1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số phương pháp dạy từ vựng môn tiếng anh ở bậc tiểu học

26 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 542,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học theohướng tích cực, phát huy tính chủ động sáng tạo và năng lực tự học của họcsinh, lấy học sinh là trung tâm là giải pháp cơ bả

Trang 1

số học sinh Việt Nam du học nước ngoài cũng tăng một cách đáng kể vàtheo một thống kê gần đây đã công bố rằng: du học sinh của Việt Namkhông kém các học sinh, sinh viên của nước khác về tiếp nhận kiến thức,nghiên cứu khoa học và ý thứ tự học Thế nhưng làm thế nào để chuẩn bị tốtkiến thức ngoại ngữ thì có lẽ đa số học sinh phải bắt đầu làm quen với mônTiếng Anh ngay từ khi ở bậc tiểu học

Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học theohướng tích cực, phát huy tính chủ động sáng tạo và năng lực tự học của họcsinh, lấy học sinh là trung tâm là giải pháp cơ bản để nâng cao giáo dục.Theo phương pháp cũ, giáo viên làm trung tâm, các em ghi chép từ vựngmới và mẫu câu một cách thụ động rồi sau đó về nhà học thuộc lòng sẽ gâynhàm chán, không tạo khả năng tư duy và sáng tạo phong phú của các em.Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giảng dạy, việcthiết kế chương trình giảng dạy cũng phải phù hợp cho từng đối tượng họcsinh của từng bậc học Như vậy mới có thể tạo được khả năng tư duy và pháttriển khả năng học tập một cách độc lập, tạo niềm say mê, hứng thú cho cảthầy và trò trong quá trình giảng day và học tập môn Tiếng Anh

Tuy nhiên việc học Tiếng Anh ở các trường tiểu học nói chung vàTrường Tiểu học Lê Hồng Phong nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt

là trong việc học và sử dụng từ vựng Vì vậy, dạy cho học sinh cách học và

sử dụng Tiếng Anh là để cung cấp cho học sinh một kho tàng từ điển sống vềngôn từ và cấu trúc câu Đó chính là một yêu cầu rất cần thiết trong việc họcTiếng Anh, nhất là với những học sinh mới làm quen với môn học TiếngAnh ở bậc tiểu học Làm thế nào để các em có được một vốn từ vựng cần

Trang 2

thiết và có thể sử dụng được cấu trúc của mình R một cách có hiệu quả nhất.Tôi xin đưa ra một số kinh nghiệm tham khảo về việc hướng dẫn học sinhhọc cấu trúc ngữ pháp và từ vựng mà tôi đã tích luỹ được trong quá trình họctập và giảng dạy Chính vì những lý do trên mà tôi đã chọn đề tài sáng kiến

kinh nghiệm: “Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học”

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

Mục tiêu của đề tài là giúp cho học sinh có những phương pháp họctập tích cực, củng cố và khắc sâu các từ vựng được lâu hơn Vốn từ vựngcủa các em sẽ tăng lên rõ rệt từng ngày, lâu dần các em sẽ có một vốn từnhất định, giúp các em nói tiếng Anh trôi chảy hơn, sử dụng từ phong phúhơn Các em học sinh yếu kém có thể sử dụng được từ vựng vào những mẫucâu đơn giản Những học sinh khá có thể sử dụng từ vựng trong những câuphức tạp hơn tùy thuộc vào vốn từ mà các em tích lũy được Phương phápnày còn giúp học sinh thuộc các từ mới ngay trong tiết học Từ đó học sinh

sẽ có một vốn từ rộng mở, củng cố và phát triển các kĩ năng (nghe, nói, đọc,viết) Qua đó, các tiết học sẽ trở nên sôi nổi và sinh động hơn, học sinh yêuthích môn học Tiếng Anh hơn

