chuyên mônnghiệp vụ của người cán bộ hậu cần quân đội trong điều kiện phát triển nềnKTTT định hướng XHCN, ở một số cơ quan, đơn vị hậu cần tiêu biểu trong

Trang 8

toàn quân Những tư liệu tổng kết, số liệu thống kê của cơ quan chức năng,đơn vị và kết quả điều tra xã hội học, khảo sát thực tế của tác giả ở một sốđơn vị phía Bắc.

* Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứucủa khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó chú trọng các phương pháp

cụ thể như; phương pháp lịch sử - lôgic, phương pháp phân tích - tổng hợp, sosánh, hệ thống, tổng kết thực tiễn, điều tra khảo sát, phương pháp hoạt động -giá trị - nhân cách và phương pháp chuyên gia để làm sáng tỏ góc độ triết họccủa vấn đề nghiên cứu

5 Những đóng góp mới của luận án

Bước đầu làm rõ thực chất và những nhân tố quy định ảnh hưởng củaKTTT định hướng XHCN đến nhân cách người cán bộ hậu cần QĐNDVN.Khảo sát đúng thực trạng và xác định những vấn đề đặt ra từ ảnh hưởngcủa KTTT định hướng XHCN ở nước ta đến nhân cách người cán bộ hậu cầnquân đội

Đề xuất những giải pháp cơ bản có tính khả thi cao, phù hợp với đặcđiểm hoạt động hậu cần quân đội trong tình hình mới, phát huy những ảnhhưởng tích cực, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của KTTT định hướngXHCN ở nước ta nhằm xây dựng và phát triển nhân cách người cán bộ hậucần quân đội QĐNDVN

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

* Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ

sung, phát triển một số vấn đề lý luận khoa học về ảnh hưởng của KTTTđịnh hướng XHCN ở nước ta đến nhân cách người cán bộ hậu cần quânđội Đồng thời cung cấp luận cứ khoa học cho hoạt động thực tiễn để phát

Trang 9

huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của KTTT địnhhướng XHCN ở nước ta nhằm xây dựng và phát triển nhân cách người cán

bộ hậu cần QĐNDVN

* Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp, bổ sung các tư liệu làm tài liệu tham

khảo trong giáo dục, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, bồi dưỡng nâng caonhận thức cho đội ngũ cán bộ, nhân viên hậu cần cũng như cán bộ, chiến sĩtrong quân đội Cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định chủtrương, biện pháp để lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong quân đội đổi mới côngtác tổ chức, lãnh đạo, quản lý, đào tạo, định hướng, phát triển nhân cách chođội ngũ cán bộ hậu cần đáp ứng với yêu cầu xây dựng quân đội, xây dựngngành Hậu cần QĐNDVN trong điều kiện phát triển nền KTTT định hướngXHCN ở nước ta hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Phần mở đầu; Nội dung bố cục thành 4 chương (9 tiết); kếtluận; danh mục các công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tàiluận án; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đến xã hội và nhân cách con người

* Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan tới ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến đời sống xã hội nói chung

Từ khi thực hiện đổi mới (1986) tới nay có nhiều tác giả nghiên cứuhoặc đề cập đến vấn đề tác động, ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN ởnước ta thông qua các bài viết, sách hay công trình nghiên cứu Tiêu biểu như

tác giả Vũ Văn Viên (2014) ở công trình, Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vấn đề thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội [114], cho rằng các

chế độ chính trị khác nhau sẽ định hướng sự vận động, phát triển của KTTTtheo những nội dung, đặc điểm khác nhau nhằm đạt những mục tiêu chính trị,kinh tế, xã hội mà quốc gia tự lựa chọn, bảo đảm sự phù hợp với điều kiện cụthể của quốc gia đó Việc thực hiện nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là

sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với quy luật tất yếu khách quan của thời đại vàkhông đi ngược với mục tiêu XHCN mà chúng ta đang xây dựng Tuy nhiênquá trình phát triển nền KTTT phải gắn với việc giải quyết vấn đề thực hiệncông bằng và tiến bộ xã hội, đây không chỉ thể hiện sự khác biệt về mục đíchcủa nền KTTT ở nước ta với các nước tư bản mà còn thể hiện mục tiêu chungcủa Đảng và sự văn minh của chế độ xã hội - XHCN mà chúng ta đang xây

dựng Tác giả Nguyễn Hồng Sơn (2015) với công trình khoa học, Vấn đề công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay [94] Từ cách tiếp cận tính chất và đặc trưng của nền KTTT

Trang 11

ở nước ta hiện nay, tác giả cho rằng KTTT định hướng XHCN là một hình thứcđặc thù của KTTT Định hướng XHCN là tính chất của KTTT ở nước ta, phảnánh tính định hướng chính trị của KTTT ở Việt Nam trong thời đại ngày nay Đặctrưng cơ bản KTTT định hướng XHCN ở nước ta là; mục đích của KTTT là pháttriển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với xây dựng quan hệ sản xuất mới XHCN,thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, là nềnkinh tế đa dạng các hình thức sở hữu nhưng sở hữu toàn dân là chủ đạo, nhiềuthành phần kinh tế nhưng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng của nềnkinh tế, nền kinh tế có sự quản lý của nhà nước XHCN Tác giả đã đưa ra nhữngquan niệm về công bằng xã hội và công bằng xã hội trong nền KTTT định hướngXHCN ở nước ta Theo đó, công bằng xã hội hiện nay là bảo đảm giữa quyền lợi

và nghĩa vụ giữa cống hiến và hưởng thụ, bảo đảm cho mọi con người trong xãhội đó có điều kiện phát triển bản thân và thụ hưởng những thành quả mà KTTTmang lại, phân biệt và tránh đồng nhất giữa công bằng và cào bằng, có như vậymới thúc đẩy được con người và xã hội phát triển

KTTT hay là KTTT định hướng XHCN cũng không hắn là một nền kinh tếhoàn hảo chỉ toàn những yếu tố tích cực, bên cạch những ảnh hưởng tích cựccòn có những yếu tố tiêu cực (hay thường gọi là mặt trái) ảnh hưởng lớn đến

mọi mặt của đời sống xã hội Trong công trình khoa học, Phân hóa giàu nghèo trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta - thực trạng, xu hướng biến động và giải pháp [56], của Nguyễn Thị Mai Hồng (2000) cho rằng

-phân hóa giàu nghèo là hậu quả chính trị kinh tế - xã hội, của sự phát triển KTTT

ở mọi quốc gia Tuy nhiên, ở đây KTTT chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ, đểgiải quyết sự phân hóa giàu nghèo còn phụ thuộc rất lớn vào bản chất mỗi chế

độ kinh tế - xã hội Bước chuyển sang nền KTTT ở nước ta cũng có những ảnhhưởng tới quá trình phân hóa giàu nghèo, về mặt tích cực; tiềm năng của mỗi

cá nhân, mỗi nhóm xã hội và của cả cộng đồng đã được đánh thức dậy, được

Trang 12

khai thác và phát huy trong một cơ chế cởi mở được dẫn dắt bởi ý thức, dân cógiàu lên thì nước mới mạnh đây là cái được cơ bản có ý nghĩa xét về mặt xãhội…Cùng với việc phát triển KTTT phải nhận diện một cách khoa học, tácđộng tiêu cực của sự phân hóa giàu nghèo với tính cách là một sự bất bìnhđẳng xã hội với những thủ đoạn làm giàu bất hợp pháp, lối kinh doanh “chộpgiật” và những tệ nạn xã hội…hậu quả của nó đem lại đi ngược với bản chất xãhội tốt đẹp mà chúng ta đang xây dựng Như vậy, phân hóa giàu nghèo khônghoàn toàn do KTTT mang lại, nhưng KTTT là một trong những tác nhân chủyếu gây nên sự phân hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng xã hội.

Nghiên cứu mối quan hệ giữa thực hiện tiến bộ xã hội với KTTT, tác giả

Nguyễn Hữu Vượng (2001) với công trình, Tiến bộ xã hội trong điều kiện kinh

tế thị trường và biểu hiện của nó ở nước ta hiện nay [115] Về tính hai mặt của

KTTT và tác động của nó đến tiến bộ xã hội, mặt tích cực là tạo các điều kiện vềkinh tế để thực hiện các chủ trương tiến bộ xã hội của Đảng và Nhà nước như: Y

tế, giáo dục, quốc phòng an ninh, thực hiện các chính sách xã hội… cùng với đó

là con người được tự do phát triển cá nhân, phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo,nâng cao nhận thức, mở rộng các quan hệ trong đời sống xã hội Mặt tiêu cực làlàm nảy sinh những hệ lụy, tác hại mà mặt trái của KTTT đem lại như bệnh tật,phân hóa giàu nghèo, vấn đề môi trường sinh thái, suy thoái về đạo đức, lối sốngcùng các tệ nạn xã hội khác nảy sinh

Công trình khoa học, Những tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường ở Việt Nam ) [95], của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc

gia do Hà Huy Thành (chủ biên), (2000 Đây là tập hợp các bài viết, đề cập sâurộng tới nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như vấn đề đói nghèo, y tế, buôn lậu,

tệ nạn xã hội…Về cơ bản các tác giả đều thống nhất những tích cực của KTTTđem lại là tạo nền tảng cơ sở vật chất, kỹ thuật, phát huy tối đa nguồn lựccon người Tuy nhiên, KTTT đã đưa đến những hệ lụy to lớn như; những tác

