Trên thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), đầu những năm 1990, đã bắt đầu nghiên cứu các tiêu chuẩn về thống kê tài chính tiền tệ nhằm hướng dẫn cho các nước thành viên của IMF (trong đó có Việt Nam) thực hiện thống kê tài chính và tiền tệ của quốc gia mình. Đến nay, IMF đã công bố và khuyến nghị các nước thành viên sử dụng một số tài liệu hướng dẫn thống kê tài chính, tiền tệ như: Hệ thống phổ biến số liệu chung (GDDS ); Tiêu chuẩn phổ biến số liệu riêng (SDDS ); Hướng dẫn cán cân thanh toán (Balance of Payment Manual); Hướng dẫn thống kê tài chính Chính phủ (Government Finance Statistics Manual); Hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ (Monetary and Financial Statistics Manual). Những tài liệu nói trên của IMF không chỉ giúp cải thiện chất lượng thống kê tài chính và tiền tệ của mỗi quốc gia thành viên mà còn đảm bảo so sánh giữa các quốc gia, khu vực và quốc tế.
Trang 1NGHIÊN CỨU BIÊN SOẠN CUỐN SỔ TAY THỐNG KÊ TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
Cấp đề tài:
Thời gian nghiên cứu:
Đơn vị thực hiện:
Chủ nhiệm:
Bộ 2013-2014 Viện Khoa học Thống kê ThS Nguyễn Văn Đoàn
LỜI NÓI ĐẦU
Sự cần thiết nghiên cứu đề tài: Thực hiện Chiến lược phát triển Thống kê
Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (Chiến lược phát triển Thống kê), trong đó có hoạt động “Đẩy mạnh biên soạn, biên dịch và phổ biến các tài liệu hướng dẫn phương pháp luận thống kê” Ngày 2/6/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg về việc công
bố hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, trong đó, có 10 nhóm chỉ tiêu thống kê
về tài chính, tiền tệ, do vậy, việc chuẩn hóa và thống nhất các khái niệm, phương pháp tính, phân loại, nguồn số liệu các chỉ tiêu thống kê tài chính tiền
tệ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Trên thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), đầu những năm 1990, đã bắt đầu nghiên cứu các tiêu chuẩn về thống kê tài chính tiền tệ nhằm hướng dẫn cho các nước thành viên của IMF (trong đó có Việt Nam) thực hiện thống kê tài chính và tiền tệ của quốc gia mình Đến nay, IMF đã công bố và khuyến nghị các nước thành viên sử dụng một số tài liệu hướng dẫn thống kê tài chính, tiền tệ như: Hệ thống phổ biến số liệu chung (GDDS1); Tiêu chuẩn phổ biến số liệu riêng (SDDS2); Hướng dẫn cán cân thanh toán (Balance of
1 GDDS viết tắt của General Data Dissemination System
2 SDDS viết tắt của Special Data Dissemination Standard
Trang 2Payment Manual); Hướng dẫn thống kê tài chính Chính phủ (Government Finance Statistics Manual); Hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ (Monetary and Financial Statistics Manual) Những tài liệu nói trên của IMF không chỉ giúp cải thiện chất lượng thống kê tài chính và tiền tệ của mỗi quốc gia thành viên mà còn đảm bảo so sánh giữa các quốc gia, khu vực và quốc tế
Nhằm thực hiện được những nội dung, yêu cầu nói trên của Chiến lược phát triển Thống kê và các cam kết quốc tế về thống kê tài chính tiền tệ, cần thiết phải nghiên cứu đề tài “Biên soạn cuốn Sổ tay thống kê tài chính, tiền tệ
ở Việt Nam” để chuẩn hóa và minh bạch phương pháp thống kê tài chính, tiền
tệ của Việt Nam
