1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng triết học phật giáo và sự ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam

28 38 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 188,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.2 Nhận thức luận Phật giáo Phật giáo cho rằng, sự nhận thức của con người được hình thành từ sự kết hợp giữachủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức, thiếu một trong hai thứ này thì

Trang 1

KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG

VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM

Năm 2016

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3

Chương 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 4

1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo 4

1.2 Nội dung tư tưởng triết học Phật giáo 6

1.2.1 Thế giới quan Phật giáo 6

1.2.2 Nhận thức luận Phật giáo 9

1.2.3 Nhân sinh quan Phật giáo 13

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM 16

2.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam 16

2.2 Những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam 18

2.2.1 Những ảnh hưởng tích cực 18

2.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực 23

2.3 Kế thừa những gia trị tích cực của Phật giáo trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam 25

KẾT LUẬN 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

5 Trần Huy Tạo, 2016, Vài nét về nhận thức luận trong triết học Phật giáo, Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 7/2016 28

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài

Tín ngưỡng tôn giáo là một nhu cầu của đời sống văn hóa tinh thần của mỗi conngười, của cộng đồng xã hội Phật giáo xuất hiện vào cuối thế kỉ thứ VI trước Côngnguyên, là một tôn giáo với nội dung cơ bản đề cập đến việc lý giải căn nguyên của nỗikhổ và tìm con đường giải thoát con người khỏi nổi khổ triền miên đó Phật giáo khởithủy ở Ấn Độ sau đó truyền đi khắp các xứ lân cận.Trước hết sang các nước Trung Á rồisang Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản và các nước miền Nam Châu Á Việt Nam cũngthuộc trong phạm vi ảnh hưởng ấy Phật giáo ở mỗi nước có một tinh thần và đặc trưngkhác nhau như lịch sử nước ấy Phật giáo đến với người Việt Nam từ rất lâu đời, vàokhoảng nửa cuối thế kỉ thứ I Do bản chất từ bi hỉ xã, Phật giáo đã nhanh chóng tìm đượcchỗ đứng vững chắc trên đất nước ta Từ khi vào Việt Nam, Phật giáo ảnh hưởng sâu sắcđến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam Vì các triết lý Phật giáo xuất phát từtâm tư và nguyện vọng của con người nên số người theo Phật tăng nhanh Những ảnhhưởng của tư tưởng Phật giáo ăn sâu vào đời sống của đại đa số người dân Việt Namkhông chỉ từ trong giai đoạn đầu của lịch sử dân tộc mà còn kéo dài đến cuộc sống ngàynay Vì vậy việc tìm hiểu về Phật giáo và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống vănhóa tinh thần của người Việt Nam là hết sức cần thiết

2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu tư tưởng triết học Phật giáo và sự ảnh hưởng đến đờisống văn hóa tinh thần của người Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để làm rõ nội dung nghiên cứu đã đề ra, đề tài dựa trên cơ sở thế giới quan vàphương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồngthời kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp: Phântích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh, hệ thống hoá, diễn dịch, quy nạp để nghiên cứu,phân tích và trình bày đề tài

Trang 4

Chương 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo

Phật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Côngnguyên Người sáng lập ra Phật giáo tên là Siddharta (Tất Đạt Đa), họ là Gôtama, dòng họnày thuộc bộ tộc Sakya Ông là thái tử - con vua Tịnh Phạn, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn

Độ lúc đó (nay thuộc đất Nepal) sáng lập

Ông sống trong cung điện suốt thời thơ ấu, nhưng khi thành niên ông đã khám phánhững sự việc bên ngoài cung thành Trên đường phố nọ, ông thấy một người bệnh, mộtlão già, và một xác chết, khiến cho ông suy nghĩ về bản chất khổ đau của cuộc đời Khinhìn thấy một vị khất sĩ thong dong tự tại, ông quán xét đến khả tính giải thoát khỏi vòngluân hồi Và vì vậy, năm hai mươi chín tuổi, ông rời hoàng cung, rũ bỏ trang phục hoànggia, và thực hành đời sống của một vị khất sĩ thong dong

Ông đã tham học với các vị đạo sư lớn của thời đại ông và thông đạt những kỹthuật thiền định của họ nhưng khám phá ra rằng chúng không đưa tới giải thoát Trải qua