Trang 13

động tiêu cực của KTTT là những tác động của quan hệ hàng hóa - tiền tệxâm nhập vào và gây ra những tệ nạn trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội,chính trị, môi trường…hình thành nên những cản trở lớn, nhỏ đối với bảnthân sự phát triển, hay: “Qua khảo sát; nơi nào kinh tế thị trường càng pháttriển thì mức độ phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo càng diễn ra mạnh

mẽ hơn Dường như phân tầng xã hội, phân hóa giàu - nghèo đã là bạn đồnghành của kinh tế thị trường” [95, tr.45], KTTT tác động tới mọi mặt của đờisống xã hội Tuy nhiên, ở các lĩnh vực, điều kiện, môi trường khác nhau thimức độ ảnh hưởng cũng khác nhau

Cùng hướng nghiên cứu trên, tác giả Nguyễn Văn Ngừng (2009) với công

trình, Tác động của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đối với quốc phòng, an ninh ở Việt Nam [83] Những tác động tích cực, sự phát triển của

KTTT theo hướng mở sẽ thúc đẩy kinh tế nước ta phát triển, trên cơ sở đó đờisống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao, lòng tincủa nhân dân đối với Đảng được tăng cường là cơ sở để tăng cường tiềm lựcquốc phòng, an ninh Đây cũng là cơ sở để xây dựng quân đội nhân dân, công

an nhân dân, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Tuy nhiên,KTTT còn những hạn chế tác động tiêu cực đối với quốc phòng, an ninh ởnước ta như: Tác động đến vấn đề chính trị, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩtrong lực lượng vũ trang; tác động của phân hóa giàu nghèo; ảnh hưởng củađầu tư đối với quốc phòng, an ninh; những mặt hạn chế của mở rộng kinh tếđối ngoại; vấn đề cạnh tranh; môi trường; đời sống văn hóa; tệ nạn xã hội; tộiphạm kinh tế… Những yếu tố trên là sâu chuỗi của quá trình tác động đếnviệc tăng cường sức mạnh quận sự quốc gia cũng như quốc phòng và an ninh.KTTT và hội nhập kinh tế quốc tế, đã tác động đến mọi mặt của đời sống xãhội, tới những nhân tố vật chất và tinh thần cấu thành sức mạnh quân sự quốcgia hay tiềm lực quốc phòng, an ninh ở nước ta

Trang 14

Qua khảo cứu các công trình khoa học ở trên cho thấy, các tác giả đều nhấtquán khi xem KTTT định hướng XHCN là công cụ, phương tiện để thực hiệnmục tiêu CNXH KTTT là sản phẩm chung của nhân loại, nhưng tùy thuộcđịnh hướng chính trị của mỗi quốc gia mà tính chất của nền KTTT có sự khácnhau Đối với nước ta thực hiện nền KTTT là hợp với quy luật phát triển đấtnước, xu thế thời đại, không mâu thuẫn với CNXH, đúng với lý luận của cácnhà kinh điển Mác - Lênin Các tác giả đều cho rằng, những ảnh hưởng củaKTTT định hướng XHCN đến quá trình thực hiện nhiệm vụ, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc là khá đậm nét và được biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống xãhội KTTT định hướng XHCN đã góp phần to lớn cho ổn định đất nước, tạođiều kiện về mặt vật chất để thực hiện mục tiêu xã hội theo định hướng XHCN,

là cơ sở và động lực để xây dựng con người trong thời kỳ quá độ lên CNXH ởnước ta hiện nay Tuy nhiên, nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta vẫn cònnhiều khiếm khuyết, đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tiêucực tới mọi mặt đời sống xã hội trong đó có nhân cách con người

* Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan tới ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nhân cách con người

Về KTTT và ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN đối với sự hìnhthành và phát triển nhân cách nói chung, cũng được rất nhiều nhà nghiêncứu trong và ngoài nước quan tâm với các góc độ tiếp cận khác nhau, do

những mục đích nghiên cứu nhất định Ở nước ngoài, các nhà khoa học

Trung Quốc đã bàn về đạo đức trong điều kiện KTTT, các quan điểm này

được tập hợp trong công trình, Những vấn đề đạo đức trong điều kiện nền kinh tế thị trường - Từ góc nhìn của các nhà khoa học Trung Quốc [107].

Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia (1996) Có nhiều ý kiếnkhác nhau về quan hệ giữa đạo đức và KTTT nói chung và KTTT xã hộichủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc nói riêng Một số tác giả cho rằng,

Trang 15

đạo đức và KTTT độc lập nhau, không thể có đạo đức trong KTTT Sốkhác lại quan niệm KTTT có tác dụng tích cực đối với đạo đức, nâng caotrình độ đạo đức của xã hội, nguyên nhân của sự suy thoái đạo đức hiệnnay là do kết quả chế độ xã hội, truyền thống văn hóa Trung Quốc chưathích hợp với sự phát triển KTTT Số còn lại cho rằng tác động của KTTTđối với luân lý đạo đức xã hội có tính hai mặt; tích cực và tiêu cực Nhìnchung các quan điểm trình bày, phân tích sâu sắc và tranh luận, phản biệntrên tinh thần khoa học đã làm rõ những khía cạnh khác nhau của đạo đứctrong nền KTTT.

Ở trong nước, từ khi thực hiện đổi mới tới nay cũng có nhiều tác giả

nghiên cứu hoặc đề cập đến vấn đề nhân cách trong KTTT như: Nguyễn Chí

Mỳ (1999), Sự biến đổi thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay [81].

Theo tác giả, KTTT ở nước ta khác với KTTT tư bản chủ nghĩa, KTTT ởViệt Nam được định hướng chính trị rõ ràng, sử dụng KTTT làm phươngtiện để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, vănminh, tạo tiền đề vật chất để thực hiện quá độ lên CNXH Tuy nhiên, khinước ta thực hiện nền KTTT thì thang giá trị, chuẩn mực giá trị đạo đức xãhội có những thay đổi nhất định, có những giá trị trước đây được coi như thứyếu nay lại được đề cao và ngược lại Đây là sự thay đổi khách quan, phùhợp với điều kiện phát triển của nền KTTT Tác giả đã đưa ra những tácđộng, ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của nền KTTT đến đạo đức, xác địnhnhững thang, chuẩn mực giá trị đạo đức mới cần xây dựng cho người cán bộquản lý của nước ta hiện nay Trên cơ sở những vấn đề lý luận và biểu hiệncủa vấn đề đạo đức cán bộ quản lý từ khi thực hiện nền KTTT, tác giả đưa ranhững giải pháp nhằm xây dựng và phát triển nhân cách người cán bộ quản

lý đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn đất nước

Trang 16

Trịnh Duy Huy (chủ biên), (2009), Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [57] Trên cơ sở làm rõ những

tác động của KTTT đối với đạo đức, tác giả khẳng định “Với tư cách là mộtphương tiện hữu hiệu phát triển kinh tế, một động lực thúc đẩy sự tiến bộ xãhội, KTTT có tác động tích cực đến sự phát triển và tiến bộ đạo đức Tuynhiên, KTTT không phải là vạn năng, tự nó không giải quyết được các vấn đề

xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến lĩnh vực đạo đức, lối sống và chuẩn giá trị xãhội, làm suy thoái đạo đức xã hội” [57, tr.39] Khi nói tới ảnh hưởng củaKTTT, nhất là KTTT định hướng XHCN đối với đạo đức, cần phải xem xéttrên cả hai mặt đó, phải xuất phát từ thực tiễn và từ cơ chế vận hành của KTTT

Về vấn đề đạo đức trong điều kiện KTTT, các nhà lý luận Việt Nam trình

bày trong công trình, Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay [22], do Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc (đồng

chủ biên), (2003), Các tác giả đã phân tích những khía cạnh xung quanh một

số vấn đề lý luận, thực trạng và những phương hướng, giải pháp để xây dựngđạo đức trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay khá sâu sắc, nhưng chưa hệthống vì đây là tập hợp những bài viết riêng lẻ của nhiều tác giả với nhữngquan niệm khác nhau Xem xét sự biến động của đạo đức trong nền KTTT, Tácgiả Nguyễn Trọng Chuẩn đã đưa ra một số biểu hiện của sự suy thoái đạo đứctrong xã hội, nguyên nhân cơ bản dẫn tới các biểu hiện đó và cho rằng sự biếnđộng trong lĩnh vực đạo đức ở các mức độ khác nhau đều liên quan đến sự biếnđộng trong điều kiện kinh tế - xã hội thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế tậptrung quan liêu, bao cấp sang nền KTTT và khẳng định “Vấn đề chỉ còn là làmsao để giảm đến mức tối thiểu những mặt trái của kinh tế thị trường và sử dụngđến mức tối đa những yếu tố tích cực và sức mạnh của nó…Nhiệm vụ đặt rađối với Đảng và Nhà nước cũng như đối với toàn thể nhân dân ta là làm saovừa phát triển được kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa giữ

Trang 17

được những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, vừa xây dựng được cácquan hệ và phẩm chất đạo đức mới phù hợp với thời đại mới của sự phát triểnkinh tế - xã hội” [22, tr.19]