Nội dung nghiên cứu: Đề tài đã tập trung giải quyết những nội dung
chính: (i) Nghiên cứu phương pháp luận thống kê tài chính, tiền tệ theo thông
lệ quốc tế; (ii) Nghiên cứu kinh nghiệm về thống kê tài chính, tiền tệ của một
số nước (lựa chọn một số nước để nghiên cứu và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam); (iii) Đánh giá thực trạng về thống kê tài chính, tiền tệ của Việt Nam so với thông lệ quốc tế; (iv) Hoàn thiện những nội dung thống
kê tài chính, tiền tệ theo thông lệ quốc tế hoặc theo kinh nghiệm tốt nhất của nước ngoài; (v) Dự thảo cuốn Sổ tay thống kê tài chính, tiền tệ ở Việt Nam”
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài đã sử dụng kết hợp các phương pháp
nghiên cứu, gồm: Nghiên cứu tài liệu (tài liệu của IMF, Thái Lan, Anh, Thổ Nhĩ Kỳ, các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta); tổng kết kinh nghiệm; phương pháp chuyên gia (hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia, tham vấn)
Sử dụng nguồn dữ liệu có sẵn tại NHNN và Tổng cục
Sản phẩm của đề tài: Đề tài đã hoàn thành khối lượng công việc theo
Thuyết minh đã được đơn vị quản lý đề tài phê duyệt trên cơ sở kết luận của Hội đồng xét duyệt đề cương và tuyển chọn đề tài Ngoài Báo cáo (tổng hợp
và tóm tắt) kết quả nghiên cứu này, đề tài đã hoàn thành một số sản phẩm: Báo cáo tổng thuật tài liệu nghiên cứu; các báo cáo kết quả nghiên cứu các nội
Trang 3dung và chuyên đề (trong đó có dự thảo cuốn “Sổ tay hướng dẫn thống kê tài chính, tiền tệ ở Việt Nam”); một số tài liệu của IMF và nước ngoài được dịch
ra tiếng Việt
Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận biên soạn Sổ tay thống kê tài chính, tiền tệ ở Việt Nam
Chương 2: Cơ sở thực tiễn và pháp lý biên soạn Sổ tay thống kê tài
chính, tiền tệ ở Việt Nam
Chương 3: Dự thảo Sổ tay thống kê tài chính, tiền tệ ở Việt Nam
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN BIÊN SOẠN
SỔ TAY THỐNG KÊ TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
1.1 KHUYẾN NGHỊ CỦA IMF VỀ THỐNG KÊ TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ Cuộc khủng hoảng tài chính thập kỷ 90 của Thế kỷ 20 đã bộc lộ những yếu điểm của hệ thống tài chính quốc tế, nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính nói trên, cộng đồng quốc tế đã tập trung cải thiện cơ cấu hệ thống tài chính quốc tế bao gồm các thể chế, thị trường và các hoạt động mà Chính phủ, các doanh nghiệp, các cá nhân sử dụng khi họ thực hiện các hoạt động kinh tế
và tài chính Yếu tố quan trọng để khởi đầu “cơ cấu” liên quan đến sự phát triển và thực thi các tiêu chuẩn quốc tế, liên quan đến việc đảm bảo chức năng kinh tế thích hợp ở mức quốc gia, đó là điều tiên quyết cho một hệ thống quốc
tế hoạt động tốt IMF đã xây dựng và phát triển các tiêu chuẩn cũng như các qui tắc thống kê tài chính tiền tệ như: GDDS; SDDS; Hướng dẫn cán cân
Trang 4thanh toán3; Hướng dẫn thống kê tài chính chính phủ4; Hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ5 Các tài liệu của IMF nói trên đã đưa ra các khái niệm, phạm
