Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD,… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà.. Cơ s
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Điều kiện cơ sở thực tập
Chí Linh là một thị xã ở phía Đông Bắc tỉnh Hải Dương, nằm giữa miền rừng núi phía Đông Bắc Bộ và miền đồng bằng châu thổ sông Hồng
- Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang;
- Phía Tây giáp tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Đông giáp huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh;
- Phía Nam giáp các huyện: Nam Sách, Kinh Môn
Chí Linh có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế Có nhiều đường giao thông quan trọng chạy qua: quốc lộ 18 là đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long, chạy qua địa bàn huyện 20 km; quốc lộ 37 nối Chí Linh với thành phố Hải Dương và quốc lộ 5 nối Chí Linh với thành phố Hải Phòng; cũng là đường vành đai chiến lược quốc gia từ trung tâm thị xã đi Bắc Giang Đường thuỷ, thị xã có 40 km đường sông với 3 con sông bao bọc là sông Kinh Thầy, sông Thương, sông Đồng Mai
Những đặc điểm riêng về địa lý đã tạo cho Chí Linh có vị trí chiến lược quân sự, kinh tế quan trọng
Hiện nay Chí Linh với tổng diện tích đất tự nhiên là 28.189,78 ha bao gồm cả đất đồi núi và đồng bằng phù sa
Chí Linh đã có điều kiện tự nhiên thuận lợi có nhiều khả năng để phát triển kinh tế rừng Rừng Chí Linh có nhiều loại gỗ quý như: lát hoa, lim, sến, táu, giổi, thông Đặc biệt Chí Linh còn là nơi có rất nhiều di tích lịch sử, danh thắng nổi tiếng của tỉnh
Chí Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt, mùa khô hanh lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Nhiệt độ trung bình năm 23°C; tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 và tháng 2 (khoảng 10-12°C); tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6 và tháng 7 (khoảng 37-38°C) Lượng mưa trung bình hàng năm 1.463 mm, độ ẩm tương đối trung bình là 81,6% Đặc điểm của địa hình, địa mạo nên khí hậu Chí Linh được chia làm 2 vùng:
+ Khí hậu vùng đồng bằng phía nam mang đặc điểm khí hậu như các vùng đồng bằng trong tỉnh
+ Khí hậu vùng bán sơn địa chiếm diện tích phần lớn trong vùng, do vị trí địa lí và địa hình phân hoá nên mùa đông ở đây lạnh hơn vùng khí hậu đồng bằng
2.1.2 Cơ sở vật chất, hạ tầng của trại
Với sự đầu tư cơ sở vật chất hiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi và giảm sức lao động trang trại đã có những đầu tư về cơ sở vật chất như sau:
- Trại gà Mạnh Hùng được xây dựng trên một gò đất cao cách xa khu dân cư và được đưa vào hoạt động năm 2016 Trang trại được xây dựng và thiết kế khá hiện đại, xung quanh có tường rào bao quanh và có hệ thống camera theo dõi bảo vệ Sân trại và đường đi giữa các dãy chuồng đều được bê tông hóa
- Hệ thống bảo vệ xây tường rào bao quanh
- Hệ thống máng ăn được lắp đặt và sử dụng thủ công, hệ thống máng uống tự động, mỗi trại gồm 3 đường thức ăn và 2 đường nước uống tự động, nền trại cán bê tông và mái được lợp bằng tôn xốp cách nhiệt
- Có 1 kho thức ăn, 1 máy phát điện dự phòng, mỗi chuồng 4 quạt thông gió và mỗi trại có 1 lò than được thiết kế bên ngoài chuồng, 1 lò gồm có 3 bếp nhỏ
- Trong mỗi chuồng có 2 nhiệt kế và các cảm biến nhiệt để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi
- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan
- Hệ thống điện: Trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện
- Tổng diện tích chuồng trại là 2200 m ² gồm 2 dãy chuồng, có chiều dài 50m, chiều rộng 27m, cao 2,5m Mỗi chuồng nuôi được 5000 con gà
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại
+ Trại được xây dựng trên một gò đất cao cách xa khu dân cư, không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân xung quanh
+ Trại mới đầu tư trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi bán chăn thả hiện nay
+ Đội ngũ quản lý, chủ trại có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
+ Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại tạo điều kiện cho sinh viên chỗ ăn, chỗ ở và sinh hoạt cùng gia đình chủ trại
+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp nhiều khó khăn
+ Khi mô hình chăn nuôi gà thả vườn phát triển mạnh mẽ và trở thành một nghề chuyên nghiệp với quy mô, số lượng ngày một lớn cũng là lúc các loại dịch bệnh ngày càng phức tạp, khó lường hơn.