6 năm ông thực hành khổ hạnh nghiêm khắc trong rừng, nhưng rồi nhận thấy rằng sựhành hạ thân xác không thuần hóa được tâm, nên ông tu theo con đường trung đạo giữ gìnthân thể khỏe mạnh cho lợi ích của việc tu tập tâm linh mà không phóng túng chạy theocác tiện nghi không cần thiết

Ngồi dưới gốc cây bồ đề nơi mà ngày nay là Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) tại Ấn

Độ, ông nguyện không đứng dậy cho đến khi đạt thành giác ngộ viên mãn Vào đêm trăngtròn tháng tư âm lịch, ông đã hoàn thành tiến trình tẩy trừ tất cả vô minh và phát triển tất

cả thiện pháp, và ông đã trở thành đức Phật giác ngộ hoàn toàn Lúc đó ông đã 35 tuổi, và

45 năm kế tiếp ông đi giảng dạy giáo pháp mà ông đã chứng ngộ qua kinh nghiệm tự thâncho những người đến để nghe

Đạo Phật có hai nhánh chính Tiểu thừa (Hinayana), hay Cỗ Xe Nhỏ, nhấn mạnhđến sự giải thoát cá nhân, trong khi Đại thừa (Mahayana), hay Cỗ Xe Lớn, chú trọng đếnviệc tu tập thành một vị Phật toàn giác để phổ độ chúng sinh một cách hoàn hảo nhất Mỗinhánh lại có nhiều phân nhánh Tuy nhiên, hiện nay, ba hình thức chính còn tồn tại: một

Trang 5

là Tiểu thừa, được biết như Theravada, ở Đông Nam Á, và hai nhánh Đại thừa, đó là cáctruyền thống Phật giáo Trung Quốc và Tây Tạng.

Truyền thống Tiểu thừa lan rộng từ Ấn Độ đến Tích Lan (Sri Lanka) và Miến Điện(Mianma) vào thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, và từ đó đến Vân Nam (Yunnan), phíaTây Nam Trung quốc, Thái Lan, Lào, Cao Miên (Cambodia), miền Nam Việt Nam vàNam Dương (Indonesia) Không lâu sau đó, những chiếc túi của các thương nhân người

Ấn Độ theo đạo Phật đã được tìm thấy ở vùng duyên hải Bán Đảo Ả Rập, và thậm chí xahơn như Alexandria, Ai Cập Các hình thức khác của Tiểu thừa cũng lan đi từ thời đó đếnPakistan, Kashmir, A Phú Hãn (Afghanistan), vùng phía Đông và duyên hải của Iran,Uzbekistan, Turkmenistan và Tajikistan ngày nay Đây là những tiểu bang cổ xưa củaGandhara, Bactria, Parthia và Sogdia Từ căn cứ này ở vùng Trung Á, các hình thức đạoPhật Tiểu thừa này lan rộng hơn vào thế kỷ thứ hai sau công nguyên đến phía ĐôngTurkistan (Xinjiang) và xa hơn vào Trung Quốc, rồi đến Kyrgyzstan và Kazakhstan vàocuối thế kỷ thứ bảy Các hình thức Tiểu thừa sau đó được kết hợp với những nét đặc trưngcủa Đại thừa cũng đến từ Ấn Độ, để cuối cùng truyền thống Đại thừa trở thành hình thứcchiếm ưu thế của Phật giáo tại hầu hết vùng Trung Á

Hình thức Đại thừa của Trung Quốc sau này lan đến Đại Hàn, Nhật Bản và BắcViệt Nam Một làn sóng khác sớm hơn của Đại thừa, kết hợp với các hình thức Shaivitecủa Ấn Độ giáo, lan truyền từ Ấn Độ đến Nepal, Nam Dương, Mã Lai và các vùng ởĐông Nam Á, bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ năm Truyền thống Đại thừa Tây Tạng, bắtđầu từ thế kỷ thứ bảy, kế thừa toàn bộ lịch sử phát triển của Phật giáo Ấn Độ, trải rộngkhắp các vùng Hy Mã Lạp Sơn và đến Mông Cổ, Đông Turkistan, Kyrgyzstan,Kazakhstan, phía Bắc Nội Trung Hoa, Mãn Châu, Siberia và vùng Kalmyk thuộc Mông

Cổ gần biển Caspian, thuộc phần Châu Âu của nước Nga

Sự lan rộng của đạo Phật ở hầu hết Châu Á đã diễn ra một cách an hòa, theo nhiềucách Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã lập ra tiền lệ Trước tiên, là một vị thầy, ông đã đếncác vương quốc lân cận để chia sẻ sự hiểu biết sâu sắc của mình với những ai có lòngquan tâm và muốn học hỏi Tương tự như thế, ông chỉ thị các tăng sĩ của ông đi khắp nơi

để giải thích những giáo huấn của mình Ông không kêu gọi người khác chỉ trích và từ bỏtôn giáo của họ hay cải đạo theo đạo mới, vì ông không tìm cách thiết lập tôn giáo riêng

Trang 6

của mình Ông chỉ cố gắng giúp người khác vượt qua sự bất hạnh và khổ đau mà họ đangtạo ra cho chính mình, vì thiếu sự hiểu biết Các thế hệ môn đồ sau này nhận nguồn cảmhứng từ tấm gương của đức Phật và họ chia sẻ với người khác các phương pháp của ông

mà họ thấy mang lại lợi lạc cho đời sống của họ Đây là cách mà cái được gọi là “đạoPhật” hiện nay đã lan rộng và xa như thế nào

1.2 Nội dung tư tưởng triết học Phật giáo

1.2.1 Thế giới quan Phật giáo

Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của

ba phạm trù là: vô thường, duyên và vô ngã

Vô thường, tiếng Phạn là Anitya, hàm nghĩa sự biến chuyển, thay đổi, không cố

định Tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên thế gian đều vô thường Nói cách khác, sự vậtkhông bao giờ đứng yên hoặc mang tính đồng nhất bất biến mà luôn vận động, lưuchuyển Từ sơn hà, đại địa cho đến cỏ cây, hạt bụi và cả thân tâm con người luôn biếnđổi, không bao giờ cố định và phải chịu sự tác động của vô thường Không chỉ trong thếgiới vật chất mà ngay cả trong thế giới tâm thức, vô thường vẫn luôn hiện hữu

Con người, theo Phật giáo, là hợp thể của năm uẩn Trong đó, phần thân thể vậtchất tứ đại (sắc uẩn) thuộc về Sắc và phần tinh thần gồm cảm thọ, tri giác, tư duy và nhậnthức thuộc về Danh Năm uẩn hay danh-sắc này luôn ở trong trạng thái biến đổi như mộtdòng sông chảy mãi không ngừng trong đời sống con người

Thân thể con người nếu nhìn thật sâu vào bản chất, nó chỉ là một trạm trungchuyển của các yếu tố tứ đại Đất nước gió lửa từ bên ngoài đi vào thân, sau đó lại đi ra vàvòng tròn đó luân chuyển bất tận Nhờ sự vận hành ấy, thân này được nuôi dưỡng, lớnlên, già đi rồi hoàn trả về cho tứ đại Vì thế, khi các yếu tố tứ đại bị mất quân bình, bệnhtật xảy ra và khi dòng chảy tứ đại ngừng luân chuyển, cái chết ập đến Quá trình này, conngười chỉ điều khiển được một phần, còn đa phần là mất tự chủ Vì thế, chuyện sống chết,còn mất, có không của thân này như gió thoảng, mây bay

Về tâm lý của con người cũng vậy, các trạng thái tâm lý luôn thay đổi, chuyển biếntrong từng sát na Tâm thức con người với muôn ngàn ý niệm tuôn trào, trôi chảy như

Trang 7

thác lũ Tất cả vui buồn, thương ghét, tha thứ hay hận thù v.v , luôn hiện khởi và vậnhành trong tâm thức.

Tuy vậy, chúng ta cần phải cám ơn vô thường Bởi thực tế, nếu không có vôthường thì sẽ không có sự sống và phát triển Nếu hạt lúa thường tại thì nó không bao giờnảy mầm để trở thành cây lúa cho ra những hạt gạo trắng được Nếu sự vật không vôthường thì lịch sử tiến hóa của nhân loại sẽ không phát triển Nếu thân thể không vôthường thì con người sinh ra không thể lớn lên Và nếu không có sự tác động của vôthường thì chúng ta sẽ không bao giờ có hy vọng chuyển hóa, đoạn tận các tập khí tham áiphiền não đang tiềm ẩn sâu kín trong nội tâm chúng ta Giáo lý vô thường đem lại tuệgiác, nhận thức đúng về bản chất của các pháp đồng thời mang lại niềm tin cho mọi nỗlực chuyển hóa, sáng tạo và phát triển của con người Vì thế, vô thường là một khuôn dấucủa Chánh pháp; những giáo lý nào không mang đặc tính của ấn pháp này thì không phải

là Phật pháp

Quan điểm về “duyên” (là điều kiện) giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Phậtgiáo cho rằng, mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đềukhông thoát khỏi sự chi phối của nhân duyên: cái nhân(hetu) nhờ có cái duyên (prattiya)mới sinh ra mà thành quả (phla) Qủa lại do cái duyên mà thành ra nhân khác, nhân kháclại nhờ có duyên mà thành ra quả mới… Cứ thế, nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thếgiới, vạn vật muôn loài cứ sinh sinh hóa hóa mãi theo quy luật nhân quả Nhân là nănglực phát sinh, duyên là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh Như cây lúa thì hạt lúa là nhân,nước, ánh sáng mặt trời, công cày bừa gieo trồng là duyên Nhân duyên đó hội họp sinh racây lúa Tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà hành động Nói nương nhau có nghĩa

là sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau mà thành Đó là nhân duyên.Nhân nào quả ấy Con người do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bởi hai thànhphần: thể xác và tinh thần Hai thành phần ấy là kết quả hợp tan của Ngũ Uẩn Hai thànhphần tạo nên Ngũ Uẩn, do nhân duyên hợp thành Mỗi con người cụ thể có danhsắc(nâma-suna), Duyên hợp Ngũ Uẩn thì là ta, duyên tan Ngũ Uẩn thì không còn ta, làdiệt Nhưng không phải là mất đi mà trở lại với ngũ uẩn.Ngay các yếu tố của ngũ uẩncũng luôn biến hóa theo quy luât nhân quả không ngừng

Trang 8

Vô ngã (Anatma) là giáo lý đặc thù của Phật giáo Giáo lý này là hệ quả của quátrình quan sát một cách sâu sắc nguyên lý duyên khởi Với quan điểm vô thường, chúng tathấy được sự vận động trong tự thân của sự vật và toàn thể Nếu nhìn sâu hơnqua lăng kính duyên khởi, ngoài sự vận động thì bản chất của sự vật luôn mang tínhkhông đồng nhất Mỗi sự vật, hiện tượng đều do các điều kiện, nhân duyên kết hợp, tươngtác lẫn nhau mà tạo thành, do vậy tuyệt nhiên không có tính chủ thể, đồng nhất, bất biếntrong nó Vì thế, Phật dạy: “Các pháp vô ngã”.

Khi thấy một chiếc lá vàng rơi, bình thường ta chỉ biết đó là chiếc lá vàng nhưngnếu nhìn sâu thì trong chiếc lá kia có những khoáng chất của đất, có ánh sáng mặt trời, cónước từ những đám mây, có gió của bầu trời… và có cả một chút bâng khuâng của lòngngười Như thế, chiếc lá kia được tạo thành từ những yếu tố không phải là chiếc lá, trong

nó có đầy đủ cả vũ trụ Từ chiếc lá xanh, theo thời gian chuyển qua lá vàng, đó là sự vậnđộng vô thường, nhưng dù là lá xanh hay vàng thì trong bản chất của chúng cũng donhững yếu tố không phải lá tạo thành (duyên khởi), chiếc lá vốn Vô ngã

Con người cũng vậy, là hợp thể ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành và thức Bản chấtcủa ngũ uẩn là Không, không chủ thể, Vô ngã Tuy nhiên, vì nghiệp lực con người luônlầm chấp thân năm uẩn này là một hữu thể đồng nhất, có một “linh hồn” trường cửu, bấtbiến, không thay đổi Từ mê mờ về một cái “ngã, tôi” giả tạo ấy nên con người dễ dàngsanh ra tâm lý tham đắm, say mê, ôm ấp, bảo thủ và chấp chặt vào những gì thuộc về nămuẩn (cái của tôi) Thế nhưng, mọi sự vật hiện tượng luôn sinh diệt, chuyển biến trong từngsát na Sự sinh thành và hoại diệt của năm uẩn là kết quả của các điều kiện nhân duyên vàquá trình sanh già bệnh chết, hay hình thành, tồn tại-thay đổi, hoại diệt, tiêu hủy luôn làmột sự thật cho mọi con người, mọi loài và mọi vật

Vì không nhận thức được tính vô ngã của vạn sự, vạn vật (vô minh) nên chấp thủ,tham ái phát sanh và đó cũng chính là cội nguồn của mọi tà kiến, khổ đau Quan điểm vôngã không những xác quyết tính pháp định của Chánh pháp mà còn mang tính đặc thù củagiáo lý đạo Phật

Như vậy thông qua các phạm trù vô thường, duyên và vô ngã triết học Phật giáo đãbác bỏ quan điểm duy tâm cho rằng thần Braham sáng tạo ra con người và thế giới Phật

Trang 9

giáo cho rằng con người và sự vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần , các

sự vật của thế giới nằm trong quá trình biến đổi không ngừng

1.2.2 Nhận thức luận Phật giáo

Phật giáo cho rằng, sự nhận thức của con người được hình thành từ sự kết hợp giữachủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức, thiếu một trong hai thứ này thì sự nhận thứckhông thể có được Trong đó, Phật giáo cho rằng con người có sáu năng lực nhận biết vềđối tượng, gọi là Lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý Tương ứng với Lục căn là đối tượngtrong khách thể nhận thức (gọi là Cảnh) gồm Lục trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.Khi Lục căn gặp Lục trần trong quá trình nhận biết thì Phật giáo gọi là Lục nhập Sự gặp

gỡ của Lục căn và Lục trần trong quá trình nhận biết sinh ra cái biết, gọi là Thức, màtrước hết gồm có Lục thức: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ýthức Theo đó:

Nhãn căn lấy sắc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhãn thức

Nhĩ căn lấy thính trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhĩ thức

Tỷ căn lấy hương trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Tỷ thức

Thiệt căn lấy vị trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thiệt thức

Thân căn lấy xúc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thân thức

Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi , tác dụng thấy, nghe, ngửi ấy là Thức Mỗi thức cómột tác dụng riêng, thức là một tác dụng vô hình, vô tướng Thức ở đâu cũng có và ở đâu

có căn và có cảnh thì tác dụng ấy có thể được biểu hiện

Phân biệt thuần tuý của năm thức ấy là một phân biệt bằng trực giác, nên khôngphải là một phân biệt có tính cách suy tầm, đắn đo Phân biệt suy tầm đắn đo là phân biệtcủa thức thứ sáu tức ý thức rộng lớn vô cùng Đối tượng của ý thức là Pháp trần sinh racác tư tưởng Khi thức này hợp tác cùng năm thức trước thì đối tượng tổng hợp của nó làngũ trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc)

Nếu năm căn trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) có quan năng phát sinh mang hìnhchất thì năng lực thứ sáu (ý) có quan năng phát sinh không mang hình chất gọi là Mạt na(Mạt na thức) Phân tích các tác dụng của Mạt na, Phật giáo chia ra, Mạt na sinh ra cáibiết (phân biệt) mang tính gián đoạn (biết khi tỉnh, không biết khi ngủ) gọi là Ý thức, Mạt

Trang 10

na có tác dụng chấp ngã, tức chấp có Mạt na chấp cái biết của bảy năng lực trên đây vàtrở thành kho chứa của bảy thức gọi là Alaya thức (Tàng thức).

Cái mà thức thứ bảy (Mạt na) chấp làm bản ngã là một phần của thức Alaya Thứcnày là tất cả, là chỗ chứa đựng tất cả các hình ảnh do bảy thức trước khảm nhập vào, do

đó dường như không để mất đi một hình ảnh nào

Như vậy, khi bàn về lý tám thức sẽ là những căn cứ xuất phát để đi vào làm rõ các

quan điểm trong nhận thức luận của triết học Phật giáo Cụ thể thuyết Tam lượng hình

thức cơ bản của nhận thức luận Phật giáo

Lượng là lượng tính, là tính toán và so lường và cũng là sự phân biệt, cân nhắc vạnpháp của Tâm thức để hiểu biết Lượng còn gọi là năng phân biệt Năng phân biệt cónghĩa là tâm thức có sức, có lực phân biệt vạn pháp Nói cách khác, lượng ở đây là chỉcho Tâm thức thuộc về chủ thể, có khả năng phân biệt vạn pháp và Tâm thức phân biệt cótính cách so lường thiệt hơn, cân nhắc lợi hại, phân tích đúng sai để chọn lựa tinh tường,sâu sắc cho sự hiểu biết Tâm thức nhờ phân biệt mới có thể hiểu biết rõ tính chất, giá trị

và ý nghĩa của mọi vật nên gọi là Lượng

Trong triết học Phật giáo Hiện lượng được xem là hình thái đầu tiên của quá trìnhnhận thức Hiện lượng nghĩa là hiểu biết trực tiếp những cảnh vật, đối tượng đã được hiệnbày đầu tiên và sự hiểu biết hiện lượng hoàn toàn không có ý niệm diễn dịch và suy luận.Tác dụng nhận thức ở đây chỉ thuần tuý trực cảm, trực quan mà chưa có tính cách phánđoán và suy luận Năm thức đầu và ALaya thức là hai loại tâm thức luôn luôn nhận biếtbằng Hiện lượng

Hình thái nhận thức thứ hai là Tỷ lượng Trong tiếng Hán, “tỷ” là so sánh, “tỷlượng” là nhận thức thông qua sự so sánh Tỷ lượng cũng là xét đoán, tính toán theo sự sosánh đúng sai, cân nhắc lợi hại, phân biệt phải quấy, lựa chọn hơn kém của tâm thức đểhiểu biết Đây là sự hiểu biết của ý thức (thức thứ sáu) Ý thức hiểu biết vạn pháp qua ảnh

tử do năm tâm thức cung cấp Không giống như sự hiểu biết trực tiếp của năm tâm thứctrước, ý thức hiểu biết vạn pháp qua sự suy luận, diễn giải, nghĩa là ý thức luôn luôn phânbiệt được danh xưng, ý nghĩa và tướng trạng từng sự vật một để nhận biết tính chất cũngnhư giá trị mỗi loại

Trang 11

Vậy, Tỷ lượng và Hiện lượng có hai đối tượng nhận thức khác nhau Đối tượngcủa Hiện lượng là Tự tướng với tính cách là cái riêng, cái đặc thù; trong khi đối tượng của

Tỷ lượng là Cộng tướng với tính cách là cái chung, cái phổ biến, toàn thể Cộng tướng có

sự ngộ chấp chủ quan của chủ thể, sự phản ánh của Tỷ lượng về cộng tướng chỉ là “giảhữu - giả có” (ước không, ước có)

Nhận thức theo Tỷ lượng có hai loại, đó là Chân tỷ lượng và Tợ tỷ lượng

Chân tỷ lượng có nghĩa là ý thức hiểu biết chính xác về tính chất, giá trị và ý nghĩacủa vạn pháp hiện có mặt trong thế gian bằng sự suy luận và diễn giải Những hiện tượngảnh tử do năm thức đầu cung cấp đều phát sinh từ nơi những sự vật có thực chất trong thếgian nên gọi là chân và ý thức hiểu biết đúng những hiện tượng ảnh tử đó bằng sự suyluận và diễn giải nên gọi là Chân tỷ lượng

Nếu Chân tỷ lượng là sự hiểu biết chính xác về tính chất, giá trị và ý nghĩa của ýthức thứ sáu về vạn pháp hiện có mặt trong thế gian bằng sự suy luận và diễn dịch thì Tợ

tỷ lượng là việc ý thức nhớ lại (hồi tưởng) và so sánh những quá trình nghiệm sống củamình để hiểu biết tính chất, ý nghĩa và giá trị từng loại trong cuộc đời Những quá trìnhnghiệm sống nói trên đã được đúc kết lại thành những hạt giống và cũng đã được tàng trữtrong thể thức Alaya Khi muốn nhớ lại thì ý thức phải nhờ thức Mạt na mang những hìnhảnh của hạt giống này từ trong thể thức Alaya đưa lên để trình diện cho ý thức thứ sáu sosánh Sự so sánh này của ý thức để hiểu biết được gọi là Tợ tỷ lượng, vì những hình ảnhđem so sánh này có phần không thực chất và cũng không giống những sự vật hiện tượng

có mặt trong thế gian

Hình thái nhận thức thứ ba trong triết học Phật giáo gọi là Phi lượng Thực ra, đâykhông phải là một hình thái nhận thức độc lập với hai hình thái nhận thức trước Hiệnlượng và Tỷ lượng có khi đúng và cũng có khi sai, mà mỗi khi sai thì đều là Phi lượng.Hiện lượng mà sai thì không phải là Chân hiện lượng mà là Tợ hiện lượng Tỷ lượng màsai thì không phải là Chân tỷ lượng mà là Tợ tỷ lượng Tợ ở đây là có vẻ giống như cái đónhưng thực ra không phải là cái đó Chẳng hạn, khi ta đi trong đêm tối mà nhận lầm sợidây làm con rắn thì đó là Tợ hiện lượng; còn khi suy diễn sai một điều gì chẳng hạn thì đó

là Tợ tỷ lượng

Trang 12

Như vậy, Phi lượng là sự xét đoán của Tỷ lượng và Hiện lượng nhưng sai lầm,không đúng sự thật Đây thường là sự hiểu biết của thức Mạt na, một sự nhận thức bằngtưởng tượng, nhận biết mang tính chất so đo, chấp trước Sự xét đoán, so lường của Mạt

na thức thường chấp trước những điều không đúng chân giá trị của hiện tượng thực tạinên gọi là Phi lượng Thức Mạt na luôn chấp trước nên khống chế và điều khiển ý thứcnhận xét mọi việc và thường bóp méo sự thật Sự hiểu biết vạn pháp của Mạt na thứckhông được vô tư mà lại hay sai lệch nên gọi là Phi lượng

Việc nêu ra và làm rõ các hình thái của quá trình nhận thức, có thể xem là mộttrong những đóng góp có ý nghĩa tích cực của triết học Phật giáo đối với sự phát triển củanhận thức luận nói chung Với ba hình thái của quá trình nhận thức bao gồm: Hiện lượng,

Tỷ lượng và Phi lượng; trong đó Hiện lượng đã có phần nào giống với các hình thức nhậnthức đầu tiên (cảm giác và tri giác) của nhận thức cảm tính, còn Tỷ lượng lại bao hàm cáchình thức nhận thức lý tính (biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy luận), trong đó biểutượng là hình thức giao thoa giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Còn Phi lượng,không có gì khác hơn, đó chính là sự sai lầm của Hiện lượng và Tỷ lượng, tức sai lầm của

Với sự ra đời của nhận thức luận là một kết quả tất yếu, do nhu cầu phát triển nộitại của bản thân triết học Nó không những có vai trò khá lớn đối với sự phát triển củatriết học Phật giáo nói riêng mà nó còn có ảnh hưởng đến sự phát triển của tư tưởng nhậnthức của các trường phái triết học khác nói chung trong lịch sử triết học

Nhận thức luận Phật giáo còn góp phần sáng tỏ và làm phong phú thêm hệ các vấn

đề nhận thức nói chung, góp phần tích cực vào sự phát triển của tư tưởng loài người vềnhận thức, về hình thức và phương pháp nhận thức, về các cấp độ phát triển của nhậnthức, về vai trò của nhận thức Đặc biệt, nhận thức luận Phật giáo đã góp phần làm sáng tỏ

Trang 13

các mục tiêu của nhận thức, chỉ ra vai trò và giá trị của nhận thức đối với sự rèn luyện, tudưỡng đời sống đạo đức của con người, đời sống mà trong đó con người hoàn thiện vàlàm giàu sinh hoạt tinh thần của mình.

1.2.3 Nhân sinh quan Phật giáo

Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vật duyênkhởi, chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của đạo Phật về vấn đề nhân sinh quan

Ở đây chúng ta sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi:

- Có phải cuộc sống chỉ toàn là đau khổ? Và vấn đề giải thoát trong đạoPhật là gì?

