Trong đó, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bởi nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm thịt cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu mà còn cung cấ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
LÒ THỊ BAY
Tên chuyên đề:
TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ
TẠI TRANG TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH, XÃ BA TRẠI -
HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
LÒ THỊ BAY
Tên chuyên đề:
TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ
TẠI TRANG TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH, XÃ BA TRẠI -
HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
và thời gian thực tập ở trang trại Nguyễn Thanh Lịch - xã Ba Trại - huyện Ba Vì
- thành phố Hà Nội em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo, chủ trại Nguyễn Thanh Lịch và các công nhân, kỹ sư trong trại
Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô, gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Em xin đặc biệt cảm ơn đến cô giáo ThS Nguyễn Thu Trang, cô đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo động viên, giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình tiến hành nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn: Ban lãnh đạo UBND xã Ba Trại, trang trại Nguyễn Thanh Lịch và các công nhân, kỹ sư trong trại nơi cơ sở em thực tập
đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng em xin được cám ơn sự động viên, khích lệ, giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành tốt việc học tập, nghiên cứu của mình trong suốt quá trình học tập vừa qua
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Lò Thị Bay
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn qua các năm 25
Bảng 4.2 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái 28
Bảng 4.3 Lịch sát trùng trại lợn nái 30
Bảng 4.4 Quy trình tiêm phòng và kết quả công tác tiêm phòng 31
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh sinh sản của đàn lợn nái 32
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh của lợn con theo mẹ 33
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản 34
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh ở lợn con 35
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện các công tác khác 36
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
cs: Cộng sự CP: Charoen Pokphand UBND: Ủy Ban Nhân Dân TN: Thí Nghiệm
KHKT: Khoa học kỹ thuật
Trang 6iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.2 Đặc điểm của trang trại 3
2.1.3 Cơ sở vật chất của trại 5
2.1.4 Tình hình sản xuất của trại 6
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7
2.2.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con 7
2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ 10
2.2.3 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 14
2.2.4 Bệnh thường gặp ở lợn con 18
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.3 Nội dung thực hiện và các chỉ tiêu theo dõi 23
3.3.1 Nội dung 23
Trang 7v
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 23
3.4 Phương pháp theo dõi và xác định các chỉ tiêu 23
3.4.1 Phương pháp theo dõi 23
3.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 24
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 24
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản 25
4.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái tại trại 26
4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái 28
4.5 Công tác chẩn đoán bệnh 32
4.5.1 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái 32
4.5.2 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn con theo mẹ 33
4.5.3 Kết quả điều trị bệnh 34
4.6 Công tác khác 35
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Đề nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Trang 8cả về chất lượng và số lượng Với ngành chăn nuôi truyền thống và những nghiên cứu trong tiến bộ khoa học kĩ thuật trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước tiến nhất định, đặc biệt là ngành chăn nuôi gia súc Trong đó, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bởi nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm (thịt) cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón cho cây trồng…
Do nhu cầu tiêu thụ thịt trong nước đang tăng nhanh, đặc biệt là thịt nạc,
do sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng và giá cả của lợn giống, lợn hơi và các sản phẩm chế biến từ thịt lợn trên thị trường trong nước và quốc tế, nhiều hộ nông dân, trang trại chăn nuôi lợn ở nước ta đã cố gắng chuyển phương thức chăn nuôi truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vốn có và nguồn thức ăn
từ phụ phẩm nông nghiệp sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp
Những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tạo mọi điều kiện để phát triển mạnh ngành chăn nuôi lợn, đạt tốc độ phát triển khá cao với số lượng đàn lợn lớn Ba Vì là huyện có ngành chăn nuôi đang ngày càng phát triển mạnh, có nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô lớn được mở ra trong những năm gần đây
Trang 92
Để nâng cao hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi, chất lượng con giống là tiền đề quan trọng, vì vậy chất lượng của đàn nái sinh sản có ảnh hưởng đến năng suất, quyết định đến số lượng con giống sản xuất Việc đánh giá năng suất sinh sản đòi hỏi cấp thiết đối với người làm công tác chọn giống và nhân giống vật nuôi Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được thì còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là về kỹ thuật, tình hình dịch bệnh của đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Thực hiện quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội”
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
- Nắm bắt được thực trạng chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo
mẹ tại địa phương
- Hoàn thiện quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị bệnh cho đàn lợn con theo mẹ
- Kết quả góp phần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất
1.2.2 Yêu cầu
- Đáp ứng nhu cầu thực tiễn, nâng cao năng suất đàn lợn giống, góp phần vào sự phát triển kinh tế
- Đề xuất những phương pháp, biện pháp đẩy mạnh chăn nuôi lợn nái
sinh sản và lợn con theo mẹ
- Hình thành phong cách làm việc sáng tạo, công nghiệp
Trang 103
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Ba Trại là một trong 7 xã miền núi của huyện Ba Vì, có diện tích khoảng 36km2 Phía Đông giáp Tản Lĩnh, phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh, phía Tây giáp
xã Thuần Mỹ Xã nằm giữa con đường Tỉnh lộ, đường 87, Sơn Tây - Đá Chông
và đường 88 Sơn Tây - Bất Bạt Đường 87 đi qua xã từ phía Nam qua các xóm Chằm Mè, Trung Sơn tiếp giáp đường 98 tại Đá Chông Đường 89 chạy song song với sông Đà qua địa phận xã thuộc địa phận xã Thuần Mỹ Đường 88 đi qua xã ở phía Bắc và cũng là gianh giới giữa Ba Trại với Cẩm Lĩnh
Địa hình của xã phần lớn là đồi gò, độ cao các quả đồi chênh nhau từ 5 đến 20 mét, độ dốc không lớn Diện tích ruộng có 730 mẫu Bắc bộ, phần lớn
là ruộng, diện tích còn lại là đất đồi
- Điều kiện tự nhiên:
Đặc điểm chung của Ba Trại bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và khô
Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40oC Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng
7, tháng 8 Độ ẩm không khí 86,1% Vùng thấp thường khô hanh vào tháng
12, tháng 1
2.1.2 Đặc điểm của trang trại
- Diện tích sử dụng của trang trại là 8.000 m2 Tổng diện tích 12.068m2
- Trang trại nuôi cả lợn nái lẫn hậu bị Chia thành 2 khu riêng biệt hoàn toàn cách ly với nhau
Trang 114
- Trại được liên kết với công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam với số lượng là 1200 lợn nái
* Công việc:
- Lợn nái chửa đẻ tại trại trong vòng 17 tuần
- Quy trình làm vaccine phòng chống dịch bệnh tại trang trại được kiểm soát một cách chặt chẽ
- Quy định vệ sinh phòng dịch hết sức nghiêm ngặt:
+ Công nhân khi mới vào sẽ được cách ly 1 ngày, tắm sát trùng, sát trùng hết những bộ quần áo mặc ở trang trại Trước khi vào chuồng hoặc ra ngoài thì phải tắm sát trùng cẩn thận
+ Các loại xe ra vào như: xe chở cám, xe chở thuốc, xe bắt lợn con, xe chở lợn loại, xe bắt lợn giống đều được sát trùng ở cổng trại từ 15 - 30 phút lúc vào, lúc ra các loại xe này cũng sát trùng lại
- Sinh viên thực tập xuống trang trại sẽ được làm tất cả các công việc giống hệt như công nhân trong trại dưới sự hướng dẫn của tổ trưởng, cán bộ
kỹ thuật Ngoài ra, các sinh viên được học hỏi hướng dẫn chuyên sâu của các cán bộ kỹ thuật về bệnh thường gặp, các cán bộ kỹ thuật còn truyền tải các kinh nghiệm làm việc trong trại và ngoài xã hội
