1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡngvà theo dõi khả năng đẻ trứng đàn gà isa shaver nuôi tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y trường đại học nông lâm thái nguyên

59 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại Trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Th

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯƠNG HẢI YẾN

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ THEO DÕI KHẢ NĂNG ĐẺ TRỨNG ĐÀN GÀ ISA SHAVER NUÔI TẠI TRẠI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú Y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 – 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯƠNG HẢI YẾN

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ THEO DÕI KHẢ NĂNG ĐẺ TRỨNG ĐÀN GÀ ISA SHAVER NUÔI TẠI TRẠI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú Y Lớp: K45 – TY N02 Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Hữu Hòa

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại Trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa đã tận tình giảng dạy, dìu dắt tôi hoàn thành tốt chương trình học, tạo cho tôi có được lòng tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này

Nhân dịp này, tôi xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo tôi trong toàn khóa học Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn ThS Nguyễn Hữu Hòa đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận

Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, giành những tình cảm và sự động viên vô cùng quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này

Cuối cùng, tôi xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy

và nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng… năm 2017

Sinh viên

Lương Hải Yến

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Để trở thành kỹ sư chăn nuôi trong tương lai, ngoài việc trang bị cho mình một lượng kiến thức lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn tiếp cận với thực tế sản xuất Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp là khâu rất quan trọng đối với tất cả các sinh viên trường Đại học nói chung cũng như sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là thời gian cần thiết để sinh viên củng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”

Thực tập tốt nghiệp cũng là quá trình giúp cho sinh viên rèn luyện tác phong khoa học đúng đắn, tạo lập tư duy sáng tạo để trở thành kỹ sư có trình

độ năng lực làm việc, góp phần vào việc xây dựng và phát triển nông thôn mới nói riêng và đất nước nói chung

Xuất phát từ thực tế chăn nuôi, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,

được sự phân công của giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc ,nuôi dưỡngvà theo dõi khả năng đẻ trứng đàn gà Isa Shaver nuôi tại Trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

Được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn ThS Nguyễn Hữu Hòa, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luận này Do thời gian và kiến thức có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Chế độ chiếu sáng cho đàn gà 34

Bảng 4.2 Lịch dùng vaccine cho đàn gà đẻ tại trại 34

Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 37

Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống của gà Isa Shaver qua các tuần tuổi (%) 39

Bảng 4.5 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của gà Isa shaver 41

Bảng 4.6 Khối lượng trứng qua các tuần tuổi (g) 42

Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng 43

Bảng 4.8 Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng đẻ ra(kg) 45

Trang 6

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

BQ

Cs KHKT NST Nxb

TĂ TTTĂ

Bình quân Cộng sự Khoa học kỹ thuật Nhiễm sắc thể Nhà xuất bản Thức ăn Tiêu tốn thức ăn

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.3 Ý nghĩa của chuyên đề 2

1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4

2.1.2 Kết quả sản xuất của cơ sở 6

2.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng chuyển hóa thức ăn của gia cầm 6

2.1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm 7

2.1.5 Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm 14

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm 17

2.1.7 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ 19

2.1.8 Giới thiệu về giống gà thí nghiệm 21

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 23

Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 26

Trang 8

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26

3.3 Nội dung nghiên cứu 26

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 26

3.4.1 Phương pháp theo dõi 26

3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 27

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà ISA SHAVER 30

4.1.1 Công tác chăn nuôi 30

4.1.2 Công tác thú y 34

4.2 Kết quả theo dõi khả năng đẻ trứng của đàn gà Isa Shaver tại trại gia cầm 39

4.2.1 Tỷ lệ nuôi sống 39

4.2.2 Khả năng đẻ trứng của gà Isa Shaver 41

4.2.3 Chất lượng trứng 42

4.2.4 Tiêu tốn thức ăn 44

Phần 5: KẾT LUẬN 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Tồn tại 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 9

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số sống ở nông thôn Thu nhập chính của họ là từ ngành trồng trọt và chăn nuôi Trong đó, ngành chăn nuôi gia cầm được ưu tiên phát triển hàng đầu do khả năng đáp ứng nhanh về nhu cầu thịt, trứng Ngoài ra, chăn nuôi gia cầm còn đóng góp một phần không nhỏ trong việc phát triển công nghiệp nước ta như công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc

Tập quán chăn nuôi gia cầm đã gắn bó với nhân dân ta từ lâu đời Ở nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, hầu như gia đình nào cũng có nuôi một vài con Trước đây, chăn nuôi gia cầm thường theo phương thức quảng canh tận dụng Những năm gần đây, xu hướng phát triển ngành chăn nuôi nói chung đã theo con đường thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung Nhiều gia đình chăn nuôi với số lượng lên đến hàng vạn con Đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp đã khắc phục được nhiều đặc điểm của gà ta như về tốc

độ sinh trưởng và khả năng sinh sản Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của

xã hội, nước ta đã nhập nhiều giống gà mới như các giống chuyên dụng hướng trứng, hướng thịt có giá trị cao với các dòng ông, bà, bố, mẹ nhằm thay đổi cơ cấu đàn giống gia cầm, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, bước đầu đạt kết quả tốt

Hiện nay, bên cạnh những giống gà hướng thịt, các giống gà hướng trứng cũng ngày càng được quan tâm chú trọng đầu tư phát triển Một trong những giống gà sinh sản có năng suất cao, chất lượng trứng tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu của Việt Nam là giống gà Isa Shaver

Chăn nuôi gà hướng trứng theo con đường thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung ở nước ta đã trở thành một trong những nghề phát triển

Trang 10

khá nhanh Với những thuận lợi có được như hiện nay về các giống gà chuyên dụng, những tiến bộ của ngành chăn nuôi gia cầm đòi hỏi phải có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý Vấn đề đặt ra là phải tìm ra phương thức nuôi phù hợp mà vẫn đảm bảo khả năng sản xuất của giống