Tổng quan tài liệu
Sinh trưởng là một đặc trưng cơ bản và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [14], đã đưa ra khái niệm: sinh trưởng của cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác Trần Đình Miên (1992) [7], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do quá trình đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
2.2.2.1 Những chỉ tiêu sản xuất của gà thịt
- Tỷ lệ nuôi sống: Là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Chỉ tiêu này không những là thước đo việc thực hiện qui trình chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng mà còn đánh giá sức sống, sức sản xuất và khả năng thích nghi của mỗi dòng, giống gia cầm trong chăn nuôi
+ Sinh trưởng tuyệt đối: Là hiệu số của khối lượng cơ thể cuối kỳ và khối lượng cơ thể đầu kỳ chia cho thời gian giữa hai kỳ cân Đồ thị sinh tuyệt đối có hình parabol
+ Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol, gà còn non thì sẽ có sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi
+ Sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (thường xác định theo tuần tuổi) Cân vào các thời điểm 1 ngày tuổi, cân hàng tuần từ 1 tuần tuổi cho đến khi kết thúc thí nghiệm Cân vào một ngày, giờ nhất định trước khi cho ăn, cân từng con một Đồ thị sinh trưởng tích lũy có hình chữ S
- Tiêu thụ thức ăn: Lượng thức ăn thu nhận là một chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm theo phương thức nuôi công nghiệp, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thành phần các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của mỗi loại gia cầm, chất lượng giống, mùa vụ Thông qua chỉ tiêu này, có thể đánh giá được tình trạng sức khỏe của đàn gia cầm, chất lượng thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc Dựa vào lượng thức ăn thu nhận và năng suất của mỗi đàn gia cầm, người ta tính được tiêu tốn và chi phí thức ăn cho một đơn vị sản phẩm chăn nuôi (FCR) Vì vậy, lượng thức ăn thu nhận có một ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu cũng như trong sản xuất của ngành chăn nuôi gia cầm
- Hệ số chuyển hóa thức ăn: Thức ăn chiếm đến 70% trong tổng giá thành sản phẩm chăn nuôi Chi phí thức ăn để sản xuất 1kg thịt là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi gia cầm lấy thịt Hiện nay ở các nước tiên tiến, người ta thường giết thịt gia cầm ở độ tuổi từ 35 - 60 ngày tuỳ theo các giống khác nhau
- Thành phần và tỷ lệ cấu thành thân thịt gà khi giết mổ:
+ Tỷ lệ thân thịt (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thân thịt và khối lượng sống
+ Tỷ lệ thịt lườn: Là tỉ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt lườn với khối lượng thân thịt Tách thịt lườn bằng cách: rạch một lát cắt dọc theo xương lưỡi hái đến xương ngực, cắt tiếp từ xương đòn đến vai Bỏ da ngực, tách cơ ngực nông và cơ ngực sâu bên trái, bỏ xương, cân
+ Tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt đùi, thịt ngực với khối lượng thân thịt
+ Tỷ lệ mỡ bụng (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối lượng sống hoặc là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối lượng thân thịt
- Chỉ số sản xuất (Economic number - EN): EN càng cao thể hiện hiệu quả kinh tế càng lớn
- Chỉ số sản xuất (Performance index - PI): Chỉ số sản xuất là một đại lượng biểu thị mối quan hệ tổng hợp giữa khối lượng cơ thể, tỷ lệ nuôi sống, FCR và thời gian nuôi