Cũng ở công trình trên tác giả Phạm Văn Đức với bài, Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, từ luận giải những quan điểm của các nhà kinh điển, mọi hành

vi và chuẩn mực đạo đức đều phải được đánh giá thông qua trục lợi ích, điềuquan trọng đó là lợi ích cá nhân hay lợi ích cộng đồng mà căn cứ vào đó đểđánh giá hành vi và chuẩn mực đạo đức ấy, tác giả cho rằng: Những lợi ích cánhân của từng người cụ thể với tính cách là thành viên của xã hội, nếu khôngđối lập với lợi ích xã hội thì luôn là động cơ của những hành vi đạo đức chânchính…Điều đó không có nghĩa đạo đức gạt bỏ hết lợi ích cá nhân Trái lại,trong phạm vi hợp lý và chính đáng, đạo đức vẫn cho phép con người đạt tớinhững lợi ích cá nhân

Đề cập tới vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách

trong cơ chế thị trường cũng ở công trình, Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay [22],tác giả Nguyễn Văn Phúc cho

rằng “khi phân tích vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhâncách trong tình hình hiện nay, không thể không tính đến mối liên hệ giữanhân cách và cơ chế thị trường, cơ chế đang chi phối mọi lĩnh vực hoạt độngcủa xã hội và con người” [22, tr 215] Trong những điều kiện của kinh tế -

xã hội như vậy, sự phát triển của nhân cách không tránh khỏi những tác động

cả từ phía tích cực lẫn tiêu cực, những phẩm chất như sự khôn ngoan tỉnhtáo, mạnh dạn, mạo hiểm, kiên trì, linh hoạt…trở thành yêu cầu và nét nổibật, tiêu biểu cho nhân cách trong cơ chế thị trường Tuy nhiên, khi lợi ích

cá nhân che lấp lương tâm và trách nhiệm đạo đức thì sự khôn ngoan tỉnhtáo, mạnh dạn, linh hoạt chúng dễ biến thành phương tiện và kích thích cho

Trang 18

những thói xấu đạo đức như tham ô, lừa đảo, tội ác…dẫn đến sự méo mónhân cách.

Nghiên cứu về con người, cá thể và cá nhân, vấn đề nhân cách, cấu trúc

nhân cách, sự hình thành và phát triển nhân cách, trong công trình, Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách [46], do Phạm Minh Hạc và Lê Đức Phúc (chủbiên), (2004), tác giả khẳng định “Nhân cách hình thành và phát triển bằngcác hoạt động, trong đó có một hoạt động có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đốivới sự hình thành và phát triển nhân cách là hoạt động giao tiếp, vì tất cả cácmối quan hệ có ở con người, quan hệ người - vật, quan hệ người - máy…đều gắn bó bằng cách này hay cách khác với quan hệ người - người Nhất làtrong thời đại thông tin, kinh tế tri thức, các quan hệ giao tiếp người - ngườicàng có ý nghĩa hơn bao giờ hết” [46, tr 28] Như vậy, trong quá trình thựchiện KTTT, các quan hệ người với người ngày càng mở rộng trong phạm viquốc gia và quốc tế, nhân cách cũng vậy sẽ có những biến đổi nhất địnhcùng với sự biến đổi của điều kiện đó

Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau về nhân cách, các nhà nghiên cứu đãphân tích, luận giải một cách khoa học về khái niệm, cấu trúc, quy luật của

sự hình thành và phát triển nhân cách, đặc biệt là những biến đổi về thanggiá trị trong đánh giá nhân cách trước những ảnh hưởng của KTTT địnhhướng XHCN Trên cơ sở nền tảng của điều kiện kinh tế, sự tiến bộ chungcủa nhân loại, thông qua trục lợi ích của con người, các tác giả đã đánh giá

sự tác động, ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN và đưa ra những địnhhướng, nội dung, chuẩn mực giá trị nhân cách cho con người nói chung haycon người ở những lĩnh vực cụ thể, đó là con người mới XHCN, con ngườigắn với điều kiện hiện thực ở những giai đoạn cụ thể của sự nghiệp cáchmạng Đây là những tài liệu quý giá để tác giả kế thừa, phát triển và luậngiải các nội dung trong luận án

Trang 19

1.1.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan tới ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đến nhân cách người cán bộ trong quân đội, nhân cách người cán bộ hậu cần

* Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan tới ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đến nhân cách người cán bộ trong quân đội nói chung

Con người là yếu tố cốt lõi quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quânđội Nghiên cứu phát triển toàn diện con người trong hoạt động quân sự, trong

đó nghiên cứu về nhân cách đội ngũ cán bộ là vấn đề nội lực cơ bản, đã đượccác nhà khoa học đặc biệt quan tâm Đề cập đến giá trị nhân cách, định hướnggiá trị nhân cách cho quân nhân trong giai đoạn cách mạng mới, được trình bày

trong cuốn sách, Định hướng giá trị nhân cách đội ngũ sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [99], do Tổng cục Chính trị biên soạn, (2000).

Định hướng giá trị nhân cách cho sĩ quan trẻ luôn vận hành theo quy luậtchung; đó là sự tác động của giáo dục xã hội kết hợp với hoạt động tích cựccủa cá nhân; chịu sự chế ước, chi phối của điều kiện chính trị, kinh tế, xãhội (kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, pháp luật của nhànước, yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội, điều lệnh và kỷ luật quân sự) Trong

đó cũng đề cập nhiều đặc trưng định hướng giá trị nhân cách cho sĩ quantrẻ hiện nay, nhưng đặc trưng cơ bản nhất đó là chịu sự tác động mạnh mẽcủa những biến đổi trong thời kỳ đổi mới Các tác giả cũng đưa ra nhữngnhóm nhân tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị nhân cách cho sĩ quan trẻ hiệnnay; nhóm nhân tố thuộc môi trường rộng ở phạm vi xa gồm: Tình hình quốc tế

và tính chất thời đại hiện nay; nhóm nhân tố thuộc môi trường ở phạm vi gầnnhư các vấn đề chính trị, kinh tế của đất nước và nhiệm vụ của quân đội; nhómnhân tố thuộc môi trường hẹp gồm: Các quan hệ xã hội liên quan đến hoạt

Trang 20

động cụ thể thường ngày của đội ngũ sĩ quan trẻ Vì vậy, có thể thấy việc địnhhướng giá trị nhân cách cho sĩ quan trẻ hiện nay chịu sự chi phối, ảnh hưởngrất lớn của nền KTTT và cơ chế thị trường.

Khi đề cập tới bản chất giai cấp của quân đội tác giả Nguyễn Văn Thế

(2000) với công trình, Tăng cường bản chất giai cấp công nhân của quân đội dưới tác động của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

[96] Tác giả cho rằng KTTT đã làm bung ra, phơi bày mọi mối quan hệ xã hội, nóđặt lại rất nhiều vấn đề một cách cơ bản từ quan niệm lý luận về CNXH, xây dựngĐảng, xây dựng Nhà nước đến xây dựng con người, đạo đức, lối sống, nhân cách,phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học “Sự phát triển của nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những yếu tố thúc đẩy sự hình thành mộtthế hệ thanh niên có chất lượng tổng hợp ngày càng cao…Thế hệ thanh niên ngàynay rất năng động, sáng tạo, nhạy bén có khả năng tiếp cận nhanh với khoa học kỹthuật hiện đại” [96, tr 54], quá trình tác động cũng đa dạng, hết sức phức tạp và khólường, nhất là những tác động tiêu cực “Hậu quả tác động bởi mặt trái của nền kinh

tế thị trường tới bản chất giai cấp công nhân của quân đội có những cái được thẩmthấu, tích tụ dần dần và được ngụy trang một cách tinh vi, khiến cho sự quan sátthông thường khó có thể nhận biết được…” [96, tr 47-48] Nội dung luận án đãluận giải những tác động có tính hai mặt của KTTT đến bản chất giai cấp côngnhân của quân đội; đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm tăng cườngbản chất giai cấp công nhân của quân đội trước tác động của nền kinh tế nhiềuthành phần ở nước ta

Nghiên cứu ảnh hưởng của mặt trái KTTT đến đạo đức người cán bộ

trong quân đội, tiêu biểu có; Nguyễn Đình Tu (2008) với đề tài, Nghiên cứu các giải pháp phòng, chống tác động, ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường đến đạo đức cán bộ trong quân đội hiện nay [103] Các tác giả đã luận giải làm rõ

mặt trái của cơ chế thị trường, tác động của nó và cho rằng cơ chế tác động, ảnh

Trang 21

hưởng theo hướng “Thẩm thấu ý thức, lây lan tình cảm, bắt chước hành vi đạo đứctheo hướng lệch chuẩn ” [103, tr 31], đưa ra quan niệm phòng chống tác động, ảnhhưởng của mặt trái KTTT đến đạo đức cán bộ trong quân đội, những nhân tố chiphối đến phòng, chống tác động, ảnh hưởng của mặt trái KTTT đến đạo đức cán bộtrong quân đội là cuộc đấu tranh phức tạp và lâu dài, trong đó các chủ thể (cá nhân

và tổ chức) phải sử dụng tổ hợp các biện pháp chủ động, tích cực, có tổ chức ngănchặn nguyên nhân đưa đến và khắc phục nguyên nhân dung dưỡng sự tác động, ảnhhưởng của mặt trái KTTT, bảo đảm lành mạnh hóa đời sống đạo đức cán bộ quânđội, trong nền KTTT Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực trạng đề tài đưa ranhững giải pháp cơ bản phòng, chống tác động, ảnh hưởng của mặt trái KTTT đếnđạo đức cán bộ quân đội ta hiện nay