Trong việc dạy Tiếng Anh, giúp học sinh học từ, nhớ từ là một hoạtđộng dạy không thể thiếu trong mỗi tiết học Việc học từ và nhớ từ khôngchỉ đơn thuần là việc giúp học sinh nhớ từ, nghĩa của từ mà còn là việc giúpcác em nghe từ, phát âm từ một cách chính xác và áp dụng từ trong giao tiếpbằng Tiếng Anh Vì vậy, việc tìm ra những cách thức giúp các em học từ vànhớ từ lâu là nhiệm vụ của mỗi giáo viên với mục đích giúp học sinh hiểu từ,

sử dụng được từ vào trong câu theo từng ngữ cảnh và nhớ được từ lâu

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề sau:

Tìm hiểu thực trạng việc dạy Tiếng Anh trước khi vận dụng đề tài

Công tác chuẩn bị trước khi dạy từ

Vận dụng các trò chơi vào các tiết học

Thủ thuật giúp học sinh học từ và ôn từ khi ở nhà

Trang 3

3 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ởbậc Tiểu học

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Sáng kiến này xuất phát từ việc học sinh chưa say mê, hứng thú vớiviệc học từ vựng Tiếng Anh Bởi do Tiếng Anh là một ngôn ngữ nước ngoài,không phải tiếng mẹ đẻ Hơn thế, qua kinh nghiệm giảng dạy cho thấy họcsinh thường hay có cử chỉ sợ sệt và hành động chán học môn Tiếng Anh nóichung và học từ môn Tiếng Anh nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu:

a Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu

- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập

b Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm

c Phương pháp thống kê toán học

II/ PHẦN NỘI DUNG:

1 Cơ sở lý luận:

Luật Giáo dục – 2005 (điều 5) quy định “phương pháp giáo dục phảiphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồidưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê họctập và ý chí vươn lên.”

Trang 4

Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “ Giúp học sinh phát triển toàndiện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triểnnăng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách conngười Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm côngdân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” Chương trình giáo dục phổ thông banhành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 05/05/2006 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “ Phải phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh , phù hợp với đặc trưng mônhọc, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học, bồi dưỡng cho họcsinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụngkiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú vàtrách nhiệm học tập cho học sinh

Bất cứ một thứ tiếng nào trên thế giới, muốn giao tiếp được với nó,đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ Bởi vì từ vựng là một thành phần khôngthể thiếu được trong ngôn ngữ, được sử dụng cho hoạt động giao tiếp Dovậy, việc nắm vững số từ đã học để vận dụng là việc làm rất quan trọng

Trong tiếng Anh chúng ta không thể rèn luyện và phát triển bốn kỹnăng nghe, nói, đọc, viết của học sinh mà không dựa vào nền tảng của từvựng Thật vậy nếu không có số vốn từ cần thiết, các em sẽ không ngheđược và hệ quả của nó là không nói được, đọc không được và viết cũngkhông xong, cho dù các em có nắm vững mẫu câu

2 Thực trạng:

Theo phân phối chương trình hiện nay, môn tiếng Anh tiểu học mỗituần 04 tiết, mà hầu như tiết nào cũng có từ mới trong bài học và kể cả trongbài tập Nhưng muốn dạy tốt từ vựng để tiết học sinh động hơn, Giáo viênphải làm tranh ảnh, đồ dùng để minh hoạ, tạo điều kiện cho các em nhớ từ

dễ dàng và hướng sự chú ý của các em vào chủ đề hay trọng tâm bài học

Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của phòng Giáo dục, lãnh đạo nhàtrường và các đoàn thể của các thôn buôn

Dưới sự hướng dẫn của lãnh đạo nhiệt tình và một tập thể năng động

Trang 5

tôi tự tin hơn trong giao tiếp, các em tích cực, tự giác hơn trong học tập, họcsinh trung bình và yếu tiến bộ lên rất nhiều

Về cơ sở vật chất: Trường đã có một số trang thiết bị phục vụ việc dạyhọc như: 2 phòng máy tính, 1 phòng máy chiếu, băng - đĩa hình, tranh ảnh

để giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy Ngoài ra, sự pháttriển của công nghệ thông tin giúp giáo viên có được nhiều nguồn tư liệu,hình ảnh qua mạng Internet

