1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số

28 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 828,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học môn Toán ở lớp Một nhằm giúp học sinh: + Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm, về các số tự nhiên trong phạm vi 100, về độ dài và đo độ dài tron

Trang 1

2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra 8

3.2 Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp biện pháp 9

3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 24

4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề

1 Lý do chọn đề tài

Môn toán ở tiểu học có một tầm quan trọng đặc biệt Thông qua môn toán

trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về toán học, rèn cho học sinh kỹ

Trang 2

phương pháp học tập; khả năng phân tích tổng hợp, óc quan sát, trí tưởng tượng tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo, tư duy độc lập.

Đối với mạch kiến thức: “Giải toán có lời văn” là một trong 5 mạch kiếnthức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học Thông qua giải toán cólời văn, các em phát huy được trí tuệ, rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễnđạt, trình bày, tính toán Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của cácmạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ được giải các bài toán về

số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đại lượng Toán có lời văn làchiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn họckhác

Dạy học môn Toán ở lớp Một nhằm giúp học sinh:

+ Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm,

về các số tự nhiên trong phạm vi 100, về độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20,

về tuần lễ và ngày trong tuần, về giờ đúng trên mặt đồng hồ; về một số hình học(Đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về bài toán có lời văn + Hình thành và rèn luyện các kĩ năng thực hành đọc, viết, đếm, so sánhcác số trong phạm vi 100; cộng, trừ không nhớ trong phạm vi 100; đo và ướclượng độ dài đoạn thẳng (với các số đo là số tự nhiên trong phạm vi 20 cm).Nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn, đoạn thẳng, điểm, vẽ điểm, vẽđoạn thẳng) Giải một số dạng bài toán đơn về cộng trừ bước đầu biết biểu đạtbằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành,tập so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vicủa những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh

+ Chăm chỉ, tự tin, cẩn thận ham hiểu biết và học sinh có hứng thú họctoán

Những năm gần đây đã có nhiều đồng nghiệp trong và ngoài nhà trườngmiệt mài với đề tài nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1”mang lại kết quả khả quan nhưng kết quả đó bao hàm với mọi đối tượng họcsinh Dựa trên hoàn cảnh thực tế tại đơn vị tôi với tỉ lệ trên 75% là học sinhđồng bào dân tộc thiểu số thì tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm thế nào để học sinhđồng bào dân tộc thiểu số lớp Một làm được các phép tính cộng, trừ đã khó việc

giải toán có lời văn thì càng khó hơn Vì vậy tôi đã nghiên cứu đề tài “Một số

biện pháp nâng cao chất lượng Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số”

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu:

+ Áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn

+ Góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán nói chung và dạy giải toán

Trang 3

- Nhiệm vụ: Nghiên cứu dạy giải toán có lời văn nhằm giúp học sinh: + Nhận biết thế nào là một bài toán có lời văn.

+ Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng một phép tính cộnghoặc một phép tính trừ

+ Bước đầu phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp giải toán và khả năngdiễn đạt đúng

3 Đối tượng nghiên cứu,

Biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong chương trìnhlớp 1 ở Tiểu học

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Một số biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong chươngtrình toán 1

5 Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiện nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp cơbản sau:

- Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu, sách giáo khoa và thực tiễn dạyhọc của lớp 1C - khối I- Trường Tiểu học Ea Bông

- Đánh giá quá trình dạy toán Loại bài giải toán có lời văn từ những nămgần đây

- Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh

- Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu

II PHẦN NỘI DUNG

bộ môn Toán: “ Trong các môn khoa học và kỹ thuật, toán học giữ một vị trí nổibật Nó có tác dụng lớn đối với kỹ thuật, với sản xuất và chiến đấu Nó là mộtmôn thể thao của trí tuệ, giúp chúng ta nhiều trong việc rèn luyện phương phápsuy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học tập, phương pháp giải quyếtcác vấn đề, giúp chúng ta rèn luyện trí thông minh sáng tạo Hội nghị Ban Chấphành trung ương khoá VIII lần thứ 2 đã chỉ rõ: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp

Trang 4

tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiệnđại vào quá trình dạy học” Trong luật Giáo dục, Khoản 2, điều 24 đã ghi:

