1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

VAN 9 TUAN 4

33 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 50,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Đặt vấn đề vào bài mới (1 phút): Tại huyện Nam Xương nay huyện Lý Nhân – Hà Nam có xã Vũ Điền và ba xã nữa có đền thờ người con gái tên là Vũ Thị Thiết hay còn gọi là Vũ Nương. Kể từ k[r]

Trang 1

TUẦN 4: NGỮ VĂN – BÀI 3; 4

Kết quả cần đạt

- Qua Chuyện người con gái Nam Xương, thấy được đức tính truyền thống

và số phận oan trái của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, những thành công về nghệ thuật kể chuyện của tác giả.

- Hiểu được tiếng Việt có một hệ thống từ ngữ xưng hô rất phong phú, tinh

tế, giàu sắc thái biểu cảm Biết sử dụng từ ngữ xưng hô một cách thích hợp trong giao tiếp.

- Nắm được cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp lời của một người hoặc của một nhân vật.

- Hiểu được một trong những cách quan trọng để phát triển từ vựng tiếng Việt là phát triển nghĩa của từ ngữ trên cơ sở nghĩa gốc của chúng.

Ngày soạn: 30/8/2011 Ngày

dạy:

9A: …/…/2011 9B: …/…/2011

a) Về kiến thức: Giúp học sinh nắm được cốt truyện, nhân vật, sự kiện trong một

tác phẩm truyện truyền kì Hiện thực về số phận của người phụ nữ Việt Nam dướichế độ cũ và vẻ đẹp truyền thống của họ

- Sự thành công của tác giả về nghệ thuật kể chuyện; mối liên hệ giữa tác

phẩm và truyện Vợ chàng Trương.

b) Về kỹ năng: - Rèn kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để đọc-hiểu tác phẩm

viết theo thể loại truyền kì

- Cảm nhận được những chi tiết nghệ thuật độc đáo trong tác phẩm tự sự cónguồn gốc dân gian Kể lại được truyện

c) Về thái độ:

- Giáo dục lòng cảm thông, yêu mến những người phụ nữ thời phong kiến

2 Chuẩn bị của GV và HS.

a) Giáo viên: Đọc SGK, SGV, nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án.

b) Học sinh : Học bài cũ, đọc và chuẩn bị bài theo câu hỏi SGK.

3 Tiến trình bài dạy.

Trang 2

* Ổn định tổ chức:

- Kiểm tra sĩ số: 9A:……….; 9B:………

- Lớp phó báo cáo việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh

a) Kiểm tra bài cũ (Miệng- 5 phút)

* Câu hỏi: Trong văn bản “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em” phần Nhiệm vụ đã nêu ra những điểm nào? Phân

tích tính chất toàn diện của nội dung này?

* Đáp án - biểu điểm:

2 điểm - Bản tuyên bố đã xác định nhiệm vụ từ tăng cường sức khoẻ và chế độ

dinh dưỡng đến phát triển giáo dục cho trẻ em

4 điểm - Từ các đối tượng cần được quan tâm hàng đầu như trẻ em bị tàn tật, trẻ

em có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn, các bà mẹ đến việc củng cố gia đình,môi trường xã hội

2 điểm - Từ đảm bảo quyền bình đẳng nam nữ đến khuyến khích trẻ em tham gia

vào sinh hoạt văn hoá xã hội

2 điểm - (học sinh lấy ví vụ trong văn bản)

* Đặt vấn đề vào bài mới (1 phút): Tại huyện Nam Xương nay huyện Lý Nhân –

Hà Nam có xã Vũ Điền và ba xã nữa có đền thờ người con gái tên là Vũ Thị Thiếthay còn gọi là Vũ Nương Kể từ khi nàng mất đến nay đã năm thế kỉ, từ Lê ThánhTông- vị vua anh minh văn võ song toàn đến các nhà khoa bảng “Cưỡi đầu thiên

hạ đã bao phen” như Nguyễn Khuyến đều không khỏi rơi lệ xót xa thương cho sốphận nàng và đã gửi gắm niềm thương cảm của mình vào những bài thơ để vịnh

“Miếu vợ chàng Trương” Đó là một nhân vật có thật nằm trong truyện “Truyền

kì mạn lục” Để nắm được nội dung truyện, chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm

nay

b) Dạy nội dung bài mới: (35 phút)

HS- Đọc chú thích dấu sao (T.48, 49)

?- TB: Em hãy trình bày sự hiểu biết của mình

về tác giả Nguyễn Dữ?