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề:

“Thực hiện quy trình chăm sóc ,nuôi dưỡng và theo dõi khả năng đẻ trứngđàn gà Isa Shaver nuôi tại Trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

- Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý trong chăn nuôi

- Biết cách sử dụng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh trong chăn nuôi

- Chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thông thường

- Củng cố kiến thức và nắm được phương pháp nghiên cứu khoa học

1.3 Ý nghĩa của chuyên đề

1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học

Kết quả nghiên cứu của chuyên đề là những thông tin khoa học có giá trị bổ sung thêm những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn gà sinh sản Isa Shaver nuôi ở chuồng hở

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

- Quá trình thành lập và quy mô của trại: Trại gia cầm khoa Chăn

nuôi thú y được xây dựng trên nền của khu trại gà cũ của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học từ năm

2013 Vị trí:

+ Phía đông giáp khu Hoa viên cây cảnh

+ Phía tây giáp vườn ươm khoa Lâm Nghiệp

+ Phía nam giáp đường dân sinh vào khu Giáo dục quốc phòng

+ Phía bắc giáp khu cây trồng cạn

Trại có tổng diện tích là 11.960 m2 Bao gồm 8.960 m2 đất và 3.000 m2mặt nước Trong đó:

+ Khu chăn nuôi quy hoạch tại Trại gia cầm cũ với diện tích là 3.000 m2

Gồm 2 dãy chuồng với diện tích 316,6 m2 và 2 kho rộng 40 m2, phần diện tích còn lại dùng để chăn thả và trồng cây bóng mát Toàn bộ khu vực được rào bằng thép B40 với tổng chiều dài 220 m, đảm bảo ngăn cách với các khu vực khác + Khu nhà điều hành và nhà ở cho sinh viên có diện tích là 48 m2

được chia làm 4 phòng, gồm phòng điều hành, bếp nấu và 2 phòng ở cho sinh viên + Hố sát trùng và phòng thay đồ có tổng diện tích là 30m2 Trong đó hố sát trùng 20 m2; khu nhà thay quần áo bảo hộ lao động 10 m2

+ Khu nhà xưởng và công trình phụ trợ có diện tích 120 m2 Trong đó có các công trình như:

01 kho thuốc, dụng cụ thú y: 20 m2

01 phòng ấp trứng gia cầm (máy ấp điện): 30 m2

01 kho chứa và chế biến thức ăn chăn nuôi: 50 m2

Trang 12

01 kho dụng cụ (máng ăn, uống, đệm lót… ): 20 m2

- Chức năng và nhiệm vụ của trại: Xây dựng mô hình chăn nuôi gà đẻ

an toàn sinh học phục vụ cho học tập, nghiên cứu khoa học, thực tập nghề nghiệp và rèn nghề của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Tình hình sản xuất của trại:

+ Ngành trồng trọt: Do diện tích của trại nhỏ hẹp, đất đai kém màu mỡ

nên ngành trồng trọt của trại chưa có điều kiện phát triển nên chỉ trồng một số cây cho bóng mát và một số cây lấy lá bổ sung cho gà như: cây keo giậu, cây sắn, Stylo

+ Ngành chăn nuôi: Sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng, trại tiến hành đưa

vào nuôi hơn 1000 gà sinh sản các giống Ai Cập và HA theo mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học, 300 gà thương phẩm giống Mía x Lương Phượng Ngoài ra, trại còn nuôi khoảng gần 100 con gà các giống như: gà chọi, gà rừng, gà đa cựa, gà đa ngón nhằm nghiên cứu đặc điểm sinh học và bảo tồn các giống gà này Hiện nay, trại đang có hơn 400 con gà Ai Cập sinh sản, 1000 con gà Ai Cập hậu bị, gần 600 con gà thương phẩm các giống Mía

x Lương Phượng và King 303 Bên cạnh đó, còn có gần 200 con các loại như:

gà đa cựa, gà đa ngón, gà chọi, gà rừng, chim trĩ

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố khoảng 6 km về phía Tây Ranh giới của xã được xác định như sau:

Trang 13

- Phía nam giáp với xã Phúc Trìu

- Phía tây giáp với xã Phúc Xuân

- Phía bắc giáp với xã Phúc Hà

- Phía đông giáp với phường Thịnh Đán

2.1.1.2 Điều kiện khí hậu

Trại gia cầm khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, vì vậy khí hậu của trại gia cầm mang tính chất đặc trưng của tỉnh Thái Nguyên đó là khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới với hai mùa rõ rệt

Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 - 10, nhiệt độ trung bình dao động từ 25 -

300C, ẩm độ trung bình từ 80 - 85%, lượng mưa trung bình là 155mm/tháng tập trung chủ yếu vào các tháng 5, 6, 7, 8 Với khí hậu như vậy trong chăn nuôi cần chú ý tới công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi

Mùa khô kéo dài từ cuối tháng 10 đến tháng 4 năm sau Trong các tháng này khí hậu lạnh và khô, nhiệt độ dao động từ 13 - 260C, độ ẩm từ 75 - 85%

Về mùa đông còn có gió mùa đông bắc gây rét và có sương muối ảnh hưởng xấu đến cây trồng và vật nuôi

2.1.1.3 Điều kiện đất đai

Xã Quyết Thắng có tổng diện tích là 9,3 km2, trong đó:

- Diện tích đất trồng lúa và hoa màu: 565 ha

- Diện tích đất lâm nghiệp: 199 ha

- Diện tích đất chuyên dùng: 170 ha

Diện tích đất của xã Quyết Thắng lớn Trong đó chủ yếu là đất đồi bãi, độ dốc lớn, thường xuyên bị xói mòn, rửa trôi nên độ màu mỡ kém, dẫn đến năng suất cây trồng thấp, việc canh tác gặp nhiều khó khăn Cùng với sự gia tăng dân

số, xây dựng cơ sở hạ tầng,…diện tích đất nông nghiệp và đất hoang hóa có xu hướng ngày một giảm, gây khó khăn trong phát triển chăn nuôi Chính vì thế,