2.2.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm
- Ảnh hưởng của dòng giống
Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [14] thì nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ
- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông
Theo (Brandsch A.và Bichel H 1978) [1] tốc độ mọc lông có liên đến chất lượng chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thường sinh trưởng và phát triển nhanh và có chất lượng thịt tốt hơn Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính của gia cầm
Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể còn do yếu tố tính biệt quy định, trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái
Theo Phùng Đức Tiến (1997) [8], đã xác định biến dị di truyền về tốc độ mọc lông phụ thuộc vào giới tính của gia cầm
Theo Siegel và Dumington (1978) [15] thì những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao Trong cùng một dòng gà mọc lông nhanh thì gà mái mọc lông nhanh hơn gà trống
- Ảnh hưởng của môi trường
Theo (Wesh Bunr K W, 1992 [16]) nhiệt độ cao ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gà, khi nhiệt độ môi trường cao gà sẽ sinh trưởng chậm, tỷ lệ chết cao, nhiệt độ môi trường quá cao gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp đặc biệt là vùng khí hậu nhiệt đới Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh; nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của gia cầm, đồng thời tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh
Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Sau hơn 20 năm đổi mới, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất năm 1986 là 1.701 tỷ đồng tăng lên 3.712,8 tỷ đồng năm 2002 Năm 2006, đạt 9.244,3 tỷ đồng chiếm 19% trong chăn nuôi
Tổng đàn gia cầm năm 1986 có 99,9 triệu con, đến năm 2003 đạt 254 triệu con
(gà 185 triệu con; vịt, ngan, ngỗng 69 triệu con), tốc độ tăng bình quân 7,87%/năm Trong đó số lượng đàn gà thời gian 1990 - 2003 tăng từ 80,18 triệu con lên 185 triệu con, tốc độ tăng bình quân 7,7%/năm Từ năm 2003 do ảnh hưởng của dịch cúm số lượng đầu con giảm Năm 2006 tổng đàn gia cầm đạt 214,6 triệu con Đạt được những kết quả trên, khoa học công nghệ đã có những đóng góp quan trọng như nghiên cứu thích nghi và đưa vào sản xuất các giống gà cao sản Đồng thời với việc đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp, từ năm 1995 đã tập trung nghiên cứu các giống gà chăn thả có năng suất, chất lượng cao trên phạm vi cả nước
Theo Trần Công Xuân và cs (2001) [12], khi nghiên cứu về khả năng sản xuất của gà Lương Phượng của Trung Quốc đã kết luận: dòng M1 có tuổi đẻ quả trứng đầu lúc 145 ngày tuổi, đẻ 5% lúc 160 ngày tuổi, 30% lúc 170 ngày tuổi và đạt 50% lúc 184 ngày tuổi Khối lượng trứng lúc 38 tuần tuổi đạt 55,42 gam, tỷ lệ lòng đỏ đạt 30,92%, tỷ lệ phôi đạt 94,59%, tỷ lệ nở/tổng số trứng ấp là 83,11%, tỷ lệ nở/ tổng trứng có phôi đạt 88,08%
Khi nghiên cứu về khả năng sản xuất trứng của bốn dòng gà kabir ông bà nhập nội nuôi tại trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương - Viện Chăn Nuôi đã kết luận: khả năng sinh sản khá cao, năng suất trứng đến 70 tuần tuổi mái B: 163,34 quả, mái D quần thể 177,03 quả Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng giống thấp, tương đương 2,94 và 2,97kg, khối lượng trứng trung bình 55