Đề cập tới lợi ích quân nhân trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước

ta, tác giả Đinh Quang Tuấn (2004) với đề tài, Lợi ích quân nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam hiện nay [104] Tác

giả cho rằng nền KTTT định hướng XHCN có tác động rất lớn đến nâng caotính tích cực con người, thông qua cơ chế bảo đảm lợi ích, đẩy lùi tính bảo thủ,trì trệ, dựa dẫm, ỷ lại Trong điều kiện mới này, mỗi quân nhân sẽ bộc lộ hếttiềm năng, luôn trăn trở, tìm tòi, đổi mới cách nghĩ, cách làm để đạt hiệu quảcao nhất trong hoạt động Lợi ích đang là chất men kích thích trực tiếp mạnh

mẽ, chuyển hóa những đòi hỏi khách quan thành động cơ, lý tưởng thúc đẩyquân nhân tích cực thực hiện nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó

Như vậy, với đặc trưng của lĩnh vực quân sự - lĩnh vực đặc thù, ảnhhưởng của KTTT cũng được các tác giả nghiên cứu khá kĩ và tiếp cận ở nhiềukhía cạnh khác nhau, trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử Những cơ sở lý luận và thực tiễn cùng các giải pháp, phát huy nhân

tố tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến nhân cách người cán bộtrong quân đội Phần lớn các công trình tiếp cận ở góc độ coi KTTT là sự tồn

Trang 22

tại tất yếu, là nền tảng của điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành và pháttriển ý thức xã hội KTTT đã tạo động lực lợi ích, trong đó lợi ích tinh thần làcăn bản, trung tâm Đây là những tư liệu, tài liệu quý để tác giả kế thừa, bổsung và phát triển trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình.

* Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan tới ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nhân cách cán bộ hậu cần quân đội

Quan niệm về cán bộ hậu cần quân đội Nhìn nhận cán bộ hậu cần ở phương diện vị trí và nhiệm vụ, tác giả Hà Nguyên Cát (2000) với đề tài, Vấn

đề đạo đức cách mạng của người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam trong điều kiện hiện nay [17], cho rằng cán bộ hậu cần là một bộ phận của cán

bộ QĐNDVN được giao trách nhiệm trực tiếp chỉ huy, lãnh đạo, quản lý hoạtđộng hậu cần; họ là lực lượng nòng cốt, đảm bảo cho ngành hậu cần hoànthành tốt chức năng, nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho quân đội trong mọi tìnhhuống Với cách tiếp cận về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác củađội ngũ cán bộ hậu cần, tác giả Trần Như Chủ (2001) với đề tài, Đặc điểm phát

triển đạo đức cách mạng của người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam [21], lại quan niệm cán bộ hậu cần QĐNDVN là một bộ phận cán bộ của

ĐCSVN và QĐNDVN được lựa chọn giao nhiệm vụ hoạt động trong hệ thống

tổ chức hậu cần Khi nghiên cứu cán bộ hậu cần ở các đơn vị Sư đoàn, tác giả

Nguyễn Đức Tưởng (2015) với đề tài, Xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần ở các

Sư đoàn bộ binh đủ quân trong Quân đội nhân dân Việt Nam [106], đã khẳng

định: Đội ngũ cán bộ hậu cần ở các Sư đoàn bộ binh đủ quân là những sĩ quan,quân nhân chuyên nghiệp, được đào tạo, bồi dưỡng có trình độ học vấn vàchuyên môn nghiệp vụ hậu cần được bổ nhiệm giữ các chức danh của cán bộhậu cần các cấp ở Sư đoàn; là những người trực tiếp nghiên cứu quán triệt,tham mưu, đề xuất, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện và kiểm tra, quản lýcác mặt công tác hậu cần ở Sư đoàn theo phạm vi chức trách, nhiệm vụ, nhằm

Trang 23

thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công tác hậu cần ở Sư đoàn và chịu trách nhiệmtrước cấp ủy, người chỉ huy đơn vị về kết quả thực hiện công tác hậu cần

Đặng Nam Điền (2016) với đề tài, Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần quân đội trong tình hình mới [43], đã đưa ra quan niệm: Đội ngũ cán

bộ hậu cần quân đội là một bộ phận sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộcdiện cơ quan cán bộ quản lý, được bổ nhiệm giữ các chức vụ khác nhau tại các

cơ quan đơn vị hậu cần trong toàn quân; là người trực tiếp tham mưu và tổchức thực hiện các mặt công tác hậu cần theo phạm vi chức trách, nhiệm vụđược giao, bảo đảm thực hiện thắng lợi công tác hậu cần của đơn vị, góp phầnxây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.Trên cơ sở những vấn đề lý luận, các tác giả đưa ra quan niệm và những vấn đề cótính nguyên tắc trong xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần quân đội, xác định nhữngtiêu chí cơ bản đánh giá công tác xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần quân đội Đó

là cơ sở khoa học để tác giả đánh giá khách quan thực trạng xây dựng đội ngũ cán

bộ hậu cần quân đội, chỉ rõ nguyên nhân, rút ra một số bài học kinh nghiệm Tácgiả cũng đưa ra một số dự báo sự phát triển của tình hình nhiệm vụ, xác địnhphương hướng, yêu cầu và đề xuất những giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ cán

bộ hậu cần quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Có giải phápnâng cao nhận thức, phát huy vai trò các tổ chức; thực hiện quy hoạch tạo nguồncán bộ; nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hậu cần; tăngcường kiểm tra giám sát công tác xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần

Như vậy, qua khảo sát các công trình nghiên cứu trên, quan niệm chung của

các tác giả đều khẳng định: Cán bộ hậu cần là những cán bộ của Đảng, Nhà nước

hoạt động trong lĩnh vực hậu cần quân đội, là người trực tiếp tổ chức, hướng dẫn vàthực hiện các nhiệm vụ công tác hậu cần Hoạt động của cán bộ hậu cần rất đa dạngphong phú, song đều hướng tới phục vụ bộ đội chiến đấu, huấn luyện sinh hoạt và

công tác; cán bộ hậu cần là người trực tiếp quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn

Trang 24

vật tư, ngân sách của Nhà nước và quân đội phục vụ cho hoạt động xây dựng, chiếnđấu của quân đội và tham gia phát triển kinh tế - xã hội Đây là cơ sở để tác giả luậngiải tính chất, mức độ, phạm vi ảnh hưởng của KTTT tới từng đối tượng cán bộ hậucần quân đội, từ đó đưa ra hệ thống các giải pháp.

Những công trình khoa học tiêu biểu có liên quan tới nhân cách của cán

bộ hậu cần quân đội

Thứ nhất, đề cập tới phẩm chất của người cán bộ hậu cần quân đội

Phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức là cần thiết với mọi loại cán bộ

Do đặc thù hoạt động mà đòi hỏi ở người cán bộ hậu cần những phẩm chất ấy

luôn được đề cao Tác giả Đinh Văn Bồng (2001) trong công trình, Đào tạo cán bộ hậu cần đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong giai đoạn cách mạng mới [8], cho rằng người

cán bộ hậu cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, trung thành vớimục tiêu lý tưởng của ĐCSVN, với Tổ quốc Việt Nam XHCN, với nhân dân.Quyết tâm phấn đấu theo con đường XHCN, yên tâm gắn bó với sự nghiệp xâydựng quân đội, có ý thức tổ chức và tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng nhận

và hoàn thành nhiệm vụ được giao Thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ: “Cán bộcung cấp càng phải làm kiểu mẫu cần, kiệm, liêm, chính”

Cũng ở công trình trên, tác giả Nguyễn Vĩnh Thắng nghiên cứu dưới góc

độ điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của nhiệm vụ xây dựng ngànhhậu cần quân đội đã chỉ ra “Yêu cầu đối với người cán bộ hậu cần trong giaiđoạn hiện nay phải được thể hiện ở sự tận trung với Đảng, tận trung với Nước,tận hiếu với dân; ở tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; ở các đức tínhcần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đặc biệt là đức “liêm” và đức “kiệm”của người cán bộ hậu cần trong giai đoạn hiện nay” [8, tr 110] Cán bộ hậu cầnphải có quan điểm phục vụ đúng đắn và có tinh thần trách nhiệm cao, yên tâmphấn khởi trong công tác, gắn bó với ngành hậu cần; phải lấy phục vụ đại đa số

Trang 25

bộ đội là nhiệm vụ chính của mình như Bác Hồ dạy; nhiệm vụ chính của ngườicán bộ cung cấp là phụng sự đại đa số của bộ đội, tức là người binh nhì; phảithương yêu chăm sóc mọi người, cán bộ cung cấp như người mẹ, người chị củangười binh nhì; phải luôn chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, phảiphục vụ cho bộ đội với tinh thần trách nhiệm tới cùng; phải chống khuynhhướng nhận thức tư tưởng vào ngành hậu cần là để kiếm tiền, làm giàu cá nhân