Trang 14

trong những năm tới cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa ngành trồng trọt và chăn nuôi để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ngành nông nghiệp

2.1.2 Kết quả sản xuất của cơ sở

2.1.2.1 Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi

- Công tác giống: Tham gia chọn lọc các con giống gà Isa Shaver

- Công tác thức ăn: Tính toán lượng thức ăn gà ăn hàng ngày

- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng: Chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà tại trại

2.1.2.2 Công tác thú y

- Thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh chuồng trại và xung quanh chuồng trại

- Thực hiện đúng nội quy quy định của trại khi ra vào trại

- Thực hiện nghiêm túc quy trình tiêm phòng

- Phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho đàn vật nuôi

2.1.2.3 Công tác nghiên cứu khoa học

Thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học:“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và theo dõi khả năng đẻ trứng đàn gà ISA SHAVER nuôi tại Trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên“

2.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng chuyển hóa thức ăn của gia cầm

Trong chăn nuôi, tạo ra giống mới có năng suất cao chưa đủ mà phải tạo

ra nguồn TĂ giàu dinh dưỡng, phù hợp với đặc tính sinh lý và mục đích sản xuất của từng giống, dòng; phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi

mà vẫn đảm bảo được các chỉ tiêu về kinh tế

Chi phí TĂ thường chiếm tới 70% giá thành sản phẩm, TTTĂ càng thấp cho hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Đánh giá về vấn đề này, đối với gia cầm sinh sản người ta đưa ra chỉ tiêu: TTTĂ cho 10 quả hay 1 kg trứng Hiện nay, nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới đã áp dụng phương pháp tính mức TTTĂ bằng chi phí TĂ cho gia cầm từ lúc 1 ngày tuổi đến kết thúc 1 năm đẻ

Trang 15

Theo Phùng Đức Tiến và cs (1999) [13], gà Ai Cập tiêu tốn 2,33 kg TĂ/10 quả trứng trong 43 tuần đẻ Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) [3], cho biết, TTTĂ /10 quả trứng trong 12 tháng của gà Goldline - 54 thương phẩm đạt 1,65 - 1,84 kg Nhachannuoi.vn (2015) [32], cho biết, TTTĂ /10 quả trứng của Gà Leghorn, Gold – Line và Brown nick lần lượt là 1,3 – 1,6 kg ; 1,3 – 1,6 kg và 1,3 – 1,6 kg

Lượng TĂ tiêu thụ hàng ngày phản ánh tình trạng sức khỏe của đàn gà, chất lượng TĂ và trình độ chăm sóc nuôi dưỡng Không những thế, nó còn ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng, từ đó ảnh hưởng đến năng suất con giống Lượng TĂ tiêu thụ hằng ngày liên quan đến mức năng lượng và protein trong khẩu phần, ảnh hưởng đến sinh trưởng và khả năng sản xuất của gia cầm Theo Vũ Duy Giảng và cs (1997) [6], thì hàm lượng protein khác nhau trong TĂ cũng có ảnh hưởng đến lượng thu nhận TĂ của gia cầm Từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng và khả năng cho sản phẩm của gia cầm

2.1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm

 Một số đặc điểm sinh học của gia cầm sinh sản

- Cơ quan sinh dục đực: gồm tinh hoàn, dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh và

cơ quan giao phối

Tinh hoàn có hính ô van hoặc hạt đậu màu trắng hoặc hơi vàng; nằm phía trên thùy trước của thận, cạnh túi khí bụng Khối lượng tinh hoàn phụ thuộc vào tuổi và trạng thái sinh lý của con vật Cơ quan giao cấu có cấu trúc

khác biệt Gai giao cấu nằm sâu ở dưới lỗ huyệt

Quá trình hình thành tinh trùng diễn ra tương tự như ở gia súc Tế bào sơ cấp bằng con đường phân chia hình thành tinh bào thứ nhất phát triển Mỗi tinh bào thứ nhất lại chia thành tinh bào thứ hai, tiếp tục phát triển, sau đó hình thành tiền tinh trùng và cuối cùng hình thành tinh trùng Ở gà, một lần phóng tinh khoảng 0,6 - 2 ml tinh dịch Trong mỗi ml tinh dịch chứa 3,2 tỷ

Trang 16

tinh trùng Các phản xạ và cơ chế giao phối ở gia cầm giống động vật có vú nhưng thời gian để tinh trùng từ cơ quan sinh dục đực đến loa kèn rất lâu, khoảng 72 - 75 giờ (3 ngày) Tuy nhiên, tinh trùng gà sống được rất lâu trong

đường sinh dục cái

- Cơ quan sinh dục cái: gồm buồng trứng và ống dẫn trứng

+ Buồng trứng: có chức năng tạo lòng đỏ, nằm bên trái xoang bụng,

được giữ bằng màng bụng hình dạng và kích thước buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loại gia cầm Ở gà 1 ngày tuổi, buồng trứng có kích thước 1 - 2

mm, khối lượng đạt 0,03 g Đến 4 tháng tuổi, buồng trứng có dạng hình thoi, khối lượng đạt 2,66g Gà ở thời kì đẻ, buồng trứng hình chùm nho chứa nhiều

tế bào trứng, có khối lượng 45 - 55 g Gà dò và gà đẻ thay lông có khối lượng buồng trứng là 5g

Theo Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn (2003) [9], sự phát triển của mỗi tế bào trứng gồm 3 thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín

Thời kỳ tăng sinh: trước khi bắt đầu đẻ trứng, đếm được 3500 - 4000 tế

bào trứng ở buồng trứng gà mái Trong tế bào trứng (phần noãn hoàng) có nhân to với những hạt nhỏ và NST Trong noãn hoàng có chứa nhân tế bào