HS- Nêu – giáo viên ghi bảng

GV- Tuy chưa rõ năm sinh năm mất nhưng theo

các tài liệu để lại có thể đoán định ông sống vào

nửa thế kỉ XVI, là học trò xuất sắc của Nguyễn

Bỉnh Khiêm Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm

quan một năm rồi xin nghỉ do chán ghét việc tranh

giành quyền binh của các tập đoàn phong kiến Một

người nổi tiếng tinh thông triết lí, là nhà thơ lớn

I Đọc và tìm hiểu chung (13’)

1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

- Nguyễn Dữ ( ? ? ) sống ở thế kỷ XVI, quê ở huyện Trường Tân nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Ông học rộng, tài cao

Trang 3

của dân tộc, một danh nhân văn hoá, giàu lòng yêu

nước thương dân, uy tín của ông rất lớn, chẳng

những vua chúa phải nể trọng mà nhân dân cũng

tôn kính Nguyễn Dữ và người thầy của mình sống

dưới chế độ phong kiến nhà hậu Lê Qua một thời

kì phát triển rực rỡ cuối thế kỉ XV, đến đây đã bắt

đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng Các tập đoàn

phong kiến Lê – Mạc – Trịnh tranh giành quyền

lực, gây nên bạo loạn liên miên Chán nản trước

thời cuộc lại chịu ảnh hưởng của thầy học (Nguyễn

Bỉnh Khiêm đã cáo quan về ở ẩn nơi thôn dã)

Nguyễn Dữ sau khi thi đỗ hương cống, chỉ làm

quan có một năm rồi cáo quan về sống ẩn dật ở

vùng núi Thanh Hoá Đó là cách phản kháng của

nhiều tri thức tâm huyết đương thời.Trong thời

gian ấy “Chả mấy mươi sương” chân không bước

tới thị thành, Nguyễn Dữ đã dày công sưu tầm,

chỉnh lí viết lại các truyện cổ lưu truyền trong dân

gian thành tập " Truyền kì mạn lục”

?- TB: Hãy nêu khái niệm thể truyền kì, truyền

kì mạn lục?

HS- Dựa vào SGK để trả lời

GV- Truyện truyền kì là loại văn xuôi tự sự có

nguồn gốc từ văn học Trung Quốc, thịnh hành từ

đời Đường Các nhà văn nước ta về sau đã tiếp

nhận thể loại này để viết lên những tác phẩm phản

ánh cuộc sống và con người, cảnh đất nước mình

Nổi tiếng là Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông),

Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân

phả (Đoàn thị Điểm), truyện truyền kì thường mô

phỏng những cốt truyện dân gian hoặc dã sử vốn đã

được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, sau đó

bằng tài năng của mình các tác giả đã sáng tạo, sắp

xếp lại những tình tiết, bồi đắp thêm cho đời sống

các nhân vật, xen kẽ những yếu tố kì ảo Bởi thế,

truyện dù có ma quỷ thần tiên hay yêu tinh nhưng

mạch chính vẫn là chuyện có thật, chuyện trần thế

có đời sống số phận

- Truyền kì mạn lục là đỉnh cao của thể loại này,

từng được xem là một áng “thiên cổ kì bút” (áng

văn hay nhất của ngàn đời) viết bằng chữ Hán

Tác phẩm gồm hai mươi truyện, đề tài khá phong

phú Có truyện đả kích thẳng vào chế độ phong

kiến lúc suy tàn, vạch mặt bọn tham quan ô lại, hôn

- Truyện truyền kì là loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc, thịnh hành từ đời Đường.

- Truyền kì mạn lục được

xem là một áng “Thiên cổ kì bút” viết bằng chữ Hán gồm

hai mươi truyện “Chuyện

người con gái Nam Xương”

là truyện thứ 16.

Trang 4

quân bạo chúa, đứng về phía nhân dân bị áp bức;

có truyện đề cập đến cuộc sống những hoài bão lí

tưởng của kẻ sĩ trước thời cuộc; có truyện nói đến

tình yêu và hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ

chồng hầu hết các nhân vật đều là người nước ta

Truyện có nguồn gốc từ một truyện dân gian

trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam gọi là

truyện “Vợ chồng chàng Trương” , truyện cổ tích

chỉ thiên về kể những sự việc dẫn tới nỗi oan khuất

của Vũ Nương

- Hiện nay ở huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam vẫn còn

đền thờ Vũ Nương Cái chết bi thảm của nàng đã

từng làm rung động bao tâm hồn thi sĩ, để lại nhiều

bài thơ viếng Vũ Thị rất hay, như bài thơ của Lê

Thánh Tông So với truyện cổ tích “Vợ chàng

Trương”, “Chuyện người con gái Nam Xương”

phức tạp hơn về chi tiết và sâu sắc hơn về cảm

hứng nhân văn Thông qua tác phẩm Nguyễn Dữ

đã thể hiện niềm cảm thông đối với số phận bất

hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến,

đồng thời khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của

họ Về nghệ thuật đây là một tác phẩm xuất sắc thể

hiện óc sáng tạo dồi dào, sự kết hợp hài hoà giữa

yếu tố tự sự và chất trữ tình, giữa thực và ảo

GV- Hướng dẫn cách đọc: Yêu cầu đọc diễn cảm,

chú ý phân biệt tự sự với lời đối thoại, đọc các câu

văn biền ngẫu trong lời thoại cho chính xác, ngắt

nghỉ đúng chỗ

- GV đọc từ đầu đến mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì

con được.