Với tác giả Nguyễn Ngọc Ba (2004) nghiên cứu, Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam hiên nay [2], cho rằng, trước tác động của KTTT và hội nhập kinh tế quốc tế ở

nước ta hiện nay, chủ nghĩa thực dụng đã có điều kiện và môi trường tồn tại vàphát triển ảnh hưởng xấu đến nhân cách con người Việt Nam, trong môi trườngquân đội thì đội ngũ cán bộ hậu cần là đối tượng dễ bị ảnh hưởng Để tránh nhữngtác động tiêu cực từ chủ nghĩa thực dụng thì đòi hỏi cán bộ hậu cần phải luôn đềcao đức “liêm” đức “kiệm” trong quá trình hoạt động của mình, tránh tư tưởngvun vén cá nhân, cái gì có lợi cho mình thì làm, đề cao lợi ích vật chất, kinh tế

Với những cách tiếp cận khác nhau khi đề cập về phẩm chất chínhtrị, phẩm chất đạo đức của người cán bộ hậu cần cho thấy, tuy phạm vinghiên cứu khác nhau nhưng các tác giả đã có những quan niệm tương đốithống nhất về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức ở người cán bộ hậucần Mặc dù những công trình này không đề cập một cách cụ thể, chi tiếtyêu cầu phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức đối với người cán bộ hậucần ở đơn vị cụ thể nào, song đây là những vấn đề cơ bản, cốt lõi để vậndụng, kế thừa nghiên cứu làm rõ những đặc trưng về phẩm chất chính trị,đạo đức trong nhân cách người cán bộ hậu cần từ ảnh hưởng của KTTT địnhhướng XHCN ở nước ta hiện nay

Thứ hai, đề cập tới trình độ, năng lực của cán bộ hậu cần quân đội

Trang 26

Năng lực của cán bộ hậu cần bao gồm cả năng lực chung và năng lực riêng,năng lực sáng tạo và năng lực tái tạo, năng lực nhận thức và năng lực hành động, cóthể nói tổng hợp những năng lực này tạo nên khả năng hoạt động thực tiễn của cán

bộ hậu cần Trong điều kiện hiện nay, đòi hỏi người cán bộ hậu cần phải có kiếnthức toàn diện, phải hiểu biết những vấn đề về chính trị, xã hội, những kiến thức cơbản về kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật nói về tổng hợp các nănglực này, nhất là đối với người chủ trì công tác hậu cần ở đơn vị, tác giả Nguyễn

Hồng Châu, trong Luận án Tiến sĩ (2003), Nâng cao chất lượng đội ngũ chủ nhiệm hậu cần trung đoàn binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

[19], đặt ra yêu cầu đối với họ phải là: “Người có năng lực trí tuệ, năng lực tổ chứcthực tiễn, kiến thức toàn diện, có trình độ kiến thức đại học hoặc sau đại học vềkhoa học hậu cần quân sự Có năng lực chỉ huy quản lý, chỉ đạo điều hành cơ quan,phân đội hậu cần trung đoàn và đội ngũ cán bộ và nhân viên hậu cần” [19, tr 48].Chủ nhiệm hậu cần trung đoàn luôn coi binh sĩ như anh em ruột thịt của mình, tinhthần yêu thương con người, yêu thương bộ đội của chủ nhiệm hậu cần trung đoànđược thể hiện trong việc quán triệt quan điểm phục vụ bộ đội đến cùng, người chủnhiệm hậu cần với chức trách của mình cần chỉ đạo cán bộ, nhân viên trong cơquan, phân đội hậu cần trung đoàn, đề cao trách nhiệm, mang hết trí tuệ, tài năng đểlàm tốt công tác chăm lo đời sống bộ đội, bảo đảm cho bộ đội thực hiện thắng lợimọi nhiệm vụ Theo đó, người cán bộ hậu cần có năng lực phải là người có kiếnthức toàn diện, nắm vững kiến thức chuyên ngành mình đảm nhiệm, đồng thời phảinắm chắc những vấn đề cơ bản của chuyên ngành khác: có kiến thức cơ bản vềquân sự, có khả năng nắm và vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩaMác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nướcvào trong công tác bảo đảm hậu cần Không chỉ vậy, người cán bộ hậu cần phải cótrình độ hiểu biết về quản lý xã hội, kiến thức cơ bản về pháp luật, có trình độ

Trang 27

chuyên môn tốt, có đủ điều kiện và khả năng tiến hành công tác bảo đảm hậu cầntrong điều kiện KTTT và phương thức bảo đảm hậu cần mới.

Bàn về mô hình người cán bộ hậu cần trong giai đoạn cách mạng mới, khi

đề cập đến vấn đề năng lực của người cán bộ hậu cần Tác giả Nguyễn Hữu Cốchỉ rõ những biểu hiện năng lực của người cán bộ hậu cần là: “Có phương phápluận khoa học, khách quan, biện chứng, sát thực tiễn, nhạy bén về chính trị, nhậnthức và phân biệt rõ đúng - sai, bạn - thù…Tổ chức chỉ huy giỏi, thành thạo cácnghiệp vụ chuyên môn, tham mưu sắc sảo, xử lý tình huống chính xác, mau lệ.Chỉ huy dứt khoát, mệnh lệnh chuẩn xác, hiệp đồng chặt chẽ, luôn làm chủ bảnthân cả khi hoạt động độc lập với mọi điều kiện môi trường công tác Nắm chắc,

sử dụng thành thạo các trang thiết bị, phương tiện công tác và chiến đấu hiện có vàtiếp cận với khoa học kỹ thuật, công nghệ mới” [8, tr 202]

Như vậy, có rất nhiều công trình khoa học, bài viết đã đề cập đến trình độ,năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ hậu cần Các tác giả tiếp cận

ở các khía cạnh khác nhau, chỉ ra những yêu cầu về phẩm chất, năng lực ở nhiềuphương diện đối với cán bộ hậu cần nói chung cũng như một số đối tượng cán

bộ hậu cần cụ thể Đây là những tài liệu quan trọng để tác giả nghiên cứu, tiếpthu, kế thừa, bổ sung và phát triển trong quá trình làm rõ năng lực trong cấu trúcnhân cách của đội ngũ cán bộ hậu cần quân đội hiện nay

1.2 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học tiêu biểu đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án

Một là, các tác giả đã đề cập tương đối có hệ thống và luận giải về

KTTT định hướng XHCN ở nước ta, ảnh hưởng của nó tới xã hội cũng nhưnhân cách con người theo những góc độ tiếp cận và các phương pháp nghiêncứu khác nhau Nhưng tựu chung lại, có thể thấy, dù tiếp cận ở góc độ nào,các tác giả cũng đều trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 28

về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội khi lý giải về những biếnđổi của đời sống tinh thần nói chung và nhân cách con người nói riêng Họđều khẳng định nguyên nhân cơ bản của sự biến đổi đó là do quá trình thựchiện nền KTTT và hội nhập kinh tế quốc tế.

Hai là, các công trình khoa học đã phân tích, luận giải và đi tới khẳng định,

ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN đến xã hội và nhân cách con người luôntheo hai chiều hướng, tích cực và tiêu cực, nó gắn liền với tính hai mặt của cơ chếthị trường Các công trình đều xuất phát từ một trong hai tính chất hai mặt củaKTTT để đi lý giải các biểu hiện của đời sống hiện thực, vai trò to lớn của mặttích cực là tạo nên tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu tráchnhiệm, năng động, nhạy bén, đề cao dân chủ, giải phóng được sức lao động, phá

bỏ cơ chế cũ, tạo ra nền tảng vật chất quan trọng để quá độ lên CNXH, đây lànhững ảnh hưởng tốt đến sự hình thành và phát triển nhân cách Mặt tiêu cực củaKTTT là đặt lợi ích vật chất lên trên hết, lấy lợi nhuận là mục đích cao nhất, chínhđiều này dẫn tới các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống,chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng vô nhân đạo, vị kỷ, phân hóa giàu nghèo,phân tầng xã hội, mất bình đẳng và công bằng xã hội, phá hoại môi trường sinhthái đi ngược với mục tiêu XHCN mà chúng ta đang xây dựng, đây là những ảnhhưởng tiêu cực của KTTT đến xã hội và nhân cách con người

Ba là, tiếp cận động lực, lợi ích là trục xuyên suốt trong các công trình khi

nghiên cứu về ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN Các tác giả đều chorằng, khi chúng ta chuyển đổi sang mô hình KTTT, thì động lực lớn nhất để thúcđẩy hoạt động cá nhân đó là lợi ích, trong đó lợi ích kinh tế là quyết định nhất,chính vì vậy các tác giả đã đưa ra các giải pháp, tập trung tìm ra các động lực, hayđưa ra các biện pháp để phát huy động lực cơ bản ở các lĩnh vực, các cấp độ vàchủ thể, khách thể khác nhau, từ đó nâng tính chủ động, tích cực, tự chủ, sáng tạocủa các chủ thể trong quá trình hoạt động Các giải pháp đưa ra ở các công trình

Trang 29

khá đa dạng, từ các giải pháp mang tầm cấp độ vĩ mô như Đảng, Nhà nước chođến các giải pháp phát huy nội lực của từng cá nhân, con người cụ thể Có thểthấy, hầu hết các công trình tập trung vào các giải pháp mang tính nền tảng cốtlõi là xây dựng, hoàn thiện, phát triển thể chế KTTT, bảo đảm giữ vững địnhhướng XHCN, khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết của KTTT định hướngXHCN, tạo môi trường lành mạnh cho sự hình thành nhân cách con người mới.