Thời kỳ sinh trưởng: tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ

Trong khoảng thời gian 3 - 14 ngày, lòng đỏ chiếm 90 - 95 % khối lượng của

tế bào trứng Thành phần gồm: protit, photpholipit, mỡ trung hòa, các chất khoáng và vitamin Lòng đỏ tích lũy mạnh vào ngày thứ 9 và 4 ngày trước khi trứng rụng Vào cuối thời kỳ phát triển của tế bào trứng, giữa lòng đỏ chứa đầy lympho Trong đó, noãn hoàng bơi tự do và các cực của nó nằm theo lực hướng tâm - cực anivan (cùng đĩa phôi) hướng lên trên, cực thực vật hướng xuống dưới Đường kính lòng đỏ khoảng 35 - 40 mm

Thời kỳ chín của noãn hoàng (thời kỳ cuối hình thành trứng): lúc đầu các

tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào không có liên kết với biểu bì

Trang 17

phát sinh Tầng tế bào này phát triển trở thành nhiều tầng và sự tạo thành tiến tới bề mặt buồng trứng Cấu tạo này gọi là follicun Bên trong follicun có một khoảng hở chứa đầy dịch Bên ngoài follicun giống như một cái túi Trong thời kỳ đẻ trứng, nhiều follicun chín dần làm buồng trứng trở về hình dạng ban đầu Các follicun trứng vỡ ra, quả trứng chín chuyển ra ngoài cùng với dịch follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng Sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu

sự thành thục sinh dục Đó là quá trình xảy ra một lần trong ngày Có trường hợp đặc biệt, có hai hoặc ba tế bào trứng cùng rụng một lúc Trường hợp quả trứng của ngày hôm trước đẻ sau 4 giờ chiều thì phải sang ngày hôm sau mới xảy ra quá trình rụng trứng

+ Ống dẫn trứng: là một phần hình ống Ở đó xảy ra sự thụ tinh tế bào

trứng và kết thúc ở lỗ huyệt Ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo mỡ bao ngoài vỏ trứng Trứng lưu lại trong ống dẫn trứng 23 - 24 giờ

Kích thước ống dẫn trứng thay đổi theo tuổi và hoạt hóa chức năng hệ sinh dục Khi thành thục sinh dục, ống dẫn trứng trơn, thẳng, có đường kính đồng nhất trên chiều dài ống Sau khi gà đẻ quả trứng đầu tiên, ống dẫn trứng

có chiều dài 68 cm, khối lượng 77 g Khi đẻ với cường độ cao, chiều dài tăng tới 86 - 90 cm, đường kính 10 cm Ở gà không đẻ trứng, ống dẫn trứng có chiều dài 11 - 18 cm, đường kính 0,4 – 0,7 cm Khi gia cầm thành thục, ống dẫn trứng gồm các phần: phễu, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung, âm đạo

Phễu: phần mở rộng hình loa kèn ở đầu ống dẫn trứng dài 4 - 7 cm,

đường kính 8 - 9 cm, nằm ở dưới buồng trứng Bề mặt niêm mạc phễu gấp nếp, không có tuyến Lớp niêm mạc cổ phễu có tuyến hình ống Chất tiết của

nó tham gia vào tạo trứng và hình thành dây chằng lòng đỏ Tại đây, trứng được thụ tinh nếu gặp tinh trùng Trứng dừng lại ở đây khoảng 20 phút

Trang 18

Phần tiết lòng trắng: là bộ phận dài nhất của ống dẫn trứng, có thể dài

tới 20 - 30 cm Niêm mạc phần này có nhiều tuyến hình ống như cổ phễu tiết

ra lòng trắng đặc, hình thành dây chằng lòng đỏ và tiết ra lòng trắng loãng Trứng dừng ở đây khoảng 3 giờ

Phần eo: là phần hẹp hơn của ống dẫn trứng, dài khoảng 8 cm Các

tuyến ở đây tiết ra một phần lòng trắng và chất hạt hình thành nên màng dưới

vỏ gồm 2 lớp Hai lớp này tách nhau ra tại đầu lớn của vỏ trứng tạo nên buồng khí Các dung dịnh muối và nước có thể thấm qua màng này đi vào lòng trắng Trứng dừng ở đây 60 - 70 phút

Tử cung: là phần tiếp theo của quá trình tạo vỏ, dài 8 - 12 cm Tuyến

vách tử cung tiết ra một chất dịch lỏng Nó thẩm thấu qua màng vỏ đi vào trong làm tăng khối lượng lòng trắng Một số tuyến ở tử cung tiết ra chất dịch tạo vỏ trứng diễn ra chậm chạp Trứng dừng lại ở đây khá lâu, khoảng 18 - 20 giờ

Âm đạo: là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, là cửa ngõ để trứng ra

ngoài cơ thể Thành âm đạo có nhiều lớp cơ lớn Niêm mạc nhăn nhưng không có các tuyến hình ống Mép biểu mô của âm đạo tiết ra chất dịch tham gia hình thành lớp màng keo trên vỏ Trứng đi qua phần âm đạo rất nhanh

 Khả năng sinh sản của gia cầm

Trong chăn nuôi gia cầm, khả năng sinh sản của đàn gà bố mẹ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng sản xuất của một con giống hoặc một dòng nào đó Khả năng sản xuất của gà không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh trưởng, khối lượng lúc giết thịt mà còn phụ thuộc vào khả năng sinh sản, số lượng trứng, số lượng gà con trên một đầu mái

Theo Phạm Minh Thu (1996) [18], đã viết: “Con người chú trọng đến sinh sản của gia cầm vì không những chức năng đó liên quan đến sự sinh tồn của loài cầm điểu mà từ đó con người mới có số lượng đông đảo gia cầm để

sử dụng hai sản phẩm quan trọng là trứng và thịt”