HS- Ba học sinh đọc đến hết

- Học sinh nhận xét cách đọc của bạn – giáo viên

sửa chữa những sai sót

?- Yếu : Hãy giải thích: Tư dung, dung hạnh,

nghi gia nghi thất?

- Học sinh dựa vào phần chú thích trả lời

?- KH: Em hãy tóm tắt ngắn gọn văn bản?

- Vũ Nương và Trương Sinh lấy nhau, đang sum

họp đầm ấm thì triều đình bắt lính, Trương Sinh ra

đi Nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già, nuôi con nhỏ

Vũ Nương sinh ra đứa bé trai đặt tên là Đản Bà mẹ

ốm đau rồi mất, nàng lo việc ma chay, tế lễ như đối

2 Đọc và tóm tắt văn bản.

Trang 5

với cha mẹ đẻ của mình

- Việc quân kết thúc, Trương Sinh trở về, bế con

ra thăm mộ mẹ Đứa con ngây thơ kể chuyệnthường có một người đàn ông, tối nào cũng đến…Nghe con nói vậy Trương Sinh cho là vợ hư, mắngnhiếc vợ Vợ trình bày sự thật nhưng nhưng chàngkhông tin Nàng tắm gội sạch sẽ và chạy ra bếnHoàng Giang ngửa mặt lên trời khấn thần phật rồigieo mình xuống sông mà chết

- Một đêm, chàng ngồi buồn dưới ngọn đènkhuya chợt đứa con nhìn thấy bóng chàng ở trênvách nói rằng: “Cha Đản lại đến kia kìa” Bấy giờchang mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ nhưng đãmuộn rồi

- Có một người cùng làng với Vũ Thị Thiết tên làPhan Lang Một đêm Phan nằm mơ thấy người congái áo xanh đến xin than mạng Sáng dậy, có mộtngười thuyền chài đem biếu một con rùa mai xanh,Phan sực nhớ đến giấc mộng, đem thả con rùa đóxuống sông

- Quân Minh (Trung Quốc) kéo quân sang xâmlược nước ta Nhiều người sợ hãi chạy trốn ra bểkhông may đắm thuyền đều chết đuối cả, trong đó

có Phan Lang Linh phi ngày còn nhỏ là con rùaxanh đã cứu mạng Phan Lang

- Linh Phi đặt yến tiệc để thiết đãi ân nhân PhanLang gặp Vũ Nương Linh Phi sai sứ giả đưa PhanLang trở về cõi trần Vũ Nương gửi một chiếc trâmhoa vàng về cho chồng

- Về đến nhà, Phan Lang đem chuyện kể lại vớiTrương Sinh Trương Sinh bèn lập một đàn tràng ởbến Hoàng Giang Vũ Nương trở về trên một chiếckiệu hoa, đứng ở giữa dòng mà nói vọng vào “thiếpchẳng thể trở về nhân gian được nữa” rồi bóngnàng loang loáng mở nhạt và biến đi mất

?- TB: Nêu đại ý của truyện?

- Đây là câu chuyện về số phận oan nghiệt củamột người phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh dướithời phong kiến Chỉ vì một lời nói ngây thơ củacon trẻ mà bị nghi ngờ, bị sỉ nhục, bị đẩy đến bướcđường cùng phải tự kết thúc cuộc đời mình để giải

tỏ tấm lòng trong sạch Tác phẩm cũng thể hiệnước mơ ngàn đời của nhân dân là người tốt bao giờ

Trang 6

cũng được đền trả xứng đáng, dù chỉ là ở một thế

giới huyền bí

?- TB: Truyện có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý

chính của mỗi đoạn?

HS- Truyện chia làm ba đoạn:

+ Đoạn 1- Từ đầu đến “với cha mẹ đẻ mình”:

Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự

xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng

trong thời gian xa cách

+ Đoạn 2- Tiếp theo đến “nhưng việc trót đã qua

rồi”: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ

Nương

+ Đoạn 3- Còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa Phan Lang

và Vũ Nương trong động Linh Phi, Vũ Nương

được giải oan

- Để nắm được nghệ thuật, nội dung của truyện,

chúng ta cùng phân tích văn bản

?- TB: Theo em nhân vật trung tâm, nhân vật

chính là ai? Vì sao?

- Truyện có nhiều nhân vật nhưng Vũ Nương là

nhân vật chính- nhân vật trung tâm, vì truyện được

kể xoay quanh nhân vật trung tâm này Vì vậy,

chúng ta cùng phân tích nhân vật Vũ Nương

?- KH: Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong

Cảnh 4: Khi bị nghi oan

- Trong bốn cảnh, phẩm chất tốt đẹp của người

phụ nữ Việt Nam qua nhân vật Vũ Nương được thể

hiện rõ Đây là điều biểu hiện rõ nhất sự khác biệt

giữa tác phẩm với truyện cổ tích, bởi truyện cổ tích

chỉ thiên về cốt truyện và những diễn biến hành

động của nhân vật Còn ở đây, dưới ngòi bút sáng

tạo nghệ thuật của tác giả, nhân vật có đời sống,

tính cách rõ rệt hơn nhiều Tác giả đã đặt Vũ

Nương vào nhiều hoàn cảnh khác nhau như trên, II Phân tích

Trang 7

chúng ta cùng tìm hiểu.

