PHẠM HOÀN HẢO Tên chuyên đề: "THỰC HIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT NHÂN TẠO GIỐNG CÁ CHÉP CYPRINUS CARPIO DÕNG V1 TẠI XÍ NGHIỆP THỦY SẢN NÖI CỐC” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo:
Trang 1PHẠM HOÀN HẢO
Tên chuyên đề:
"THỰC HIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT NHÂN TẠO
GIỐNG CÁ CHÉP (CYPRINUS CARPIO ) DÕNG V1 TẠI XÍ NGHIỆP
THỦY SẢN NÖI CỐC”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản Khoa:Chăn Nuôi Thú y
Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, 2017
Trang 2PHẠM HOÀN HẢO
Tên chuyên đề:
"THỰC HIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT NHÂN TẠO
GIỐNG CÁ CHÉP (CYPRINUS CARPIO ) DÒNG V1 TẠI XÍ NGHIỆP
THỦY SẢN NÖI CỐC”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản Khoa:Chăn Nuôi Thú y
Lớp:K45 - Nuôi trồng thuỷ sản Khóa học: 2013 - 2017
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Đức Hùng
Thái Nguyên, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là một khâu cuối cùng rất quan trọng của tất cả sinh viên trước ngưỡng cửa của ngày ra trường sau thời gian thực tập Và kết quả cuối cùng của khóa thực tập là đạt được những hiểu biết về kiến thức thực tế, áp dụng những
lý thuyết trên ghế nhà trường vào thực tế Để có được những thành quả như vậy, chúng ta không thể nào quên gửi những lời cảm ơn đến những bậc thầy cô, anh chị,
người thân đã giúp đỡ chúng ta
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Đức Hùng đã tận
tình chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực tập
Đồng hành cùng tôi - người đã đứng giảng đường dạy bảo tôi trong suốt ba
năm học tại trường – thầy Lê Minh Châu Tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến
thầy, người đã nhiệt tình dạy bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như thực tập tốt nghiệp Và qua đây, tôi xin gởi lời cảm ơn đến toàn thể giáo viên khoa Chăn nuôi thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2016
Sinh viên thực hiện
Phạm Hoàn Hảo
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Sức sinh sản của cá chép 10
Bảng 2.2: Ao nuôi vỗ cá bố mẹ 13
Bảng 2.3: Chế độ chăm sóc nuôi vỗ tích cực cá bỗ mẹ 13
Bảng 2.4: Nuôi vỗ thành thục cá bỗ mẹ 14
Bảng 2.5: Liều lượng kích dục tố tiêm cho cá chép 16
Bảng 2.6: Các thông số kỹ thuật 19
Bảng 2.7: Thành phần dinh dưỡng của cám gạo 23
Bảng 2.8: Đặc điểm của cá chép giai đoạn cá bột lên cá hương 24
Bảng 2.9: Thống kê công tác chăm sóc cá bột lên cá hương 25
Bảng 2.10: Lượng thức ăn cho cá bột lên cá hương 25
Bảng 2.11: Lượng phân bón cho ao ương cá bột lên cá hương 25
Bảng 2.12: Thống kê công tác ương cá hương lên cá giống 26
Bảng 2.13: Lượng thức ăn cho cá hương lên cá giống hằng ngày 26
Bảng 2.14: Lượng phân bón cho ao ương cá hương lên cá giống 26
Bảng 4.1: Thống kê các yếu tố môi trường ấp trứng 36
Bảng 4.2 Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở trong 3 đợt 38
Bảng 4.3 Số lượng cá chép bột 38
Bảng 4.4: Theo dõi các yếu tố môi trường trong ao ương 39
Bảng 4.5 Cá Chép giai đoạn cá bột lên cá hương 40
Bảng 4.6 Theo dõi các yếu tố môi trường trong ao ương 41
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Nguyên lý sinh sản của cá nuôi trong điều kiện nhân tạo 15
Hình 2.2: Mặt cắt và kết cấu ao 20
Hình 2.3: Vòng tuần hoàn dinh dưỡng trong ao 22
Hình 4.1: Biểu đồ so sánh trọng lượng đàn cá cái trước và sau khi đẻ 37
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu đề tài 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 5
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
2.2.1 Một số đặc điểm sinh thái của cá Chép 6
2.2.2 Sản xuất giống cá nhân tạo 11
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁ CHÉP 27
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 27
2.2.2 Tình hình nghiên cứu đối tượng trong nước 27
2.4 NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN HẠN CHẾ 28
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 30
3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN THỰC TẬP 30
3.2.1 Địa điểm thực tập 30
3.2.2 Thời gian thực tập 30
3.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.3.1 Nội dung tiến hành 30
3.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Kết quả đạt được trong công tác phục vụ sản xuất 34
4.1.1 Cải tạo ao 34
4.1.2 Tham gia cho cá mè hoa đẻ 34
Trang 74.1.3 Phòng và trị bệnh cho cá 34
4.2 KỸ THUẬT CHO ĐẺ 36
4.2.1 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến quá trình ấp trứng 36
4.2.2 Tỷ lệ đẻ trứng của cá Chép 37
4.2.3 Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của cá Chép 38