- Con người là gì? Từ đâu mà sinh ra? Chết rồi đi đâu? Vị trí của con người trongđạo Phật

- Quan niệm của Phật về các vấn đề: bình đẳng, tự do, dân chủ ?

Trước khi trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích Tứ diệu đế

vì đây là giáo lý kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ các vấn đề trên

Đầu tiên, thể hiện trong thuyết Tứ diệu đế, tư tưởng giải thoát Phật giáo có xuấtphát điểm từ nỗi khổ của cuộc sống con người Theo quan điểm của Phật giáo, thì ngayviệc con người sinh ra và tồn tại thì con người lại càng rơi vào vô minh, rơi vào những ảotưởng giả tạo Chính vì thế nhiệm vụ và mục đích tối cao của sự giải thoát chính là xóa bỏ

sự vô minh của con người để đạt tới sự giác ngộ với cái tâm sáng tỏ, có thể nhận ra chânbản tính của mình và thực tướng của vạn vật Có vậy mới dập tắt được ngọn lửa ái dục,thoát ra mọi khổ não của cuộc đời để đạt đến cõi Niết bàn (Nirvana) Vì vậy, mà đức Phật

đã đưa Khổ đế thành chân lý thứ nhất Triết lý của đạo Phật khẳng định thực tại nhân sinh

là khổ Phật đã nói trong kinh Chuyển Pháp Luân rằng: Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh làkhổ, tử là khổ, oán tăng hội khổ, thụ biệt ly khổ, thụ ngũ uẩn khổ, sở cầu bất đắc khổ

1 Sinh khổ: đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chiphối nên khổ

2 Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ đến.Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy thì danhăn nheo, xương tủy mệt mỏi Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta

Trang 14

3 Bệnh khổ: trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân thểsuy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ

.4 Tử khổ: là cái khổ khi người ta chết Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái thânnào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiềnnão vô cùng

5 Cầu bất đắc khổ (thất vọng): người ta thường chạy theo những điều mình ưathích, mong cầu hết cái này đến cái khác Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu đượcrồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc

6 Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly

7 Oán tắng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình

8 Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức

ấm Ngũ ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp

Như vậy, với Bát Khổ mà đức Phật đưa ra cũng đã khái quát rằng cuộc đời conngười vốn đã là bể khổ

Thứ hai, trong Tập Đế, Ông đã nêu ra và lý giải căn nguyên của nổi khổ, tức chỉ ranguồn gốc, nguyên nhân của mọi nổi khổ Cũng như ở thuyết “Nhân – Duyên khởi”,nguyên nhân chính để gây nên nổi khổ của con người chính là lòng ái dục Nhưng sở dĩ

có ái dục là vì sự vô minh, từ cái mê lầm của con người do không nhận thức được bảnchất của thế giới Con người muốn tồn tại mãi nhưng thực tại lại cứ luôn biến dịch, conngười muốn trường tồn nhưng cuộc đời cứ luân chuyển không ngừng nghĩ theo quy trình:sinh – lão – bệnh – tử; thành – trụ –hoại –không; sinh – trụ –dị – diệt Vì thế, con ngườimới sinh ra lòng tham, lòng sân, lòng si, chiếm đoạt để rồi gây nên những nỗi khổ triềnmiên trong đời Cùng với “Nhân duyên khởi”, đức Phật đưa ra thuyết “Thập nhị nhânduyên” để giải thích căn nguyên nổi khổ ấy, cùng với đó cũng vạch ra mối liên hệ củanghiệp từ quá khứ tới hiện tại, rồi từ hiện tại tới tương lai Mười hai duyên đó là: vô minh,hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, aí, thủ, hữu, sinh, lão tử Mười hai duyên này nốitiếp nhau, chúng liên hệ và chuyển hoá cho nhau, chúng vừa là “nhân” vừa lại là “quả”của nhân

Thứ ba, để con người có thể được giải thoát khỏi bể khổ thì phải diệt khổ, đó chính

là mục đích tối cao của sự giải thoát Chân lý tối cao mà đức Phật đưa ra đó là diệt đế

Ngày đăng: 28/05/2021, 12:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w