vi, nguyên tắc, phân loại và phương pháp thống kê tài chính và tiền tệ (gọi chung là phương pháp luận thống kê tài chính và tiền tệ) của IMF hài hòa với các nội dung tương tự trong Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA 2003) và được coi là thông lệ quốc tế Trong số các tài liệu nói trên của IMF, tài liệu “Hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ” là cuốn tài liệu hoàn chỉnh nhất về hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ tính đến thời điểm hiện nay
1.1.1 Giới thiệu tài liệu “Hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ” của IMF
Năm 2000, IMF đã biên soạn và xuất bản tài liệu “Monetary and Financial Statistics Manual” (tạm dịch là “Hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ”) Tài liệu này bao gồm 8 nội dung chính: (1) Hướng dẫn sử dụng tài liệu; (2) Tổng quan; (3) Đơn vị và khu vực thể chế; (4) Phân loại tài sản tài chính; (5) Tồn kho, luồng tiền và nguyên tắc hạch toán; (6) Tiền tệ, tín dụng; (7) Khuôn khổ thống kê tiền tệ; (8) Thống kê tài chính Ngoài ra, tài liệu còn bao gồm 16 bảng, 10 hộp và 3 phụ lục Tài liệu trình bày kỹ các khái niệm, định nghĩa, phạm vi, phân loại, phương pháp thống kê tài chính tiền tệ Trên
cơ sở những nội dung của tài liệu này, các nước thành viên của IMF vận dụng vào điều kiện của quốc gia mình để thực hiện thống kê tài chính và tiền tệ đảm bảo chất lượng và so sánh quốc tế
1.1.2 Một số khái niệm và phạm vi thống kê tài chính và tiền tệ
Nội dung đề cập đến các các khái niệm, phạm vi thống kê tài chính, tiền tệ:
Cư trú và không cư trú: Cư trú của một quốc gia có thể là cá nhân, hộ gia đình, chủ thể pháp lý và xã hội (gọi chung là chủ thể) mà có trung tâm lợi
3 Balance of Payment Manual.
4 Government Finance Statisticsl Manual.
5 Monetary and Financial Statistics Manual.
Trang 5ích kinh tế nằm trong phạm vi lãnh thổ kinh tế của quốc gia Nếu các chủ thể không có trung tâm lợi ích kinh tế nằm trong phạm vi lãnh thổ kinh tế của quốc gia được coi là không cư trú
- Đơn vị thể chế: Đơn vị thể chế là đơn vị có quyền sở hữu về tài sản, có khả năng vay nợ và thực hiện những hoạt động kinh tế và giao dịch với các đơn vị khác Có 2 loại hình đơn vị thể chế: (1) Các hộ gia đình bao gồm các cá nhân, gia đình hoặc những nhóm người người cùng chung tiện nghi sống, cùng đóng góp chung một phần hoặc toàn bộ thu nhập và tài sản, cùng tiêu dùng chung một số hàng hóa và dịch vụ dịch vụ; (2) Các pháp nhân và thực thể xã hội thực hiện những hoạt động kinh tế theo tư cách cá nhân và được thừa nhận về mặt pháp lý hoặc được xã hội thừa nhận là tồn tại độc lập với những đơn vị thể chế sở hữu hoặc kiểm soát chúng
- Khu vực thể chế: Hai loại hình đơn vị thể chế nói trên được phân vào 5 Khu vực thể chế: (1) Khu vực thể chế Chính phủ; (2) Khu vực thể chế tài chính; (3) Khu vực thể chế phi tài chính; (4) Khu vực thể chế không vì lợi nhuận phục vụ hộ gia đình; (5) Hộ gia đình
- Tài sản có tài chính: Tài sản có tài chính là một bộ phận của tài sản có kinh tế - tức là các thực thể mà thông qua đó quyền sở hữu được thực hiện bởi các đơn vị thể chế với tư cách cá nhân hoặc tập thể và từ đó lợi ích kinh tế được hình thành bằng việc nắm giữ hoặc sử dụng tài sản đó qua một thời kỳ Tài sản có tài chính được phân tổ theo các hạng mục chính sau đây: (1) Vàng tiền tệ và SDRs; (2) Tiền mặt bao gồm giấy bạc và tiền xu có giá trị danh nghĩa cố định do Ngân hàng trung ương phát hành hoặc Chính phủ phát hành; (3) Tiền gửi; (4) Các chứng khoán không phải là cổ phiếu; (5) Cho vay là tài sản có tài chính; (6) Cổ phiếu và vốn góp khác; (7) Các Quỹ kỹ thuật bảo hiểm; (8) Các công cụ tài chính phái sinh; (9) Các khoản phải thu/phải trả
