- Về nhận thức: Xác định cho nhân dân các xã, thị trấn trong toàn huyện nhận thức đây là tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới theo các tiêu chí của Chính phủ, không phải là dự án đầu[r]
Trang 1- Họ và tên: Trần Văn Át
- Năm sinh: 1969 Giới tính: Nam
- Nghề nghiệp: Giáo viên
- Đơn vị đang công tác: Trường tiểu học A Hải Trung – Hải Hậu – Nam Định
- Số điện thoại cá nhân: 01692909167
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU
“LỊCH SỬ HẢI HẬU: MẢNH ĐẤT-CON NGƯỜI,
TRUYỀN THỐNG-ĐỔI MỚI”
Câu 1: Địa danh đầu tiên của mảnh đất Hải Hậu có tên trên bản đồ quốc gia từ năm
nào? Nêu ngày, tháng, năm thành lập huyện Hải Hậu, tên gọi các tổng khi thành lập và do những vị Thuỷ Tổ nào có công khai sáng?
Trả lời
Năm 1511, vua Lê Tương Dực (1509-1516) phê chuẩn Quần Cường ấp thành xã Quần Anh: phía Đông là Cồn Quay, Cồn Bẹ (nay thuộc xã Hải Thanh và thôn Xuân Hà xã Hải Đông), phía Tây là Núi Nẹ, Thần Phù (nay nằm ngoài khơi huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình), phía Bắc giáp Đại Hà (sông lớn-sông Ninh Cơ), phía Nam vươn ra biển ở độ sâu 18
sải nước Từ đây Quần Anh có tên trên bản đồ quốc gia Ngày 27/12/1888 (Nguyễn Đồng Khánh thứ 3, năm Quý Mùi) Kinh Lược Bắc Kỳ ra quyết định, được Tổng Trú sứ Trung-Bắc kỳ chuẩn y thành lập huyện Hải Hậu.
Năm 1463, cụ Trần Vu làm sớ tâu Vua Lê cho khai khẩn, được Vua phong chức quan Doanh điền phó sở sứ Cụ cùng 3 người làng là Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập hiệp lực khẩn hoang Ngày đầu phải trú chân bên Xối Nước (nay là xã Cát Thành huyện Trực Ninh), ngày ngày bắt theo con nước sang bãi khẩn hoang Tứ Tổ phân công cụ Trần Vu chủ sự, trên chịu trách nhiệm với triều đình, dưới lo tổ chức khai hoang phá hoá, lo đời sống vật chất tinh thần cho dân làng yên vui Cụ Vũ Chi chỉ huy trị thuỷ, đắp đê, khai sông, đắp đường, kiến thiết đình, chùa, cầu cống, mở mang chợ búa; cụ Hoàng Gia mở trường dạy học; cụ Phạm Cập quản lý kinh tế, ruộng đất, hộ tịch hộ khẩu
Tiếp nối con cháu Tứ Tổ cùng với Cửu Tộc: Lại, Nguyễn, Lê, Bùi, Phan, Đoàn, Đỗ và Trần, Vũ khác tiếp tục khai khẩn đắp được các con đê ngăn nước mặn phía Nam đê Hồng Đức (nam đường 56) gồm: đê Nhất Trùng, Nhị Trùng, Tam Trùng, Tứ Trùng, Ngũ Trùng và
đê Tiền Cồn; đồng thời đắp tiếp con đê Đông nối với đê Tiền Cồn và đê sông Ninh từ Ninh Cường đến Ninh Mỹ mở ra vùng đất mới cho Quần Anh có chiều dài trên 10 km Đến năm
1827 thăng lên Tổng Quần Anh gồm: Kim Đê, Quần Anh Thượng, Quần Anh Trung, Quần Anh Hạ, Ninh Cường, Lác Môn trại, Lác Môn thuỷ cơ phường, Tân Lác Lý, Phú Lễ ấp (Đến năm 1887 vì tránh miếu hiệu vua Tự Đức là Dực Anh nên chữ Anh, chữ kim phải đổi thành chữ Phương)
Năm 1619, An phủ sứ Vũ Duy Hoà người làng Mộ Trạch huyện Đường An tỉnh Hải Dương cùng các con cháu họ hàng và nhân dân Cẩm Hà Trang tổ chức khẩn hoang vùng đất
Trang 2cửa sông Hà Lạn lập làng Hà Lạn Đến năm 1888, sáp nhập Hà Lạn với các xã Lạc Nam, Kiên Trung, Trà Trung, Trà Hạ, Hội Khê, Hà Quang (thuộc tổng Kiên Lao, Cát Xuyên) lập tổng Kiên Trung
Năm 1829, Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ mộ dân khai khẩn vùng đất Tây Nam từ Tân Lác Lý trở ra phía biển; đến năm 1838 thành tổng Ninh Nhất gồm với 10 làng mới: An Lạc, An Phú, An Lễ, An Phong, An Nghiệp, An Nhân, An Trạch, An Nghĩa, An Đạo và Phúc Hải, gọi là “Cửu An, Nhất Phúc”
Năm 1864, Tiến sỹ Đỗ Tông Phát mở đất phía Đông lập các làng: Hoà Định, Văn Lý, Tang Điền, Kiên Chính; năm 1888 thành tổng Tân Khai
Câu 2: Sau ngày thành lập huyện Hải Hậu, nhân dân tiếp tục khai khẩn lập thêm
những tổng nào? Nêu điều kiện địa lý, dân số, đơn vị hành chính cấp xã hiện nay của huyện Hải Hậu?
