1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 THPT môn ngữ văn của trường THCS trường sơn

21 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 189 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với việc rèn kĩ năng viết văn ở bậc THCS để học sinh thi vào 10 THPT đạt kết quả tốt thì việc nâng cao kĩ năng viết văn được coi là một trong những vấn đề quan trọng bởi nó giúp các em c

Trang 1

Điều đó đòi hỏi mỗi cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân cần phải hoànthành tốt vai trò của mình Ngữ Văn là một môn học nhóm khoa học xã hộichiếm vị trí rất quan trọng Cùng với các môn học khác, môn Ngữ Văn góp phần

tích cực hoàn thành mục tiêu giáo dục Đại văn hào M.Gooc-ki đã nói: "Văn học

là nhân học" có nghĩa là văn học chính là con người Với việc rèn kĩ năng viết

văn ở bậc THCS để học sinh thi vào 10 THPT đạt kết quả tốt thì việc nâng cao

kĩ năng viết văn được coi là một trong những vấn đề quan trọng bởi nó giúp các

em có hành trang để vững vàng khi đi thi, có được một cách toàn diện năng lựccảm thụ cũng như khả năng diễn đạt của học sinh

1.1.2 Cơ sở thực tiễn.

Là giáo viên đi tăng cường về trường, một ngôi trường khá đông học sinhvới 4 lớp 9 Lại được sự phân công của BGH bản thân tôi phụ trách giảng dạy 2lớp 9A và 9C Và hơn nữa lại là ngôi trường nhiều năm liền chất lượng thi vàolớp 10 THPT khá thấp, nhất là môn Ngữ văn Năm học 2018–2019, Sở GD và

ĐT Thanh Hóa tiến hành lớp chuyên đề “Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn học theo định hướng phát triển năng lực người học” đối với tất cả các môn Riêng

môn Ngữ văn, yêu cầu đề thi môn gồm có hai phần: Đọc hiểu và làm văn MônNgữ Văn chiếm số lượng khá nhiều tiết trong chương trình THCS Người giáoviên dạy văn lớp 9 cần đặc biệt chú trọng hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh

kĩ năng làm văn Khi rèn cho các em kĩ năng làm văn, người giáo viên khôngđơn thuần là dạy các em viết bài mà phải hướng dẫn các em có kĩ năng tìm hiểu

đề, tìm ý, lập dàn ý trước khi viết bài Có như vậy mới giúp các em tự tin hơnkhi viết văn và khi thi sẽ đạt kết quả cao hơn Là giáo viên trực tiếp giảng dạymôn Ngữ Văn, nhất là môn Ngữ Văn lớp 9 tôi luôn trăn trở làm thế nào để các

em viết được một bài văn đúng phương pháp, cảm nhận, lí giải, phân tích, làmsáng tỏ được đúng vấn đề nêu ra, lời văn trong sáng giàu cảm xúc và để chấtlượng bộ môn này trong nhà trường ngày càng được nâng cao Xuất phát từnhững lí do trên nên tôi đã chọn đề tài: "Giải pháp nâng cao chất lượng thi vào

10 THPT - Môn Ngữ Văn tại trường THCS Trường Sơn - Thành phố Sầm Sơn"

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh ôn luyện kiếnthức lý thuyết, lưu ý cách làm bài, luyện tập các dạng đề ôn thi, tôi muốn nângcao chất lượng làm đề của học sinh THCS nói chung, học sinh trường THCSTrường Sơn nói riêng, nhất là các em học sinh lớp 9 chuẩn bị bước vào kì thi

Trang 2

vào lớp 10 THPT Vì thế khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã hướng tớicác mục đích cụ thể sau:

- Nắm vững những kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi phần Đọc hiểu

và phần Tập làm văn

- Nhận diện, phân loại các loại câu hỏi Đọc hiểu và phần Tập làm văn theophạm vi kiến thức