4.2.4 Tỷ lệ cá bột 38
4.3 KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI CÁ GIỐNG 39
4.3.1 Ương cá bột lên cá hương 39
4.3.2.Ương cá hương lên cá giống 40
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 KẾT LUẬN 43
5.2.KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 8hồ, sông suối… Cá là thành phần quan trọng, tham gia vào chu trình vật chất và năng lượng của các hệ sinh thái ấy Ngoài hai ý nghĩa trên cá và con người còn liên quan với nhau về nhiều mặt khác nữa Con người lấy từ cá ra những nguyên liệu
dùng trong công nghiệp, y học hay trong cả nông nghiệp
Xét về mặt dinh dưỡng, cá được coi là nguồn thực phẩm có đầy đủ các thành phần chất vô cơ, vi lượng, các acidamin, các vitamin A, B1, B2, B12, C, D3, D6, E
So với các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật khác, cá thuộc loại thực phẩm khá toàn diện, hàm lượng mỡ thấp nên dễ tiêu hóa
Hiện nay, canh tác thủy sản đang diễn ra với nhiều phương thức canh tác khác nhau: từ kỹ thuật thấp đến kỹ thuật cao, từ nuôi thả tự nhiên đến nuôi thả trong lồng
… Cũng như trong canh tác nông nghiệp, trong nuôi trồng thủy sản, giống được xem là tiền đề của sản xuất Sản xuất cá giống là một khâu rất quan trọng, cá giống
có ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cá thịt sau này Làm thế nào để sản xuất
ra con giống ngày càng chủ động về thời gian và chủng loại, phong phú về đối tượng, đầy đủ về số lượng, có phẩm chất tốt, giá trị thương phẩm cao, đáp ứng nhu cầu nuôi cho các loại hình mặt nước…là những vấn đề nhiệm vụ của sản xuất giống hiện nay
Trước những yêu cầu bức thiết đó, nghành thủy sản đã và đang cho ra vô số
các sản phẩm giống theo yêu cầu thị trường như: giống rô phi đơn tính, diêu hồng
đơn tính, tra, basa, trắm cỏ…
Cùng với các loại giống cá nói trên, giống cá Chép cũng được coi là một trong những giống đứng đầu về nhu cầu tiêu thụ tại các trạm giống cơ sở hay các trạm tập trung với quy mô lớn
Trang 9Cá chép thích nghi được với môi trường khắc nghiệt, được coi là đối tượng nuôi quan trọng của nhiều nước trên Thế Giới Ở nước ta cá chép được chọn làm đối tượng nuôi phổ biến trong các thủy vực dạng ao, hồ, ruộng, lồng, bè Ngoài ra loài cá này còn gắn liền với phong tục “đưa ông Táo về Trời” là một nét văn hóa đặc trưng của người Việt trong ngày giáp Tết Nguyên Đán nên trong dịp này lượng tiêu thụ cá chép cũng khá lớn Cá chép thịt dày và béo, ít xương dăm, thớ thịt trắng mịn, mùi vị thơm ngon, lượng đạm 21,7%, mỡ 3,96%, đường 0,39% (Ngô Trọng
Lư và cs., 2004 [10]) Không những là món ăn ngon mà còn chứa nhiều chất dinh dưỡng, có tác dụng trị bệnh tốt Đây là loài cá dễ nuôi, có màu vàng cam tươi sáng rất đẹp nên từ lâu rất được ưa chuộng trong các ao cá cảnh
Cá chép còn có thể thả nuôi ghép với nhiều loài cá khác để tận dụng nguồn thức ăn Thức ăn cho cá chép đơn giản, dễ kiếm, tận dụng được các phế phẩm trong nông nghiệp sẽ là giảm chi phí sản xuất và nâng cao tính hiệu quả kinh tế Với những ưu điểm trên nên cá chép được đa số người dân ưa chuộng Cá chép được nuôi ở nhiều mô hình nuôi kết hợp như cá, lúa, lợn…vừa có thể cải thiện bữa ăn để nâng cao chất lượng cuộc sống, còn có thể làm kinh tế từ những mô hình nuôi trồng nông nghiệp kết hợp hay nuôi đơn Khi được thực hiện các đề tài kỹ thuật chuyên sâu luôn là dịp rất tốt để sinh viên rèn luyện tay nghể, củng cố và ứng dụng những
kiến thức đã học vào thực tế Xuất phát từ đó nên đề tài “THỰC HIỆN QUY
TRÌNH SẢN XUẤT NHÂN TẠO GIỐNG CÁ CHÉP (CYPRINUS CARPIO) DÒNG V1 TẠI XÍ NGHIỆP THỦY SẢN NÚI CỐC” được thực hiện
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu đề tài
- Nắm được quy trình sản xuất giống cá chép Từ đó sản xuất giống để cung cấp giống cá chép có số lượng nhiều và chất lượng tốt
- Nâng cao trình độ và kỹ năng kỹ thuật sản xuất giống cá nước ngọt
- Rèn luyện và nâng cao kỹ năng ương cá
1.2.2 Yêu cầu đề tài
- Theo dõi quá tình sinh trưởng và phát triển của cá chép qua các thời kỳ
- Nắm rõ được quy trình sản xuất giống và ương nuôi cá chép
Trang 10PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc bộ, có dịện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số hiện nay là hơn 1 triệu người, chiếm 1,13% diện tích và 1,41% dân số so với cả nướcTỉnh Thái Nguyên phía Bắc tiếp giáp với Tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với Tỉnh Vĩnh Phúc và Tỉnh Tuyên Quang, phía đông giáp với các Tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc bộ Có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc Nam và thấp dần xuống phía Nam Cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đa phong hóa mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ
Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.590m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hướng Đông Bắc, Tây Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc, Đông Nam Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác
Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:
- Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai
Trang 11- Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía Nam Võ Nhai
- Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công
Khí hậu Thái Nguyên chia làm 4 mùa rõ rệt xuân – hạ - thu - đông, nhiệt độ trung bình đạt khoảng 23,6oC (năm 2004) Trong đó nhiệt độ trung bình thấp nhất đạt khoảng 17,0oC và nhiệt độ trung bình cao nhất đạt khoảng 28,8oC (tháng 6) Thái nguyên là khu vực có độ ẩm khá cao Trung bình năm đạt tới 82% Độ
ẩm trung bình thấp nhất đạt 77% và lớn nhất 88%
Với lượng mưa khá lớn trung bình đạt 1800 - 2500mm, tuy nhiên lượng mưa phân bố không đồng đều trong khu vực tỉnh theo thời gian, không gian Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp
Đường bộ: Tổng chiều dài Đường bộ của Tỉnh là 2.753 km trong đó:
Đường quốc lộ: 183 km Đường tỉnh lộ: 105,5km Đường huyện lộ: 659 km Đường liên xã: 1.764 km Các Đường tỉnh lộ, quốc lộ đều được dải nhựa Hệ thống Đường quốc lộ và tỉnh lộ phân bố khá hợp lý trên địa bàn tỉnh, phần lớn các Đường đều xuất phát từ trục dọc quốc lộ 3 đi trung tâm các huyện lỵ, thị xã, các khu kinh
tế, vùng mỏ, khu du lịch và thông với các tỉnh lân cận Đường quốc lộ 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái Nguyên, chạy qua Thành phố Thái Nguyên, nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Sông Hồng Các quốc
lộ 37, 18, 259 cùng với hệ thống Đường tỉnh lộ, huyện lộ là mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh
Đường sắt: Hệ thống Đường sắt từ Thái Nguyên đi các tỉnh khá thuận tiện Tuyến Đường sắt Hà Nội - Quán Triều chạy qua tỉnh nối Thái Nguyên với Hà Nội Tuyến Đường sắt Quán Triều - Núi Hồng rất thuận tiện cho việc vận chuyển khoáng sản (vận chuyển than) Tuyến Đường sắt Lưu Xá - Khúc Rồng nối với tuyến Đường sắt Hà Nội -Quán Triều, tuyến Đường sắt này cũng nối tỉnh Thái Nguyên với tỉnh Bắc Ninh (đến Ga kép) và ra tỉnh Quảng Ninh Hệ thống Đường sắt của tỉnh Thái Nguyên đảm bảo phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa với các tỉnh trong cả nước
Trang 12Đường thuỷ: Thái Nguyên có 2 tuyến Đường sông chính là: Đa Phúc - Hải Phòng dài 161 km Đa Phúc - Hòn Gai dài 211 km Trong tương lai sẽ tiến hành nâng cấp và mở rộng mặt bằng cảng Đa Phúc, cơ giới hóa việc bốc dỡ, đảm bảo công suất bốc xếp được 1.000 tấn hàng hóa/ngày đêm Ngoài ra, Thái Nguyên có 2 con sông chính là Sông Cầu và sông Công, cần nâng cấp để vận chuyển hàng hóa Thủy văn: Sông cầu là con sông chính của tỉnh và gần như chia Thái Nguyên
ra thành hai nửa bằng nhau theo chiều bắc nam Sông bắt đầu chảy vào Thái Nguyên từ xã Văn Lăng, huyện Đồng hỷ và đến địa bàn xã Hà Châu, huyện Phú Bình, sông trở thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang và sau đó hoàn toàn ra khỏi địa bàn tỉnh ở xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên Ngoài ra Thái Nguyên còn có một số sông suối khác nhưng hầu hết đều là phụ lưu của sông Cầu Trong đó đáng kể nhất là sông Đu, sông Nghinh Tường và sông Công Các sông tại Thái Nguyên không thuộc lưu vực sông Cầu là sông Rang và các chi lưu của nó tại huyện Võ Nhai, sông này chảy sang huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn và thuộc lưu vực sông Thương Ngoài ra, một phần diện tích nhỏ của huyện Định Hóa thuộc thượng lưu sông Đáy Ô nhiễm nguồn nước là một vấn đề đáng quan tâm, nhất là tình trạng ô nhiễm trên sông Cầu Ngoài đập sông Cầu, Thái Nguyên còn xây dựng một hệ thống kênh đào nhân tạo dài 52 km ở phía đông nam của tỉnh với tên gọi
là Sông Máng, nối liền sông Cầu với sông Thương để giúp việc giao thông đường thủy và dẫn nước vào đồng ruộng được dễ dàng
Thái Nguyên không có nhiều hồ, và nổi bật trong đó là Hồ Núi Cốc, đây là hồ nhân tạo được hình thành do việc chặn dòng sông Công Hồ có độ sâu 35 m và diện tích mặt hồ rộng 25 km², dung tích của hồ ước tính từ 160 triệu - 200 triệu m³ Hồ được tạo ra nhằm các mục đích cung cấp nước, thoát lũ cho sông Cầu và du lịch Hiện hồ đã có một vài khu du lịch đang được quy hoạch để trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia
2.1.2 Cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
Ngành nghề kinh doanh: sản xuất và kinh doanh các sản phẩm thủy sản