Trang 19

Theo Brandsch và Bichel (1978) [25], thì sức đẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng bởi 5 yếu tố:

- Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục;

- Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng;

- Tần số thể hiện bản năng đòi ấp;

- Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông;

- Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (tính ổn định sức đẻ)

Các yếu tố trên do gen di truyền của từng giống gia cầm quy định

Để đánh giá khả năng sinh sản của gia cầm, người ta dựa vào chỉ tiêu: tuổi đẻ đầu và năng suất trứng

Khối lượng trứng bình quân theo các tháng Chambers (1990) [26], cho biết: khối lượng trứng thường tăng đến cuối chu kỳ đẻ trứng Nhiều tác giả cho rằng, giữa khối lượng trứng và sản lượng trứng có tương quan âm Letner

và Taylor (1943) [28], xác định hệ số tương quan giữa số lượng trứng và sản lượng trứng là r = - 0,11

- Tuổi đẻ đầu: Tuổi đẻ quả trứng đầu là thời điểm đàn gà đã thành thục

về tính Tuổi đẻ đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loài, giống, hướng sản

xuất, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu,…Đặc biệt là chế độ chiếu sáng

Tuổi đẻ đầu đánh giá sự thành thục về tính của đàn gà Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Sự thành thục về tính sớm hay muộn có liên quan chặt chẽ đến sự tăng khối lượng cơ thể cũng như sự hoàn thiện tới các cơ quan, bộ phận của cơ thể Những giống gia cầm có tầm vóc nhỏ thường có tuổi thành thục sớm hơn những giống gia cầm có tầm vóc lớn Trong cùng một giống, cá thể nào được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, điều kiện khí hậu và chế độ chiếu sáng phù hợp sẽ thành thục sớm hơn Nhiều công trình khoa học đã chứng minh, tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so

với tuổi thành thục sinh dục muộn

Trang 20

Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá trình sinh sản Đối với gia cầm mái, tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó, đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5 %

- Năng suất trứng

Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số trứng đẻ ra trong một đơn vị thời gian Đối với gia cầm thì đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, khí hậu,

TĂ, dinh dưỡng, mùa vụ, tuổi, độ béo, thể trọng và đặc điểm của cá thể Trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng như nhau, năng suất đẻ của các cá thể trong cùng một giống khác nhau Giữa các cá thể có sự chênh lệch khá lớn so với chỉ tiêu trung bình của cả đàn Các giống gà khác nhau thì khả năng đẻ trứng cũng khác nhau Năng suất trứng gia cầm phụ thuộc vào tuổi Năng suất trứng của gà ở năm thứ nhất cao hơn năm thứ hai

Nhiệt độ môi trường xung quanh liên quan mật thiết với sản lượng trứng Nếu nhiệt độ môi trường quá cao hoặc quá thấp đều làm cho sản lượng trứng giảm Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp nhất cho gà đẻ là 14 - 22oC Năng suất trứng là một tính trạng số lượng, phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng được đánh giá qua cường độ và thời gian kéo dài sự đẻ

Tỷ lệ đẻ là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của đàn gia cầm Đỉnh cao của

tỷ lệ đẻ có mối tương quan với năng suất trứng Giống gia cầm nào có tỷ lệ đẻ cao và kéo dài thời kỳ sinh sản thì chứng tỏ là giống tốt Nếu chế độ dinh dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao Gà chăn thả có tỷ lệ đẻ thấp trong vài tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó tăng dần và đạt cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và thấp ở cuối thời kỳ sinh sản

Trang 21

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Thời gian

kéo dài sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng Đây là cơ sở để áp dụng chế

độ chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ Giữa các trật đẻ, gà thường có khoảng thời gian đòi ấp Các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau Điều này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng,…

Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, dinh

dưỡng, Khối lượng trứng quyết định chất lượng trứng, giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng cơ thể và sức sống của gà con Brandsch H và Bichel H (1978) [25], cho rằng, hiện nay, chưa có cách nào để tăng khối lượng trứng mà không đồng thời tăng khối lượng cơ thể Đó cũng là một trong những nguyên nhân phải hạn chế khối lượng trứng ở mức 55 - 60 g để phù hợp với sinh lý của gà

và kỹ thuật ấp nở Ngoài ra, tăng khối lượng trứng còn làm tăng TTTĂ

Theo Lochus và Starstikov (1979) thì trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm lúc trưởng thành Theo Awang (1984) thì khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài và chiều rộng của quả trứng cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ trứng (dẫn theo Trần Huê Viên, 2011 [21]) Theo Trương Thúy Hường [31], khối lượng trứng của gia cầm thuộc nhóm tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của nhiều gen, đặc biệt là gen liên kết với giới tính Khối lượng trứng của gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn đẻ đầu sau đó chậm lại và ổn định khi tuổi gia cầm càng cao

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [20], thì trong cùng một độ tuổi, khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần Khối lượng gà con khi nở bằng 62 - 78 % khối lượng trứng ban đầu Khối lượng trứng của các giống khác nhau là khác nhau

Trang 22

2.1.5 Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm

- Đặc điểm hình thái: Trứng gia cầm là một tế bào gồm: vỏ trứng,

màng, lòng trắng và lòng đỏ Trong điều kiện không có gia cầm trống thì trứng không được thụ tinh nhưng giá trị thực phẩm không thay đổi Dựa vào đặc điểm này mà trong chăn nuôi gà hướng trứng thương phẩm, người ta

không nuôi thêm gà trống để giảm chi phí TĂ, giảm giá thành trứng

- Hình dạng quả trứng: là một đặc trưng của từng cá thể, được quy

định di truyền rõ rệt Theo Brandsch và Bichel (1978) [25], thì tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của quả trứng là một chỉ số ổn định (1 : 0,75) Hình dạng của quả trứng tương đối ổn định Nói chung, hình dạng quả trứng luôn

có tính di truyền bền vững và có những biến dị không rõ rệt

Chất lượng trứng phụ thuộc vào thành phần hóa học, tính chất lý học của trứng và những đặc điểm di truyền của gia cầm Trứng gia cầm thường có hình ovan; một đầu to, một đầu nhỏ Xác định hình dạng trứng bằng chỉ số hình thái, chỉ số hình dạng Mỗi loài gia cầm khác nhau có chỉ số hình thái khác nhau và được nhiều gen khác nhau quy định