Về cơ bản các công trình thường tập trung vào các giải pháp nhằm ngăn chặn,hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng từ mặt trái của KTTT định hướng XHCNgắn liền với những biểu hiện tiêu cực đó trong đời sống xã hội

Bốn là, các công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ hậu cần quân đội, các

tác giả đều khẳng định cán bộ hậu cần quân đội là một bộ phận cán bộ của Đảng vàNhà nước được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện thắnglợi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về côngtác hậu cần trong quân đội Để hoàn thành nhiệm vụ, chức trách được giao, đápứng yêu cầu đòi hỏi của phương thức bảo đảm hậu cần trong tình hình mới, đội ngũcán bộ hậu cần phải có sức mạnh và khả năng, trong đó đặc biệt yêu cầu sự toàndiện về phẩm chất và năng lực Từ ảnh hưởng của nền KTTT định hướng XHCN ởnước ta hiện nay, người cán bộ hậu cần phải được giáo dục, đào tạo, bồi dưỡngtoàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực, tác phong công tácnhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của quân đội cũng như ngành hậu cần trong từnggiai đoạn của sự nghiệp cách mạng

1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

Thứ nhất, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và tổng hợp các quan niệm trước

về vấn đề nhân cách, ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN đến xã hội và conngười Việt Nam nói chung, luận án tập trung làm rõ nội hàm, cấu trúc nhân cáchngười cán bộ hậu cần quân đội, trong đó có đề cập tới các khía cạnh trong cấu trúc

Trang 30

nhân cách, từ đó phân tích và xác định rõ thực chất ảnh hưởng của KTTT địnhhướng XHCN ở nước ta đến nhân cách người cán bộ hậu cần quân đội

Thứ hai, do đối tượng, phương pháp, phạm vi và mục đích nghiên cứu, các

công trình khoa học trước đã phân tích và đưa ra các quan niệm khác nhau về tínhquy luật, tính chất, mức độ, phương thức ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN

ở nước ta đến xã hội và nhân cách con người Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứucủa các đề tài luận án, chưa có công trình nào đề cập mang tính hệ thống tới nhữngvấn đề có tính quy luật về ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN ở nước ta đến

nhân cách người cán bộ hậu cần quân đội Vì vậy, luận án đi sâu phân tích những nhân tố quy định ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN đến nhân cách người

cán bộ hậu cần QĐNDVN hiện nay

Thứ ba, việc đánh giá thực trạng ảnh hưởng của KTTT định hướng

XHCN ở nước ta đến nhân cách người cán bộ hậu cần ở một số đơn vị hậu cầntiêu biểu của quân đội trong những năm gần đây, đã đạt được nhiều kết quả

đáng trân trọng Tuy nhiên, ở góc độ nghiên cứu của mình, chưa có công trình

nào đánh giá thực trạng ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN ở nước tađến nhân cách người cán bộ hậu cần quân đội, nếu có chỉ đánh giá tác độngmột mặt của KTTT định hướng XHCN hay ở một mặt nào đó của nhân cách

Do đó, luận án tiếp tục giải quyết vấn đề này Trên cơ sở thực tiễn luận án xácđịnh những vấn đề đặt ra từ ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN đến nhâncách người cán bộ hậu cần QĐNDVN

Thứ tư, đến nay chưa có một công trình khoa học nào bàn về các giải pháp

phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của KTTTđịnh hướng XHCN nhằm xây dựng, phát triển nhân cách người cán bộ hậu cầnQĐNDVN Nếu có chỉ đề cập đến một mặt, một yếu tố trong nhân cách hay chỉ lànhững giải pháp cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần quân đội trong tìnhhình mới nói chung Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của KTTT định hướng XHCN

Trang 31

đến nhân cách người cán bộ hậu cần QĐNDVN và đề xuất những giải pháp, pháthuy những ảnh hưởng tích cực, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của KTTTđịnh hướng XHCN nhằm xây dựng và phát triển nhân cách người cán bộ hậu cầnQĐNDVN hiện nay là vấn đề mà đề tài luận án cần tiếp tục được luận giải

Kết luận chương 1

Quá trình tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài chothấy, các tác giả đã có cách tiếp cận, nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau và đềcập đến một số nội dung cơ bản của đề tài luận án như: quan niệm về KTTT địnhhướng XHCN ở nước ta, vấn đề nhân cách và tác động, ảnh hưởng hai mặt củaKTTT đến nhân cách trong chiến lược xây dựng và phát triển con người nóichung, các yếu tố, nội dung cấu thành nhân cách của các chủ thể trong lĩnh vựcquân sự, đặc biệt là các phẩm chất, năng lực của cán bộ hậu cần quân đội

Các công trình khoa học đã công bố, nghiên cứu và đạt được nhiều thànhtựu to lớn Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu mộtcách cơ bản, có hệ thống dưới góc độ triết học vấn đề lý luận và thực tiễn về:Thực chất, những nhân tố quy định, đánh giá thực trạng, xác định những vấn đềđặt ra, đề xuất những giải pháp, nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, khắcphục những ảnh hưởng tiêu cực của KTTT định hướng XHCN ở nước ta nhằmxây dựng và phát triển nhân cách người cán bộ hậu cần QĐNDVN Do đó, việclựa chọn hướng nghiên cứu của tác giả đề tài luận án “Ảnh hưởng của kinh tế thịtrường đến nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam hiệnnay” là hoàn toàn mới, độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa học đãđược công bố

Trang 32

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN NHÂN CÁCH

NGƯỜI CÁN BỘ HÂU CẦN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 2.1 Nhân cách và ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam

2.1.1 Nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam

Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, quan điểmTriết học về nhân cách con người, cơ bản có những khác biệt so với quanđiểm của các khoa học cụ thể Triết học Mác - Lênin khẳng định: Con người

là một thực thể sinh học - xã hội, mặt sinh học và mặt xã hội có mối quan hệbiện chứng và thống nhất với nhau Con người sinh ra và phát triển không chỉtuân theo những quy luật của tự nhiên mà còn chịu sự tác động, chi phối bởiquy luật xã hội Nhân cách được hình thành, phát triển trong quá trình sống,lao động và các quan hệ giao tiếp của con người Ở đây nhân cách là của conngười hiện thực, gắn liền với bản chất xã hội của nó, là sản phẩm và hoàncảnh lịch sử cụ thể của xã hội

Sự hình thành và phát triển nhân cách là cả một quá trình phức hợp vàlâu dài Quá trình đó, giữa các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, giữa mặtsinh học và mặt xã hội thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau, vai trò của mỗiyếu tố đó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của mỗi người Có thể hiểu,

Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được hình thành và ngày càng hoàn thiện trong tổng hòa các mối quan hệ của con người gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và

hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại ở xã hội, nó đặc trưng cho

Trang 33

mỗi con người, nó thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lạimang tính xã hội sâu sắc

Cấu trúc nhân cách phản ánh sự thống nhất biện chứng giữa “phẩm chất”

và “năng lực”, giữa trình độ, nhận thức với thái độ, động cơ, ý chí, tình cảm,niềm tin…của mỗi cá nhân Nhân cách không phải là một cái gì đó đã hoàn tất,

mà là quá trình luôn đòi hỏi sự trau dồi thường xuyên Trong đó, môi trường cóảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách

Theo từ điển tiếng Việt hậu cần có nghĩa là; Việc bảo đảm vật chất, kỹ thuật, y tế cho lực lượng vũ trang Như vậy, hậu cần chỉ được sử dụng trong

những hoạt động của tổ chức vũ trang nói riêng nó không dùng có tính phổquát cho các tổ chức chính trị xã hội khác Trong quân đội, hậu cần là nhữnghoạt động bảo đảm, phục vụ cho bộ đội chiến đấu, huấn luyện, công tác vàcác nhiệm vụ khác Cũng có thể hiểu đây là những hoạt động tuyến sau trongquá trình thực hiện nhiệm vụ của quân đội, không trực tiếp tham gia chiếnđấu Nhiệm vụ chính của công tác hậu cần là bảo đảm đầy đủ vật chất, trangthiết bị, kỹ thuật, y tế cho quân đội, nguồn bảo đảm đó do Nhà nước, quân đội

và xã hội cung cấp

Cán bộ hậu cần quân đội là: Một bộ phận cán bộ của Đảng và Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực hậu cần quân đội, bao gồm những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng do cơ quan cán bộ quản lý, được lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ hậu cần giữ các chức vụ, chức danh của cán bộ hậu cần trong quân đội Đó là

những cán bộ quân đội trực tiếp chỉ huy, quản lý và tiến hành công tác hậu cần

ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân Khái niệm cán bộ hậu cần quân đội baoquát toàn bộ các sĩ quan hậu cần, một bộ phận quân nhân chuyên nghiệp, viênchức quốc phòng có chức vụ hoạt động trong lĩnh vực hậu cần quân đội

Trang 34

Cán bộ hậu cần quân đội là người tổ chức, chỉ huy và quản lý về hậu cần

ở các đơn vị, cho nên có thể nói cán bộ hậu cần là “cái gốc” của công tác hậucần quân đội Cán bộ hậu cần quân đội hiện nay chủ yếu được đào tạo từ Họcviện Hậu cần với các bậc học từ trung cấp kỹ thuật hậu cần đến Tiến sĩ Khoahọc Hậu cần Bên cạnh đó, cán bộ hậu cần quân đội còn được đào tạo từ cácHọc viện, Nhà trường trong và ngoài quân đội, được tuyển dụng và bồi dưỡngnghiệp vụ hậu cần quân sự