- Hiểu được phương pháp, cách thức làm dạng câu hỏi này đạt kết quả cao

- Luyện tập một số đề ôn thi vào 10 THPT để rèn kĩ năng làm bài

- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

- Đề tài này cũng có thể coi là tài liệu để các giáo viên tham khảo khi dạy

các tiết ôn tập, ôn thi học kì, ôn thi vào lớp 10 THPT, ôn thi học sinh giỏi 1.3 1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu: Giải pháp nâng cao chất lượng thi vào 10 THPT - MônNgữ Văn tại trường THCS Trường Sơn - Thành phố Sầm Sơn

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp điều tra

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Trong những năm gần đây, chất lượng thi vào 10 THPT được coi là tiêu chíđánh giá đối với các trường THCS Điều dễ nhận thấy là thầy dạy nghiêm túc,trò cũng khẳng định là làm hết bài Vậy tại sao điểm thi lại không cao? Nguyênnhân là ở đâu? Và cho đến thời điểm hiện tại nhiều em đang lo lắng về việc họcmôn Ngữ Văn Bởi vì các em đang đứng trước một thử thách lớn, mộ ngã rẽtrong cuộc đời: kỳ thi tuyển sinh THPT Vậy làm thế nào để khi tiếp cận với bàithi học sinh có thể tự tin làm bài và đạt kết quả như mong muốn Kinh nghiệm

ôn thi vào 10 là gì? Đó là câu hỏi đặt ra với mọi người Song với mỗi người, mỗihoàn cảnh và trình độ khác nhau, sẽ không thể có một công thức chung để tất cảđều vượt qua được kỳ thi này Văn không hề khó như tưởng tượng, nếu các embiết cách học Văn

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Giáo viên ngữ văn có kiến thức cơ bản về môn học còn rất hạn chế, nhữnggiáo viên lâu năm, có kinh nghiệm thì lại chuyển công tác, hoặc do cách thứcsắp xếp phân công giáo viên dạy các khối lớp của Ban chuyên môn còn chưakhoa học và còn nhiều hạn chế khi chưa bồi dưỡng, nâng cao, hướng dẫn đượcgiáo viên cốt cán môn văn, dẫn đến nhiều năm học không có 1 đồng chí giáoviên lâu năm có kinh nghiệm nào, gây khó khăn không nhỏ trong việc dạy vàhọc, cũng như truyền thụ kiến thức tới học sinh và trao đổi kinh nghiệm giảngdạy và ôn thi

Học sinh đa số là con em bán nông, bán ngư nên nhận thức về việc họcchưa cao Đa phần các em mất gốc từ lớp dưới nên việc lựa chọn thi vào THPT

và ôn thi cũng lơi là Các em chưa ý thức và chăm chỉ trong quá trình ôn thi, vì

Trang 3

vậy nhiều học sinh không chăm học Về phía gia đình, còn nhiều gia đình chưathực sự quan tâm đến việc học của con em mình Có những gia đình chỉ cho contốt nghiệp, nên không đầu tư chú trọng đến việc học của con em

Bên cạnh đó nhà trường mặc dù rất quan tâm đến chất lượng song do nhiềulớp và đông học sinh, giáo viên phụ trách chuyên môn thì thiếu Giáo viên cốtcán và nhiều kinh nghiệm thì đã nghỉ hưu nên ảnh hưởng rất lớn đến việc phâncông chuyên môn trong việc dạy học sinh cuối cấp

Trong nhiều năm qua, từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đổi mới nội dungkiểm tra đánh giá theo hướng mở, đưa các vấn đề cuộc sống, sự kiện lịch sử, xãhội vào đề thi thì kết quả của học sinh chúng ta đã không còn như trước Năm

học 2018–2019, Sở GD và ĐT Thanh Hóa tiến hành lớp chuyên đề “Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn học theo định hướng phát triển năng lực người học” đối

với tất cả các môn Riêng môn Ngữ văn, yêu cầu đề thi môn gồm có hai phần:Đọc hiểu và làm văn Chuyên đề được triển khai rộng khắp trong cả tỉnh SởGiáo dục và Đào tạo yêu cầu các Phòng Giáo dục triển khai đến toàn thể giáoviên trên địa bàn các thành phố, thị xã, cũng như các huyện Sở Giáo dục cũngyêu cầu các trường lưu ý việc ra đề phải phù hợp với đối tượng học sinh Cụ thể

là tập trung đánh giá hai kỹ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩnăng tạo lập văn bản Đề thi gồm hai phần: Đọc hiểu và tạo lập văn bản, trong

đó tỷ lệ điểm của phần tạo lập văn bản nhiều hơn phần Đọc hiểu Đây là hướngđổi mới kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh chuyển sangkiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh (tự mình khám phá văn bản)

Chính vì thế đề tài sáng kiến kinh nghiệm: ''Giải pháp nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn tại trườngTHCS Trường Sơn- Thành phố Sầm Sơn'' vẫn là một đề tài mới, có tính ứng dụng, cần thiết rất cao trong việc ''Đổi

mới kiểm tra, đánh giá môn học theo định hướng phát triển năng lực người học''đối với tất cả các môn nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng

2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

Từ cơ sở nêu trên, trong nhiều năm được phân công dạy môn Ngữ văn lớp

9 và ôn thi vào 10 THPT, tôi đã nghiên cứu và tìm ra giải pháp như sau:

Giải pháp 1: Giáo viên tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân.

- Cuộc sống xã hội biến đổi từng ngày từng giờ nên dù giáo viên giảng dạymôn Ngữ Văn đều được đào tạo chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ nhưng cần tíchcực, thường xuyên tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân Từ nămhọc 2008–2009 là năm mà Bộ Giáo dục lấy là năm ứng dụng công nghệ thôngtin vào trong việc dạy - học Vì thế tất cả các trường trong cả nước đều được hỗtrợ lắp đặt mạng Internet Việc lắp đặt mạng sẽ giúp các thầy cô giáo bồi dưỡngchuyên môn nghiệp vụ Có thể tìm kiếm thông tin phục vụ giảng dạy, trao đổivới các thầy cô giáo trên mọi miền tổ quốc (VD: Bài giảng Bạch kim, Xa lô.Vn,E.Văn, Thi viên Nét; Sach hay.com, ) Bên cạnh đó cũng có thể học hỏi bạn bèđồng nghiệp để tích luỹ nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

- Nên nắm vững kiến thức chung cho chương trình cấp học để có cái nhìnbao quát về nội dung yêu cầu cho từng khối lớp

- Soạn - giảng theo đúng chương trình mà Bộ GD&ĐT đã quy định trong

phân phối chương trình

Trang 4

- Khi giảng dạy cần chú ý đến từng loại đối tượng học sinh trong lớp học

để có phương pháp giảng dạy cho phù hợp Giáo viên cũng cần phân loại đượchọc sinh trong lớp Dù là lớp chọn, lớp đại trà hay lớp yếu kém thì mức độ tiếpthụ, học tập của học sinh có sự khác nhau Từ đó xác định học sinh yếu kiếnthức, kĩ năng nào để tìm nguyên nhân, biện pháp khắc phục còn đối với họcsinh giỏi bồi dưỡng nâng cao kiến thức kĩ năng đã học để tạo hứng thú trongviệc học tập bộ môn

Giải pháp 2: Phân loại đối tượng học sinh.