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [16], thì khoảng biến thiên chỉ số hình thái của trứng gà là 1,34 - 1,36 Những quả trứng quá dài hoặc quá tròn đều

có chất lượng trứng thấp

Trứng gia cầm có cấu tạo từ ngoài vào trong bao gồm: vỏ cứng, màng

vỏ, lòng trắng và lòng đỏ Lòng đỏ có chứa đĩa phôi Khối lượng mỗi thành phần của quả trứng là khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thức ăn, chăm sóc, mùa vụ,…

Theo Vương Đống (1968) [5], tỷ lệ các phần so với khối lượng trứng là:

vỏ chiếm 10 - 11,6 %; lòng trắng chiếm 57 - 60 %; lòng đỏ chiếm 30 - 32 % Thành phần hóa học của trứng không vỏ là: nước chiếm 73,5 - 74,4 %; protein 12,5 - 13%; khoáng 0,8 - 1,0 %

Trang 23

+ Vỏ trứng: là lớp bảo vệ bên ngoài về mặt cơ học cũng như lý hóa học

cho các thành phần bên trong của trứng Màu sắc vỏ trứng phụ thuộc vào giống, màu sắc lá tai của cá thể Bên ngoài vỏ cứng được một lớp keo dính bao bọc, làm giảm ma sát giữa thành âm đạo và trứng, tạo thuận lợi cho quá trình đẻ và hạn chế sự bốc hơi nước

Vỏ trứng được cấu tạo chủ yếu bằng canxi Trên vỏ có nhiều lỗ khí Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [20], thì trên bề mặt vỏ trứng có nhiều lỗ khí Trung bình, mỗi vỏ trứng gà có khoảng 10.000 lỗ khí, khoảng 150 lỗ khí/1 cm2 vỏ trứng Mật độ lỗ khí phân bố không đều, tập trung nhiều nhất ở đầu to, giảm dần ở hai thành bên và ít nhất ở đầu nhỏ

Độ dày vỏ trứng là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng trứng, ảnh hưởng tới việc bảo quản trứng, sự phát triển của phôi và thời gian, độ ẩm trong quá trình ấp Nó chịu ảnh hưởng của yếu tố môi trường và yếu tố di truyền Ở mỗi loài gia cầm khác nhau, vỏ trứng có độ dày khác nhau Ở mỗi thời điểm, môi trường khác nhau, vỏ trứng cũng có độ dày khác nhau Trong thực tế, ta có thể thấy hiện tượng vỏ trứng mỏng khi khẩu phần ăn thiếu canxi Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng Nó có ý nghĩ trong vận chuyển và ấp trứng Nếu vỏ trứng quá dày hoặc quá mỏng sẽ gây cản trở quá trình hô hấp của phôi thai, làm tỷ lệ ấp nở giảm Theo Nguyễn Thị Bạch Yến (1996) [24], thì nếu vỏ trứng quá mỏng sẽ làm cho quá trình bốc hơi nước diễn ra nhanh, bị chết phôi hoặc sát vỏ, gà con nở ra tỷ lệ nuôi sống giảm Độ dày vỏ trứng gà đạt 0,311 mm, trong khoảng 0,299 - 0,373 mm (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994 [10]) Vỏ trứng gà dày 0,3 - 0,34 mm chịu lực là 2,44 - 3 kg/cm2

+ Lòng trắng: là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ, là sản phẩm của ống

dẫn trứng Lòng trắng chủ yếu là albumin, cung cấp khoáng và muối khoáng, tham gia cấu tạo lông, da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai đoạn phôi

Trang 24

Chất lượng lòng trắng được xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh

Hệ số di truyền của tính trạng này khá cao

Trong trứng gia cầm, lòng trắng chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 56 % Cấu tạo lòng trắng gồm: lớp loãng ngoài, lớp đặc giữa, lớp loãng giữa, lớp đặc trong Độ keo dính của lòng trắng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chăm sóc, nuôi dưỡng, giống, tuổi, bảo quản trứng,… Bảo quản trứng không đúng, kéo dài làm lòng trắng loãng hơn Trong lòng trắng còn chứa dây chằng lòng đỏ, giữ cho lòng đỏ luôn ở vị trí trung tâm của trứng Theo Trần Huê Viên (2011) [21], thì Awang (1987) cho biết khối lượng trứng tương quan rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86), khối lượng lòng đỏ (r = 0,72) và khối lượng vỏ (r

= 00,48)

+ Lòng đỏ: là tế bào trứng có dạng hình cầu, đường kính 35 - 40 mm,

được bao bọc bởi màng lòng đỏ có tính đàn hồi nhưng sự đàn hồi này giảm theo thời gian bảo quản Ở giữa lòng đỏ có hốc lòng đỏ nối với đĩa phôi, lấy chất dinh dưỡng từ nguyên sinh chất để cung cấp cho phôi phát triển

Lòng đỏ có độ đậm đặc cao, nằm giữa lòng trắng đặc, được giữ ổn định nhờ dây chằng là những sợi protein quy tụ ở hai đầu lòng đỏ Phía trên lòng

đỏ là mầm phôi Lòng đỏ cung cấp chất dinh dưỡng chủ yếu cho phôi Lòng

đỏ bao gồm: nước, protein, các acit amin không thay thế, các loại vitamin,… Thông qua nguồn năng lượng dự trữ cho phôi có thể đánh giá được chất lượng lòng đỏ