Cán bộ hậu cần được chia ra các chuyên ngành bảo đảm và phục vụtrên các lĩnh vực hoạt động cụ thể như; chỉ huy tham mưu hậu cần, quânnhu, vận tải, xăng dầu, xây dựng và quản lý nhà đất, tài chính, quân y Lànhững người trực tiếp nghiên cứu, tham mưu, đề xuất, chỉ đạo, hướng dẫn,

tổ chức thực hiện mọi hoạt động hậu cần trong quân đội Cán bộ hậu cầnquân đội là cán bộ phục vụ, hoạt động của cán bộ hậu cần rất đa dạng phongphú, song đều hướng tới phục vụ bộ đội chiến đấu, huấn luyện, sinh hoạt vàcông tác Cán bộ hậu cần là người trực tiếp quản lý, khai thác và sử dụng cácnguồn vật tư, ngân sách của Nhà nước và quân đội phục vụ cho hoạt độngxây dựng và chiến đấu của quân đội Như vậy, có thể hiểu cán bộ hậu cầnquân đội vừa là cán bộ quân sự, cán bộ kinh tế, cán bộ khoa học kỹ thuật,đồng thời là cán bộ chuyên môn nghiệp vụ Trong đó tính chất chuyên mônnghiệp vụ là nổi bật nhất

Từ những luận giải trên có thể quan niệm nhân cách người cán bộ hậu

cần QĐNDVN: Là tổng hòa những phẩm chất, năng lực của người cán bộ hậu

cần được hình thành và phát triển thông qua quá trình giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao trong môi trường công tác hậu cần và quan hệ xã hội của mỗi cá nhân, phản ánh những giá trị xã hội đặc trưng của cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam Nhân cách người cán

bộ hậu cần quân đội không phải tự nhiên mà có, là quá trình học tập, rèn luyện,

Trang 35

tu dưỡng cùng với môi trường công tác tạo nên Nó không phải là cái nhấtthành, bất biến mà phải thường xuyên được củng cố và phát triển cùng vớinhững biến đổi chung của xã hội và yêu cầu mới đối với ngành hậu cần quânđội Ngày nay, người cán bộ hậu cần quân đội luôn chịu sự tác động mạnh mẽ,thường xuyên, trực tiếp của cơ chế thị trường khi giải quyết các mối quan hệ đadạng, phức tạp Trong hoạt động bảo đảm hậu cần hiện nay, nhiều hoạt độngcủa cán bộ hậu cần phải thông qua thị trường, cơ chế thị trường hay có liênquan đến thị trường Mặt khác, công tác bảo đảm hậu cần buộc người cán bộhậu cần phải giải quyết nhiều mối quan hệ liên quan đến lợi ích của cá nhân,đơn vị trong và ngoài quân đội, điều này ảnh hưởng đến sự hình thành phẩmchất, nhân cách người cán bộ hậu cần quân đội.

Cấu trúc nhân cách người cán bộ hậu cần quân đội cũng bao hàm phẩmchất và năng lực Phẩm chất, năng lực của người cán bộ hậu cần quân đội vừamang cái chung của các loại cán bộ trong quân đôi như: Cán bộ quân sự, cán

bộ chính trị, cán bộ chuyên môn kỹ thuật, cán bộ nghiên cứu giảng dạy Ngoàinhững phẩm chất, năng lực chung của người cán bộ quân đội trên, với hoạtđộng chức năng, nhiệm vụ của mình, cán bộ hậu cần còn mang những nét đặcthù trong công tác hậu cần mà họ đảm nhiệm Trước tác động của KTTT địnhhướng XHCN ở nước ta đặt ra yêu cầu về phẩm chất, năng lực của người cán

bộ hậu cần quân đội được thể hiện là:

Cán bộ hậu cần quân đội phải đặt lên hàng đầu tiêu chuẩn đạo đức, lốisống “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” Bởi vì, trong điều kiện đấtnước, quân đội còn khó khăn, trong khi đó cán bộ hậu cần lại trực tiếp quản lý,

sử dụng, cấp phát một lượng lớn vật chất, kinh phí có nhiều nội dung liên quanđến đời sống, sinh hoạt và sức khỏe của bộ đội Nếu người cán bộ hậu cầnkhông có đức tính “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” dễ nảy sinh tham ô,tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cửa quyền, hách dịch Vì vậy, đòi hỏi người

Trang 36

cán bộ hậu cần phải quán triệt tốt tinh thần hết lòng thương yêu, săn sóc bộ đội,

không tham ô, tham nhũng, lãng phí trong thực hiện nhiệm vụ theo chức trách,

có ý thức kỷ luật tự giác nghiêm minh, sống làm việc theo Hiến pháp, pháp luậtcủa Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ của quân đội, quy định của đơn vị vàNgành Hậu cần Quân đội Như Hồ Chí Minh đã dạy “Người cán bộ hậu cầnphải làm kiểu mẫu, phải thương yêu chăm sóc mọi bộ đội…từng đồng tiền,từng viên thuốc, từng tấc vải phải tới tay người chiến sĩ” [76] Trước những tácđộng của KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay thì đức “Liêm” đức

“Kiệm” của cán bộ hậu cần luôn phải được đề cao

Về chính trị, tư tưởng: Cán bộ hậu cần quân đội phải tuyệt đối trungthành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, có bản lĩnh chính trị kiên định vữngvàng, có hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có ý chí quyết tâmcao, có tinh thần vượt mọi khó khăn, gian khổ để bảo đảm tốt công tác hậu cầncho đơn vị và quân đội trong mọi nhiệm vụ

Về năng lực, trình độ tri thức: Cán bộ hậu cần có kiến thức toàn diện vềkhoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học nghệ thuật quân sựđặc biệt là khoa học chuyên ngành hậu cần quân sự, chủ động, sáng tạo và linhhoạt trong vận dụng tri thức tổng hợp vào giải quyết những vấn đề thực tiễnhoạt động, công tác hậu cần đặt ra

Về năng lực chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện và tham mưu cho ngườichỉ huy bảo đảm tốt công tác hậu cần cho quân đội hoàn thành nhiệm vụ trongmọi tình huống Năng lực người cán bộ hậu cần quân đội được biểu hiện, dùtrong điều kiện hoàn cảnh nào cũng phải đảm bảo cho bộ đội đủ điều kiện về sứckhỏe và trang bị vật chất, kỹ thuật để họ hoàn thành nhiệm vụ được giao, phảithường xuyên trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, tiếp thu những tri thức và phươngthức bảo đảm hậu cần mới đáp ứng với yêu cầu bảo đảm hậu cần trong các nhiệm

Trang 37

vụ cả ở thời bình cũng như khi có tình huống xảy ra Nắm vững chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước về công tác hậu cần quân đội, về tiêu chuẩn, chế độ của

bộ đội, xác định tốt kế hoạch, mục tiêu trong công tác hậu cần, có biện pháp đểthực hiện các kế hoạch và mục tiêu đó Như vậy, nhân cách người cán bộ hậu cầnquân đội ngoài những cái chung của nhân cách con người Việt Nam, người quânnhân cách mạng còn có tính đặc thù đối với môi trường, yêu cầu, nhiệm vụ vàchức trách mà họ đảm nhiệm

2.1.2 Ảnh hưởng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam

Kinh tế thị trường là sản phẩm của sự phát triển kinh tế - xã hội Trong lịch

sử quá trình sản xuất vật chất của con người, thì thị trường (theo đúng nghĩa của

từ đó) chỉ thực sự phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa KTTT là nền kinh tế mà ở đó quá trình sản xuất, trao đổi

và tiêu dùng đều thông qua thị trường, thị trường đóng vai trò quyết định đến quátrình sản xuất, mọi hoạt động sản xuất đều thông qua thị trường để thị trường điềuchỉnh Như vậy, có thể hiểu kinh tế thị trường là nền kinh tế mà ở đó các quan hệkinh tế đều được thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình trao đổi, mua bán.Đây là nền kinh tế, mà người mua và người bán tác động với nhau theo quy luậtcung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường

Quan hệ hàng hóa - tiền tệ phát triển đến một trình độ nhất định dẫn đến sựxuất hiện KTTT Nguyên nhân sâu xa của sự xuất hiện KTTT, là quá trình pháttriển của lực lượng sản xuất Có thể chia quá trình trên qua ba giai đoạn phát triển;

Từ nền kinh tế tự nhiên sản xuất mang tính tự cung, tự cấp sang nền kinh tếhàng hóa giản đơn, điều kiện cơ bản của quá trình chuyển hóa này là do sự pháttriển của phân công lao động xã hội; Từ nền kinh tế hàng hóa giản đơn sang nềnKTTT tự do, quá trình này được thực hiện bởi sự thích ứng với từng bước pháttriển của lực lượng sản xuất; Từ nền KTTT tự do sang nền KTTT hỗn hợp,nguyên nhân trực tiếp cho sự chuyển đổi này là từ những khuyết tật của cơ chế