- 56 gam, đơn vị Haugh: 84 Tỷ lệ trứng chọn ấp là 92 - 93% Tỷ lệ trứng có phôi 92,18 - 96,02% (Theo Trần Công Xuân và cs (1991) [11]
Nghiên cứu khả năng cho thịt của con lai giữa gà Kabir với Lương Phượng Hoa, Trần Công Xuân và cs (2001) [12] cho biết: nuôi thịt đến 12 tuần tuổi gà Kabir - Lương Phượng, Lương Phượng - Kabir có tỷ lệ nuôi sống cao đạt 95 - 96%, phù hợp với điều kiện nuôi thâm canh và bán thâm canh; khối lượng cơ thể gà Kabir - Lương Phượng đạt 2350g, gà Lương Phượng - Kabir đạt 2380 g, cao hơn gà Lương Phượng 7 - 8% (gà Lương Phượng: 2195 g) Ưu thế lai so với trung bình bố mẹ tăng cao hơn 3,27 - 4,6% Gà lai có tỷ lệ thân thịt 72,3 - 72,4%, tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực đạt 41,2 - 41,3%
Nghiên cứu tính năng sản xuất của giống gà Lương Phượng hoa dòng M1, M2 nuôi tại trại thực nghiệm Liên Ninh: Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) [2] cho biết: sức sống cao qua các giai đoạn của hai dòng gà Gà con 1 - 5 tuần tuổi dòng M1 đạt 97,3 - 97,8%; dòng M2 đạt 96,3% Gà 6 - 20 tuần dòng M1 đạt 97,5%; dòng M2 đạt 96% Gà đẻ dòng M1 đạt 98,4 - 98,8 %; dòng M2 đạt 98,35% Sản lượng trứng 7 tháng đẻ dòng M1 đạt 157,1 - 167,6 quả; dòng M2 đạt 158,3 quả Thức ăn tiêu tốn cho 10 quả dòng M1 là 3 - 3,26kg; dòng M2 là
3,17 kg Khối lượng trứng lớn nhất ở tuần 38 dòng M1 đạt 55 - 55,4 gam; dòng M2 đạt 55,3 gam với đơn vị Haugh đạt 91 - 93 %, đảm bảo tỷ lệ ấp nở cao 89,7
- 90,7% và gà nở ra loại I đạt 87,1 - 88,6%
Theo Phùng Đức Tiến và cs (2007) [9] khi nghiên cứu về khả năng sản xuất của bốn dòng gà Sasso đã kết luận: Gà có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu nước ta, do vậy tỷ lệ nuôi sống đạt 95,12 - 100% Năng suất trứng/mái/11 tuần đẻ của mái X04 là 39,29 quả Năng suất trứng/mái/13 tuần đẻ của mái A01 là 55,93 quả Tỷ lệ có phôi cao 94,93%; tỷ lệ nở/tổng số trứng vào đạt 79,23%
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Hồng Mận (2001) [6] gà Ri có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên sớm 135 - 140 ngày, sản lượng trứng đạt 80 - 120 quả/mái/năm, chất lượng thịt tốt, thơm ngon đậm đà Nhưng cũng giống như những giống gà nội khác gà Ri có nhiều hạn chế về sinh trưởng cũng như sản xuất thịt
Còn Trần Long và cs (1994) [4] cho biết: gà Ri sinh trưởng chậm, nuôi từ 1 - 42 ngày tuổi khối lượng bình quân đạt 327,6g tiêu tốn thức ăn là 2,985/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nuôi sống hai tuần đầu chỉ đạt 73,8%
Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [3] cho biết, bệnh CRD có thể làm giảm tỷ lệ đẻ trứng xuống tới 30%, giảm tỷ lệ ấp nở tới 14% và giảm trọng lượng của gà thịt thương phẩm tới 16% Ngoài ra bệnh còn kết hợp với các bệnh khác như: Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm, tụ huyết trùng, bệnh do E.coli, đã gây nên những vụ dịch với tỷ lệ chết cao