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ độngsáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồidưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đổimới cách thực hiện phương pháp dạy học là vấn đề then chốt của chính sách đổimới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đổi mới cách thực hiệnphương pháp dạy học sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế hệhọc trò - chủ nhân tương lai của đất nước Như vậy, đổi mới phương pháp dạyhọc sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo Nó tạo ra sựhiện đại hoá của quá trình này Đổi mới phương pháp dạy học thực chất khôngphải là sự thay thế các phương pháp dạy học cũ bằng một loạt các phương phápdạy học mới Về mặt bản chất, đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cáchtiến hành các phương pháp, đổi mới phương tiện và hình thức triển khai phươngpháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm các phương pháp cũ và vận dụng linhhoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động,sáng tạo của người học Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học chính làlàm thế nào để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trởtìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cáchthức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình.Mặt khác môn toán thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu họctheo đặc trưng và khả năng của môn Toán, cụ thể là chuẩn bị cho học sinhnhững tri thức, kỹ năng toán học cơ bản cần thiết cho việc học tập hoặc bướcvào cuộc sống lao động Đối với môn Toán lớp Một, môn học có vị trí nền tảng,

là cái gốc, là điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học Môn Toán mở đườngcho các em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học Rồi mai đây, các em lớn lên,nhiều em trở thành vĩ nhân, trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhàthơ… trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất và đờisống, trên tay có máy tính xách tay, trong túi có máy tính bỏ túi… nhưng khôngbao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và tập viết

1, 2, 3 … học các phép tính cộng, trừ… Các em không quên được vì đó là kỷniệm đẹp đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa, những con số, những phép tính

ấy cần thiết cho suốt cả cuộc đời Đối với mạch kiến thức : “Giải toán có lờivăn”, là một trong năm mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toáncấp tiểu học Thông qua giải toán có lời văn, các em được phát triển trí tuệ, đượcrèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Toán có lờivăn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán cólời văn các em sẽ được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố

Trang 5

hình học và đo đại lượng Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực

tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác

sự việc xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Cái khó của bài toán có lời văn là:phải biết lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bàitoán, hay nói cách khác là chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán họcchứa đựng trong bài toán và nêu ra cách giải thích hợp để từ đó tìm được phéptính đúng và có đáp số đúng của bài toán Bên cạnh đó cái khó từ phía học sinhlà: ít em chịu khó đọc kỹ đề, phần lớn các em chưa biết dựa vào dữ kiện bài toán

để phân tích và suy ngẫm hoặc phân tích không đúng hướng, không lôgic

b Khó khăn

Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học Ea Bông, kể từ khi về trường tới nay

tôi luôn được phân công dạy học sinh dân tộc thiểu số Vì vậy, qua thời giangiảng dạy tôi nhận thấy các em phát âm đa số là số là thiếu dấu, viết sai lỗi chính

tả Đặc biệt học sinh lớp Một và hầu hết giáo viên đều phàn nàn khi dạy đếnphần giải toán có lời văn ở lớp Một Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải,thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số Những tiết đầutiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có khoảng 20% số học sinh biết nêu lờigiải, viết đúng phép tính và đáp số Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theoquán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làmsai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không biết để trả lời Chứng tỏ các

em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn Giáo viênphải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này

2.2 Những thành công và hạn chế

a Những thành công

Trong những năm học qua, đã có một vài đồng nghiệp cũng trăn trở vềcác biện pháp “giải toán có lời văn” và bên cạnh đó nhà trường đã tổ chức cáccuộc thi và giao lưu giữa các lớp trong tổ khối nhằm phát hiện học sinh năngkhiếu môn Toán và đạt kết quả như sau

Kết quả điều tra năm học 2013 – 2014

sĩ số

HS viết đúng câu lời giải

HS viết đúng phép tính

HS viết đúng đáp số

HS giải đúng

cả 3 bước

Trang 6

HS viết đúng câu lời giải

HS viết đúng phép tính

HS viết đúng đáp số

Phần lớn học sinh biết làm bài toán có lời văn, kết quả của bài toán đúng.Học sinh ham học, có hứng thú học tập môn Toán nói chung và “Giải toán cơ lờivăn” nói riêng Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế

b Những hạn chế

Về học sinh: Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu họcthì tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn nhất đốivới học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một dân tộc thiểu số.Bởi vì đối với lớp Một vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duylôgic của các em còn rất hạn chế Một nét nổi bật hiện nay nói chung là học sinhchưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bàitoán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng khôngthể trả lời hoặc lí giải là tại sao các em lại có được phép tính đúng như vậy.Thực tế hiện nay cho thấy các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn.Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra lốigiải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic Ngônngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học,chưa có biện pháp, phương pháp học toán và giải toán một cách máy móc rậpkhuôn, bắt chước

Trình bày bài làm còn chưa sạch đẹp, một số học sinh chưa biết cách đặtcâu lời giải phù hợp hoặc không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn đếnkhông làm được bài

Trang 7

Về giáo viên: Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh hoạ, ngại tómtắt bằng sơ đồ hình vẽ hoặc đoạn thẳng, sử dụng phương pháp phân tích, tổnghợp trong việc giúp học sinh tìm đường lối giải và giải toán còn khó hiểu.

Về đồ dùng dạy học: Tư duy của học sinh lớp Một là tư duy cụ thể, để họcsinh học tốt “giải toán có lời văn” trong quá trình giảng dạy rất cần đồ dùng thiếtbị dạy học để minh họa Trong những năm qua, các trường Tiểu học đã đượccung cấp khá nhiều trang thiết bị về đồ dùng dạy học đồng bộ để dạy cho cả cấphọc để dạy theo lớp nhưng thống kê theo danh mục thì số lượng vẫn chưa đápứng đủ yêu cầu dạy “giải toán có lời văn”

Về cha mẹ học sinh: Một số phụ huynh chỉ quan tâm dấu hiệu bên ngoàicủa việc học tập đó là chỉ cần biết tính toán là được Bên cạnh đó phần đa hoàncảnh gia đình các em còn khó khăn do đó cha mẹ hầu như chỉ chăm lo làm kinh

tế mà chưa thực sự quan tâm tới việc học tập và giúp đỡ các em tháo gỡ kịp thờinhững khúc mắc, khó khăn trong học tập khiến các em bỡ ngỡ khi làm bài, đặcbiệt là giải toán có lời văn dẫn đến sự chán nản, thiếu tự tin, từ đó tạo nên những

lỗ hổng kiến thức trong học tập của các em

Bên cạnh những thành công mà đồng nghiệp tôi đã thực hiện được thìkhông ít mặt hạn chế và tồn tại cần được khắc phục Chính vì vậy tôi đã xâydựng sáng kiến riêng cho bản thân mình nhằm sử dụng các biện pháp để nângcao chất lượng “giải toán có lời văn”

2.3 Những mặt mạnh, mặt yếu

a Mặt mạnh

Khi thực hiện đề tài này được sự ủng hộ và động viên của Lãnh đạo nhà

trường, cha mẹ học sinh và đa số giáo viên trong tổ khối I nhằm mang đến cho

cả giáo viên và học sinh kết quả cao nhất

b Mặt yếu

Thời gian thực hiện đề tài còn hạn chế.

Tài liệu phục vụ cho đề tài chưa đáp ứng được yêu cầu đạt ra

2.4 Nguyên nhân, các yếu tố tác động

+ Nguyên nhân từ phía HS:

Về học sinh: Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu họcthì tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn nhất đốivới học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một Bởi vì học sinhlớp Một: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic củacác em còn rất hạn chế Một nét nổi bật hiện nay nói chung học sinh chưa biếtcách tự học, chưa học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bài toán có lờivăn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lờihoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy Thực tế hiện naycho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn, diễn đạt vụng về,

Trang 8

thiếu lôgic Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bàythiếu chính xác, thiếu khoa học

+ Nguyên nhân từ phía giáo viên:

Về giáo viên: Vẫn còn một số giáo viên chuyển đổi phương pháp giảngdạy còn lúng túng, chưa phát huy được tích cực chủ động của học sinh, phươngpháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào tư duy vào lề lối dạy học hàng ngày.Một số giáo viên dạy theo cách thông báo kiến thức sẵn có, dạy theo phươngpháp thuyết trình có kết hợp với đàm thoại, thực chất vẫn là “thầy truyền thụ, tròtiếp nhận ghi nhớ”

+ Những sai lầm và khó khăn thường gặp của giáo viên và học sinh khidạy và học tuyến kiến thức : “Giải toán có lời văn” ở lớp Một: Về mặt nhận thứcgiáo viên còn coi việc dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp Một là đơngiản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để có phương pháp giảng dạy hiệuquả, đôi khi giáo viên giảng cho học sinh lớp Một đã diễn đạt như với các lớptrên làm học sinh khó hiểu và không thể tiếp thu được kiến thức trong việc giảicác bài toán có lời văn Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều phương pháp đểdạy tuyến kiến thức: “Giải toán có lời văn” ở lớp Một còn thiếu linh hoạt Giáoviên còn lúng túng khi tạo các tình huống sư phạm để nêu vấn đề Chưa khuyếnkhích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý các nhóm cũng như các đối tượnghọc sinh trong quá trình học Khả năng kiên trì của học sinh lớp Một trong quátrình học nói chung cũng như học “Giải toán có lời văn” nói riêng còn chưa cao

2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra

Vấn đề nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” ở lớp Một hiện nay làmột vấn đề nan giải mà đa số giáo viên và nhà trường quan tâm Để nâng caochất lượng giải toán có lời văn phải có kế hoạch cụ thể cho đội ngũ giáo viênthông qua việc nâng cao trình độ chuyên môn và tiếp tục đổi mới phương phápgiáo dục theo hướng tích cực, sáng tạo của học sinh nhiệm vụ đặt ra chúng taphải đưa ra phương pháp dạy hiệu quả nhất

Một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng

“giải toán có lời văn” ở lớp Một là việc tăng cường động viên các em học sinhluyện tập thực hành giải toán có lời văn mọi lúc mọi nơi Kiên trì, bền bỉ là yếu

tố góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáoviên từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Để nâng cao chất lượng giảng dạy thì việc Tăng cường sử dụng phươngpháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh càng khôngthể thiếu trong mỗi bài dạy, tiết dạy học toán

Thường xuyên đánh giá để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời đây làyếu tố vô cùng quan trọng góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giảitoán có lời văn nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung Việc thường xuyên

Trang 9

đánh giá nhằm phát huy năng lực của từng học sinh, và kịp thời động viện khích

lệ tinh thần học tập của các em

Đồng thời việc kết hợp giữa Gia đình – Nhà trường- Xã hội cũng là vấn đềlớn để nâng cao chất lượng giảng dạy

3 Giải pháp, biện pháp.

3.1 Mục tiêu của giải pháp:

Chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh lớp Một trong hai nămqua đã có những chuyển biến đi lên đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa đạt được mứcchất lượng tối thiểu theo quy định của trường, ngành Giáo dục đề ra Để tiếp tụcnâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh lớp Một trường Tiểuhọc Ea Bông trong giai đoạn hiện nay nhằm đạt chất lượng tối thiểu, mục tiêuchính của tôi như sau:

3.2 Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp

- Nắm bắt nội dung chương trình Để dạy tốt môn Toán lớp Một nói chung,

“Giải bài toán có lời văn” nói riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thậtchắc nội dung chương trình, sách giáo khoa Nhiều người nghĩ rằng Toán tiểuhọc, và đặc biệt là toán lớp Một thì ai mà chả dạy được Đôi khi chính giáo viênđang trực tiếp dạy cũng rất chủ quan và cũng có những suy nghĩ tương tự nhưvậy Qua dự giờ một số đồng chí giáo viên tôi nhận thấy giáo viên dạy bài nàochỉ cốt khai thác kiến thức của bài ấy, còn các kiến thức cũ có liên quan giáoviên nắm không thật chắc Người ta thường nói “Biết 10 dạy 1” chứ không thể

“Biết 1 dạy 1” vì kết quả thu được sẽ không còn là 1 nữa

- Dạy “Giải toán có lời văn” ở lớp Một theo từng mức độ.

Mức độ 1: Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độnhìn hình vẽ - viết phép tính Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ,suy nghĩ chọn phép tính thích hợp

Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5 ôvuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ Ban đầu

để giúp học sinh dễ thực hiện sách giáo khoa ghi sẵn các số và kết quả :

Trang 10

b) Đến câu này nâng dần mức độ học sinh nhìn vào hình vẽ để hình dung sốquả bóng và phải đặt được các số để thành phép tính và kết quả

Trang 11

Giáo viên hướng dẫn để các em biết được hướng đi của hình mũi tên thì họcsinh phải làm phép tính gì?

Đến bài 3 trang 85

Học sinh quan sát và cần hiểu được:

Lúc đầu trên cành có 10 quả Sau đó rụng 2 quả Còn lại trên cành 8 quả

Ở đây giáo viên cần động viên các em diễn đạt trình bày miệng ghi đúngphép tính Tư duy toán học được hình thành trên cơ sở tư duy ngôn ngữ của họcsinh Khi dạy bài này cần hướng dẫn học sinh diễn đạt trình bày động viên các

em viết được nhiều phép tính để tăng cường khả năng diễn đạt cho học sinh

Mức độ 2: Đến cuối học kì I học sinh đã được làm quen với tóm tắt bằng

Trang 12

Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có thểđộng viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách, có nhiều cách diễn đạt từ một hình

vẽ hay một tình huống sách giáo khoa

Mức độ 3: Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận

với một đề bài toán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện(tiết 81- bài toán có lời văn) Tư duy học sinh từ hình ảnh phát triển thành ngônngữ, thành chữ viết Giải toán có lời văn ban đầu được thực hiện bằng phép tínhcộng là phù hợp với tư duy của học sinh

Cấu trúc một đề toán gồm 2 phần: phần cho biết và phần hỏi, phần chobiết gồm có 2 yếu tố

Mức độ 4: Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã

nêu một bài toán, phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinhlàm quen.( Bài toán- trang 117)

Giáo viên cần cho học sinh nắm vững đề toán, thông qua việc tóm tắt đềtoán Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên để giải bài toán có lời văn

Bài giải gồm 3 phần : câu lời giải, phép tính và đáp số

Chú ý rằng tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng phần tómtắt cần được luyện kỹ để học sinh nắm được bài toán đầy đủ, chính xác Câu lờigiải trong bài giải không yêu cầu mọi học sinh phải theo mẫu như nhau, tạo diềukiện cho học sinh diễn đạt câu trả lời theo ý hiểu của mình Quy ước viết đơn vịcủa phép tính trong bài giải học sinh cần nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi học sinh đã thànhthạo giải ài toán có lời văn bằng phép tính cộng Giáo viên chỉ hướng dẫn cáchlàm tương tự, thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán

Ở lớp Một, học sinh chỉ giải toán về thêm, bớt với một phép tính cộnghoặc trừ, mọi học sinh bình thường đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập mộtcách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể

GV dạy cho học sinh giải bài toán có lời văn cần thực hiện tốt các bướcsau:

+ Đọc và tìm hiểu đề bài

+Tìm đường lối giải bài toán

+ Trình bày bài giải

+ Kiểm tra lại bài giải

- Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng

đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán Giáo viêncần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọngnhư " thêm, và, tất cả, " hoặc "bớt, bay đi, ăn mất, còn lại, " (có thể kếthợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cầngạch chân các từ ngữ chính trong đề bài Một số giáo viên còn gạch chân

Trang 13

quá nhiều các từ ngữ, hoặc gạch chân các từ chưa sát với nội dung cần tómtắt Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn.

Trong giai đoạn đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằngcách đàm thoại " Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?" và dựa vào câu trảlời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêulại đề toán Đây là cách rất tốt để giúp học sinh ngầm phân tích đề toán Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên chocác em nhìn tranh và trả lời câu hỏi

Ví dụ : Bài 3 trang 118, giáo viên có thể hỏi:

+ Em thấy dưới ao có mấy con vịt? (Dưới ao có 5 con vịt)

+ Trên bờ có mấy con vịt? (Trên bờ có 4 con vịt)

+ Trên bờ và dưới ao có tất cả mấy con vịt? (Có tất cả 9 con vịt)

Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thểgắn mẫu vật (gà, vịt, ) lên bảng từ để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắtbằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán

Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:

Trang 14

23, 24 Chúng ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước, miễn sao đếncuối năm (tuần 33, 34, 35) học sinh đọc và giải được bài toán là đạt yêu cầu Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cáiphải tìm.

Chẳng hạn: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà Hỏi nhà An

có tất cả mấy con gà?

- Bài toán cho biết gì? (Nhà An có 5 con gà)

- Mẹ mua thêm bao nhiêu con gà nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)

- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)

Giáo viên nêu tiếp: "Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làmphép tính gì? (tính cộng) Bao nhiêu cộng bao nhiêu? (5 + 4); 5 + 4 bằng baonhiêu? (5 + 4 = 9); hoặc: "Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em tínhthế nào? (5 + 4 = 9); hoặc: "Nhà An có tất cả mấy con gà ?" (9) Em tính thếnào để được 9 ? (5 + 4 = 9)

Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp "9 này là 9 con gà", nên taviết "con gà" vào trong dấu ngoặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà)

Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng dẫnhọc sinh đặt câu lời giải còn khó hơn việc chọn phép tính và tính ra đáp số

Ngày đăng: 28/05/2021, 10:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w