- Số dư bao gồm: (1) Số dư đầu kỳ thể hiện giá trị số dư hiện có của chỉ tiêu tài sản có hoặc tài sản nợ tài chính tại đầu kỳ hạch toán; (2) Số dư cuối kỳ
Trang 6thể hiện giá trị số dư hiện có của chỉ tiêu tài sản có hoặc tài sản nợ tài chính tại cuối kỳ hạch toán tương đương với giá trị số dư đầu kỳ cộng doanh số phát sinh trong kỳ do các giao dịch, các đánh giá lại và những thay đổi khác về giá trị các tài sản có tài chính
- Doanh số tài chính được thể hiện giá trị tại các giao dịch, việc đánh giá lại và những thay đổi khác về giá trị tài sản có Tổng doanh số tài chính trong
kỳ được chia thành 3 phần: (1) Các giao dịch; (2) Đánh giá lại: (3) Những thay đổi khác về giá trị các tài sản tài chính (OCVA)
- Tiền tệ: Tổng lượng tiền có 3 thước đo chính: (i) Những tài sản tài chính cấu thành nên tổng lượng tiền; (ii) Những khu vực nắm giữ tiền tệ; (iii) Những khu vực phát hành tiền
- Tổng tín dụng và nợ có 3 thước đo chính: (i) Những tài sản tài chính cấu thành tổng tín dụng; (ii) Các khu vực cấp tín dụng; (iii) Các khu vực con nợ
Tổng lượng tiền được chia thành tiền theo nghĩa hẹp (M1) và tiền theo nghĩa rộng (M2) Tiền theo nghĩa hẹp (M1) được sử dụng để thực hiện các giao dịch Tiền theo nghĩa hẹp bao gồm tiền mặt (tiền xu và giấy bạc trong lưu thông) và tiền gửi chuyển nhượng được Tiền theo nghĩa rộng (M2) là khoản tương tự tiền, chủ yếu được sử dụng để tiết kiệm không phải để thực hiện các giao dịch Tiền theo nghĩa rộng bao gồm các tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, các loại chứng khoán không phải là cổ phiếu, tiền gửi bằng ngoại tệ của người cư trú,…
Tiền cơ sở bao gồm các tài sản nợ của ngân hàng trung ương hỗ trợ mở rộng tiền theo nghĩa rộng và tín dụng Tiền cơ sở không phải là tổng lượng tiền Tiền cơ sở bao gồm tiền được phát hành bởi ngân hàng trung ương mà được bao gồm trong tổng lượng tiền, nhưng nó cũng bao gồm ít nhất hai cấu thành không được bao gồm trong tổng lượng tiền - đó là, số dư tiền gửi của
Trang 7các tổ chức nhận tiền gửi khác tại ngân hàng trung ương và số dư tiền quốc gia
Tổng phương tiện thanh toán: Tổng phương tiện thanh toán rộng hơn tiền theo nghĩa rộng với khía cạnh bao gồm cả loại tài sản nợ và các khu vực phát hành Ngoài các tài sản nợ theo nghĩa tiền mở rộng, tổng phương tiện thanh toán bao gồm các tài sản nợ khác mà được xem như là có chút ít tính lỏng, nhưng không đủ tính lỏng để được bao gồm trong tiền theo nghĩa rộng như định nghĩa quốc gia
Tổng phương tiện thanh toán bao gồm các Tài sản nợ theo nghĩa tiền
mở rộng cộng với các tài sản nợ được phát hành bởi các khu vực: Các tổ chức nhận tiền gửi, các tổ chức tài chính khác, Chính phủ trung ương, Chính phủ bang và Chính phủ địa phương, các tổ chức phi tài chính công, các tổ chức phi tài chính khác, các khu vực khác