Xí nghiệp Thủy sản Hồ Núi Cốc được thành lập ngày 21/6/1976 được Nhà nước phê duyệt tại Quyết định 158 TTCP của Thủ tướng chính phủ Lúc này có tên
Trang 13là Ban kiến thiết Hồ Núi Cốc chịu sự quản lý trực tiếp của Cục nuôi cá nước ngọt thuộc Bộ Hải sản, sau chuyển sang Ủy ban Nông nghiệp Trung Ương Với nhiệm
vụ tổ chức xây dựng các công trình sản xuất, nuôi thả cá, khai thác và quản lý toàn
bộ nguồn lợi thủy sản vùng Hồ Núi Cốc Với tổng vốn ban đầu 4,2 triệu đồng (sau
bổ sung thành 7,7 triệu đồng theo quyết định 3204 TTg ngày 20/11/1977 của Thủ tướng Chính phủ)
Sau 3 năm xây dựng những công trình chủ yếu cho nuôi thả và khai t hác cá các công trình dưới ngập nước cơ bản đã hoàn thành Tháng 8 năm 1978, các công trình về nghề cá đã từng bước đi vào vận hành có hiệu quả Năm 1980, Xí nghiệp đã
đi vào sản xuất và đi ̣nh hình
Tháng 6 năm 1980, Bô ̣ Thủy sản đã bàn giao Quốc Doanh thủy sản Núi Cốc về
Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, đơn vi ̣ đổi tên thành Xí nghiê ̣p Thủy sản Núi Cốc
và chịu sự chỉ đạo của Công ty Nông nghiệp Bắc Thái Tháng 5 năm 1983 Xí nghiệp thủy sản Núi Cốc la ̣i được chuyển giao cho Công ty Thủy sản Bắc Thái quản lý Nhưng từ tháng 7/1995 đến nay Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định đổi tên Xí nghiê ̣p Thủy sản Núi cốc thành Tra ̣m Thủy sản Núi Cốc dưới sự quản lý của Công ty
vâ ̣t tư nông nghiê ̣p tỉnh Thái nguyên Đến tháng 7 năm 2004 Trạm thủy sản Núi Cốc chuyển từ Công ty CPVTNNN Thái Nguyên chuyển sang Trung tâm thủy sản Thái Nguyên quản lý Đến tháng 10 năm 2012 Trạm thủy sản Núi Cốc chuyển từ Trung tâm Thủy sản Thái Nguyên sang Công ty TNHH MTV khai thác thủy lợi Thái Nguyên quản lý và đổi tên thành Xí nghiệp thủy sản Núi Cốc Từ năm 1976 đến nay Trạm thủy sản Núi Cốc đang ngày một phát triển góp phần xây dựng một xã hội văn minh hơn cho vùng Núi Cốc nói riêng và cho tỉnh Thái Nguyên nói chung
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1 Một số đặc điểm sinh thái của cá Chép
Trang 14Giống: Cyprinus
Loài: Cyprinus carpio
(Nguyễn Duy Khoát, 2003) [7]
2.2.1.2 Phân bố
Cá Chép phân bố rộng khắp các châu lục trên thế giới trừ Nam Mỹ, Tây Bắc
Mỹ, Madagasca, và Châu Úc Cá Chép được nuôi lâu ở Trung Quốc khoảng 2000 năm và 600 năm ở Châu Âu (Mai Đình Yên và cs, 1979)[14]
Ở Việt Nam cá chép phân bố tự nhiên từ phía Bắc vào đến giáp miền Trung;
cá chép không phân bố tự nhiên ở miền Nam, sự có mặt của nó là kết quả của quá trình di giống, cá chép hiện đang được nuôi ở Đông Bằng sông Cửu Long có xuất
xứ từ Indonexia và từ miền Bắc Đưa vào
Cá cũng sống được ở độ cao 1500 m so với mặt nước biển
Cá chép là loài cá rất khỏe mạnh, có khả năng chịu đựng môi trường nước chất lượng kém, nơi mà những loài cá khác có thể sống không nổi, như loài cá hồi (Nguyễn Quang Linh, 2008)[8]
Ở nước ta phổ biến nhất là cá chép vảy từ năm 1972 nhập thêm một số loài chép khác vào lai tại Việt Nam, chép kính và chép trần nhập từ Hungari (Mai Đình Yên và cs, 1979)[14]
2.2.1.3 Hình thái
Có nhiều dạng hình cá chép và màu sắc khác nhau đang được nuôi trên Thế Giới
Ở Việt Nam đã tìm thấy nhiều dạng cá chép: cá chép bạc, cá chép kính, cá chép trần, cá chép hồng, cá chép lưng gù…
Thân dẹt bên, đầu thuôn, cân đối, có 2 đôi râu, miệng hướng ra trước, khá rộng Vây lưng có gai cứng và vây hậu môn có răng cưa; hai thùy vây đuôi gần bằng nhau; cạnh các vây màu đỏ Cá cỡ trung bình, con lớn có thể dài trên 1m, nặng
trên 10 kg; cỡ cá thường gặp khoảng 1 – 2 kg (Phạm Văn Trang và cs, 2005)[12]
Cá chép (Cyprinus carpio) có một số đặc điểm chung
Công thức răng hầu: 1: 1: 3 – 3: 1: 1 đôi khi 1: 2: 3 – 3: 2: 1
Công thức vây lưng: D III – IV, 18 – 22
Công thức vây bụng: V 30 – 33
Trang 15Công thức vây ngực: P I, 13 – 16
Công thức vây hậu môn: A III, 5 – 6
Công thức vẩy đường bên 30 – 35, vẩy trên đường bên: 6 – 8, vẩy dưới đường bên: 6 – 7
Cơ thể cá chép có hình thoi cân đối, đại đa số cá chép phân bố ở Việt Nam có màu xám hơi tối ở phía lưng và nhạt dần xuống phần bụng Mút vây lưng, vây đuôi
có màu vàng cam hoặc đỏ cam Mút vây bụng, vây ngực, vây hậu môn có màu vàng nhạt, vây đuôi chia thùy cân đối và miệng dưới, viền môi khớp khiến cho môi cá kinh động khi kiếm mồi ở đáy (Trần Đình Trọng, 1966)[13]
2.2.1.4 Đặc điểm sinh thái
Nhiệt độ cá chép có biên độ chịu nhiệt rộng, chúng có thể sống được ở lớp nước bên dưới lớp nước đóng băng vào mùa đông ở Châu Âu đến nhiệt độ cao vào mùa hè ở vùng nhiệt đới (Sở KHCNMT An Giang, 2000)[15] Khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá Chép là 200
C-270C (Bulton, 1995) [16].