Về học sinh lớp 1: 2 năm trước đã được học sách First Friend 1 và đổimới thành sách My Phonics

Đặc biệt với môn Tiếng Anh, giáo viên còn trẻ, nhiệt tình, có tráchnhiệm trong công tác giảng dạy môn học này

Đây là một cái nôi tốt cho tôi học hỏi và sáng tạo ra những ý tưởngcủa riêng mình

Một số học sinh điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn, điều kiện xãhội đặc trưng đó là các em có ngôn ngữ phổ thông hạn chế, văn hóa lối sốngkhác nhiều so với những gì thực tế học tập từ sách vở Và một đặc điểmchung của học sinh chúng ta là các em còn rất thụ động, tự ti, kĩ năng sốngchưa được chú trọng, kĩ năng giao tiếp chưa tốt ảnh hưởng đến việc học tậpcủa học sinh

Từ trước tới nay học sinh của chúng tôi đang thực hiện theo mô hìnhdạy học truyền thống, các em chỉ học một cách thụ động chờ thầy cô giảnggiải và thụ động tiếp thu kiếnthức, thực hành kĩ năng

Đa số học sinh là dân tộc Ê đê (ở 2 phân hiệu Ea Na và Buôn Dray)phải học cả 3 thứ tiếng: tiếng mẹ đẻ (Tiếng Ê đê), Tiếng Việt và Tiếng Anhnên gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu bài

SGK, các thiết bị dạy học và đồ dùng học tập còn thiếu

3 Nội dung và hình thức của giải pháp:

a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:

Để xác định thực tế việc học từ vựng môn tiếng Anh trong tình hìnhchung hiện nay ở các trường tiểu học, tôi đã tiến hành kiểm tra chất lượngbằng việc dự giờ thăm lớp giáo viên ở các trường lân cận và trực tiếp kiểmchứng qua các tiết tôi giảng dạy Nhìn chung, tôi thấy học sinh tiểu học họcmôn tiếng Anh, đặc biệt là khi học từ vựng với một thái độ chưa tích cực,vẫn còn “nặng nề” dẫn đến kết quả bài học không cao

Trang 6

Từ những tình hình chung đó và kết hợp với tình hình thực tế tôi nhậnthấy việc học từ vựng môn tiếng Anh của học sinh vẫn còn sự hạn chế khácnhau Mà cụ thể được thể hiện ở chất lượng bài tập của các em chưa cao Đểkhắc phục tình trạng này tôi đưa ra một số vấn đề từ thực tế cần giải quyết,nhằm mục đích giúp cho các em học sinh dần tiếp thu cách thức, cũng nhưphương pháp học tập góp phần nâng cao chất lượng khi học môn tiếng Anh.

b Nội dung và cách thực hiện các giải pháp, biện pháp:

b.1 Quá trình thực hiện:

* Cách lựa chọn từ để dạy:

Tiếng Anh là một môn học có tầm quan trọng, nó là công cụ để giaotiếp với các nước trên thế giới Muốn giao tiếp tốt chúng ta phải có vốn từphong phú

Ở môi trường tiểu học hiện nay, khi nói đến ngữ liệu mới là chủ yếunói đến ngữ pháp và từ vựng, từ vựng là ngữ pháp luôn có mối quan hệkhắng khích với nhau, luôn được dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của nhau.Tuy nhiên việc dạy và giới thiệu từ vựng là vấn đề cụ thể Thông thườngtrong một bài học luôn xuất hiện những từ mới, xong không phải từ mới nàocũng cần đưa vào để dạy Để chọn từ cần dạy, giáo viên cần xem xét nhữngvấn đề:

- Từ chủ động (active vocabulary)

- Từ bị động (passive vocabulary)

Chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này khác nhau Từ chủ động cóliên quan đến bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết) Đối với loại từ này giáoviên cần đầu tư thời gian để giới thiệu và cho học sinh tập nhiều hơn

Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần đầu

tư thời gian vào các hoạt động ứng dụng Giáo viên cần biết lựa chọn vàquyết định xem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một từ bịđộng

- Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là:

Trang 7

- Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình độcủa học sinh Không bao giờ dạy tất cả các từ mới, vì sẽ không có đủ thờigian thực hiện các hoạt động khác Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ nên dạytối đa là 6 từ.

- Trong khi lựa chọn từ để dạy, bạn nên xem xét đến hai điều kiện sau:+ Từ đó có cần thiết cho việc hiểu văn bản không?

+ Từ đó có khó so với trình độ học sinh không?

- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độcủa học sinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn phải dạy cho họcsinh

- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản nhưng khó so với trình độcủa học sinh, thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn nên giải thíchrồi cho học sinh hiểu nghĩa từ đó ngay

- Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng không khólắm thì bạn nên yêu cầu học sinh đoán

* Các phương pháp gợi mở giới thiệu từ mới:

Giáo viên có thể dùng một số thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới như:

Visual (nhìn): cho học sinh nhìn tranh ảnh, vẽ phác họa cho các em

nhìn, giúp giáo viên ngữ nghĩa hoá từ một cách nhanh chóng

Trang 8

e.g: a car e.g: a flower

Mine (điệu bộ): Thể hiện qua nét mặt, điệu bộ.

e.g: bored

Teacher looks at watch, makes bored face, yawns

T asks: “How do I feel?”

e.g: (to) jump

T jumps

T asks: “What am I doing?”

Realia (vật thật): Dùng những dụng cụ trực quan thực tế có được.

e.g open (adj.), closed (adj.)

T opens and closes the door

T says, “Tell me about the door: it’s what?”

Situation/ explanation (tình huống/ giải thích):

e.g honest

T explains, “I don’t tell lies I don’t cheat in the exams I tell the truth.”

T asks, “What am I? Tell me the word in Vietnamese.”

Example (ví dụ):

e.g fumiture

T lists examples of fumiture: “tables, chairs, beds – these are all .fumiture Give me another example of fumiture ”

Synonyon \ antonyon (đồng nghĩa \ trái nghĩa): Giáo viên dùng

những từ đã học rồi để giảng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa

Trang 9

Giáo viên dùng những từ tương đương trong tiếng Việt để giảng nghĩa

từ trong tiếng Anh Giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi không còn cáchnào khác, thủ thuật này thường được dùng để dạy từ trừu tượng, hoặc để giảiquyết một số lượng từ nhiều nhưng thời gian không cho phép, Giáo viên gợi

ý học sinh tự dịch từ đó

e.g (to) forget

T asks, “How do you say “quên” in English?”

T’s eliciting questions (câu hỏi gợi ý) : Để giới thiệu từ mới, giáo

viên dạy cho học sinh theo bốn kỹ năng nghe – nói – đọc – viết

- Nghe: Giáo viên cho nghe băng (CD, caset, …) hoặc đọc mẫu, họcsinh lắng nghe

- Nói: Giáo viên đọc từ, câu làm mẫu cho học sinh, học sinh đọc lại vàluyện nói

- Đọc: Giáo viên viết từ lên bảng, giáo viên đọc mẫu cho học sinh, họcsinh luyện đọc từ

- Viết: Học sinh viết từ vào tập, vở

Trong khi dạy từ mới phải ghi nhớ các điểm sau: Nên giới thiệu từtrong mẫu câu, ở những tình huống giao tiếp khác nhau, giáo viên kết hợpviệc làm việc đó, bằng cách thiết lập được sự quan hệ giữa từ cũ và từ mới,

từ vựng phải được củng cố liên tục

Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ bằng cách chocác em viết từ vào bảng con và giơ lên, với cách này giáo viên có thể quansát được toàn bộ học sinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và nên nhớ

Trang 10

cho học sinh vận dụng từ vào trong mẫu câu, với những tình huống thực tếgiúp các em nhớ từ lâu hơn, giao tiếp tốt và mang lại hiệu quả cao.

Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cần phảilựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào ngắnnhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ vựng thìcác em đọc được, viết được và biết cách đưa vào các tình huống thực tế

b.2 Biện pháp tổ chức thực hiện:

* Công tác chuẩn bị trước khi dạy từ:

Để việc dạy từ và giúp học sinh nhớ từ lâu, giáo viên phải chuẩn bịnhững việc sau đây:

Lập kế hoạch dạy từ vựng sẽ được học hoặc ôn tập theo đặc trưng củatừng tiết học

Lựa chọn trò chơi và thủ thuật cho phù hợp theo từng nội dung bài

- Chuẩn bị một số đồ dùng dạy học ( bảng phụ dạy từ, bút lông, tranh,vật thật, thẻ bìa… )

- Chuẩn bị máy tính, đèn chiếu nếu tiết dạy có sự hỗ trợ của việc ứngdụng công nghệ thông tin

- Chuẩn bị, sắp xếp lớp học để tổ chức cho học sinh một số trò chơi cóhiệu quả

* Các bước tiến hành giới thiệu từ mới:

Điều quan trọng nhất trong giới thiệu từ mới là phải thực hiện theotrình tự: nghe, nói, đọc, viết Đừng bao giờ bắt đầu từ hoạt động nào khác

“nghe” Hãy nhớ lại quá trình học tiếng mẹ đẻ của chúng ta, bao giờ cũngbắt đầu bằng nghe, bắt chước phát âm rồi mới tới những hoạt động khác.Hãy giúp cho học sinh của bạn có một thói quen học từ mới một cách tốtnhất:

- Bước 1: “nghe”, bạn cho học sinh nghe từ mới bằng cách đọc mẫuhoặc mở băng đĩa cho học sinh nghe

Trang 11

- Bước 2: “nói”, sau khi học sinh đã nghe được ba lần bạn mới yêucầu học sinh nhắc lại Khi cho học sinh nhắc lại, bạn cần chú ý cho cả lớpnhắc lại trước, sau đó mới gọi cá nhân.

- Bước 3: “đọc”, bạn viết từ đó lên bảng và cho học sinh nhìn vào đó

để đọc Cho học sinh đọc cả lớp, rồi đọc cá nhân và sửa lỗi cho học sinh tớimột chừng mực mà bạn cho là đạt yêu cầu

- Bước 4: “viết”, sau khi học sinh đã đọc từ đó một cách chính xác rồibạn mới yêu cầu học sinh viết từ đó vào vở

- Bước 5: bạn hỏi xem có học sinh nào biết nghĩa của từ đó không vàyêu cầu một học sinh lên bảng viết nghĩa của từ đó bằng tiếng Việt

- Bước 6: đánh trọng âm từ: phát âm lại từ và yêu cầu học sinh nhậndiện âm tiết có trọng âm và đánh dấu

- Bước 7: cho câu mẫu và yêu cầu học sinh xác định từ loại của từ mớihọc

* Tiến trình thực hiện các phương pháp kiểm tra và củng cố từ mới:

Có nhiều cách giúp học sinh nhớ từ lâu Tuy nhiên mỗi bài học cónhững đặc trưng riêng Tùy vào từng nội dung bài dạy mà giáo viên có thểlựa chọn cách thức lựa chọn cho phù hợp Giáo viên có thể thực hiện trongphần Warm up, FreePractice hoặc ngay sau khi dạy xong từ vựng

Giáo viên thực hiện các trò chơi hợp lý tạo không khí lớp học vui vẻ

và sinh động giúp cho học sinh có một tâm lý thoải mái để nhớ từ trong bài

Có thể thực hiện dưới hình thức các trò chơi tập thể, nhóm, cặp hoặc cánhân Tuy nhiên, dù thực hiện dưới hình thức nào, giáo viên cũng cần tổchức cho tất cả học sinh trong lớp theo dõi, nhận xét để các em cùng thựchiện Sau đây là 9 trò chơi điển hình cho việc kiểm tra và củng cố từ mới:

Trò chơi 1: Slap blackboard.

- Mục đích:

Trang 12

+ Luyện đọc và củng cố kỹ năng nghe lại từ đã học và nhận diện mặtchữ

+ Luyện phản xạ nhanh ở các em

- Chuẩn bị : Không cần chuẩn bị bất kỳ đồ dùng nào

- Cách chơi : Cả lớp ngồi tại chỗ Giáo viên giới thiệu tên trò chơi và

vẽ một số hình khác nhau lên bảng : hình tròn, hình tam giác, hình vuông,hình chữ nhật, hình thoi, hình ê líp… rồi ghi lại một số từ mới vừa học vàocác hình trên Giáo viên đưa ra rước là giáo viên sẽ đọc tất cả là … từ Họcsinh đứng trước bảng, nghe giáo viên đọc và đập nhanh vào chữ đó

- Luật chơi : Chơi theo cặp, giáo viên chia lớp làm hai đội và đặt tên

cho mỗi đội, lần lượt mỗi đội cử ra từng bạn nên thi đấu với bạn của đội kia Hai bạn đứng trước bảng ở một khoảng cách nhất định và nghe giáo viênđọc rồi nhanh chóng đập tay vào chữ giáo viên vừa đọc được ghi trên bảng,

ai đập nhanh và đúng sẽ mang về cho đội mình 1 điểm Tiếp tục với cặp thiđấu khác, kết thúc là đủ số từ mà giáo viên đã nêu ra trước khi đọc

Ví dụ:

* Lưu ý : Trò chơi này cũng có thể cử ra một bạn giỏi lên để đọc

những từ bất kỳ vừa ghi trên bảng cho hai bạn nghe nhận diện và đập tayvào hình có từ vừa đọc

Trò chơi 2: Guessing word.

Đây là trò chơi giống như trong chương trình “Chiếc nón kỳ diệu” tức

dancermusician

footballer

worker factoryteacher

singer

nursefarmer

doctor

Trang 13

- Mục đích: Giúp cho học sinh thực hành ôn và luyện đọc từ một cách

hiệu quả

- Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị bất kỳ đồ dùng nào

- Cách chơi: Người chủ trò (giáo viên hoặc một học sinh) lấy một cái

tên hoặc từ theo một chủ đề cho trước rồi viết lên bảng hoặc ra giấy một số ô

vuông tương ứng với số chữ cái của cái tên đó hoặc từ đó Người chơi sẽ

đoán mỗi lần một chữ cái, nếu chữ cái đó có trong ô chữ thì chủ trò sẽ viếtchữ cái ấy vào đúng vị trí

- Luật chơi: Ai tìm ra tên thì người đó thắng Ngược lại sau năm lần

đoán sai (Số lần là do người chủ trò và người chơi quy định) mà chưa tìm rathì người chơi sẽ thua Có thể hai hay nhiều học sinh làm chủ trò thay nhau

Ai thắng nhiều lần thì sẽ thắng trong cuộc

Ví dụ: Giáo viên làm chủ trò Giáo viên cho biết ô chữ mà hai học

sinh chơi là một ô chữ gồm năm chữ cái, đây là tên một đồ dùng học tập.Giáo viên ghi năm ô chữ lên bảng

Chẳng hạn người chơi I đoán trước là chữ “A” người chủ trò nói làkhông có chữ “A”, như vậy thì người thứ hai sẽ đến lượt, người thứ II đoánchữ “E” người chủ trò nói có chữ “E” và viết vào đúng vị trí đúng trong ôchữ

E

Trò chơi 3: Matching game.

- Mục đích: Giúp học sinh luyện tập và kiểm tra lại từ đã học.

- Chuẩn bị: Một số tranh liên quan đến từ vừa học, thẻ từ hoặc không

cần chuẩn bị đồ dùng nào hết

- Cách chơi: Giáo viên viết các từ mới hoặc từ muốn ôn lại cho học

sinh thành cột Cột khác viết nghĩa bằng Tiếng Việt hoặc treo tranh thành

Ngày đăng: 28/05/2021, 14:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w