Trả lời
Năm 1890 cắt ba trại Quần Phương Thượng Trại, Trung Trại, Hạ Trại; 2 lý Quỳnh Phương, Lục Phương là đất cũ của Tổng Quần Phương và 6 làng mới vừa khai khẩn là Ninh Mỹ, Ninh Cường Trại, Phú Văn Lý, Phú Văn Nam, Phú Văn Quý, Phú Lễ Ấp thành lập tổng Ninh Mỹ Đến thời Bảo Đại (1926-1945) vùng Gót Tràng nơi cuối tả ngạn sông Ninh Cơ bãi
bể bồi nhanh, các cụ người Quần Anh cùng các cư dân nơi khác hợp sức khai khẩn lập lên khu Nam Cồn, Long Châu, lập xã Thịnh Long Đến năm 1930 sáp nhập xã Hoàng Hải, Xuân Thuỷ, Xuân An, Xuân Đài vào Tổng Ninh Mỹ Năm 1965 lập thêm xóm Tân Anh thuộc xã Hải Thịnh Năm 1893, thành lập Tổng Quế Hải gồm 6 xã: Trung Phương, Thanh Trà, Trùng Quang, Liên Phú, Quế Phương, Doanh Châu; đến năm 1896 nhập thêm xã Hải Nhuận Năm
1939 huyện Hải Hậu thăng thành phủ Hải Hậu Đến tháng 8 năm 1945 huyện Hải Hậu có 61
lý, thôn, xã và Cồn thuộc 6 Tổng: Quần Phương, Kiên Trung, Ninh Nhất, Ninh Mỹ, Tân Khai, Quế Hải Thực hiện chủ trương về việc phân chia lại địa giới hành chính các xã, năm
1956 Huyện uỷ, Uỷ ban huyện đã chỉ đạo đổi tên các xã đều lấy chữ “Hải” làm đầu Toàn huyện gồm: 39 xã là: Hải Vân, Hải Nam, Hải Hưng, Hải Thắng, Hải Bắc, Hải Trung, Hải Thành, Hải Minh, Hải Bình, Hải Anh, Hải Hùng, Hải Cát, Hải Đường, Hải Phong, Hải An, Hải Toàn, Hải Giang, Hải Ninh, Hải Phú, Hải Cường, Hải Châu, Hải Hoà, Hải Thịnh, Hải Tiến, Hải Chính, Hải Triều, Hải Lý, Hải Xuân, Hải Tây, Hải Đông, Hải Quang, Hải Lộc, Hải
Hà, Hải Thanh, Hải Phúc, Hải Phương, Hải Sơn, Hải Long, Hải Tân Đến năm 1958 theo Quyết định của Chính phủ thị trấn Cồn được thành lập gồm một phần diện tích của xã Hải Tiến, Hải Tân tách ra Năm 1968 nhập các xã: Trực Đại, Trực Tiến, Trực Thắng, Trực Phú, Trực Thái, Trực Hùng, Trực Cường nhập vào Hải Hậu; tháng 3/1997 các xã trên tách ra nhập
về huyện Trực Ninh Ngày 26/02/1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính: trên cơ sở xã Hải Thịnh thành lập thị trấn Thịnh Long
Trang 3Câu 3: - Chính quyền dân chủ nhân dân huyện Hải Hậu được thành lập ngày, tháng,
năm nào? Ai là Chủ tịch huyện đầu tiên?
- Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Hải Hậu gồm những đảng viên nào? Ai là Bí thư
chi bộ đầu tiên?
- Nêu địa điểm, thời gian diễn ra sự kiện thành lập Đảng bộ huyện Hải Hậu? Ai là Bí
thư Huyện uỷ đầu tiên?