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới đã và đang phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Hà Lan, Đức Theo tài liệu của FAO công bố: Năm 1997 sản lượng thịt gia cầm trên thế giới đạt trên 59 triệu tấn, tăng 3 triệu tấn so với năm 1996 Đứng đầu thế giới về sản lượng thịt gia cầm vẫn là Hoa Kỳ (25,3%) Từ năm 1994 Trung Quốc đã vượt Brazil để chiếm lĩnh vị trí thứ 2 (19,5%), có 41 nước chăn nuôi gia cầm phát triển, đảm đương sản xuất 90% sản lượng thịt gia cầm Năm 1998 có 9 nước đạt sản lượng thịt gia cầm trên 1 triệu tấn (dẫn theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [10]) Đến năm 2005, về sản lượng thịt: Mỹ đứng đầu trên thế giới 18.538.000 tấn (22,9%), thứ 2 là Nga 14.689.000 tấn (18,1%) tiếp theo đến Trung Quốc 8.895.000 tấn (11,0%), Pháp 2.272.000 tấn (2,8%), Italia 1.971.000 tấn (2,4%) và Anh 1.965.000 tấn (2,4%) tổng sản lượng thịt trên thế giới là 81.014.000 tấn Còn về sản lượng trứng: đứng đầu vẫn là nước Mỹ với 24.348.000 tấn (41,1%), sau đó đến Nga 5.330.000 tấn (9,0%), Nhật Bản 2.492.000 tấn (4,2%), Trung Quốc 2.465.000 tấn (4,2%) tổng sản lượng trứng trên thế giới là 59.233.000 tấn Để có được những sản phẩm chất lượng tốt, năng suất cao đáp ứng nhu cầu của con người cũng như đòi hỏi khắt khe của thị trường các nước, trên thế giới đã không ngừng cải tiến con giống cũng như dinh dưỡng và phương thức nuôi Mỗi nước đều có những cơ sở, trung tâm chọn lọc, lai tạo để cho ra các giống gà mới với năng suất và chất lượng cao như ở Mỹ đã tạo ra các giống gà đã được sử dụng như Plymouth, gà siêu thịt Avian, AA Ngoài ra còn rất nhiều các giống gà chuyên trứng như: Goldline 54 của Hà Lan, Leghorn của Italia, Babcock - B380 của hãng IPS (International Porltry Serices Limited) vương quốc Anh
Bên cạnh những giống gà công nghiệp chuyên thịt, chuyên trứng thì các giống gà thả vườn, kiêm dụng cũng được chú ý nghiên cứu rất nhiều, điển hình như: gà Lương Phượng của Trung Quốc đã được tạo ra sau gần 20 năm nghiên cứu, gà Tam Hoàng có nguồn gốc từ Quảng Đông Trung Quốc được tạo ra do lai giữa gà Thạch Kỳ với một số giống gà Kabir, Discau
Với việc đưa các giống gà siêu thịt như: Hybro (Hv 85 - Hà lan), AA (Abor Acres, Mỹ) Avian (Mỹ), Lohman meat (Đức)…các giống hướng trứng như: Goldline 54 (Hà Lan), Leghorn (Italia)…giống gà kiêm dụng: Tam Hoàng, Lương Phượng (Trung Quốc), Sasso (Pháp), Kabir (Israel)…vào nuôi thâm canh đã đưa năng suất chăn nuôi lên rất cao, song các giống gà trên chỉ thích nghi trong một số điều kiện nhất định của môi trường Sau những thành công về chăn nuôi công nghiệp ở trình độ cao, từ năm 1980 trở lại đây một số nước như: Nhật Bản, Pháp, Israel…có xu hướng thay đổi phương thức chăn nuôi để sản phẩm gia cầm có mùi vị thơm ngon hơn Việc lai tạo các giống gà với nhau cũng được thúc đẩy mạnh mẽ nhằm giữ lại các đặc điểm quý, cải thiện những tính trạng còn hạn chế và dần hình thành một số giống mới có khả năng sản xuất tốt, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của con người
Theo Winkler G và Weinberg M D (2002) [17] cho biết, các nhà vi trùng học đã phân loại hơn 170 nhóm huyết thanh E.coli khác nhau Trong mỗi một nhóm có 1 hay nhiều serotype E.coli O157H7 được trung tâm giám sát dịch bệnh của Mỹ phát hiện đầu tiên vào năm 1975, sau 8 năm E.coli O157H7 mới xác định chắc chắn là nguyên nhân gây bệnh viêm ruột Đặc biệt năm
1982, một số ổ dịch ngộ độc thực phẩm bao gồm cả trường hợp bị dung huyết dạ dày, ruột Với kết quả này, người ta xác định rõ E.coli O157H7 là vi khuẩn gây dung huyết
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Đối tượng
- Đàn gà thịt nuôi tại trại Mạnh Hùng
- Giống gà: con lai F1 (trống Ri x mái Lương Phượng) nuôi bán chăn thả.