* Những điều kiện trang trại cung cấp để phục vụ sản xuất:
- Trang trại có chỗ ăn, ở, nghỉ ngơi cho công nhân và sinh viên
- Thức ăn cung cấp cho trang trại: trang trại dùng thịt lợn tại trại (thịt 2 con lợn nái/1 tháng) Thức ăn phụ trại đi mua Tại trại nghiêm cấm mang các loại thịt tươi sống vào trại nhất là thịt lợn để tránh dịch bệnh
- Bảo hộ lao động/người: 2 bộ bảo hộ + 1 đôi ủng
- Đồ dùng cá nhân: trại cung cấp tất cả đồ dùng cá nhân, đồ sinh hoạt
* Cơ cấu tổ chức của trại:
- Chủ trại: 1 người
Trang 125
- Quản lý trại: 1 người
- Kỹ sư chăn nuôi: 2 người
- Tổ trưởng: 2 người (1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu)
- Sinh viên thực tập: 8 người
- Công nhân: 6 người
- Cấp dưỡng: 1 người
2.1.3 Cơ sở vật chất của trại
- Trang trại nuôi gia công với công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam với số lượng là 1200 lợn nái Được xây dựng cách xa với đường lớn, xa trường học và nơi ít dân cư sinh sống, bao quanh trại chủ yếu là đồi cây và cách xa trại là cánh đồng lúa Trại nằm trên địa hình khá cao ráo dễ thoát nước vào mùa mưa nhiều Xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây tạo
bóng râm mát cho mùa hè
- Trang trại được xây dựng trên diện tích diện tích 12.068m2 chia làm
2 khu vực chính là: khu sinh hoạt chung cho công nhân và khu sản xuất
- Trong đó khu sinh hoạt chung cho công nhân gồm có: cổng ra vào trại, phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà ăn… các khu phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm Ngoài ra trại còn thiết
kế thêm một số khu vui chơi phục vụ nhu cầu giải trí của công nhân
- Khu chăn nuôi thì gồm 2 phần chính: chuồng đẻ và chuồng bầu
+ Hệ thống chuồng đẻ của trại gồm 3 dãy chuồng chính, mỗi dãy chuồng gồm 2 ngăn chuồng có cửa thông với nhau ở cả đầu trên và cuối chuồng Mỗi ngăn chuồng lại gồm 64 ô chia làm 2 dãy với kích thước mỗi ô
là 2,4 m × 1,6 m/ô Trong mỗi ngăn được lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và 4 quạt thông gió ở cuối chuồng Ngoài ra mỗi ngăn còn được lắp đặt thêm cửa sổ và hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện
+ Hệ thống chuồng bầu với 1 chuồng chính, trong mỗi chuồng được lắp đặt 1120 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô Cũng như chuồng đẻ, chuồng bầu
Trang 136
cũng có dàn mát, cuối mỗi chuồng có 10 quạt thông gió Ngoài ra trong mỗi chuồng bầu còn có hệ thống làm mát cho lợn bằng nước Bên cạnh chuồng chính còn có chuồng đực với sức chứa 20 lợn đực; 3 chuồng cách ly dùng để nhốt lợn mới nhập, lợn có dấu hiệu bị bệnh; 1 phòng tinh
- Sau mỗi chuồng đều có đường rãnh thoát nước thải, các đường rãnh này đều thông về một bể chứa nước thải tập trung
- Có kho thuốc, phòng tắm sát trùng, nhà giặt và kho cám
- Nguồn nước sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 2 bể được xử lý bằng hóa chất Sau đó được bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh
2.1.4 Tình hình sản xuất của trại
* Công tác chăn nuôi:
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản cho công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi CP Việt Nam (chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp giống lợn con của cái Landrace - Yorkshire với đực Pietrain - Duroc và cái Landrace - Yorkshire với đực Duroc
Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2 - 2,5 lứa/năm Số con sơ sinh trung bình là 11,96 con/đàn, trung bình số con cai sữa: 10,7 con/đàn Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 20.000 - 25.000 lợn con
Tại trại, lợn con sẽ được nuôi theo mẹ cho đến khoảng 19 đến 21 ngày tuổi, những lợn con chưa đủ khối lượng sẽ được ghép đàn nuôi với những đàn
có số ngày tuổi nhỏ hơn, còn những lợn con đã quá ngày xuất bán nhưng chưa
có đợt sẽ được nhốt sang chuồng cai sữa Những lợn con này sau đó sẽ được chuyển tới các trang trại nuôi lợn thịt
Trang 147
Trong trại có 18 lợn đực khai thác, 6 lợn đực hậu bị (số liệu tháng 5/2017) được công ty cung cấp theo nhiều đợt, lợn đã được huấn huyện nhằm mục đích khai thác tinh và kích thích sự lên giống của lợn nái Tinh dịch sau khi được pha loãng trong môi trường sẽ được bảo quản lạnh, mỗi lợn nái sau khi được phát hiện lên giống sẽ được đưa đi phối 3 lần
Thức ăn phục vụ cho trại do công ty CP cung cấp, là loại thức ăn hỗn hợp với các loại khác nhau dành cho lợn ở các lứa tuổi và các chu kỳ khác nhau
- Công tác phòng bệnh: theo lịch của công ty, lợn trong trại sẽ được tiêm phòng vắc xin để phòng một số bệnh thường gặp trên lợn Từ đó tăng sức đề kháng cho lợn mẹ và lợn con sau sinh, lợn con cũng được tiêm phòng các loại vắc xin theo ngày tuổi
- Công tác trị bệnh: lợn luôn được theo dõi dám sát của 2 kỹ sư và 2 tổ trưởng, mỗi con lợn có biểu hiện bất thường đều sẽ được nhốt riêng các ly theo dõi và có các biện pháp điều trị cũng như xử lý kịp thời Trong thời gian này thì lợn của trại có mắc dịch PED xong đã nhanh chóng được dập dịch
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con
Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt, lợn con
Trang 158 sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con
Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng sữa và chất lượng sữa Đó là thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mì, loại củ quả, đạm động vật, các loại khoáng, vitamin…
Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất,
hư hỏng
Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%,
Ca từ 0,9 - 1,0%, P 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con:
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, thứ 2 và thứ 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh, nếu có rau xanh
+ Một ngày trước khi cai sữa, cho lợn mẹ ăn giảm đi 20 - 30%
Trang 169
+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn
+ Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ ngày cho lợn mẹ
- Kỹ thuật cho ăn
+ Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách giữa các bữa nên chia đều nhau
+ Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định
+ Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con
+ Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần
+ Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời
- Kỹ thuật chăm sóc và quản lý:
+ Vận động: là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh chóng hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ ngày, về sau tăng số giờ vận động lên Khi thời tiết xấu thì không cho vận động, khi cho vận động chú
ý đề phòng cảm lạnh, bẩn vú, những lợn nái có vú quá sệ thì chỉ cho vận động trong sân chơi Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt là các khoáng và vitamin
+ Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn sạch sẽ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 24°C, ẩm độ là
Trang 172.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ
Mục đích của việc chăn nuôi lợn con giai đoạn bú sữa là áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để lợn con đạt khối lượng cai sữa cao, khi nuôi thịt lợn sinh trưởng phát triển nhanh, đồng thời là cơ sở để tạo giống tốt và nâng cao được sức sống của lợn con
Trước tiên là khâu trực đẻ phải đảm bảo để tỷ lệ số con sơ sinh còn sống cao nhất, đây là công việc rất cần thiết, lợn con đẻ ra được lau khô bằng vải xô mềm sạch theo trình tự miệng, mũi, đầu, mình, bốn chân Sau đó cắt rốn, sát trùng và cho vào lồng úm Tiếp theo với tiến hành bấm nanh, bấm số tai và thiến lợn đực Lưu ý cho lợn con bú sữa đầu
Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm hiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp
- Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:
Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn
về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể
mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn
mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giai đoạn này để giảm tỷ lệ chết
- Thời kỳ 3 tuần tuổi:
Trang 1811
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn
mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi
đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
- Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn,
do yếu tố cai sữa gây nên Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp
Chú ý: Trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiến hành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con
Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau: + Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
+ Bổ sung sắt cho lợn con
+ Tập cho lợn con ăn sớm
Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con:
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm
Trang 1912 lượng gama globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++
trong sữa đầu
có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg+4
thì lợn con
sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy tỷ với lệ chết cao
Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu Theo quy luật tiết sữa của lợn nái, thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn những vú phần bụng, mà lợn con trong một ô thường có con
to con nhỏ không đều nhau Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú ở những vú phần trước ngực có nhiều sữa hơn, dẫn đến tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con rất thấp, trường hợp những con lợn yếu không tranh
bú được sẽ bị đói làm cho tỷ lệ chết của lợn con cao Khi cố định đầu vú, nên
ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú ở những vú phía trước ngực Công việc này đòi hỏi kiên trì, tỉ mỉ, bắt từng con cho bú và để chúng quen hẳn với
vị trí bú thì mới thôi Cũng có những trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn bú ở những vú phía sau có thể cho mỗi con làm quen với 2 vú,
để tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh teo vú của lợn mẹ
Bổ sung sắt cho lợn con:
Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt
Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con ở 30 ngày đầu sau đẻ là 210 mg/ngày Trong đó lượng sắt lợn mẹ cung cấp từ sữa chỉ đạt 10 - 20 mg/ngày, lượng sắt thiếu hụt cho 1 lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200mg
Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày đầu sau khi sinh Việc tiêm sắt thường cùng làm với thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lợn con ở lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg sắt là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200 mg sắt chia làm 2 lần, lần 1 tiêm lúc 3 ngày tuổi, lần 2 tiêm
Trang 20Có thể bổ sung sắt bằng cách tiêm hoặc cho ăn nhưng người ta thường tiêm ở cổ Không nên tiêm ở mông do có thể làm hại đến dây thần kinh và cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân thịt mổ bán
Tập cho lợn con ăn sớm:
Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ
- Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách
dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị
- Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm (tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)
- Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5% Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ăn sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn Giúp cho lợn con làm quen với thức ăn và sớm biết ăn tốt để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm
Trang 2114 hơn Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặm nhấm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 - 10 ngày tuổi lợn con mọc thêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức ăn nhấm nháp cả ngày đỡ ngứa lợi thì lợn con bớt gặm lung tung
Thường bắt đầu tập ăn từ 7 - 10 ngày tuổi, với lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ Với chuồng lợn nái đẻ cũi, máng tập ăn để ở ngăn lợn con Với chuồng lợn nái nuôi con nền truyền thống thì máng tập ăn để vào ô sưởi ấm lợn con Rắc thức ăn vào máng ít một và nhiều lần trong ngày để thức ăn luôn mới, mùi thơm hấp dẫn cho lợn con ăn
Nếu tập đều đặn thì 20 ngày tuổi thì lợn con đã biết ăn tốt Nếu không được tập ăn thì đến 30 ngày tuổi lợn con mới ăn thêm được nhiều, nhưng còn tùy thuộc vào lượng sữa của mẹ, nếu sữa lợn mẹ ít thì lợn con tự biết ăn sớm hơn và ngược lại
Nếu cho rằng lợn mẹ là một đơn vị sản xuất lợn thì việc chăm sóc lợn con từ lúc đẻ đến lúc cai sữa được cải thiện, sẽ làm tăng số lợn con cai sữa/ lợn mẹ/ năm Bình quân người chăn nuôi thiệt hại hơn 25% lợn con còn sống lúc sơ sinh đến trước lúc cai sữa Hơn 42% số lợn con sống bị hao hụt trước cai sữa đã chết vì đói hoặc dẫm đạp Việc quản lý tốt sẽ làm giảm số lợn chết
và có thể tăng thêm 2 lợn con cai sữa/ lợn mẹ/ năm
2.2.3 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
Sau khi lợn nái sinh sản xong thì bên cạnh việc chăm sóc cho lợn mẹ để đảm bảo sức khỏe tốt thì việc chăm sóc quản lý lợn con là hết sức quan trọng, đây là chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế Lợn con theo mẹ sức
đề kháng bệnh tật chưa cao, dễ cảm nhiễm bệnh, trong đó bệnh phân trắng lợn
Trang 2215