Độ mặn cá sống chủ yếu trong nước ngọt nhưng cũng có thể sống trong nước
lợ với độ mặn khoảng 14 ppt (Võ Văn Chi, 1993)[2]
Oxy hòa tan thuộc loại cá sống tầng đáy cho nên ngưỡng oxy tương đối thấp Hàm lượng oxy hòa tan thấp nhất ở mức 1ppm (Đỗ Hoàng Hiệp và cs, 2009)[4]
pH Cá chép có thể sống được ở pH từ 4 – 9 (Đỗ Hoàng Hiệp và cs, 2009)[4], (Võ Văn Chi, 1993)[2] Tuy nhiên pH thích hợp cho cá từ 7 – 8 (Dương Nhựt Long,
2003)[9]
2.2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Chép là loài ăn tạp Thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy, thành phần thức ăn thay đổi theo tuổi và thời gian phát triển khi nhỏ ( cá bột- cá hương) cá ăn sinh vật phù du và thức ăn lắng đáy, cá trưởng thành ăn sinh vật đáy như: Giun, trai, ốc, côn trùng, mùn bã hữu cơ, hạt củ thân non
Trang 16Cá chép nuôi trong ao có thể ăn tạp, từ giai đoạn cá bột đến cá hương (2-3cm)
cá ăn chủ yếu là động vật phù du Khi kích thước từ 5cm trở lên cá ăn tạp như cá trưởng thành
Thức ăn ưa thích tự nhiên của cá là động vật đáy, ấu trùng, côn trùng, giáp xác,… Ngoài ra ăn các loại thức ăn nhân tạo như mầm thực vật…
Giai đoạn cá bột lên hương:
Cá mới nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng, sau khi nở được 3-4 ngày cá bắt đầu
ăn động vật phù du cỡ nhỏ
Sau khi nở được 7-10 ngày cá dài 10-13,5mm các vây hình thành rõ ràng hàm trên bắt đầu xuất hiện răng sừng Cá đã chủ động bắt mồi thức ăn chủ yếu là động vật phù du cỡ nhỏ Ngoài ra cá còn ăn ấu trùng muỗi cỡ nhỏ
Sau khi nở được 15-25 ngày cá dài 15-25mm, toàn thân có vảy bao bọc miệng xuất hiện chồi râu Cá hoàn toàn chủ động bắt mồi Thành phần thức ăn bắt đầu thay đổi thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy cỡ nhỏ
Sau khi nở được 20-28 ngày, thân dài 19-28mm vây vảy hoàn chỉnh cá chuyển sang sống đáy, cá ăn động vật đáy là chính
Giai đoạn cá trưởng thành: Cá ăn sinh vật đáy là chủ yếu như giun nước, ấu trùng, mùn bã hữu cơ, mầm non thực vật, các loại thức ăn chế biến như cám gạo bột mỳ, bã đậu, khô dầu, các loại thức ăn công nghiệp (Nguyễn Thị Phương Thảo, 1996) [11]
2.2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục và cỡ cá thành thục của cá Chép cũng như các loài cá nuôi khác phụ thuộc vào vĩ độ và chế độ dinh dưỡng Cá Chép Hungary, cá Chép Nhật Bản nuôi tại Việt Nam thành thục sau 1 năm tuổi Cá Chép Việt Nam sau 1 năm đã thành thục về tuyến sinh dục Cá Chép Bắc Á, cá Chép châu Âu thường từ 4-5 tuổi mới thành thục (Nguyễn Dương Dũng, 2005)[3]
2.2.1.7 Mùa vụ và tập tính sinh sản
Trứng cá chép thuộc loại trứng dính, cá càng nhỏ đường kính trứng càng bé và ngược lại Đường kính trứng biến thiên từ 1,2 ÷ 1,8mm Trong điều kiện tự nhiên, mùa vụ sinh sản tập trung vào mùa Xuân và mùa Thu Nhưng trong điều kiện sinh sản nhân tạo, cá chép có thể sinh sản quanh năm (đặc biệt là ở miền Trung và miền Nam Việt Nam)
Trang 17Ở miền Bắc, cá đẻ nhiều lần trong năm nhưng tập trung vào hai vụ chính là vụ Xuân (tháng 3 ÷ 4), khi nhiệt độ nước 180C trở lên, vụ Thu đẻ vào tháng 9 ÷10 Các tỉnh miền Nam, cá chép đẻ quanh năm nhưng tập trung vào mùa mưa Cá thành thục ngay trong vực nước nó sống Với điều kiện tự nhiên, cá thường đẻ vào sáng sớm và có thể kéo dài đến 8÷9 giờ sáng
Nhiệt độ sinh sản thích hợp từ 20÷22OC, có nước mới kích thích hoặc thời tiết
từ lạnh chuyển sang ấm, có mưa, có vật bám (giá thể) cho trứng
Sức sinh sản là sự thích nghi đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của loài Sức sinh sản của cá chép phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Tuổi cá, kích thước và chế
Trang 18Cá Chép có lượng chứa trứng cao khi vùng nước có nguồn dinh dưỡng tốt và ngược lại dinh dưỡng không tốt, không những ít trứng mà thậm chí cá bố mẹ không thành thục
2.2.2 Sản xuất giống cá nhân tạo
Khi cá cái đã có trứng, cá đực có tinh, vào đầu mùa mưa, chúng thường cùng nhau lên thượng nguồn của các con sông, vào các dòng suối…
Vào những ngày mưa, khi nước sông, suối chảy mạnh, cá cái đẻ trứng, cá đực thụ tinh Trứng sẽ nở ra cá bột và phát triển thành cá con Tùy vào mỗi loại cá mà chúng có nhiều phương thức đẻ trứng và bảo vệ con của mình
Tuy nhiên, ở ngoài tự nhiên, cá con hay trứng đều gặp rất nhiều yếu tố rủi ro, nên tỷ lệ tồn tại rất thấp Ưu điểm của cá đẻ ngoài tự nhiên là con sinh ra khá khẻo mạnh, vì sự khắc khe của chọn lọc tự nhiên Tuy nhiên nhược điểm của hiện tượng này là con người không kiểm soát được, việc thu hồi cá con với số lượng đủ lớn là rất khó khăn
Để khắc phục tình trạng trên con người đã tìm ra phương pháp đó là “sinh sản nhân tạo”, tức là cho cá đẻ dưới sự kiểm soát của con người
Nguyên lý của phương pháp này là: Cá trưởng thành được nuôi trong chế độ nuôi đặc biệt (gọi là nuôi vỗ) để có trứng, sau đó trứng được tạo điều kiện để chín (thành thục), khi đã có cá bố mẹ với trứng đủ chín và cá bố tương tự, người ta tiêm một số hormone sinh dục để cá cái đẻ trứng, lấy tinh trùng (sẹ) của cá đực gieo tinh trong điều kiện kiểm soát Như vậy, trứng và các con có thể thu được với một số lượng lớn
Trong một số hoàn cảnh, người ta chọn cá bố mẹ, sau khi tiêm kích dục tố xong, người ta cho chúng đẻ trong các dụng cụ đặc biệt gọi là bể đẻ, chúng sẽ tự đẻ
và tự thụ tinh, người ta thu trứng và ấp nở trong các dụng cụ chuyên dụng
Trang 192.2.2.1 Quy trình sản xuất giống
Tiêm kích dục tố và thả vào bể đẻ Thả bèo
Khoảng 10 tiếng sau tiêm
Cá đẻ trứng dính vào giá thể
Vớt bèo – Bắt cá ra ao nuôi vỗ trở lại – Thả bèo trở lại
Ấp trứng (Trứng bám vào giá thể)
1 ngày sau Trứng bắt đầu nở
Cá bố mẹ trong ao nuôi vỗ
Kéo bắt cá, thăm trứng và sẹ, cân trọng lượng
Mang vào bể đẻ (Thả riêng đực và cái)
Pha
kích dục
tố
Tiêm kích dục tố và thả vào bể đẻ Thả bèo
Khoảng 10 tiếng sau tiêm
Cá đẻ trứng dính vào giá thể
Vớt bèo – Bắt cá ra ao nuôi vỗ trở lại – Thả bèo trở lại
Ấp trứng (Trứng bám vào giá thể)
1 ngày sau Trứng bắt đầu nở
Ương cá bột lên cá hương
Ương cá hương lên cá giống
Quản lý, chăm sóc
Thức ăn,
Phân bón
Cá giống
Trang 202.2.2.2 Thuyết minh quy trình
Hàm lượng oxy
6,5
÷8 2mg/l 25÷270C
10kg/100m2
Cá đực 1.500m2 sâu
1,5m
dày 0,15 - 0,2m Cao 6,5÷8 15kg/100m
bón Phân chuồng đã ủ hoai 12kg/100m2
Rãi đều quanh ao, 2 lần/ tuần
Kiểm tra, chăm sóc
Thường xuyên kiểm tra màu nước, đảo lá dầm, và vớt xác khi đã rục hết Cuối giai đoạn nuôi vỗ, cần kéo lưới kiểm tra cá đã đạt yêu cầu nuôi vỗ tích cực chưa
Trang 21- Nuôi vỗ thành thục
Bảng 2.4: Nuôi vỗ thành thục cá bỗ mẹ Thời gian nuôi vỗ
bón
Phân chuồng
đã ủ hoai
Giảm ´ so với nuôi vỗ tích cực
Rãi đều quanh ao, 2 lần/ tuần
+ Tháng thứ hai: 7 ngày/ lần 1/3 lượng nước ao
b) Chọn cá, thăm trứng và sẹ
- Chọn cá cái:
Chọn những cá thể khỏe mạnh, bụng to, mềm, nếu ngửa bụng cá lên, buồng trứng xệ sang hai bên, lỗ sinh dục đỏ hồng Lúc này sử dụng que thăm trứng để thử trứng Tính đàn hồi của bụng cá mẹ là một trong những tiêu chuẩn đáng chú ý để chọn cá đẻ
- Chọn cá đực:
Chọn những cá thể khỏe mạnh Khi vuốt nhẹ bụng cá gần phần phụ sinh dục
có sẹ đặc quánh như sữa đặc trong lon chảy ra là được
Trước khi cho cá đẻ, rất hạn chế tiếp xúc lâu với cá bố mẹ để tránh stress cho
cá Bởi nếu cá bị stress, cá có thể không đẻ hoặc dẫn đến kết quả đẻ không cao