?- TB: Tác giả đã giới thiệu Vũ Nương khi chưa

lấy chồng như thế nào?

-Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương,

tính đã thuỳ mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp

Chàng Trương Sinh mến vì dung hạnh xin với mẹ

đem trăm lạng vàng cưới về

?- TB: Em có suy nghĩ gì về lời giới thiệu của tác

giả về Vũ Nương

- Chỉ bằng một câu và vài nét gợi tả, tác giả mở

đầu truyện một cách trực tiếp

?- KH: Những chi tiết này có ý nghĩa gì? Qua

đó, em thấy Vũ Nương là người như thế nào?

- Vũ Nương là người thuỳ mị nết na, tư dung tốt

đẹp:

+ Thuỳ mị: là sự dịu dàng, hiền hậu biểu hiện ở

nét mặt, cử chỉ, cách nói năng

+ Nết na: là sự tốt nết, dễ mến; tư dung tốt đẹp:

là vẻ đẹp cân đối hài hoà của người con gái độ tuổi

trăng tròn Nàng là cô gái hoàn hảo của làng quê

Và vì mến mộ vẻ đẹp của nàng mà chàng trương

Sinh đem lòng yêu mến và xin mẹ cưới nàng về

làm vợ

- Các chi tiết cho thấy Vũ Nương là một người con

gái nhà nghèo nhưng đẹp người, đẹp nết, đáng trân

trọng

GV- Trên cơ sở cốt truyện có sẵn, tác giả đã thêm

chi tiết: Trương Sinh đem trăm lạng vàng cưới Vũ

Nương Vì vậy, cuộc hôn nhân trở nên có tính chất

mua bán Qua đó, ta cũng thấy xã hội phong kiến

giai đoạn này dùng tiền để lũng đoạn xã hội, băng

hoại đạo đức, mua bán được tất cả

?- TB: Chồng Vũ Nương là người như thế nào?

Vũ Nương sống với chồng và cư xử ra sao?

- Vũ Nương sống với người chồng không có học,

tính đa nghi đối với vợ phòng ngừa quá sức, quả là

không dễ dàng, nhưng Vũ Nương đã giữ gìn khuôn

phép, tức là không làm gì để chồng phải để ý, ghen

tuông, vì thế vợ chồng chưa từng mất đi sự hoà

thuận

1 Nhân vật Vũ Nương (18’)

* Trước khi lấy chồng:

- Vũ Nương là một người con gái đẹp người, đẹp nết.

* Vũ Nương trong cảnh sống vợ chồng:

- Vũ Nương là một phụ nữ nết na, hiền thục, khéo léo.

Trang 8

GV- Ta thấy Vũ Nương còn là người phụ nữ nết

na, hiền thục khéo léo

?- TB: Khi tiễn chồng đi lính, tâm trạng Vũ

Nương được thể hiện qua những hành động, lời

nói nào?

- Thiếp chẳng mong được đeo ấn phong hầu,

mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ mong ngày về mang

theo được hai chữ bình yên nhìn trăng soi cảnh

cũ, lại ( ) trông liễu rủ bãi hoang lại thổn thức

tâm tính, thương người đất thú.

- Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, thấy

bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn

góc bể chân trời, không thể nào ngăn được.

?- TB: Em có nhận xét gì về câu văn, hình ảnh

được tác giả sử dụng trong đoạn truyện này?

- Câu văn nhịp nhàng theo lối biền ngẫu, hình

ảnh ước lệ, sử dụng nhiều điển tích: liễu rủ bãi

hoang, tình muôn dặm quan san, lời văn biểu cảm,

lời kể ngắn gọn đã phần nào thể hiện thái độ chân

trọng của tác giả với nhân vật

?- Kh: Em hiểu ý tứ trong lời dặn dò của Vũ

Nương như thế nào?

- Đây là lời nói đầy ý tứ của Vũ Nương dặn dò

chồng ra trận, nàng không mong chồng đeo ấn

phong hầu, mặc áo gấm (ý nói được làm quan to )

được ban ấn – dấu vua ban và ban áo gấm quí,

nghĩa là không trông mong vinh hiển mà chỉ cần

chồng bình an trở về Đồng thời, thể hiện sự cảm

thông trước nỗi vất vả gian nan mà chồng sẽ phải

chịu đựng Nàng còn nói lên nỗi khắc khoải nhớ

nhung của mình “nhìn trăng soi thương người đất

thú” Những lời nói ân tình, đằm thắm của nàng đã

làm cho mọi người đều xúc động

- Những lời nói đưa tiễn, dặn dò ngọt ngào, nồng

đượm một tình yêu chung thuỷ của Vũ Nương

đúng là lời nói, cách nói của một người thuỳ mị dịu

dàng, từng nhịp, từng nhịp biền ngẫu đối xứng,

khoan hoà như nhịp đập của trái tim, trái tim ấy

giàu yêu thương, biết chịu đựng những thử thách,

biết chờ đợi để yên lòng người đi xa, đáng trân

trọng biết bao

?- TB: Hình ảnh bướm lượn đầy vườn, mây che

kín núi diễn tả điều gì?