Năm học nào bản thân tôi cũng được nhà trường giao phụ trách 2 lớp 9.Một lớp mũi nhọn và một lớp đại trà Do vậy ngay từ đầu năm học tôi đã chocác lớp làm bài khảo sát chất lượng về những kiến thức cơ bản nhất Kết hợp vớiviệc tìm hiểu, theo dõi qua các giờ học với bài khảo sát tôi đã xác định được đốitượng và phân loại các em trong lớp để chia ra thành các nhóm đối tượng khácnhau

Đối với lớp mũi nhọn thì luôn luôn giữ điểm trung bình trở lên 100%, song

đã nâng lên điểm khá rất nhiều

Còn đối với lớp đại trà trước khi phân loại thì điểm 7 - 8 là 0%, điểm 5 - 6

là 10 em chiếm 29,4% Nhưng sau khi phân loại thì điểm 7 - 8 là 14,7%, vàđiểm 5 - 6 là 20 em chiếm 58,8%

Giải pháp 3: Lựa chọn phương pháp.

- Đọc kĩ tác phẩm văn học: Đọc tác phẩm là khâu quan trọng và cần thiếtđối với mỗi học sinh trong học tập bộ môn ngữ văn Vì khi đọc các em như đã

vỡ vạc phần nào về nội dung cũng như ý tưởng của tác giả gửi gắm vào tácphẩm Khi học ở lớp qua sự truyền tải của thầy, cô các em sẽ nắm chắc nhữngkiến thức cơ bản về tác giả, tấc phẩm, nội dung, nghệ thuật của văn bản đã học

và cũng sẽ nhặt thóc, những tích lũy của các em sẽ giúp các em đạt điểm nhỏtrong những câu hỏi có tính nhận biết chắc chắn

- Học sinh phải luyện tập hằng ngày: Chắc không em nào đủ kiên nhẫn mỗingày để viết một bài văn Nhưng ít nhất, hãy đảm bảo một tuần các em viết đượchai, ba bài Viết xong một bài văn để đấy đi chơi hoặc học môn khác đã Khoảnghai, ba ngày sau đọc lại, rồi sửa cho khách quan, em sẽ thấy bài văn của mình córất nhiều lỗi (kinh nghiệm này của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh và nhà phê bìnhHoài Thanh) Nhờ sửa những lỗi đó văn của em sẽ cải thiện nhanh hơn Sau đó,nhờ viết văn hay hơn, bạn bè hoặc thầy cô sửa Thêm nữa, nếu hứng thú hãy cốgắng rèn thói quen viết nhật kí Lúc đầu sẽ nản, nhưng hãy cố gắng duy trì Viếtnhật kí, về bản chất là các em đang viết văn Đó cũng là cách rèn luyện để việc

tư duy và có kĩ năng viết thêm vững vàng hơn

- Học văn bằng tất cả khả năng: Các em không cần xem văn mẫu, vì bảnthân các em viết văn còn hay hơn Mỗi người đều có khả năng làm văn, chỉ khác

là khả năng ấy có được phát hiện và rèn giũa hay không Những ngày đầu, văncủa các em sẽ thật ngô nghê, không có sức thuyết phục nhưng nỗ lực các em sẽlàm được những điều không tưởng

- Có thể xem tài liệu (sách vở) học tập chính là người thầy thứ hai Việchướng dẫn HS học tập thông qua tài liệu là một bước quan trọng để hình thànhnên cách học ở HS và cũng là cách thức để các em định hình cho mình mà tìm ra

Trang 5

cách học, cũng từ đó các em mới có sự say mê học tập, say mê nghiên cứu tìmhiểu một cách tự giác Bản thân tôi chọn tài liệu, làm bộ đề sau đó photo cho HSmỗi em 1 bộ Làm như vậy tiết kiệm được thời gian chép đề và HS cũng chủđộng được nghiên cứu đề và tài liệu khi làm đề ôn Sau khi dạy xong kiến thức,cho HS làm đề bằng cách hướng dẫn các em tìm ngữ liệu trong tài liệu để làm

đề (HS TB, Yếu, Kém cũng tự làm được cùng với sự hỗ trợ của cô và các bạnkhá) Cái đề đó HS có thể được làm đi làm lại vài lần