Thăm trứng
Sử dụng que thăm trứng có độ dài 45 cm, dạng ống dài, một đầu bịt kín và một đầu hở Bắt ngửa cá nằm trong băng ca Dùng que thăm trứng đưa vào lỗ sinh dục Lấy trứng từ hai bên buồng trứng cho ra chén có nước sạch Quan sát thấy trứng tròn căng, rời nhau và có màu trắng xanh là đươc
Trang 22c) Tiêm kích dục tố cho cá
Lý thuyết về kích dục tố
Khi tuyến sinh dục của các loài cá nuôi đã đạt được mức độ thành thục hoàn toàn, trứng chín thì sẽ diễn ra hai quá trình tiếp theo, đó là rụng trứng và đẻ trứng Khi tế bào trứng đã phát dục thành thục và tách khỏi màng follicle rơi vào xoang buồng trứng gọi là quá trình rụng trứng Lúc này trứng ở trạng thái lưu động
tự do Sau khi trứng rụng, trứng từ xoang buồng trứng được đưa ra ngoài qua lỗ sinh dục của cá cái gọi là sự đẻ trứng
Khi tuyến sinh dục của cá bố mẹ phát triển đến cuối giai đoạn IV, nếu bị kích thích bởi một lượng hormone sinh dục có nồng độ nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định, khi đó sẽ xảy ra những chuyển biến về sinh lý trong cơ thể cá Lúc này, dưới tác dụng của thần kinh thể dịch, đặc biệt là tác dụng của hormone sinh dục, tế bào follicle nhanh chóng thành thục Tế bào lớp trong của follicle trở thành hình lập phương, phình to và nhanh chóng tiết ra dịch thể (noãn dịch) nhiều trong xoang buồng trứng, về sau các nang trứng thường tách ra và vỡ Tiếp đó thể tích buồng trứng tăng lên rõ rệt, khoảng 35%
Hình 2.1: Nguyên lý sinh sản của cá nuôi trong điều kiện nhân tạo
ngoại cảm
Thần kinh trung ương (Hypothalamus)
Thần kinh chi tiết Tuyến yên (Hypophysis)
Rụng trứng, tiết tinh
Hệ tuần hoàn Kích dục tố
Tuyến sinh dục
Hướng tác động:
Hướng phản hồi ngược
lại:
Trang 23 Loại kích dục tố dùng cho sinh sản cá Chép
+ LH –RHa (Luteotropin Releasing Hormoned Ala Analog)
Đây là một loại kích dục tố tổng hợp, có tác động vào não thùy cá để chúng có thể tự sinh sản ra hormon sinh dục
Hormone LH-RHa còn gọi là Prolan A Từ lâu các nhà nghiên cứu kích dục tố
sinh sản đã biết rằng Hypothalamus (vùng dưới đồi) điều khiển sự làm việc của
tuyến yên thong qua thần kinh thể dịch Trong đó bao gồm hai hormone quan trọng
là FSH – RH (Follicle Stimulating Hormone – Releasing Hormone) và LH – RHa (Luteotropin Releasing Hormoned Ala Analog) Theo các nhà khoa học Trung
Quốc, hormone này là một decapeptid gồm những acidamin như: Glutamine, Histidine, Trytophan, Serine, Tyrosine, Glycine, Leucine, Arginine, Proline và Lyzine
LH-RHa được chiết xuất từ hormon sinh dục các loài động vật Chúng có nhiều nhiều nhóm tương tự : LH-RHa1, LH-RHa2, LH-RHa3 Sau khi tiêm LH – RHa cho cá chép thì hàm lượng kích dục tố trong máu tăng lên
+DOM
Trong tuyến yên của cá, ngoài các hormone sinh dục, còn tiết ra một chất quan trọng khác có tác dụng ức chế quá trình tiết kích dục tố cơ bản (sản ra kích dục tố tự phát) mà còn ức chế cả sự tiết kích dục tố dưới ảnh hưởng của LH – GHA, đó là chất Dophamin Để làm giảm tác dụng của chất ức chế, người ta tiêm thêm chất kháng Dopamin là Doperidom (DOM)
Liều dung
Bảng 2.5: Liều lượng kích dục tố tiêm cho cá chép
LRH – A 10 μg/kg
(Nguyễn Tường Anh (1999) [1])
Trang 24Kỹ thuật tiêm
Đặt cá vào trong băng ca (đối với cá lớn) chìm dưới nước, lật ngửa cá và tiêm vào xoang gốc vây ngực ở phần da, kim tiêm tạo thành một gốc 450 so với thân cá Tránh tiêm vào cơ vây, vì sẽ làm thối vây
e) Ấp nở
Nguyên lý ấp nở: Trứng sau khi thụ tinh, được chứa ngay trong bể ấp để ấp
nở Đặc điểm sinh lý hô hấp của trứng là tự động, theo nguyên lý: O2 từ môi trường