Trang 38

thị trường như khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát và suy thoái, phânhóa giàu nghèo, môi trường sinh thái và những tiêu cực xã hội Như vậy, KTTT

là giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa

Trong những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, sự phát triển của kinh tếhàng hóa, tất nhiên, chịu sự tác động của những quan hệ xã hội nhất định, từ đóhình thành nên các chế độ kinh tế - xã hội khác nhau Vì vậy, không thể nói kinh tếhàng hóa là sản phẩm riêng có của một chế độ kinh tế - xã hội nào, mà đó là quátrình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội loài người, nó xuất hiện và tồn tạitrong nhiều phương thức sản xuất xã hội KTTT là sản phẩm tất yếu của nền vănminh nhân loại không riêng gì của chủ nghĩa tư bản, là sự phát triển lâu dài trongquá trình sản xuất vật chất của con người Trên thực tế hiện nay, nền KTTT đã vàđang từng bước được hoàn thiện và ngày càng phát triển

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đối với nước

ta, trước đổi mới, do nhận thức đơn giản về CNXH và con đường đi lên CNXH,chúng ta đã thực hiện thể chế kinh tế kế hoạch và cơ chế vận hành nền kinh tếtheo kiểu quản lý tập trung, bao cấp, là nền kinh tế thuần nhất một thành phần,nền kinh tế hiện vật, nền kinh tế đóng cửa Đây là nền kinh tế chỉ huy từ trungương tới địa phương với điểm mạnh là tập trung được kinh tế, tốt cho nhiệm vụquốc phòng và an ninh, giữ gìn bản sắc dân tộc, đề cao tính đoàn kết cộng đồng.Tuy nhiên, khi chúng ta thực hiện nền kinh tế tập trung, bao cấp, kế hoạch hóa đãlàm cho sản xuất bị đình trệ, kinh tế khó khăn, tính chủ động, sáng tạo, tự chịutrách nhiệm bị hạn chế, thủ tiêu động lực dẫn tới kinh tế - xã hội kém phát triển,đời sống nhân dân khó khăn, quan hệ quốc tế bị hạn chế

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI (1986) đã đề ra đườnglối đổi mới đất nước và nêu rõ những sai lầm, khuyết điểm chủ quan trong nhậnthức về chủ nghĩa xã hội, đánh giá tình hình, xác định mục tiêu và bước đi Trên cơsở đó, Đại hội VI đề ra đường lối và tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất

Trang 39

nước, đã đặc biệt nhấn mạnh phải đổi mới từ tư duy, trước tiên là tư duy kinh tế,Đại hội đưa ra quan điểm; phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiềuthành phần kinh tế đi lên CNXH, coi chính sách kinh tế nhiều thành phần là chiếnlược lâu dài, là quy luật khi chúng ta đi từ sản xuất nhỏ lên CNXH Đến Đại hộiVII trong cương lĩnh xây dựng đất nước đã khẳng định; phát triển nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước, lần đầu tiên Đảng đã đưa ra khái niệm “Địnhhướng xã hội chủ nghĩa” trong phát triển kinh tế.

Đại hội VIII có bước phát triển mới, Đảng đã chính thức khẳng định “nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là mô hình kinh tế tổng quát củaViệt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH Mục đích để phát triển lực lượngsản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, nâng cao đờisống nhân dân Đại hội X tiếp tục khẳng định đường lối phát triển KTTT địnhhướng XHCN và bổ sung; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựngnền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội;xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Đến Đâị hội XItiếp tục khẳng định đường lối phát triển KTTT định hướng XHCN và bổ sungmột số nội dung về cơ chế vận hành nền kinh tế, gắn phát triển kinh tế với nângcao đời sống của nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói,giảm nghèo, tăng cường đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Như vậy, KTTT là sản phẩm quá trình phát triển kinh tế lâu dài của nhânloại và được vận dụng vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, với các chế độ chínhtrị khác nhau Ở Việt Nam, trải qua một quá trình tìm tòi, nghiên cứu và tổngkết thực tiễn đến Đại hội XII của Đảng đã đưa ra quan niệm rõ hơn về KTTTđịnh hướng XHCN: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt

Trang 40

Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thịtrường, đồng thời bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từnggiai đoạn phát triển của đất nước Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hộinhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, doĐảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh” [34, tr 102]

KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, vừa có những đặc điểmchung của nền KTTT vừa có những đặc điểm riêng của KTTT định hướng XHCN

và được biểu hiện ở các nội dung cơ bản sau

Một là, mục tiêu phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta là để giải

phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực nhằm thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, nâng cao hiệu quả kinh

tế - xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế đi đôi vớitiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp, gắn liền với xóa đói,giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái Đây là đặc điểm quan trọng nhất, khácbiệt về chất với KTTT ở các nước tư bản chủ nghĩa

Hai là, KTTT định hướng XHCN ở nước ta gồm nhiều thành phần kinh tế,

trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Trong nền kinh tế nước ta hiện naytồn tại đa hình thức sở hữu, từ đó hình thành nhiều thành phần kinh tế, các thànhphần kinh tế tồn tại một cách khách quan, là những bộ phận cấu thành của nền kinh

tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH Mục đích, để khai thác mọi nguồn lực kinh tế,nâng cao hiệu quả, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế vào phát triển đấtnước, thỏa mãn nhu cầu của nhân dân Việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế Nhànước là vấn đề có tính nguyên tắc, sự khác biệt có tính bản chất giữa KTTT địnhhướng XHCN với KTTT tư bản chủ nghĩa

Ba là, trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, có nhiều hình thức

phân phối; phân phối theo lao động, phân phối theo hiệu quả kinh tế, phân phối

Ngày đăng: 28/05/2021, 21:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Tuyết Ba (2010), Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ởViệt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Thị Tuyết Ba
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2010
2. Nguyễn Ngọc Ba (2004), Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến nhâncách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ngọc Ba
Năm: 2004
3. Vũ Đình Bách (chủ biên, 2004), Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
4. Ban Chấp hành Trung ương (2009), Kết luận của hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa X: Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược công tác cán bộ từ nay đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiếnlược công tác cán bộ từ nay đến năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2009
5. Ban Tuyên giáo Trung ương, Tài liệu nghiên cứu các văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (Dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nxb CTQG - Sự thật, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các văn kiện hội nghị lần thứtư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII
Nhà XB: Nxb CTQG - Sự thật
6. Vũ Cao Bằng (2002), Tiếp tục thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua“ Ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam làm theo lời Bác Hồ dạy”, Tạp chí Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, 02(587) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam làm theo lời Bác Hồdạy”, "Tạp chí Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Vũ Cao Bằng
Năm: 2002
7. Bộ Quốc phòng (1962), Hồ Chủ Tịch với lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chủ Tịch với lực lượng vũ trang nhân dân
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: NxbQĐND
Năm: 1962
8. Bộ Quốc phòng (2001), Đào tạo cán bộ hậu cần đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo cán bộ hậu cần đáp ứng yêu cầu xây dựngquân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong giaiđoạn cách mạng mới
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2001
9. Bộ Quốc phòng (2009), Điều lệ công tác hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ công tác hậu cần Quân đội nhân dân ViệtNam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2009
10. Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần (2010), Bộ đội Hậu cần làm theo lời Bác Hồ dạy, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ đội Hậu cần làm theo lờiBác Hồ dạy
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2010
11. Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần (2009), Báo cáo Tổng kết công tác hậu cần năm 2009, Hà Nội tháng 12/ 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công táchậu cần năm 2009
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần
Năm: 2009
12. Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần (2011), Báo cáo Tổng kết công tác hậu cần năm 2011, Hà Nội tháng 12/ 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công táchậu cần năm 2011
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần
Năm: 2011
13. Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần (2012), Báo cáo Tổng kết công tác hậu cần năm 2012, Hà Nội tháng 12/ 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công táchậu cần năm 2012
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần
Năm: 2012
14. Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần (2014), Báo cáo Tổng kết công tác hậu cần năm 2014, Hà Nội tháng 12/ 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công táchậu cần năm 2014
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần
Năm: 2014
15. Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần (2015), Báo cáo Tổng kết công tác hậu cần năm 2015, Hà Nội tháng 12/ 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công táchậu cần năm 2015
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần
Năm: 2015
16. Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần (2016), Báo cáo Tổng kết công tác hậu cần năm 2016, Hà Nội tháng 12/ 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công táchậu cần năm 2016
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần
Năm: 2016
17. Hà Nguyên Cát (2000), Vấn đề đạo đức cách mạng của người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đạo đức cách mạng của người cán bộ hậucần Quân đội nhân dân Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Tác giả: Hà Nguyên Cát
Năm: 2000
18. Hà Nguyên Cát (Chủ biên, 2009), Nghiên cứu giải pháp nâng cao đạo đức cách mạng cán bộ hậu cần quân đội hiện nay, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp nâng cao đạo đứccách mạng cán bộ hậu cần quân đội hiện nay
Nhà XB: Nxb QĐND
19. Nguyễn Hồng Châu (2003), Nâng cao chất lượng đội ngũ chủ nhiệm hậu cần trung đoàn binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ chủ nhiệm hậucần trung đoàn binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam hiệnnay
Tác giả: Nguyễn Hồng Châu
Năm: 2003
20. Nguyễn Hồng Châu (2010), Xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần ở cơ quan quân sự tỉnh (thành phố) đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Đề tài khoa học cấp ngành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần ở cơ quanquân sự tỉnh (thành phố) đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Tác giả: Nguyễn Hồng Châu
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w