con xảy ra rất phổ biến Chính vì thế mà công tác phòng và trị bệnh phân trắng lợn con rất được chú trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản
* Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con bú sữa
Lợn con có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh
Lợn con hay gia súc nói chung đều có thời kỳ bào thai phát triển tốt thì
sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau Nhìn chung khả năng phát triển của lợn nhanh hơn so với một số loài gia súc khác Khối lượng khi cai sữa của lợn
2 tháng tuổi gấp 10 - 15 lần so với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê, nghé chỉ tăng 3 - 4 lần
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [11], lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh So với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần Tuy nhiên tốc độ sinh trưởng không đều qua các giai đoạn Tốc độ sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu về sau thì giảm, sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do từ sau 21 ngày khối lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu lợn con thấp
Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn rất mạnh Ví dụ: lợn con 20 ngày tuổi mỗi ngày cần tích lũy 9 - 10 g protein/ kg thể trọng, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy 0,3 - 0,4 g protein/kg thể trọng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [11], cơ quan tiêu hóa của lợn giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa, biểu hiện như sau: Dung tích của dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp
3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp
60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lợn lúc 10
Trang 2316
ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Dung tích ruột già lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 20 lần và 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)
Một vấn đề cần được chú ý ở giai đoạn lợn con là trong 25 ngày đầu mới đẻ ra, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn, do dịch vị chưa có HCl tự do nên hệ vi sinh vật trong dạ dày dễ lên men gây tiêu chảy cho lợn con
Khi tìm hiểu về hệ thống men tiêu hóa trong đường tiêu hóa của lợn con mới sinh ta thấy:
+ Men pepsin: Đây là men quan trọng để tiêu hóa thức ăn, nhưng nếu không cho lợn con tập ăn sớm thì khoảng 25 ngày đầu mới đẻ ra, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày còn chưa có HCl tự do sẽ không kích hoạt được pepsinogen thành men pepsin hoạt động Do thiếu HCl nên lợn con rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hóa gây bệnh
+ Men amilaza và mantaza: Có trong nước bọt và dịch tụy của lợn con
từ lúc mới đẻ, nhưng hoạt động kém trước 3 tuần tuổi, chỉ tiêu hóa học được 50% lượng tinh bột ăn vào, sau 3 tuần tuổi hoạt đông của men này mới mạnh lên thì khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn con mới tốt hơn
+ Men Saccaraza: hoạt lực của men này kém dưới 2 tuần tuổi, nếu cho lợn con ăn Saccaraza rất dễ bị tiêu chảy
+ Men tripsin: Là men tiêu hóa protein của thức ăn, ở thai lợn trong hai tháng tuổi đã có men tripsin, thai càng lớn hoạt tính của men này càng cao Khi mới đẻ ra, men tripsin của dịch tụy rất cao, để bù đắp lại khả năng tiêu hóa kém protein của men pepsin trong dạ dày
Trang 24+ Men Lipaza và Chymosin: Hai men này có hoạt lực mạnh trong 3 tuần đầu sau đó giảm dần
Lợn con mới đẻ, lượng kháng thể tăng nhanh sau khi bú sữa đầu từ lợn
mẹ, cho nên khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lượng sữa đầu của lợn mẹ
Phản ứng miễn dịch là khả năng của cơ thể đáp ứng với vật lạ khi xâm nhập vào cơ thể Trong giai đoạn lợn con các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể rất dễ dàng, ở giai đoạn này không được bú sữa đầu thì khả năng lợn con mắc bệnh tiêu chảy rất cao
Lợn con không được bú sữa đầu thì 20 - 30 ngày tuổi mới tự tổng hợp được kháng thể Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là hết sức cần thiết và không thể bỏ qua
* Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Khả năng điều tiết thân nhiệt ở lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt của lợn con chưa ổn định
Trung khu điều tiết thân nhiệt của lợn con nằm ở vỏ não, mà não là cơ quan phát triển muộn nhất cả trong thai và ngoài thai
Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên khi bị lạnh lợn con mất nhiệt nhanh