sẽ trao đổi với O2 trong trứng do có hàm lượng cao hơn, ngược lại CO2 từ trứng sẽ thoát ra môi trường nước do nồng độ CO2 trong nước thấp hơn
“Tạo môi trường (nước ấp) có nồng độ O2 cao và CO2 thấp, các chất thải của trứng và cá con sau khi nở (chủ yếu CO2) được dẫn khỏi môi trường bằng cách tạo dòng nước sạch chảy qua các hạt trứng Như vậy về nguyên tắc, không cần khối lượng nước chảy nhiều mà cần nước giàu O2”
Một số yếu tố sinh thái có quan hệ đến quá trình phát triển của phôi
Hàm lượng oxy hòa tan
Lượng tiêu hao oxy của phôi cá phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài Trong cùng một cơ thể tiêu hao oxy ở các giai đoạn khác nhau thì khác nhau Hoạt động này cũng khác nhau khi ở điều kiện nhiệt độ khác nhau
Lượng tiêu hao oxy của phôi cá thường cao ở giai đoạn trước và sau khi nở, đặc biệt là giai đoạn cá bột, sau đó giảm dần
Trang 25 Nhiệt độ nước
Phạm vi thích ứng nhiệt độ nuôi đối với các loài cá khác nhau thì khác nhau Tốc độ phát dục của phôi thai cá nuôi chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiệt độ Nhiệt
độ nước cao thì quá trình phát triển của phôi cá nhanh và ngược lại Khi ấp trứng cá
ở nhiệt độ thích hợp sẽ thu được tỷ lệ nở cao và cá bột có chất lượng tốt
Nhiệt độ nước ấp còn là nguyên nhân của hiện tượng dị hình ở cá Hiện tượng
dị hình xuất hiện vào giai đoạn cuối của quá trình phát triển phôi, thai phôi cong và các bộ phận đầu và đuôi bị cong Khi nhiệt độ nước vượt quá ngưỡng thích ứng của phôi cá, phôi sẽ xảy ra hiện tượng dị hình Đặc biệt khi nhiệt độ nước ấp càng cao,
Ưu điểm
Có thể ấp trứng từ lúc thụ tinh đến khi tiêu hết noãn hoàng (sau khi nở 3 ngày) mà không phải di chuyển như khi ấp bằng bình Weis
Trang 26 Không cần tốn nhiều thời gian
Nước để ấp không cần phải xử lý kỹ như khi ấp bằng bình Weis
Nhược điểm
Không di chuyển được khi cần thiết
Thu cá bột khó, tốn thời gian
Bảng 2.6: Các thông số kỹ thuật
Từ lúc cá đẻ trứng vào đến khi vỏ trứng mềm (2 -3 ngày) 0,15 ÷ 0,20m/giây
Từ lúc vỏ trứng mềm đến 3 giờ sau khi nở 0,3 ÷0,4m/giây
Sau khi nở 3 tiếng đến khi cá bơi ngang, ngược dòng nước 0,15 ÷0,20 m/giây
(Nguyễn Tường Anh, 2005 [1])
Trong suốt thời gian ấp, không lúc nào được ngừng cấp nước, vì nếu nước đứng, cá sẽ chui ngược vào hệ thống ống tiêu nước
Lựa chọn ao ương
Trước khi ương phải lựa chọn những ao tốt, đạt những tiêu chuẩn sau:
Nguồn nước phải chủ động dẫn và tiêu dễ dàng
Chất đáy phải thích hợp
Diện tích và độ sâu vừa phải
Bờ ao chắc chắn không bị rò rỉ
Trang 27Cống cấp nước
Lối lên, xuống ao
Bờ ao
Ánh sáng đầy đủ - Thuận tiện cho việc quản lý chăm sóc
Hình 2.2: Mặt cắt và kết cấu ao
Ý nghĩa của công tác tẩy dọn ao
Ao là môi trường sống của cá nuôi, nên điều kiện ao nuôi tốt hay xấu ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống của cá nuôi, tức là ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và tỷ
lệ sống của cá, cho nên khi ương nuôi cá con, biện pháp cải tạo ao nuôi được đặt lên
vị trí hàng đầu, được xem là một biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu suất nuôi Thông thường sau mỗi vụ nuôi, các chất cặn bã, thức ăn dư thừa, phân bón…lắng xuống và tích tụ rất nhiều ở đáy ao và đây là nơi ẩn nấu của các loại vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh Đồng thời khi lấy nước vào ao cũng có thể đưa các loại địch hại, cá dữ và các sinh vật gây bệnh cho cá Ao có nhiều chất hữu cơ lắng tụ, khi thời tiết thay đổi, nhiệt độ nước nâng cao, hàm lượng oxy giảm đi, trong quá trình phân giải vật chất hữu cơ, sẽ sinh ra nhiều chất độc hại như: H2S,CH4…rất
có hại cho sức khỏe của cá