* Khi tiễn chồng đi lính:

Trang 9

- Những hình ảnh “bướm lượn đầy vườn” chỉ

mùa xuân tươi vui, “mây che kín núi” chỉ mùa

đông ảm đạm, là những hình ảnh ước lệ, mượn

cảnh vật thiên nhiên để diễn tả sự trôi chảy của thời

gian và nỗi nhớ chồng cứ dài theo năm tháng

?- TB: Khi chồng đi xa nàng đã sống cuộc sông

như thế nào? Chăm sóc mẹ chồng già yếu như

ra sao?

- Nàng có mang( ) sinh ra một đứa con trai, đặt

tên là Đản.

- Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và

lấy lời khôn khéo khuyên lơn( ) hết lời thương xót,

phàm việc ma chay tế lễ lo liệu như đối với cha mẹ

đẻ mình.

?- G: Hãy phân tích để thấy được tình cảm của

Vũ Nương đối với mẹ chồng?

- Trong lúc chồng đi vắng, Vũ Nương vừa phải

làm lụng nuôi con, lại vừa phải chăm sóc mẹ chồng

đau ốm Tất cả sự vất vả đó không làm giảm đi

chút nào tính thuỳ mị, nết na của nàng Khi mẹ ốm,

nàng tận tuỵ chăm sóc mẹ chồng, hết sức thuốc

thang, lễ bái thần phật, hết lời ngọt ngào khôn khéo

khuyên lơn, khi mẹ chồng qua đời nàng hết lời

thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như

đối với cha mẹ đẻ mình

?- KH: Em có suy nghĩ gì về lời trăng trối của

mẹ chồng với Vũ Nương?

- Lời nói đã ý tứ ghi nhận nhân cách và đánh giá

cao công lao của nàng đối với nhà chồng Đó là

cách đánh giá thật xác đáng và khách quan, chứng

minh cho tình nghĩa mẹ chồng – nàng dâu của Vũ

Nương tốt đẹp biết bao, vượt lên thói đời

- Có thể nói, trong ba tư cách: Một người vợ thuỷ

chung, một người con dâu hiếu thảo, một người mẹ

hiền đôn hậu, Vũ Nương đã nêu cao phẩm hạnh

của người phụ nữ Việt Nam, đảm đang, giàu tình

thương, thuỷ chung và vô cùng nhân hậu, đáng

được ngợi ca, đáng được đền ơn đáp nghĩa

?- TB: Theo em, trong truyện này tác giả đã nối

tiếp câu chuyện bằng sự việc nào? Có gì đặc sắc

trong sự việc đó?

- Sự việc mà tác giả dùng để tiếp nối câu chuyện

- Vũ Nương là người thuỷ chung, yêu chồng tha thiết.

- Vũ Nương là người con dâu hiếu thảo, hiền thục.

Trang 10

là sự việc Vũ Nương có con + tính đa nghi của

chồng - đây chính là đầu mối của những rắc rối sau

này để dẫn đến nỗi oan tày trời của nàng, khiến

nàng chết một cách oan uổng Sự việc đó được t/g

kể một cách ngắn gọn, qua sự việc này chìm đi

trong sự việc khác

Đó chính là nghệ thuật kể chuyện khéo léo tài

tình của tác giả, biết giấu đi những điều mới để gây

cho ta những bất ngờ sau này Vậy nỗi oan của Vũ

Nương diễn ra như thế nào tiết sau chúng ta tìm

hiểu tiếp

c) Củng cố, luyện tập (2 phút)

* Củng cố: GV khái quát lại nội dung bài.

* Luyện tập:

?- Qua tìm hiểu phần 1, em thấy nhân vật Vũ Nương là người như thế nào?

- Vũ Nương là một người con gái đẹp người, đẹp nết; một phụ nữ nết na,hiền thục, khéo léo; là người thuỷ chung, yêu chồng tha thiết; là người con dâuhiếu thảo, hiền thục

d) Hướng dẫn học sinh tự học bài (2 phút)

- Đọc kĩ văn bản, tập phân tích lại phần văn bản vừa học

- Chuẩn bị tiếp phần còn lại của văn bản

Ngày soạn: 01/9/2011 Ngày dạy: 9A: …/…/2011

a) Về kiến thức: Giúp học sinh nắm được cốt truyện, nhân vật, sự kiện trong một

tác phẩm truyện truyền kì Hiện thực về số phận của người phụ nữ Việt Nam dướichế độ cũ và vẻ đẹp truyền thống của họ

Trang 11

- Sự thành công của tác giả về nghệ thuật kể chuyện; mối liên hệ giữa tác

phẩm và truyện Vợ chàng Trương.

b) Về kỹ năng: - Rèn kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để đọc-hiểu tác phẩm

viết theo thể loại truyền kì

- Cảm nhận được những chi tiết nghệ thuật độc đáo trong tác phẩm tự sự cónguồn gốc dân gian Kể lại được truyện

c) Về thái độ:

- Giáo dục lòng cảm thông, yêu mến những người phụ nữ thời phong kiến

2 Chuẩn bị của GV và HS.

a) Giáo viên: Đọc SGK, SGV, nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án.

b) Học sinh : Học bài cũ, đọc và chuẩn bị bài theo câu hỏi SGK.