- Bảng cân đối tiền tệ của các tổ chức nhận tiền gửi (DCS): là một bảng tổng kết tài sản tổng hợp của Ngân hàng trung ương và các tổ chức nhận tiền gửi khác DCS được hình thành từ 2 bảng cân đối tiền tệ: Bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng trung ương (CBS); Bảng cân đối tiền tệ của các tổ chức nhận tiền gửi khác (ODCS)
- Bảng cân đối tiền tệ của khu vực tài chính (FCS) bao gồm: Bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng trung ương (CBS), Bảng cân đối của các tổ chức nhận tiền gửi khác (ODCS), Bảng cân đối của các tổ chức tài chính khác (OFCS)
1.2 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC
Trên cơ sở tài liệu “Hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ” do IMF biên soạn, một số quốc gia đã biên soạn tài liệu hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ của quốc gia mình, như: Money and Banking Statistics của Thổ Nhĩ Kỳ; Monetary and Financial Statistics of South Korea của Hàn Quốc; Monetary and Financial Statistics của Anh Báo cáo trình bày 3 tài liệu
Trang 8hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ điển hình của Anh và Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc (chi tiết xem tại báo cáo tổng hợp)
1.2.1 Cấu trúc tài liệu hướng dẫn thống kê tài chính, tiền tệ của một
số quốc gia
- Tài liệu hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ của Anh là “Monetary and Financial Statistics” do Trung tâm Nghiên cứu ngân hàng trung ương (Ngân hàng trung ương Anh) biên soạn năm 2006 Tài liệu này gồm 12 nội dung chính: (1) Hướng dẫn; (2) Thống kê tiền tệ; (3) Tài khoản đối ứng của tiền; (4) Tín dụng; (5) Dữ liệu về chứng khoán; (6) Dữ liệu giá; (7) Các vấn đề
về ổn định tài chính; (8) Chỉ số lành mạnh tài chính; (9) Các khuôn khổ và hợp tác quốc tế; (10) Mối quan hệ giữa ngân hàng trung ương quốc gia và Viện thống kê quốc gia; (11) Chất lượng dữ liệu; (12) Quy trình hỗ trợ thu thập dữ liệu Tài liệu này dầy trên 50 trang giấy A4
- Tài liệu hướng dẫn thống kê ngân hàng và tiền tệ của Thổ Nhĩ Kỳ là
“Money and Banking Statistics” do Ngân hàng trung ương của Thổ Nhĩ Kỳ biên soạn Tài liệu này bao gồm 5 nội dung chính: (1) Các khái niệm và nguồn dữ liệu; (2) Phân loại; (3) Phạm vi; (4) Các nguyên tắc kế toán; (5) Tiếp cận dữ liệu Tài liệu này chỉ khoảng 10 trang giấy A4
- Tài liệu hướng dẫn thống kê tài chính và tiền tệ của Hàn Quốc khoảng
23 trang giấy A4, bao gồm các nội dung chính như sau: (1) Giới thiệu qua về địa lý và dân số Hàn Quốc; (2) Cấu trúc hệ thống tài chính; (3) Thống kê tài chính và tiền tệ; Những thách thức phải đối mặt với số liệu thống kê
Như vậy, kết cấu tài liệu hướng dẫn thống kê tiền tệ của 3 quốc gia trên rất khác nhau và khác với kết cấu của Tài liệu hướng dẫn thống kê tiền tệ của IMF Theo đó, Tài liệu hướng dẫn thống kê ngân hàng và tiền tệ của Thổ Nhĩ
Kỳ rất đơn giản, chỉ gồm 5 nội dung chính, với qui mô khoảng 10 trang giấy A4, trong khi đó, Tài liệu hướng dẫn thống kê ngân hàng và tiền tệ của Anh khá chi tiết, gồm 12 nội dung chính
Trang 91.2.2 Định nghĩa, phạm vi thống kê tiền của một số quốc gia
Nội dung này giới thiệu định nghĩa và phạm vi thống kê tiền tệ của một
số quốc gia, như Mỹ, Thái Lan, Latvia, Thổ Nhĩ kỳ, Hàn Quốc
- Định nghĩa và phạm vi thống kê tiền của Mỹ: Cục Dự trữ liên bang Mỹ công bố 03 mức độ tiền: M1, M2, M3
- Định nghĩa và phạm vi thống kê tiền của Thái Lan: Thái Lan công bố 04 mức độ tiền: M1, M2, M2a, M3
- Định nghĩa và phạm vi thống kê tiền của Latvia: Latvia công bố 3 mức
độ tiền: M1, M2D, M2X
- Định nghĩa và phạm vi thống kê tiền của Thổ Nhĩ Kỳ: Thổ Nhĩ Kỳ công
bố 3 mức độ tiền: M1, M2, M3
- Định nghĩa và phạm vi thống kê tiền của Hàn Quốc: Hàn Quốc công bố
4 mức độ tiền: M1, M2, Lf, L
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ BIÊN SOẠN SỔ TAY THỐNG KÊ TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
2.1 CƠ SỞ THỰC TIỄN BIÊN SOẠN SỔ TAY THỐNG KÊ TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
2.1.1 Tổng quan thị trường tài chính, tiền tệ của Việt Nam
Từ 12 tổ chức tín dụng hoạt động năm 1992, tăng lên 81 tổ chức tín dụng vào năm 1997 và 96 tổ chức tín dụng vào năm 2000, đến cuối năm 2013 đã có
125 tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam (6 ngân hàng thương mại nhà nước, 34 ngân hàng thương mại cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 45 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 29 công ty tài chính và cho thuê tài chính, 01 ngân hàng hợp tác xã) và hơn 1000 quỹ tín
Trang 10dụng nhân dân cơ sở Mạng lưới của các TCTD được mở rộng đến tận các xã, phường, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại nhà nước có hàng nghìn phòng giao dịch đặt ở khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước Số liệu đã dẫn cho thấy thị trường tài chính và tiền tệ của nước ta ngày càng phát triển và đa dạng hơn, từ chỗ chỉ có loại hình tổ chức tín dụng là ngân hàng trong nước, đến nay
đã có loại hình công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư phát triển và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Điều này cũng cho thấy thống kê tài chính, tiền
tệ cũng trở lên phức tạp hơn
2.1.2 Phương pháp thống kê tài chính, tiền tệ của Việt Nam
Thống kê tài chính và tiền tệ của Việt Nam đã thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế từ năm 1992 (IMF hỗ trợ kỹ thuật) Khi đó, thị trường tài chính, tiền tệ chỉ có 12 tổ chức tín dụng hoạt động Đến nay, thị trường tài chính, tiền tệ của nước ta đã phát triển về số lượng, loại hình các tổ chức tín dụng cũng như chủng loại sản phẩm dịch vụ tài chính, tiền tệ Thống kê tài chính tiền tệ của Việt Nam phát triển cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, tiền tệ của Việt Nam NHNN Việt Nam đã thực hiện thống kê tiền tệ toàn bộ khu vực tài chính, ngân hàng (đối tượng là các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính không phải là các tổ chức tín dụng) Đây thực sự một bước tiến quan trọng trong thống kê tiền tệ của Việt Nam Việc thống kê tiền tệ toàn khu vực tài chính, ngân hàng cung cấp bức tranh tổng thể về mối quan hệ giữa các thể chế tài chính của nền kinh tế, trong đó việc đo lường các chỉ tiêu tiền tệ là cơ sở để đánh giá sự ổn định của khu vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam
Tuy nhiên, thống kê tài chính, tiền tệ của nước ta vẫn có một số điểm khác biệt so với hướng dẫn của IMF Những điểm khác biệt này được liệt kê
ở Bảng 1, 2 dưới đây
Bảng 1: Bảng cân đối tiền tệ của NHTW, hệ thống các tổ chức tín dụng
Nội dung Việt Nam Tiêu chuẩn của IMF