- Nhớ chính xác kiến thức: Nếu không nhớ được tác giả, thì đành dùng

chiêu lập lờ đánh lận con đen kiểu giả vờ như biết rồi "Có người từng nói", hoặc điệu hơn "Hình như có ai từng nói" Nếu không nhớ chính xác câu chữ, đành

dùng chiêu tóm tắt "Xuân Diệu từng nói một câu rất hay, đại ý là vv vv", cái rấthay của văn là không cần chính xác tuyệt đối, tương đối là đủ rồi Nhưng hạnchế thôi, làm văn mà suốt ngày "hình như", với "đại ý" thì người chấm (thường

là người có kinh nghiệm lâu năm) ai tinh sẽ phát hiện ra amateur ngay

- Rèn kỹ năng phân tích: Phải phân tích để làm sáng tỏ cái điều mình đangcần chứng minh, không phải phân tích dẫn chứng ấy hay ở chỗ nào, biện phápnghệ thuật ra sao tràn lan Phân tích miên man hoặc không phân tích cũng chỉmất thời gian, cháy cả bài viết, cháy cả thời gian Nếu đọc nhiều ta sẽ thấy ngay

sự khác biệt giữa dẫn chứng đã sơ chế và dẫn chứng chưa sơ chế Việc này phảiluyện từ từ không mau chóng được Ngoài ra người hướng dẫn cũng là một yếu

tố quan trọng trong việc học tốt môn văn Ở trường là thầy cô, ngoài ra có thể làbạn bè, anh chị em Người có năng lực về môn học mình đang yếu Trong nhàtrường vai trò của thầy cô trong việc hướng dẫn học sinh cách học cách phântích đề bài, cách làm bài khi đi thi cũng là yếu tố quan trọng giúp học trò củamình nâng điểm số Việc ôn tập những kiến thức cơ bản là điều vô cùng cầnthiết làm hành trang cho học sinh lớp 9 thi vào 10 THPT Để làm tốt việc đógiáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 9 là người hướng dẫn các em ôn luyện Đặcbiệt là giúp các em nắm được khắc sâu được những kiến thức cơ bản ở cấpTHCS làm hành trang vững chắc để các em bước vào THPT

Giải pháp 4: Ôn tập, củng cố, rèn luyện cho học sinh vững vàng các phần theo cấu trúc đề thi vào lớp 10 THPT (Từ năm 2018 - 2019).

Trang 6

* Phương thức tự sự: Tự sự là kể lại, thuật lại sự việc, hay một chuỗi các sự

việc có quan hệ nhân quả dẫn đến kết quả - Trình bày theo diễn biến sự vật, sựviệc

- Cách nhận biết:

+ Dạng tồn tại: Văn bản tự sự, tác phẩm truyện, tiểu thuyết, bản tin báo chí,bản tường thuật, bản tường trình…

+ Đặc trưng của văn bản tự sự: Có cốt truyện, có nhân vật tự sự, sự việc, có

tư tưởng, chủ đề, có ngôi kể thích hợp

* Phương thức miêu tả: Tái hiện các tính chất, thuộc tính sự vật, hiện

tượng, giúp con người cảm nhận và hiểu được chúng

- Cách nhận biết:

+ Từ ngữ, câu văn giàu sức gợi giúp người đọc, người nghe có thể thấy sựvật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt qua ngôn ngữ miêu tả + Dạng văn bản: Các bài văn tả cảnh, tả người, vật, đoạn văn miêu tả trongtác phẩm tự sự

* Phương thức biểu cảm: Bày tỏ, bộc lộ cảm xúc, tâm trạng trước những

vấn đề tự nhiên, xã hội, sự vật

- Cách nhận biết:

+ Các văn bản: thơ trữ tình, tùy bút, các bức điện mừng, thăm hỏi, chiabuồn…

+ Mật độ các từ ngữ biểu cảm xuất hiện trong văn bản

* Phương thức nghị luận: Là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc

phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết nêu ý kiến đánh giá, bình luận

Cách nhận biết:

+ Dạng văn bản tồn tại: các văn bản chính luận, trình bày tư tưởng, chủtrương quan điểm của con người đối với tự nhiên, xã hội, qua các luận điểm,luận cứ và lập luận thuyết phục

- Thể loại:

+ Văn nghị luận trung đại: hịch, cáo, chiếu, biểu…

+ Văn nghị luận hiện đại: xã luận, bình luận, lời kêu gọi, sách lí luận, bàiviết tranh luận về một vấn đề trính trị, xã hội, văn hóa

* Phương thức thuyết minh: Giới thiệu, cung cấp, giảng giải những tri thức

về một sự vật, hiện tượng nào đó cho người đọc, người nghe - giới thiệu đặcđiểm tình chất, cấu tạo, công dụng

PHẦN II: Phần Tiếng việt (Ứng với câu hỏi 2 hoặc 3 trong đề Học sinh

phải soi vào phần đọc hiểu đã cho vận dụng kiến thức Tiếng việt để giải quyết các yêu cầu mà đề bài đưa ra) Trọng tâm kiến thức gồm:

* Các biện pháp tu từ: (sơ đồ tư duy phần phụ lục).

Trang 7

- Các biện pháp tu từ thường gặp khi các em làm bài tập phần đọc hiểu Ngữvăn bao gồm: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, điệp ngữ, nói quá, nói giảm nóitránh, liệt kê, tương phản, đối lập, câu hỏi tu từ.

- Để làm tốt nội dung này, giáo viên gợi dẫn, giúp học sinh hệ thống hóakiến thức về những nội dung có liên quan bằng bản đồ tư duy, từ đó giúp các emghi nhớ, khắc sâu kiến thức

* Các câu hỏi liên quan đến kiến thức tiếng Việt lớp 9:

- Riêng phần kiến thức tiếng Việt lớp 9, học sinh mới học, do đó, giáo viêngợi dẫn để học sinh nhớ lại nội dung và khái quát bằng bản đồ tư duy

* Các phương châm hội thoại (sơ đồ tư duy phần phụ lục).

* Sự phát triển của từ vựng (sơ đồ tư duy phần phụ lục).

* Khởi ngữ (sơ đồ tư duy phần phụ lục).

* Các thành phần biệt lập:(sơ đồ tư duy phần phụ lục).

PHẦN III: Nghị luận xã hội: ( Viết đoạn văn nghị luận xã hội Từ nội dung

phần đọc hiểu học sinh vận dụng kiến thức xã hội thực tế để viết đoạn văn nghị luận xã hội, ứng với phần II tạo lập văn bản, câu hỏi 1).

Gồm 2 vấn đề: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội

và nghị luận về một tư tưởng đạo lí

Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống XH

* Khái niệm :

- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống XH là bàn về một sựviệc hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê, hay đáng suynghĩ

* Yêu cầu của kiểu bài nghị luận:

Nội dung :

+ Phân tích mặt đúng, sai, mặt lợi mặt hại của nó

+ Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết

+ Mở đoạn : Giới thiệu sự việc, hiện tượng cần bàn luận

+ Thân đoạn : Liên hệ thực tế, phân tích các mặt , đánh giá, nhận định.+ Kết đoạn : kết luận, khẳng định, phủ định, lời khuyên

Sự việc, hiện tượng xấu:

- Biểu hiện (thực trạng): chọn dẫn chứng tiêu biểu

- Nguyên nhân:

+ Chủ quan

Trang 8

Sự việc, hiện tượng tốt:

- Biểu hiện (thực trạng): chọn dẫn chứng tiêu biểu

- Cách phát huy và nhân rộng việc tốt ấy

* Những sự việc hiện tượng đời sống cần bàn luận :

+ Hiện tượng HS quay cóp bài, thiếu trung thực trong thi cử

+ Xưng hô thiếu văn hóa của một bộ phận HS trong nhà trường

+ Nói tục, chửi bậy

- Thể loại đều là văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống

- Các đề yêu cầu người viết phải trình bày được quan điểm, tư tưởng, thái

độ của mình đối với vấn đề đặt ra

Trang 9

Nhưng chính nơi này xảy ra hiện tượng rất đáng lên án, bị phê phán đó là hiệntượng: Bạo lực học đường.

- Hai hoặc một nhóm học sinh nam, 2 hoặc một nhóm học sinh nữ đánhnhau

- Đe dọa, khủng bố thinh thần ban

* Nguyên nhân:

- Mê chơi Game, xem các bộ phim bạo lực dẫn đến học sinh bắt chước

- Do mâu thuẫn cá nhân không giải quyết triệt để, không có sự tham giahòa giải của người lớn

- Do gia đình và nhà trường chưa nghiêm khắc

* Hậu quả :

- Có thể do nông nổi nhất thời mà dẫn đến hậu quả khó lường, ảnh hưởngđến tương lai của chính mình và người khác, bị mọi người lên án

* Giải pháp :

- Gia đình và nhà trường phải phối kết hợp trong việc giáo dục các em

- Cha mẹ phải quản lí con tốt hơn, phải là người bạn để chia sẻ với các em

- Về hình thức: bài viết phải có bố cục 3 phần , có luận điểm đúng đắn,sáng tỏ, lời văn chính xác, sinh động

* Dàn bài của đoạn nghị luận về một vấn đề t ư t ưởng , đạo lí :

Bước 1: Giới thiệu vấn đề cần bàn luận

- Dẫn dắt đưa vấn ra vấn đề nghị luận về tư tượng đạo lí trong đề bài

Bước 2: Bàn luận vấn đề

- Giải thích tư tưởng, đạo lí:

+ Đầu tiên, cần giải thích những từ trọng tâm, sau đó giải thích cả câu nói:giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng (nếu có); rút

ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo lý; quan điểm của tác giả qua câu nói(thường dành cho đề bài có tư tưởng, đạo lý được thể hiện gián tiếp qua câudanh ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ, )

+ Thường trả lời câu hỏi: Là gì? Như thế nào? Biểu hiện cụ thể?

- Phân tích và chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý

+ Thường trả lời câu hỏi tại sao nói như thế?

+ Dùng dẫn chứng cuộc sống xã hội để chứng minh Từ đó chỉ ra tầm quantrọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lí đối với đời sống xã hội

- Bác bỏ (phê phán) những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề:

+ Bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến tư tưởng, đạo lí vì cónhững tư tưởng, đạo lí đúng trong thời đại này nhưng còn hạn chế trong thời đại

Trang 10

khác, đúng trong hoàn cảnh này nhưng chưa thích hợp trong hoàn cảnh khác;dẫn chứng minh họa.

Trong các bước mở rộng, tuỳ vào từng trường hợp và khả năng của mình

mà áp dụng cho tốt, không nên cứng nhắc

Bước 4: Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động.

Đây là vấn đề cơ bản của một bài nghị luận bởi mục đích của việc nghịluận là rút ra những kết luận đúng để thuyết phục người đọc áp dụng vào thựctiễn đời số

Bàn luận ý kiến.

Vai trò của ý chí, nghị lực:

- Con đường đời luôn ẩn chứa nhiều chông gai thử thách Bởi vậy, khithực hiện một công việc, xây dựng một sự nghiệp, nếu bản thân con người chưathông suốt về tư tưởng, không có ý chí, quyết tâm, nhụt chí, nản lòng thì khó

có thể vượt qua những thử thách dù lớn hay nhỏ

- Ý chí, nghị lực, quyết tâm chính là sức mạnh tinh thần để con người bắttay thực hiện công việc nhanh chóng và hiệu quả

Biểu hiện của ý chí, nghị lực trong đời sống và trong văn học.

- Trong đời sống:

Ngày đăng: 28/05/2021, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w