3 Tiến trình bài dạy.

* Ổn định tổ chức:

- Kiểm tra sĩ số: 9A:……….; 9B:………

- Lớp phó báo cáo việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh

a) Kiểm tra bài cũ (Miệng- 5 phút)

* Câu hỏi: Em hãy kể lại phần 1 của văn bản và cho biết Vũ Nương là người

như thế nào?

* Đáp án - biểu điểm:

5 điểm- Học sinh kể to, rõ ràng, diễn cảm.

5 điểm- Vũ Nương là một người con gái đẹp người, đẹp nết; một phụ nữ nết

na, hiền thục, khéo léo; là người thuỷ chung, yêu chồng tha thiết; là người con dâuhiếu thảo, hiền thục

* Đặt vấn đề vào bài mới (1’): Nhân vật Vũ Nương được giới thiệu là

một người con gái đẹp người, đẹp nết; một phụ nữ nết na, hiền thục, khéo léo; làngười thuỷ chung, yêu chồng tha thiết; là người con dâu hiếu thảo, hiền thục Vậy

số phận sau này của nàng ra sao? Chúng ta tìm hiểu tiếp trong tiết học này

b) Dạy nội dung bài mới: (35’)

HS- Đọc từ Qua năm sau…gieo mình xuống sông

mà chết.

?- KH: Nỗi oan của Vũ Nương là gì? Tác giả

dẫn dắt câu chuyện như thế nào để nỗi oan

Trang 12

không thể thanh minh được?

- Nỗi oan của Vũ Nương là: Bị nghi ngờ thất tiết

- Tác giả giới thiệu chồng nàng – chàng Trương

là người đa nghi Sau đó câu chuyện lại được nói ra

từ miệng con trẻ (trẻ con bao giờ cũng ngây thơ,chỉ biết nói thật, nên tục ngữ có câu: Đi hỏi già, vềnhà hỏi trẻ)

GV- Lời bé Đản “trước đây thường có một người

đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả” Điều đó quá đủ để cho người không ghen

tuông cũng phải nghi ngờ Kết cục anh chồng tinchắc vợ thất tiết

?- G: Em có nhận xét gì về tình huống truyện được tác giả xây dựng ở đoạn truyện này?

- Tác giả đã xây dựng một tình huống bất ngờ

Để cho chính đứa trẻ nói ra chuyện buổi tối thường

có một người đàn ông tới Đó là lời nói của đứa trẻngây thơ, chứa đầy những dữ kiện đáng ngờ Thoạtđầu là sự ngạc nhiên của nó khi thấy mình cónhững hai người cha, một người biết nói, còn mộtngười chỉ “nín thin thít”, khi bị gặng hỏi, nó mới

nói thêm, đấy là “một người đàn ông, đêm nào

cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, chẳng bao giờ bế Đản cả” Câu chuyện Đản

kể đã trở thành nhân tố tạo nên bi kịch ChàngTrương vốn tính hay ghen mà những lời kể của béĐản lại quá “thật” nên chàng không còn đủ bìnhtĩnh để phán đoán, phân tích, bỏ ngoài tai những lờiphân trần của vợ, không tin cả những nhân chứngbênh vực cho nàng, chàng cũng nhất quyết khôngnói ra duyên cớ để cho vợ có cơ hội minh oan Nútthắt ngày một chặt, kịch tính ngày một cao,Trương Sinh trở thành kẻ vũ phu, thô bạo, mắngnhiếc vợ và đuổi vợ đi

?- TB: Cách xây dựng tình tiết truyện có phù hợp với sự phát triển tâm lí nhân vật Trương Sinh không?

- Cách xây dựng tình tiết truyện chứng tỏ tác giảhiểu rõ về tâm lí nhân vật, phù hợp với quá trìnhphát triển tâm lí nhân vật (Trương Sinh hay đanghi, ghen tuông trở nên u mê, thô bạo đúng vớitính cách đa nghi của chàng không để cho vợ thanh

Trang 13

minh nên nhất định giấu tên người tố cáo).

?- KH: Khi bị chồng nghi oan Vũ Nương đã nói

với chồng thế nào?Em hãy cho biết ý nghĩa của

từng lời thoại ấy ?

- Lời thoại 1:Vũ Nương đã phân trần “thiếp vốn

con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu nghi oan

cho thiếp” Nàng muốn chàng hiểu rõ lòng mình,

nàng đã nói đến thân phận mình vốn là con kẻ khó,

được nương tựa nhà giàu, nàng nói về tình nghĩa

vợ chồng Sum họp chưa thoả tình chăn gối và

khẳng định tấm lòng thuỷ chung trong trắng, cầu

xin chàng đừng nghi oan: Cách biệt ba năm gũi

gần một tiết ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót

mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp! Vũ

Nương vừa nói vừa khóc; nói trong nước mắt, hết

lòng tìm cách hàn gắn cái gia đình đang có nguy cơ

tan vỡ

?- TB: Qua đó em hãy nhận xét về tính cách của

Vũ Nương qua lời thoại một?

- Trả lời – Gv chốt ý, ghi bảng =>

?- TB: Khi bị chồng đánh đuổi đi, Vũ Nương đã

nói điều gì?

- Lời thoại 2: Đó là một nỗi thất vọng đau đớn

khi không hiểu vì sao bị đối xử bất công, bị mắng

nhiếc và đánh đuổi đi Không có quyền tự bảo vệ

ngay cả khi có họ hàng làng xóm bênh vực và biện

bạch cho Hạnh phúc gia đình, niềm khao khát của

cả đời nàng đã tan vỡ, tình yêu không còn (bình rơi

châm gẫy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu

tàn trước gió) có cả nỗi đau chờ chồng đến thành

hoá đá trước đây cũng không còn có thể làm lại

được nữa (đâu còn có thể lại nên núi vọng phu kia

nữa)

?- KH: Quan sát lời thoại hai – lời thoại hai có

nghệ thuật đặc sắc gì?

- Tác giả đã mượn thiên nhiên để biểu hiện tâm

trạng con người theo phong cách ước lệ của văn

chương trung đại, chỉ một đoạn văn ngắn mà tác

giả vẽ ra bao nhiêu hình ảnh thiên nhiên với những

nét biểu hiện của nhiều mất mát đáng tiếc: bình rơi,

trâm gẫy, sen tàn, liễu rủ, "khóc tuyết bông hoa

rụng cuống, kêu xuân cánh én lìa đàn” ngôn ngữ

nhịp điệu của các câu văn ấy ngân nga, gợi hình

- Vũ Nương đã hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.

Trang 14

biểu cảm làm xúc động người đọc.

- Những xúc động nhất là khi nghe lời than thở

của Vũ Nương trên sông Hoàng Giang

HS- Đọc lời thoại 3.

?- KH: Lời thoại này có ý nghĩa gì?

- Thất vọng đến tột cùng, cuộc hôn nhân đã đến độ

không thể hàn gắn được Vũ Nương đành mượn

dòng sông quê hương để bầy tỏ tấm lòng trong

trắng của mình, nàng tắm gội sạch sẽ rồi chạy ra

bến Hoàng Giang, ngửa mặt lên trời mà than rằng

lời than như một lời nguyền, xin thần sông chứng

giám nỗi oan khuất của mình và tiết sạch giá trong

của nàng Rõ ràng nàng vẫn tỉnh táo hành động

theo sự chỉ đạo của lí trí chứ không phải là hành

động bột phát như truyện cổ tích đã miêu tả (Vũ

Nương chạy một mạch ra bến Hoàng Giang đâm

đầu xuống nước)

- Lần này nàng không nói mà than, nàng không

than với chồng với con, mà than với trời Hành

động tự trẫm mình của nàng là một hành động

quyết liệt cuối cùng để bảo vệ danh dự

?- KH: Theo em, vì sao Vũ Nương lại phải chịu

nỗi oan khuất đó? ( nguyên nhân)

- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nỗi oan của Vũ

Nương, được thể hiện qua những chi tiết và lời kể

của tác giả:

+ Cuộc hôn nhân của Vũ Nương và Trương

Sinhkhông bình đẳng thể hiện ở chi tiết “ xin với

mẹ đem trăm lạng vàng cưới về ” và qua lời Vũ

Nương “thiếp con kẻ khó”

+ Chàng Trương là người đa nghi đối với vợ

phòng ngừa quá sức hơn nữa khi trương Sinh trở về

“ bà mất lòng cha buồn lắm rồi”

+ Lời nói ngây thơ của đứa trẻ “một người đàn

ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ

Đản ngồi cũng ngồi, chẳng bao giờ bế Đản cả”.

+Trương Sinh có thái độ cư xử hồ đồ, độc đoán,

thô bạo “mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi”

?- G: Nêu nhận xét của em về cách kể chuyện

của tác giả trong đoạn truyện này?

- Cách kể chuyện hết sức tài tình (cách thắt nút, mở

- Vũ Nương đau đớn, thất vọng.

- Vũ Nương bị dồn đến bước đường cùng, đã trẫm mình để bảo toàn danh dự.

Trang 15

nút câu chuyện trở nên đột ngột căng thẳng, mâu

thuẫn truyện đột ngột xuất hiện Từ cơ sở một câu

chuyện có sẵn t/g đã sắp xếp một số tình tiết, thêm

bớt hoặc tô đậm thêm những tình tiết có ý nghĩa, có

tính quyết định đến quá trình , diễn biến câu

chuyện hợp lí, làm cho truyện trở nên hấp dẫn

Ngoài ra, t/g còn chú ý đến quá trình phát triển

tâm lí của nhân vật (đặc biệt là Vũ Nương)

?- G: Tác giả đã giải oan cho Vũ Nương bằng

cách nào? Hãy phân tích?

- Chi tiết “cái bóng” là chi tiết nghệ thuật rất đắt

mà Nguyễn Dữ đưa ra trong tác phẩm này Chi tiết

cái bóng được tác giả cài rất khéo vào diễn biến

câu chuyện (do con trẻ nói ra, nói rất tình cờ với

người đa nghi, ít học) Chính cái bóng đã giết chết

Vũ Nương và cũng chính cái bóng đã giải oan cho

Vũ Nương Lấy hình tượng cái bóng người và lời

nói ngây thơ của trẻ con đã đẩy chuyện đến đỉnh

điểm và mở nút câu chuyện

- Đây là nét độc đáo riêng của Nguyễn Dữ, không

thể tìm thấy trong các truyện truyền kì khác của

Việt Nam nói riêng cũng như truyện truyền kì của

Trung Quốc, Nhật Bản nói chung

?- TB: Qua nỗi oan khuất và cái chết của Vũ

Nương, em cảm nhận được điều gì về thân phận

của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến?

- Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội

phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của

người đàn ông trong gia đình Người phụ nữ đức

hạnh ở đây không những không được bênh vực,

chở che mà còn bị đối xử một cách bất công, vô lí,

chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ và vì sự hồ đồ,

vũ phu của anh chồng hay ghen tuông mà phải kết

liễu cuộc đời mình

GV- Thực ra câu chuyện có thể kết thúc ở chi tiết

"Vũ Nương gieo mình xuống sông mà chết” và bé

Đản đã chỉ cho Trương Sinh biết cha mình là cái

bóng trên tường, khiến cho chàng ân hận đã đủ làm

thành một câu chuyện hoàn chỉnh Nhưng do đặc

điểm của truyện truyền kì vốn không thể thiếu

những yếu tố li kì đầy tưởng tượng để tăng sức hấp

dẫn Đồng thời, để hoàn thiện chủ đề, tính cách

nhân vật, cho nên tác giả đã tưởng tượng thêm

- Bi kịch của Vũ Nương là lời

tố cáo xã hội phong kiến xem trọng uy quyền của kẻ giàu

và người đàn ông trong gia đình Đồng thời bày tỏ niềm cảm thông của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ: họ không được che chở mà bị đối xử một cách bất công, vô lí.

2 Cuộc gặp gỡ giữa Phan

Trang 16

phần ba

HS- Đọc thầm đoạn ba

?- KH: Hãy tóm tắt phần truyện về cuộc gặp gỡ

giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động Linh

Phi, Vũ Nương được giải oan?

- Vũ Nương nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn

nhưng nàng đã được Linh Phi cứu giúp Dưới thuỷ

cung tình cờ nàng gặp Phan Lang cũng được cứu

sống

Phan Lang khuyên nàng trở về sum họp gia đình

- Trương Sinh lập đàn giải oan cho vũ Nương, Vũ

Nương hiện về

?- TB: Cách kể chuyện ở đây có gì đặc biệt?

- T/g sử dụng yếu tố kỳ ảo hoang đường- Những

yếu tố kì ảo: Phan Lang nằm mộng thả rùa; Phan

Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi tiệc

yến và gặp Vũ Nương, người cùng làng đã chết, rồi

được sứ giả của Linh Phi rẽ nước đưa về dương

thế Hình ảnh Vũ Nương hiện ra sau khi Trương

Sinh lập đàn tràng giải nỗi oan cho nàng ở bến

Hoàng Giang, lung linh, huyền ảo, với kiệu hoa

cờ tán, võng lọng rực rỡ lúc ẩn lúc hiện, rồi bỗng

chốc “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần và biến

đi mất”

?- KH: Em có nhận xét gì về cách thức đưa

những yếu tố kì ảo vào truyện của tác giả?

- Các yếu tố kì ảo được đưa vào xen kẽ với những

yếu tố thực về địa danh (bến đò Hoàng Giang, ải

Chi Lăng) về thời điểm lịch sử (cuối đời Khải Đại

nhà Hồ), nhân vật lịch sử (TrầnThiên Bình), sự

kiện lịch sử (quân Minh xâm lược nước ta, nhiều

người chạy trốn ra bể, rồi bị đắm thuyền), những

chi tiết thực về trang phục của các mĩ nhân về

tình cảnh của nhà Vũ Nương không người chăm

sóc sau khi nàng mất

- Cách thức này làm cho thế giới kì ảo lung linh,

mơ hồ trở nên gần với đời sống thực, làm tăng độ

tin cậy, khiến cho người đọc không cảm thấy ngỡ

ngàng

?- Kh: Việc đưa các yếu tố kì ảo vào một câu

chuyện quen thuộc, tác giả nhằm thể hiện điều

gì?

Lang và Vũ Nương trong động Linh Phi, Vũ Nương được giải oan.(17’)

- Những yếu tố kì ảo làm hoàn chỉnh thêm những nét

Ngày đăng: 28/05/2021, 11:14

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w