Trả lời
Chớp thời cơ cách mạng, ngày 21/8/1945 những người cộng sản Hải Hậu đã lãnh đạo nhân dân toàn huyện cờ đỏ sao vàng thẳng tới phủ đường tịch thu ấn tín, kết thúc sự thống trị của chế độ phong kiến, thực dân, phát xít bạo tàn trên quê hương Hải Hậu, tuyên bố thành lập chính quyền dân chủ nhân dân, đồng chí Đặng Xuân Thiều làm Chủ tịch huyện lâm thời Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên được thành lập gồm 5 đồng chí đảng viên: Nguyễn Thiết Giáp, Trần Văn Chử, Vương Văn Tộ, Nguyễn Kế Chí và Nguyễn Trường Thuý, đồng chí
Nguyễn Thiết Giáp làm Bí thư Chi bộ đầu tiên
Tháng 6/1947, Hội nghị Đảng bộ huyện Hải Hậu lần thứ nhất đã họp tại nhà từ họ Lại
xã Hải Long để công bố Quyết định của Tỉnh uỷ Nam Định về việc thành lập Huyện uỷ và chỉ định Ban chấp hành Đảng bộ huyện gồm các đồng chí: Vũ Thiện, Phạm Văn Xuân, Trần Văn Chử, Trần Thân, Phan Ưng, Phạm Văn Khâm, Trần Khuê, Nguyễn Thị Minh Đồng chí
Vũ Thiện làm Bí thư Đảng bộ huyện đầu tiên của Hải Hậu
Câu 4:Nêu các biểu hiện và ý nghĩa của truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc”? Nét đẹp văn
hoá của mảnh đất, con người Hải Hậu xưa và nay?
Trả lời
Đó là quá trình quần tụ các anh tài, với tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, cần cù, sáng tạo, thông minh và hiếu học; Là sự kết tinh cao độ trí tuệ, mồ hôi, công sức và cả máu xương của bao thế hệ để "Biến bãi biển hoang vu trở thành làng mạc, cơ nghiệp bờ xôi ruộng mật, truyền để giống nòi”, dựng nên "Nếp nhà nhân hậu, phúc, đức, cần, kiệm, mây sáng, trời trong, con cháu thảo hiền" Truyền thống hào hùng, vẻ vang đó đã sớm được phong tặng những danh hiệu cao quí: "Mỹ tục khả phong" (1862), "Thiện tục khả phong" (1867) và được nhân dân gọi là truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc” đời đời tiếp nối tô thắm trở thành bản sắc văn hoá riêng có của mảnh đất, con người Hải Hậu
Những giá trị văn hoá sâu sắc đó lại tiếp nối được nhân lên dưới lá cờ của Đảng, trở thành truyền thống văn hoá cách mạng, là hành trang của mảnh đất con người nơi đây vượt lên bom đạn “tiếng hát át tiếng bom” để dựng xây cơ nghiệp Năm 1967, Đảng bộ Hải Hậu
là một trong ba Đảng bộ “4 tốt” đầu tiên của miền Bắc, một trong 53 Đảng bộ huyện trong sạch, vững mạnh đợt đầu của cả nước; 32 tập thể và cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng (18 xã, thị trấn và 12 cá nhân anh hùng Lực lượng vũ trang; xã Hải Quang và trường THPT A Hải Hậu Anh hùng lao động); 128 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Từ năm 1978 đến
Trang 4nay, 33 năm liền Hải Hậu là điển hình toàn quốc về văn hoá cấp huyện của cả nước, là huyện
3 lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động Đó là niềm tự hào, là truyền thống văn hoá đặc sắc, truyền thống anh hùng và là hành trang tiếp bước để Hải Hậu phấn đấu trở thành 1 trong 5 huyện điểm của cả nước đạt tiêu chí nông thôn mới vào năm 2015
Câu 5:- Hãy kể những danh hiệu cao quý mà Đảng và Nhà nước đã trao tặng cho tập thể và
những người con quê hương Hải Hậu?
- Nêu các danh hiệu của Đảng bộ huyện Hải Hậu từ ngày thành lập đến nay?
Trả lời
+ Thời kỳ kháng chiến: Nhà nước phong tặng huyện và các xã: Hải Thịnh (thị trấn Thịnh Long), Hải Hưng, Hải Phương, Hải Trung, Hải Đường, Hải Bắc, Hải Phong, Hải Phú, Hải Giang, Hải Thanh, Hải Minh, Hải Anh, Hải Đông, Hải Chính, Hải Triều, thị trấn Cồn, Hải Hoà, Hải Châu Anh hùng lực lượng vũ trang; xã Hải Quang Anh hùng lao động
+ Thời kỳ đổi mới: Huyện được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động; Anh hùng lực lượng vũ trang; Huân chương độc lập; huyện điển hình văn hoá thông tin cấp huyện của
cả nước; Công ty Thuỷ nông, Trường THPTA Anh hùng lao động
+ Cá nhân: 128 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; 13 Anh hùng lực lượng vũ trang (Trần Văn Chử, Đỗ Văn Chiến, Kim Ngọc Quản, Nguyễn Quang Hạnh, Nguyễn Huy Hiệu, Bùi Văn Quảng, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Phạm Viết Bảo, Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Văn Sinh, Vũ Quang Trung, Vũ Giao Hoan, Nguyễn Thế Cự)
+ Từ ngày thành lập đến nay Đảng bộ huyện Hải Hậu: là một trong 3 Đảng bộ huyện đầu tiên của miền Bắc được Trung ương công nhận “Đảng bộ 4 tốt” và là một trong 53 Đảng
bộ huyện được công nhận “Đảng bộ vững mạnh” đợt đầu của cả nước Đảng bộ huyện Hải Hậu luôn được Tỉnh uỷ công nhận là “Đảng bộ trong sạch, vững mạnh”
Câu 6: Huyện Hải Hậu đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015 theo
phương châm nào?
Trả lời
Huyện và các xã, thị trấn: Phát động toàn dân tích cực hưởng ứng phong trào thi đua
“Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới” theo phương châm: “Từ gia đình ra xóm (TDP), từ xóm (TDP) lên xã, thị trấn”; “Mỗi hộ nông dân có thêm một nghề”; “Mỗi xã có tối thiểu một làng nghề” nhằm phát huy nội lực, vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư để mọi tầng lớp nhân dân chung sức, đồng lòng tham gia xây dựng nông thôn mới
- Về nhận thức: Xác định cho nhân dân các xã, thị trấn trong toàn huyện nhận thức đây
là tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới theo các tiêu chí của Chính phủ, không phải là
dự án đầu tư mà là cuộc vận động lớn nhằm xây dựng NTM do Đảng lãnh đạo, là nhiệm
vụ của cả hệ thống chính trị
Trang 5- Xây dựng nông thôn mới được thực hiện với phương châm phát huy nội lực, Nhà nước hỗ trợ một phần để làm động lực phát huy sức đóng góp của nhân dân địa phương và cộng đồng
- Việc lựa chọn các nội dung xây dựng nông thôn mới; xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị; được bàn bạc công khai dân chủ nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của cộng đồng dân cư và của toàn xã hội
- Xây dựng NTM phải đáp ứng yêu cầu kết hợp hài hoà và sáng tạo việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của quê hương với việc tạo ra môi trường văn hoá tiên tiến để hội nhập và phát triển
- Quá trình thực hiện phải đảm bảo ổn định chính trị ở nông thôn, gắn với lộ trình hợp lý, thực hiện từng bước vững chắc, đảm bảo tính bền vững, công khai dân chủ và minh bạch về tài chính
Câu 7: Nêu tiêu chí xóm (TDP) nông thôn mới, gia đình nông thôn mới của huyện Hải Hậu?
Trả lời
- Căn cứ Quyết định 242/QĐ-UBND ngày 16/02/2011 của UBND tỉnh Nam Định về
việc ban hành Bộ tiêu chí NTM, UBND huyện Hải Hậu đã vận dụng xây dựng Tiêu chí xóm (TDP) nông thôn mới như sau:
+ Xóm NTM: có 75% số hộ NTM
+ Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển
+ Tổ chức sản xuất canh tác theo quy hoạch, kế hoạch, giá trị sản xuất bình quân năm/ha canh tác đạt chỉ tiêu kế hoạch của xã, TT
+ Thực hiện tốt quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, xóm, TDP theo tiêu chuẩn NTM + Đường trục xóm, dong xóm được cứng hoá theo tiêu chí NTM
+ Hệ thống thuỷ lợi có người quản lý, đảm bảo cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh
+ Hệ thống rãnh thoát nước trong khu dân cư được cứng hóa đạt trên 75%
+ Có đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, có nhà văn hoá xóm, TDP, sân thể thao,
tủ sách thư viện; thường xuyên tổ chức các hoạt động câu lạc bộ, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao
+ Tỷ lệ người tham gia các hình thức đóng bảo hiểm y tế đạt trên 40%
+ Tỷ lệ hộ nghèo dưới 3%
+ Có môi trường xanh sạch đẹp
+ Tổ chức Đảng, Chính quyền vững mạnh; đoàn thể chính trị - xã hội cơ sở xóm, TDP đạt tiên tiến
Trang 6- Căn cứ Quyết định 242/QĐ-UBND ngày 16/02/2011 của UBND tỉnh Nam Định về
việc ban hành Bộ tiêu chí NTM, UBND huyện Hải Hậu đã vận dụng xây dựng Tiêu chí gia đình nông thôn mới như sau:
+ Gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào xây dựng NTM của địa phương
+ Cải tạo ao, vườn, chuồng, khai thác hiệu quả kinh tế VAC
+ Có nghề, tích cực tham gia học nghề, thêm nghề: (sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,…), tiếp thu, ứng dụng KH-KT vào xây dựng NTM
+ Có thu nhập khá và năm sau cao hơn năm trước
+ Con em trong độ tuổi đi học tốt nghiệp Trung học cơ sở được tiếp tục học bậc Trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề)
+ Có 50 % thành viên trong gia đình tham gia các hình thức đóng bảo hiểm y tế
+ Có nhà ở kiên cố; có vườn, sân, ngõ, khuân viên nhà ở sạch, đẹp; có công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn theo quy định của ngành Y tế; sử dụng nước hợp vệ sinh
+ Thu gom rác thải và xử lý nước thải theo quy định
Câu 8:Huyện Hải Hậu đã huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới như thế nào? Bản
thân đã làm gì để chung sức xây dựng Hải Hậu thành huyện điểm Nông thôn mới của cả nước?
Trả lời
+ Huy động tối đa mọi nguồn lực và đóng góp của nhân dân, bằng tiền, vật tư, ngày công hoặc góp đất… để xây dựng NTM (nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ, vốn huyện, vốn ngân sách xã, vốn nhân dân đóng góp, vốn doanh nghiệp, vốn con em ủng hộ, vốn khác)
+ Kế thừa tối đa các công trình đã có kết hợp bổ sung nâng cấp, xây dựng mới phù hợp với điều kiện của từng địa phương, theo phương châm: Xã, thị trấn lo xây dựng các công trình chính của xã, thị trấn; các xóm (TDP) vận động nhân dân đóng góp xây dựng các công trình của xóm (TDP)
Tổng vốn huy động đầu tư xây dựng NTM đến tháng 12/2011 đạt 213.295 triệu đồng, trong đó:
- Nguồn vốn NTM hỗ trợ 59.487 triệu đồng, bằng 27,89 %;
- Vốn huyện 2.525 triệu đồng, bằng 1,18 %;
- Vốn ngân sách xã 50.487 triệu đồng, bằng 23,67 %;
- Vốn nhân dân đóng góp 61.424 triệu đồng, bằng 28,8 %;
- Vốn con em ủng hộ 3.066 triệu đồng, bằng 1,44 %;
- Vốn khác 36.305 triệu đồng, bằng 17,02 %
+ Bản thân đã làm gì để chung sức xây dựng Hải Hậu thành huyện điểm Nông thôn mới của cả nước:
Trang 7- Nhận thức của bản thân tôi về chương trình xây dựng NTM : Xây dựng nông thôn mới quy mô cấp xã cã hệ thống chính trị vững mạnh, kinh tế phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, có hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, môi trường xanh- sạch- đẹp; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao; an ninh trật tự giữ vững- xã hội lành mạnh, dân chủ văn minh; phát huy bản sắc văn hóa làng quê Hải Hậu
Câu 9: Cảm nhận của mình về truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc” và nét đẹp văn hoá Hải
Hậu? Bản thân cần làm gì để phát huy nét đẹp văn hoá của mảnh đất, con người Hải Hậu xưa
và nay?