Đánh giá chất lượng lòng đỏ qua chỉ số lòng đỏ, tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng đỏ so với đường kính của nó Tạ An Bình và Nguyễn Hoài Tạo (1979) [2], cho biết: khi chỉ số này xuống dưới 0,33 thì lòng đỏ bị biến dạng Theo Ngô Giản Luyện (1994) [10], thì chỉ số lòng đỏ ít biến đổi hơn lòng trắng Chỉ số lòng đỏ giảm 0,25 - 0,29 nếu bị tăng nhiệt độ và bảo quản lâu (Nguyễn Quý Khiêm và cs, 1999 [7]) Màu của lòng đỏ phụ thuộc vào sắc tố

Trang 25

màu và caroten có trong TĂ Màu của lòng đỏ ổn định trong suốt thời gian đẻ trứng Nó thay đổi sau khi khẩu phần ăn thay đổi vài tuần Tuy không biểu thị giá trị dinh dưỡng của trứng nhưng nó có giá trị thương phẩm lớn

- Những trường hợp trứng dị hình:

+ Trứng không có lòng đỏ: do trong cơ thể có những tế bào chết rơi vào

loa kèn và ống dẫn trứng không phân biệt được nên vẫn có quá trình tạo trứng

và hình thành trứng nhỏ

+ Trứng hai lòng đỏ: do hai trứng rụng cùng một thời điểm hoặc cách

nhau không quá 20 phút, hình thành nên quả trứng rất to

+ Trứng trong trứng: thường ít gặp hiện tượng này Nguyên nhân là do

bị kích động đột ngột, một quả trứng hoàn chỉnh bị ống dẫn trứng co lại gây nhu động ngược lên phía trên gặp tế bào trứng mới rụng sẽ nằm cùng lòng đỏ của trứng mới, bên ngoài được bao bọc bằng lòng trắng và vỏ cứng

Ngoài ra còn có trứng méo, trứng không có vỏ, trứng non do thiếu khoáng, vitamin D,… hoặc do co bóp của ống dẫn trứng

 Chỉ số Haugh (HU): là chỉ số đánh giá chất lượng trứng xác định

thông qua khối lượng trứng và chiều cao lòng trắng đặc Chỉ số HU càng cao

thì chất lượng trứng càng cao, trứng đạt chất lượng tốt

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm

Sức sản xuất trứng của gia cầm là đặc điểm phức tạp và biến động Nó chịu ảnh hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài như: giống, dòng, sự phát triển, tuổi, trọng lượng cơ thể, trạng thái sức khỏe, sự thay lông, bản tính ấp bóng, tuổi thành thục, cường độ và sức bền đẻ trứng, chu kỳ và nhịp độ đẻ Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào yếu tố di truyền, chọn lọc, TĂ, mùa vụ,…

- Giống, dòng: ảnh hưởng trực tiếp tới sức sản xuất của gia cầm Các

giống, dòng gia cầm khác nhau thì sản lượng trứng cũng khác nhau Nếu dòng

Trang 26

nào được chọn lựa tốt thì khả năng sản xuất trứng sẽ cao hơn Giống, dòng gia cầm là yếu tố quyết định đến khả năng sản xuất trứng.Về sản lượng trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ khoảng 15 - 30%

Sự phát triển của cơ thể cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất trứng Các cá thể thành thục sớm hay muộn hơn bình thường đều cho sản lượng trứng thấp

- Tuổi gia cầm: có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng, sản lượng trứng

giảm dần theo tuổi Ở gà, sản lượng trứng trung bình năm thứ hai giảm 15 -

20 % so với năm thứ nhất Còn ở vịt, sản lượng trứng trung bình năm thứ hai cao hơn năm thứ nhất 9 - 15 %

- Tuổi thành thục: liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Nó là đặc

điểm di truyền cá thể Sản lượng trứng 3 - 4 tháng đầu tiên tương quan thuận với sản lượng trứng cả năm

- Mùa vụ: ảnh hưởng đến sức đẻ trứng rất rõ rệt Ở nước ta, sức đẻ trứng

ở mùa hè giảm xuống nhiều so với mùa xuân, đến mùa thu lại tăng lên

- Nhiệt độ môi trường xung quanh: liên quan mật thiết đến sản lượng

trứng Ở nước ta, nhiệt độ nuôi thích hợp với gia cầm đẻ trứng là 14 - 22oC Nếu nhiệt độ dưới giới hạn thấp thì gia cầm cần phải huy động năng lượng chống rét và trên giới hạn cao thì gia cầm sẽ thải nhiệt nhiều qua hô hấp

- Ánh sáng: ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm Nó được xác

định qua thời gian và cường độ chiếu sáng Thời gian chiếu sáng yêu cầu của

gà đẻ là 12 - 16 giờ/ngày Có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên và nhân tạo để đảm bảo thời gian và cường độ chiếu sáng 3 - 3,5 w/m2

Theo Letner và Taylor (1987) [34], thì thời gian gà đẻ trứng là 7 - 17 giờ nhưng đa số đẻ vào buổi sáng Cụ thể, số gà đẻ lúc7 - 9 giờ đạt 17,7 %; độ đẻ trứng của gà cao nhất vào lúc 8 - 12 giờ, chiếm 60 - 70 % số gà đẻ trứng trong ngày

Trang 27

- Cường độ đẻ trứng: liên quan mật thiết với sản lượng trứng Cường độ

đẻ trứng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại

- Chu kỳ đẻ trứng: được tính từ khi gà đẻ quả trứng đầu tiên đến khi

ngừng đẻ và thay lông Chu kỳ đẻ trứng liên quan tới vụ nở gia cầm non bắt đầu và kết thúc ở các tháng khác nhau Ở gà, chu kỳ đẻ trứng thường là 1 năm Nó có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng

- Thay lông: gia cầm nghỉ đẻ và thay lông sau mỗi chu kỳ đẻ trứng Ở

điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là thời điểm quan trọng để đánh giá khả năng đẻ của chúng Những con thay lông sớm và kéo dài (thường kéo dài tới 4 tháng) thường đẻ kém Ngược lại, nhiều con thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng Đặc biệt là đàn gà cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ 4 - 5 tuần và đẻ lại ngay khi chưa hình thành bộ lông mới, có con

đẻ ngay trong thời gian thay lông Ở gà, khi thay lông cánh, gà thường ngừng

đẻ nhưng nó vẫn có khả năng đẻ khi thay lông ở các bộ phận khác Những cá thể thay lông cánh chính nhanh có khả năng đẻ trứng cao

- Tính ấp bóng: con người đã sử dụng nhiều biện pháp KHKT để hạn

chế bản năng ấp bóng của gia cầm nhưng vẫn chưa xóa được bản tính tự

nhiên này Cá thể có bản năng ấp bóng kéo dài thì sản lượng trứng giảm

2.1.7 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ

Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ được xác định trên nhu cầu duy trì, nhu cầu sinh trưởng đối với gà giai đoạn đầu đẻ, nhu cầu sản xuất trứng

- Nhu cầu năng lượng: gà đẻ sử dụng năng lượng của TĂ vào việc duy

trì cơ thể, tạo trứng, sinh trưởng ở thời kỳ đầu và tích lũy mỡ Sản lượng trứng càng cao thì nhu cầu năng lượng càng lớn Năng lượng trong khẩu phần

ăn quá cao thường gây các rối loạn trao đổi năng lượng, gan nhiễm mỡ, giảm năng suất trứng 30 - 40 %

Trang 28

- Nhu cầu protein: gà đẻ có nhu cầu protein và một số axit amin khá

cao Gà sử dụng protein để duy trì cơ thể, thay cũ đổi mới các tế bào và tạo protit cho trứng Protein là thành phần cấu trúc quan trọng nhất đối với cơ thể Tất cả những biểu hiện của sự sống đều gắn liền với protein mà không có một loại vật chất nào thay thế được Do cơ thể động vật không tạo ra protein từ gluxit và lipit nên phải lấy đều đặn từ TĂ với số lượng đầy đủ theo tỷ lệ hợp

lý Để duy trì sự sống, cứ 1 kg thể trọng cần 3 g protein/ngày và tạo 100 g trứng cần 28 g protein vì trong 100 g trứng có 11,2 g protein, mà hiệu suất sử dụng protein trong TĂ để tạo trứng là khoảng 40 % Nhu cầu protein cũng thay đổi theo tuổi và sức đề kháng của gia cầm Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [20], thì axit amin là thành phần chủ yếu của cơ thể, giữ một vai trò quan trọng trong chăn nuôi

- Nhu cầu khoáng: ở gà mái đẻ, phần lớn canxi trong TĂ được sử dụng

để tạo thành vỏ trứng Vì thế, nếu trong TĂ thiếu canxi thì gà có thể ngừng đẻ trứng hoàn toàn Cứ 1 quả trứng cần 2 g canxi nên yêu cầu hàm lượng khoáng trong khẩu phần ăn gà đẻ là 3,5 % Gà thiếu canxi sẽ đẻ trứng vỏ mỏng hay trứng không vỏ Ngoài ra, gà đẻ còn có nhu cầu về các nguyên tố khoáng đa

vi lượng như: P, Mn, Zn, Cu, Co, I,…các nguyên tố này yêu cầu với số lượng

ít nhưng cũng tham gia cấu tạo vỏ, làm bền vững trứng, tăng tỷ lệ có phôi và

tỷ lệ ấp nở

- Nhu cầu nước: nước trong cơ thể vừa là dung môi vừa là phương tiện

vận chuyển các chất dinh dưỡng Cơ thể gà mái có tới 60 % là nước Trong

trứng, hàm lượng nước là 66 % Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) , thì gà tiêu thụ lượng nước gấp 2 - 3 lần so với lượng TĂ hàng ngày

- Nhu cầu vitamin: vitamin tham gia hầu hết các phản ứng sinh hóa học

trong cơ thể Gà đẻ rất nhạy cảm với sự thiếu hụt vitamin Thậm trí thiếu hụt một ít cũng làm giảm sức sản xuất của gà Vitamin ảnh hưởng tới quá trình

trao đổi protein, hydratcacbon, khoáng

Trang 29

Trong chăn nuôi, vitamin đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Các vitamin A, D, E, C, K, B có vai trò

quan trọng đối với gà sinh sản

2.1.8 Giới thiệu về giống gà thí nghiệm

- Nguồn gốc: Isa Shaver là giống gà chuyên trứng trong giống gà Isa

Thông qua chọn lọc Isa Shaver đã trở thành một trong những giông gà có năng suất trứng cao hiện nay Công ty Japfa Comfeed đang cung cấp giống gà chuyên trứng này với tên thương phẩm là Japfa Brown

- Đặc điểm ngoại hình: Isa Shaver có màu lông cánh gián sẫm, dáng

thanh tú, đầu nhỏ, mào cờ, mắt sáng, tinh nhanh, cổ dài thanh; ngực lép, bụng bầu; bộ lông ép sát vào thân, lông đuôi dài, xòe rộng; chân cao, khô; thần kinh linh hoạt

+ Tiêu thụ thức ăn: 120g/con/ngày

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Sau 20 năm đổi mới, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng

có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất 1.701 tỷ đồng năm 1986 tăng lên 3.712,8 năm 2002; đến năm 2006 đạt 9.244,3 tỷ đồng chiếm 19 % trong chăn nuôi Tổng đàn gia cầm năm 1986 có 99,9 triệu con đến năm 2003 đạt 254 triệu con

Ngày đăng: 28/05/2021, 08:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm