Trong những năm qua, Nhà nước đã chú trọng đến công tác thống kê, đặc biệt là việc xây dựng văn bản pháp luật nhằm mục đích điều chỉnh các hoạt động thống kê theo quy định của nhà nước và để quản lý các hoạt động đó. Luật Thống kê được ban hành năm 2003, sửa đổi năm 2015 là để “giữ quyền” quản lý nhà nước về thống kê, để hoạt động thống kê Việt Nam trong khuôn khổ hành lang pháp lý được Nhà nước quy định. Tuy nhiên, trong Luật Thống kê lại không có mục riêng quy định về quản lý chất lượng thống kê; chưa có văn bản pháp lý nào riêng dành cho quản lý chất lượng thống kê; chưa xây dựng và áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn chất lượng, công cụ, phương pháp, quy trình đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê. Do đó, một số vấn đề về chất lượng thống kê vẫn chưa được giải quyết triệt để, chưa tạo được hành lang pháp lý cho hoạt động quản lý chất lượng thống kê.
Trang 1NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐỀ
ÁN TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ
Cấp đề tài:
Thời gian nghiên cứu:
Đơn vị thực hiện:
Chủ nhiệm:
Bộ 2016 Viện Khoa học Thống kê ThS Hoàng Thu Hiền
LỜI NÓI ĐẦU
Thông tin thống kê nhà nước được lãnh đạo Đảng, Nhà nước các cấp, các ngành sử dụng như là một trong những cơ sở khoa học và pháp lý quan trọng trong quá trình xây dựng, giám sát và đánh giá việc thực thi các chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Trong những năm qua, ngành Thống kê đã có nhiều giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng thống kê phục vụ yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp, các ngành và các đối tượng sử dụng thông tin thống kê khác
Trong những năm qua, Nhà nước đã chú trọng đến công tác thống kê, đặc biệt
là việc xây dựng văn bản pháp luật nhằm mục đích điều chỉnh các hoạt động thống
kê theo quy định của nhà nước và để quản lý các hoạt động đó Luật Thống kê được ban hành năm 2003, sửa đổi năm 2015 là để “giữ quyền” quản lý nhà nước về thống
kê, để hoạt động thống kê Việt Nam trong khuôn khổ hành lang pháp lý được Nhà nước quy định Tuy nhiên, trong Luật Thống kê lại không có mục riêng quy định về quản lý chất lượng thống kê; chưa có văn bản pháp lý nào riêng dành cho quản lý chất lượng thống kê; chưa xây dựng và áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn chất lượng, công cụ, phương pháp, quy trình đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê Do đó, một số vấn đề về chất lượng thống kê vẫn chưa được giải quyết triệt để, chưa tạo được hành lang pháp lý cho hoạt động quản lý chất lượng thống kê
Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên cần phải tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng thống kê như: Tiếp tục thực hiện những hoạt động quản lý nhà nước về thống kê hiện nay và bổ sung một số hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng thống kê, trong đó có việc xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn chất lượng, công cụ, phương pháp, quy trình đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê để áp dụng thống nhất trong toàn bộ hệ thống thống kê nhà nước
Vì vậy, Ban chủ nhiệm đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và đề xuất nội dung xây dựng Đề án tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng thống kê” làm chủ đề nghiên cứu
Trang 2Ngoài phần mở đầu và kết luận, Đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về chất lượng thống kê;
Chương 2 Cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về chất lượng thống kê;
Chương 3 Đề xuất nội dung quản lý nhà nước về chất lượng thống kê
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ
1.1 CÁC KHÁI NIỆM
Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung
Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: (i) Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của
bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp; (ii) Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng
Quản lý chất lượng là tập hợp các hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm xác định và thực hiện chính sách chất lượng” (ISO 9000)
Đối với khái niệm “quản lý nhà nước về thống kê”, Luật Thống kê 2015 đã quy định về quản lý nhà nước về thống kê được quy định tại Điều 6, Chương I: Những quy định chung Theo đó, nội dung cụ thể của quản lý nhà nước về thống kê được quy định gồm 8 nội dung: (1) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, chính sách phát triển hoạt động thống kê; (2) Xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về thống kê; (3) Phổ biến, giáo dục pháp luật
về thống kê; (4) Xây dựng tổ chức thống kê nhà nước, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp
vụ thống kê; (5) Tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng phương pháp thống kê tiên tiến và công nghệ thông tin vào hoạt động thống kê; (6) Hợp tác quốc tế về thống kê; (7) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về thống kê; (8) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thống kê
1.2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ
Về khái niệm “chất lượng” nói chung, có nhiều khái niệm khác nhau về “chất lượng” đã được các tổ chức đưa ra, trong đó đều có điểm chung là nhấn mạnh khả
Trang 3năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng/người sử dụng khi xét đến chất lượng của các sản phẩm/dịch vụ/quá trình
Theo ISO, “chất lượng là toàn bộ các tính năng và đặc tính của một sản phẩm hay dịch vụ phải có khả năng đáp ứng nhu cầu được tuyên bố hay được hàm ý”.
Hoặc một khái niệm khác đã được Cộng đồng Chất lượng Mỹ (ASQ) đưa ra
như sau: “Chất lượng biểu thị tính ưu việt của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt là mức
độ mà các hàng hóa/ dịch vụ này phù hợp với các yêu cầu và đáp ứng được khách hàng”.
Trong lĩnh vực thống kê, “Thuật ngữ chất lượng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả khía cạnh về việc các quá trình thống kê và các kết quả thống kê đáp ứng tốt như thế nào những kỳ vọng của người sử dụng và các bên liên quan Chất lượng tốt không chỉ là đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, mà còn giải quyết được những quan ngại của người trả lời về gánh nặng báo cáo và bảo mật thông tin, đồng thời đảm bảo môi trường thể chế được công bằng, khách quan, bao gồm những phương pháp luận đúng đắn và các thủ tục có tính hiệu quả chi phí”.
(UNSD)
Về quản lý chất lượng, hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng TCVN ISO 9000:2000 đã định nghĩa về quản lý chất lượng là:
“Các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng” và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm
soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng
Đối với lĩnh vực quản lý nhà nước về chất lượng, chất lượng thống kê, có thể nêu lên những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu quyết định đến quản lý chất lượng, bao gồm:
(i) Định hướng phát triển kinh tế;
(ii) Tôn trọng và phát huy đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường;
(iii) Đảm bảo phát triển kinh tế bền vững và hài hòa các lợi ích của người sản xuất, kinh doanh, của người lao động, của người tiêu dùng và của nhà nước;
(iv) Các chính sách của nhà nước về khoa học kỹ thuật, các biện pháp khuyến khích áp dụng thành tựu khoa học công nghệ, đổi mới và chuyển giao công nghệ, hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ…;
(v) Các vấn đề hợp tác, đấu tranh và cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh
tế, khu vực và quốc tế
1.3 TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ
1.3.1 Quản lý nhà nước về một số ngành, lĩnh vực
Trang 4- Quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa
Theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2007, quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá là hoạt động của một tổ chức nhằm định hướng phát triển, nâng cao và kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng hoá Tuy nhiên, công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như: Các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng lại chưa đủ mạnh, kém tác dụng răn đe, phòng ngừa
- Quản lý nhà nước về quy trình kiểm toán
Theo Nghị định số 07/CP ngày 29 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ, nội dung quản lý gồm 5 nội dung Tuy nhiên, thực tế các nội dung đó vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và có những nội dung không thực hiện được
- Quản lý nhà nước về quy trình tín dụng
Xây dựng đồng bộ và kịp thời khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại cổ phần áp dụng đầy đủ các hình thức cấp tín dụng, các loại và phương thức cấp tín dụng hiện nay; xây dựng các định hướng chi tiết về đa dạng hóa hoạt động tín dụng cho các đề án, chương trình phát triển đa dạng dịch vụ ngân hàng; hình thành mới các quy định pháp luật để phát triển các hình thức cấp tín dụng mới, các loại và phương thức cấp tín dụng mới; xây dựng chính sách khuyến khích, tạo điều kiện và đảm bảo lợi ích hợp pháp cho các ngân hàng thương mại cổ phần và khách hàng tham gia vào quá trình đa dạng hóa hoạt động tín dụng
1.3.2 Một số văn bản pháp lý hiện hành về quản lý chất lượng
- Luật Thống kê số 89/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 3/11/2015
Tại Điều 5 quy định: Nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê nhà nước là
“Trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời; độc lập về chuyên môn nghiệp
vụ thống kê; thống nhất về nghiệp vụ, không trùng lặp, không chồng chéo; công khai, minh bạch, có tính so sánh”
Tại Điều 6 khoản 2 quy định: Quản lý nhà nước về thống kê “Xây dựng, ban
hành, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về thống kê”
Tại Điều 60 khoản 1 quy định: “Tổ chức thống kê thuộc hệ thống tổ chức
thống kê nhà nước có trách nhiệm tổ chức tham khảo ý kiến người sử dụng thông tin thống kê nhà nước về chất lượng số liệu thống kê để nâng cao chất lượng thông tin thống kê và hoàn thiện công tác thống kê”
- Quyết định số 1803/QĐ-TTg ngày 18/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030
Tại Điều 1 khoản 4 tiết b: “Xây dựng và áp dụng các quy trình và công cụ
quản lý chất lượng hoạt động thống kê”
Trang 5- Quyết định số 1161/QĐ-TTg ngày 23/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Đề án hội nhập thống kê ASEAN giai đoạn 2016 - 2020
Tại Điều 1 khoản 2 tiết b: “Đẩy mạnh giám sát và đánh giá chất lượng số liệu
thống kê theo các tiêu chí: Khả năng tiếp cận, tính kịp thời, khả năng so sánh các chỉ tiêu thống kê thuộc bộ chỉ tiêu thống kê ASEAN”
- Thông báo số 258/TB-VPCP ngày 29/8/2016 của Văn phòng Chính phủ về kết quả buổi làm việc của Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Thông báo nêu rõ những kết quả đạt được quan trọng trong triển khai kế hoạch công tác thống kê và những nhiệm vụ của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2016-2020
1.3.3 Quản lý nhà nước về chất lượng thống kê
Quản lý nhà nước về chất lượng thống kê là hoạt động của các cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền, nhằm định hướng, kiểm soát và nâng cao chất lượng thống kê thông qua các tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chí, công cụ, phương pháp, quy trình đánh giá, báo cáo chất lượng thống kê, chứng nhận và dán nhãn chất lượng
Đối với hệ thống thống kê:
Điều phối hệ thống thống kê quốc gia:
- Đối với Hệ thống tổ chức thống kê tập trung;
- Phối hợp giữa Hệ thống tổ chức thống kê tập trung và tổ chức thống kê Bộ, ngành;
- Sự phối hợp trong nội bộ thống kê Bộ, ngành;
- Sự phối hợp thống kê tại các địa phương
Mối quan hệ giữa các bên liên quan: Như người sử dụng, người cung cấp, cơ
quan truyền thông, các đối tác phát triển cũng được cơ quan Tổng cục Thống kê xác định và duy trì mối liên hệ đặc biệt là cơ quan truyền thông
Các tiêu chuẩn thống kê: Được Tổng cục Thống kê nghiên cứu và áp dụng
thống nhất trong hệ thống thống kê nhà nước
Đối với môi trường thể chế:
Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thống kê, đồng thời thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý các vi phạm pháp luật về thống kê nếu các hoạt động thống
kê vi phạm: Tính độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, tính trung thực, khách quan, bảo mật và an ninh thống kê, việc ban hành và thực thi các chính sách về thống kê cũng như các cam kết về chất lượng
Đối với quy trình sản xuất thông tin thống kê:
Trang 6Tổng cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 945/QĐ-TCTK năm 2013 phê duyệt Quy trình sản xuất thông tin thống kê cấp cao của Tổng cục Thống kê Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những quy định về các quy trình cấp thấp, và trong triển khai một cuộc điều tra giữa các vụ trong Tổng cục Thống kê cũng có điểm chưa thống nhất, quy chế phối hợp, phân công nhiệm vụ chung giữa các vụ đôi lúc còn không phù hợp
Đối với sản phẩm đầu ra thống kê:
Việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các sản phẩm đầu ra thống kê thể hiện trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch chính sách phát triển thống kê Định hướng trong chiến lược về sản phẩm thống kê phải đảm bảo: (i) Các phương pháp luận tốt được áp dụng thống nhất; (ii) Đảm bảo tính kịp thời và đúng lúc; (iii) Đảm bảo dễ tiếp cận và rõ ràng, đảm bảo tính gắn kết
và tương thích đồng thời dữ liệu đặc tả được tư liệu hóa và lưu trữ đầy đủ
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG
THỐNG KÊ
2.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ
Trong những năm gần đây, nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp cụ thể nhằm thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng thống kê, như: Môi trường pháp
lý cho các hoạt động thống kê ngày càng được hoàn thiện; cơ chế cung cấp, chia sẻ thông tin thống kê được quy định rõ ràng, công khai và minh bạch hơn; nguồn nhân lực làm công tác thống kê cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu; thanh tra chuyên ngành thống kê đã được củng cố; khảo sát mức độ hài lòng và nắm bắt nhu cầu của các đối tượng dùng tin đã được tiến hành vào năm 2008, 2013…
Chất lượng thông tin thống kê nhà nước đã được kiểm soát trên sáu tiêu thức chất lượng: Tính phù hợp; tính chính xác; tính kịp thời; khả năng tiếp cận; khả năng giải thích; và tính chặt chẽ của thông tin thống kê
2.2 HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ
Mặc dù đã có nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thống kê, tuy nhiên, quản lý nhà nước về chất lượng thống kê vẫn còn hạn chế, bật cập
2.2.1 Văn bản pháp lý
Chưa có văn bản pháp lý nào đề cập đến khái niệm về chất lượng thống kê của Việt Nam, chỉ có một số tài liệu (bài viết đăng trên báo, tạp chí), đề tài nghiên cứu
Trang 7khoa học cấp Bộ đề cập đến khái niệm về chất lượng thông tin thống kê Luật Thống
kê 2015 chưa có một mục riêng nói về chất lượng thống kê
2.2.2 Cơ chế quản lý
Các văn bản pháp lý về quản lý chất lượng thống kê chưa được ban hành đầy
đủ, đồng bộ; bộ tiêu chí chất lượng thống kê, công cụ, phương pháp, quy trình đánh giá chất lượng thống kê chưa được xây dựng và áp dụng theo chuẩn quốc tế; đội ngũ đánh giá chất lượng thống kê chưa được bố trí trong toàn hệ thống; báo cáo đánh giá chất lượng thống kê chưa được biên soạn và công bố đến mọi đối tượng sử dụng Chưa hình thành một cách chính thống hệ thống theo dõi, đánh giá và báo cáo định kỳ và minh bạch về chất lượng thống kê ở từng lĩnh vực, từng khâu của quá trình sản xuất thông tin thống kê ở cấp cơ quan cũng như cấp quốc gia
Quy trình thanh tra thực hiện điều tra thống kê và thực hiện báo cáo thống kê đã được ban hành tại Quyết định số 1562/QĐ-BKHĐT ngày 20/11/2012; và một số quy trình về nghiệm thu, phúc tra kết quả một số cuộc điều tra, tổng điều tra thống kê đã được ban hành và áp dụng Tuy nhiên, chưa có một đánh giá, tổng kết nào về việc áp dụng các quy trình nói trên
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về thống kê chưa hướng đến tuyên truyền về chất lượng thống kê
2.2.3 Nguồn lực cho quản lý nhà nước về chất lượng thống kê
Nguồn lực chưa được đầu tư tương xứng với tầm quan trọng của chất lượng thống kê Cụ thể là các hoạt động liên quan đến việc theo dõi, đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê, kể cả hoạt động phổ biến, giáo dục kiến thức về chất lượng thống kê
2.3 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ TRONG LUẬT THỐNG KÊ CỦA MỘT SỐ NƯỚC
Hầu hết các nước đều có văn bản Luật về công tác thống kê, trong đó đề cập đến 3 nguyên tắc: Độc lập, khách quan và bảo mật Có rất ít nước đề cập đến theo dõi, đánh giá, báo cáo chất lượng thống kê, và không có nước nào có mục này riêng Tuy nhiên, một số nước có nhắc đến theo dõi và đánh giá chất lượng thống kê như Cộng hòa Litva và Cộng hòa Montenegro
Trang 8CHƯƠNG 3
ĐỀ XUẤT NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ
3.1 ĐỀ XUẤT NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG THỐNG KÊ
3.1.1 Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ quản lý nhà nước về chất lượng thống kê
3.1.1.1 Quan điểm
- Tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng thống kê nhằm nâng cao chất lượng thông tin thống kê, phục vụ cho việc đánh giá tình hình, xây dựng chiến lược,
kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế xã hội; giám sát việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) trong Chương trình nghị sự đến năm 2030 của Liên hợp quốc;
- Tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng thống kê là trách nhiệm của hệ thống thống kê nhà nước với sự tham gia tích cực của chủ thể sản xuất và phổ biến thông tin thống kê, chủ thể cung cấp thông tin cho hệ thống thống kê nhà nước, chủ thể sử dụng thông tin thống kê;
- Tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê quy định trong Luật Thống kê 2015 và các quy định khác của pháp luật; phù hợp với các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thống kê nhà nước của Ủy ban Thống kê Liên hợp quốc và các nguyên tắc hoạt động của Hệ thống thống kê cộng đồng ASEAN (ACSS);
- Đảm bảo khả thi, hiệu lực, hiệu quả và thúc đẩy sự phát triển bền vững của
Hệ thống thống kê nhà nước
3.1.1.2 Mục tiêu
a Mục tiêu chung
Tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng thống kê nhằm định hướng phát triển, kiểm soát và nâng cao chất lượng thông tin thống kê theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nước ta
b Mục tiêu cụ thể
- Cải thiện và nâng cao nhận thức về chất lượng thống kê của chủ thể sản xuất
và phổ biến thông tin thống kê, chủ thể cung cấp thông tin cho hệ thống thống kê nhà nước, chủ thể sử dụng thông tin thống kê;
- Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chất lượng thống kê nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về chất lượng thống kê;
Trang 9- Xây dựng và áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn chất lượng, công cụ, phương pháp, quy trình đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê theo chuẩn quốc tế trong toàn bộ hệ thống thống kê nhà nước;
- Tăng cường năng lực đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả Từ năm 2020, hàng năm, các cơ quan thống kê nhà nước tiến hành tự đánh giá chất lượng thống kê thuộc lĩnh vực phụ trách Từ năm
2021, tiến hành đánh giá độc lập chất lượng của một số lĩnh vực thống kê chủ yếu theo bộ tiêu chí chất lượng thống kê Việt Nam (VSQF); báo cáo đánh giá độc lập chất lượng thống kê quốc gia được biên soạn và công bố định kỳ 5 năm một lần;
- Công bố các tài liệu về chất lượng thống kê của nước ta trên Trang thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê, Trang thông tin điện tử của Ủy ban Thống kê Liên hợp quốc vào năm 2020;
- Góp phần quan trọng vào việc hoàn thành mục tiêu về Chỉ số năng lực thống
kê đạt 95 điểm, Chỉ số phương pháp luận thống kê đạt 90 điểm (thang điểm 100) vào năm 2030 như Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra;
- Góp phần quan trọng vào việc nâng cao mức độ hài lòng của người sử dụng thông tin thống kê
3.1.1.3 Nhiệm vụ
- Xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp lý về quản lý chất lượng thống kê
+ Rà soát, đánh giá thực trạng các văn bản pháp lý về quản lý chất lượng thống kê; + Soạn thảo và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt một số văn bản pháp lý về quản lý chất lượng thống kê
- Xây dựng, hoàn thiện các tiêu chuẩn thống kê
+ Rà soát, đánh giá thực trạng việc xây dựng, áp dụng các tiêu chuẩn thống kê; + Xây dựng, hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt các tiêu chuẩn thống kê;
+ Xây dựng cơ sở dữ liệu đặc tả thống kê (metadata)
- Xây dựng bộ tiêu chí chất lượng thống kê
+ Soạn thảo và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt bộ tiêu chí chất lượng thống
kê của hệ thống tổ chức thống kê tập trung, tổ chức thống kê bộ, cơ quan ngang bộ; + Biên soạn tài liệu hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí chất lượng thống kê
- Xây các công cụ, phương pháp, quy trình đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê
Trang 10+ Nghiên cứu, cập nhật các công cụ, phương pháp, quy trình đánh giá chất lượng thống kê của Liên hợp quốc, một số quốc gia và tổ chức quốc tế;
+ Xây dựng bộ công cụ, phương pháp, quy trình đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê;
+ Biên soạn sổ tay hướng dẫn quản lý chất lượng thống kê
- Tổ chức tuyên truyền, đào tạo kiến thức về chất lượng thống kê
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình tuyên truyền về chất lượng thống kê;
+ Xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu và tổ chức đào tạo bồi dưỡng kiến thức về quản lý chất lượng thống kê
- Tổ chức thực hiện đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê
+ Triển khai thử nghiệm đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê và hoàn thiện
bộ tiêu chí chất lượng thống kê, các công cụ, phương pháp, quy trình đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê;
+ Thực hiện tự đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê của các cơ quan thống
kê thuộc hệ thống thống kê tập trung, tổ chức thống kê bộ, ngành;
+ Thực hiện đánh giá độc lập, đánh giá đột xuất và báo cáo chất lượng thống
kê quốc gia;
+ Xây dựng và vận hành hệ thống tự đánh giá chất lượng thống kê trực tuyến
3.1.2 Đề xuất giải pháp quản lý nhà nước về chất lượng thống kê
3.1.2.1 Công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động quản lý chất lượng thống kê
Tăng cường sự quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của lãnh đạo các cấp, các ngành trong hoạt động quản lý chất lượng thống kê Xác định vai trò và gắn trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sản xuất thông tin thống kê đối với hoạt động quản lý chất lượng thống kê thuộc phạm vi phụ trách, lấy chất lượng thống kê làm một trong các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu đơn vị sản xuất thông tin thống kê
3.1.2.2 Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về chất lượng thống kê
Tăng thời lượng, đa dạng hóa nội dung và hình thức tuyên truyền về chất lượng thống kê phù hợp với từng chủ thể liên quan bao gồm chủ thể sản xuất và phổ biến thông tin thống kê, chủ thể cung cấp thông tin cho hệ thống thống kê nhà nước, chủ thể sử dụng thông tin thống kê; làm thay đổi nhận thức và quan điểm chỉ đạo công tác thống kê của lãnh đạo các cấp, các ngành; từng bước xây dựng “văn hóa chất lượng thống kê” trong toàn bộ hệ thống thống kê nhà nước