Trả lời
Cảm nhận về truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc” và nét đẹp văn hoá Hải Hậu: Lịch sử
hình thành và phát triển mảnh đất, con người Hải Hậu là quá trình lao động cần cù, sáng tạo
để khẩn hoang lấn biển, mở đất khởi nghiệp bắt đầu từ mảnh đất Phú Cường đến xã Quần Anh và ngày nay là huyện Hải Hậu anh hùng
Đó là kết tinh cao độ trí tuệ, mồ hôi, công sức và cả máu xương của bao thế hệ người Hải Hậu Đó còn là một quá trình lịch sử từ không đến có, từ nhỏ đến lớn; từ hoang vu sơ khai lạc hậu đến văn minh hiện đại Nhạc sĩ Vũ Minh Vĩ đã đúc kết trong đoạn ca từ: “… Ông cha mình nằm gai nếm mật, chân lội sình đầu đội tay bê, để bây giờ rực sáng một vùng quê…”
Năm Quang Thuận thứ hai (1461), vua Lê Thánh Tông ban hành các chính sách khuyến nông, cụ Trần Vu cùng bàn với các đồng liêu Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập từ Tương Đông đưa quyến thuộc xuống bãi bồi Lạch Lác xin trưng khẩn Được triều đình chấp thuận, phong cụ Trần Vu chức Doanh Điền phó sứ, đứng ra chiêu tập dân đinh, tổ chức lực lượng mở đất
Theo gia phả dòng họ Vũ ở Tương Nam, lập từ thời Lê Vĩnh Trị (1676 -1679) do nhất trường Vũ Văn Tần lưu giữ thì “các cụ Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập để lại 1.000 mẫu ruộng ở Tương Đông cho các ông Trần Lang Tướng, Đoàn Đô Quan, Nguyễn Chiêu Thảo coi giữ, lại xuống phía nam Trấn Sơn Nam trưng khẩn một bãi bồi phù sa ven biển” Ban đầu, các cụ đưa gia đình xuống ở bên đất Xối nước phía Bắc Lạch Lác (Xối nước có nghĩa là góc đựng nước của sông Hồng Tên gọi lấy chữ “Xối” giống như địa danh các vùng quê cũ: Xối Đông, Xối Tây, Xối Trì, Xối Thượng…) do đất của một nhà họ Nguyễn nhượng lại, diện tích 19 mẫu, 9 sào, 3 thước Bắc Bộ (ngày nay nhân dân vẫn thường gọi vùng đất này
là đất cầu ông Vu, hay cầu Ngô), làm chỗ trú chân Ngày ngày, phụ nữ ở lại chăm sóc con cái, bếp núc, còn trai tráng đẩy thuyền sang bãi đào đất đắp vùng, chiều tối mới trở về Nhân dân
đã phải bỏ rất nhiều công sức, thời gian san đắp, vượt nền, dựng nhà Dành khu đất cao trồng cấy, đào kênh mương dẫn nước, thau chua, rửa mặn, đến khi thành thổ cư mới đưa gia đình từ Xối Nước sang ở Khu đất này đặt tên là Phú Cường (nay ở phía Nam liền kề Âu Múc cũ, xóm
6 xã Hải Trung) Đến đây, giai đoạn thăm dò, lập đất đứng chân trưng khẩn bãi bồi Lạch Lác của bốn dòng họ Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập đã hoàn thành, mở đầu cho quá trình tạo lập làng xã sau này
Trang 8Năm 1486 (Bính Ngọ, Hồng Đức thứ 17) triều đình ra lệnh cho các phủ, huyện xã rằng:
“Nơi nào có ruộng đất bỏ hoang ở bờ biển mà người ít ruộng tình nguyện bồi đắp để khai khẩn nộp thuế thì phủ, huyện xét thực cấp cho làm" [1]
Từ thời điểm này, cụ Trần Vu cùng các cụ Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập đẩy mạnh công cuộc khai khẩn bãi bồi Lạch Lác
Đất đai tiếp tục san lấp, mở rộng sang phía Tây và phía Nam Lạch Lác Quyến thuộc các dòng họ cùng dân ly tán các xã phía Bắc kéo về ngày một đông Đất Phú Cường trở nên chật hẹp, dần dần nhà cửa dựng nên rải khắp trên các ngọn cồn từ cửa Múc đến đầu sông Trệ Xen kẽ với dân khẩn điền, cụ Hoàng và thân tộc ở khu cồn Cao (nay gọi là Cồn họ Hoàng) Cụ Trần, cụ Vũ ở khu cồn Bồ Đề (nay là xóm Bồ Đề Hải Anh) Cụ Phạm ở khu cồn Cát, sát đê sông Lác, phía Tây xóm Bồ Đề Bốn vị đứng đầu các dòng họ phân công nhau phụ trách từng công việc Trần Vu lo tổ chức lực lượng khẩn hoang Vũ Chi phụ trách công việc kiến thiết, trị thủy Phạm Cập chuyên giấy tờ, sổ sách, đo đạc ruộng đất dinh điền Hoàng Gia mở trường dạy học Đến cuối thế kỷ XV các cồn đất bãi bồi, phía Bắc giáp sông Ninh Cơ ngày nay đã được san lấp liên kết với nhau thành ấp dân cư Các cụ đặt tên là Cồn
Ấp Lạch Lác chảy mạnh đổi tên thành sông Cường Giang Nhân dân đắp đê Cường Giang ngăn lũ, đồng thời đắp đê Hậu Đồng, trấn giữ phía Nam ngăn nước mặn (đê ở phía Nam sông Múc 2, đoạn chảy từ Hải Trung sang Hải Anh ngày nay) Cồn đất cao san xuống bãi đất trũng Sông Múc hình thành lấy nước từ Cường Giang về tưới tiêu, thau chua rửa mặn cho đồng ruộng
Nối tiếp Tứ tính là Cửu tộc: Lại, Nguyễn, Lê, Bùi, Phan, Đoàn, Đỗ và Trần, Vũ phái khác lần lượt cùng về mở đất
Từ Cồn Ấp, đất đai khẩn tiếp những vùng đất mới đều lấy chữ “Phú”, chữ “Cường” đặt tên Đất “Phú” mở dần như Thượng Phú (Xóm Thượng), Phú Nghĩa (xóm Phe Nhì, Mộc Tây), Phú Mỹ (xóm Phe Tư), Phú Sâm (xóm Sách Sâm) (nay thuộc địa phận xã Hải Trung) Đất “Cường” mở rộng như Đông Cường, Tây Cường, Nam Cường, An Cường, Trung Cường, Ninh Cường…
Lúc này đồng đất đã rộng, người đã đông, để giữ gìn mốc giới khu khai khẩn với Quần Mông và ngăn nước mặn biển Đông tràn vào, nhân dân tập trung lực lượng đắp đê Đông Theo “Quần Anh địa chí”, đây là đê chống mặn có vị trí quan trọng nhất, từ Bắc tớiNam hơn nghìn thước Tương truyền chân đê nguyên là cát non, đắp rồi lại vỡ, sau phải từ chân đê đào thành đường hào, rồi chuyển đất thịt nơi khác đắp vào lòng hào để làm chân đê,
từ đó đắp dần lên mới hoàn thành được
Từ Đông sang Tây lại đắp đê Đồng Mục, ngăn nước mặn phía Nam, thân đê cấy dứa dại, tầm xuân, dứa gai chắn cát và ngăn trâu bò phá hoại
Thời Lê Sơ, do những yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, quân sự, kinh tế của khu vực ven biển và trong điều kiện của một chính quyền Trung ương tập quyền cao độ, công cuộc đắp đê vùng ven biển Nam Định mới được quan tâm và triển khai với quy mô lớn nhất từ trước đến đương thời
Nửa sau thế kỷ XV trên vùng biển Nam Định chứng kiến một công trình kết tinh thành quả lao động to lớn của nhân dân Đại Việt, đó là việc khởi công và hoàn thành đê Hồng Đức, một con đê ngăn nước mặn có quy mô lớn đầu tiên của vùng châu thổ
Trang 9Theo “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược”: “Tương truyền thời cổ vùng ven biển chưa có đê bối gì cả, thường xuyên bị nạn nước biển tràn vào phá hoại, thiệt hại về người và của không sao kể được Thời Lê niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497) vua ra lệnh xuất công khố đắp lên phía Bắc từ Quảng Yên, qua Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa đến Nghệ An” Trên địa bàn Hải Hậu, qua những dấu tích còn lại thì thấy đê Hồng Đức kéo dài
từ Bắc Nghĩa Hưng sang Ninh Cường gần trùng với trục đường 56 ngày nay đến tận Hà Lạn, Hội Khê, dấu đê cũ còn lại những dải đất cát đốn cao như khu Nam Biên, Cồn Cối (Hải Anh, Hải Trung) “Có đoạn như Kiên Trung, Hà Lạn trông thấy như những núi đất kéo dài"
Đến đây đê Hồng Đức đã hoàn thành, đê Đồng Mục không còn là đường chắn sóng Sông Giữa giữ một vị trí trung tâm cho dân ấp đến ở dọc hai bên bờ Đất đẹp, người đông, tứ tính, cửu tộc quyết định đổi tên Cồn Ấp thành ấp Quần Cường Thôn, ấp hình thành một qui
mô rộng rãi, dân cư hai bờ sông giữa chia làm 10 giáp (từ Giáp Nhất đến Giáp Thập) cho những người đến trước ở Từ Đông sang Tây mỗi giáp một dong, mỗi dong có một cầu bắc qua sông Giữa để nối liền khu giáp Riêng cầu Giáp Thập (Phe Mười) được kiến thiết theo kiểu Thượng gia hạ trì (trên nhà dưới sông) Cầu Phe Sáu và cầu Phe Ba là 2 cây cầu tống
cố, kiến thiết rộng hơn Các sách bản cũng dựng cầu đá (Sách Bản Nhất, Bản Nhì, Bản Ba…), cầu gạch, cầu gỗ, cầu tre, cầu ván, cầu đất… để nối hai bờ Bốn biên ấp lập thành 4 thôn: Nam Cường, Bắc Cường, Đông Cường, Tây Cường cho những người đến sau ở và cũng được kiến thiết tương tự như cảnh trí trong làng
Năm 1511, lập xã Quần Anh, năm 1827 thăng lên tổng Quần Anh Năm 1619, An phủ
sứ Vũ Duy Hoà lập làng Hà Lạn, năm 1888 thành tổng Kiên Trung Năm 1829, Doanh điền
sứ Nguyễn Công Trứ lập Cửu An-Nhất Phúc, năm 1838 thành tổng Ninh Nhất Năm 1864, Tiến sỹ Đỗ Tông Phát mở đất phía đông, năm 1888 thành tổng Tân Khai
Ngày 27-12-1888, sáp nhập 4 tổng Quần Anh, Kiên Trung, Ninh Nhất, Tân Khai lập huyện Hải Hậu
Tiếp bước ông cha, con cháu đồng lòng mở đất, năm 1890 lập thêm tổng Ninh Mỹ và năm 1893 lập tổng Quế Hải
Trải hơn 5 thế kỷ dựng nghiệp, các Thuỷ tổ đã hun đúc nên tinh thần “Tứ tính, Cửu tộc” với nét đẹp văn hoá đặc sắc "Nếp nhà nhân hậu, phúc, đức, cần, kiệm, mây sáng, trời trong, con cháu thảo hiền" Năm 1862, Triều đình nhà Nguyễn ban tặng mảnh đất con người Hải Hậu biển vàng: "Mỹ tục khả phong" và năm 1867 ban tặng biển vàng "Thiên tục khả phong"
Tiếp nối truyền thống Thuỷ tổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, từ năm 1929 Hải Hậu
đã có cơ sở Đảng ở Hội Khê Ngoại, sau cách mạng tháng 8/1945 chi bộ đầu tiên ở Hải Hậu được thành lập, đến tháng 6/1947 thành lập Huyện uỷ Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân dân Hải Hậu cùng với cả nước lập nên những chiến công vang dội; trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã bắn rơi 13 máy bay, bắn cháy 3 tàu chiến Mỹ; Nhà nước phong tặng huyện và 9 xã, thị trấn danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang; xã Hải Quang Anh hùng lao động; 128 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; 11 cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang
Bước vào thời kỳ đổi mới cán bộ, đảng viên và nhân dân toàn huyện nêu cao tinh thần cách mạng, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 8 đến trên 10% Huyện vinh dự được phong tặng
Trang 10Danh hiệu Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang, 2 Huân chương độc lập; từ năm 1978 đến nay liên tục giữ vững điển hình văn hoá cấp huyện của cả nước, Công ty Thuỷ nông là đơn vị Anh hùng lao động
Lịch sử hình thành và phát triển mảnh đất, con người Hải Hậu là thành quả đấu tranh kiên cường mở đất và giữ đất, là khí phách con người mãnh liệt hơn cả bão to, sóng lớn nên biển phải lùi xa, để lại cho con người ruộng lúa mênh mông, đồng lúa bát ngát và vườn cây xum suê Đó là sự đồng cam, cộng khổ, sự cố kết cộng đồng, tính cần cù, sáng tạo và nhẫn lại Đó là những truyền thống quý báu kết tinh từ trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao thế hệ người Hải Hậu để khai phá, xây dựng và bảo vệ mảnh đất này Và ngày nay, con người Hải hậu, dù ở quê hương hay mọi miền của Tổ quốc hay ngoài nước đều nguyện kế thừa, phát huy trong xu thế hội nhập quốc tế, xây dựng mảnh đất, con người nơi đây ngày thêm giàu mạnh văn minh Truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc": Đó là những giá trị truyền thống quý báu, các thế hệ người Hải Hậu dù ở quê hương hay đang ở mọi miền của Tổ quốc đều tự hào và lấy đó làm hành trang vô giá để lập thân, lập nghiệp Truyền thống tốt đẹp đó đã trở thành sức mạnh tinh thần to lớn để Đảng bộ, quân và dân Hải Hậu vượt qua mọi gian khó, vững bước trên con đường hội nhập, tiến lên văn minh hiện đại
Thật là vinh dự và tự hào vì mình là người Hải Hậu sống trong mảnh đất cha ông ta xưa để lại giàu truyền thống dựng nước và giữ nước Chúng ta mang trong mình dòng máu “Lạc Hồng”; từ khi được tìm hiểu lại lịch sử mảnh đất quê hươnglòng tôi rất xúc động nghẹn ngào như đang sống lại như trở lại thời hào khí năm xưa của cha ông ta Hải Hậu đã đi vào lịch sử của dân tộc ta ghi nhận những năm tháng hào hùng những mốc son chói lọi từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước
Với cá nhân tôi sẽ gắng sống, học tập và làm việc theo gương các vị cha ông xưa góp một phần nhỏ bé sức mình trong công cuộc đổi mới của Huyện nhà mong muốn Hải Hậu xứng đáng với niềm tin hy vọng mà cha ông xưa đã chọn làm mảnh đất “địa linh nhân kiệt”