Địa điểm và thời gian thực hiện
- Địa điểm: Trại Mạnh Hùng, xã Lê Lợi, huyện Chí Linh, Hải Dương
-Thời gian thực tập: 20/05/2019 đến 20/11/2019.
Nội dung thực hiện
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại Trại Mạnh Hùng, xã Lê Lợi, huyện Chí Linh, Hải Dương
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà lông màu nuôi tại trại
- Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn gà lông màu nuôi tại trại.
Phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin)
- Cập nhật thông tin thông qua sổ sách của trại
- Trực tiếp hỏi thông tin và tự tìm hiểu qua các nguồn khác
- Trực tiếp thực hiện đầy đủ quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà
- Hằng ngày theo dõi lượng thức ăn cho gà ăn, phát hiện những bất thường trên gà bệnh, chẩn đoán và điều trị
- Hàng tuần cân gà vào sáng sớm trước khi cho ăn Trước khi cân quây và bắt ngẫu nhiên
- Theo dõi khả năng sinh trưởng của đàn gà, tính các chỉ tiêu tiêu thụ thức ăn, hệ số chuyển hóa thức ăn
- Ghi chép cụ thể, chính xác các số liệu hàng ngày của đàn gà như: lượng thức ăn, thuốc thú y, số lượng gà chết, kết quả mổ khám
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Lượng TĂ trung bình trong ngày (g) ∑ thức ăn giai đoạn (g)
∑ gà theo dõi x ∑ Số ngày theo dõi
Lượng TĂ trung bình trong tuần (g) ∑ thức ăn giai đoạn (g)
∑ gà theo dõi x ∑ số tuần theo dõi
Tiêu tốn TĂ/kg tăng khối lượng (kg) ∑ khối lượng thức ăn (kg)
∑ khối lượng gà tăng (kg)
Tỷ lệ nuôi sống (%) = Tổng số gà cuối kỳ (con) x 100
Tổng số gà đầu kỳ (con)
Tỷ lệ gà mắc bệnh (%) = Số lượng gà mắc bệnh (con) x 100
Tổng số gà theo dõi (con)
3.4.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà tại trại
* Công tác chuẩn bị trước khi nuôi gà
Chuồng nuôi được quét dọn sạch sẽ, cọ rửa bằng vòi cao áp và phun thuốc sát trùng Iodine 10 %, với nồng độ 100ml/15 lít nước; 0,3 lít dung dịch phun cho
1 m 2 Sau khi vệ sinh sát trùng, chuồng nuôi được khoá cửa, kéo rèm bạt che kín, để trống chuồng tối thiểu sau 14 ngày mới nhận gà vào nuôi
Tất cả các dụng cụ sử dụng trong chăn nuôi như: Máng ăn, máng uống, chụp sưởi, quây úm, dụng cụ chăn nuôi, đều được cọ rửa sạch sẽ và khử trùng trước khi đưa vào chuồng nuôi Đệm lót sử dụng là trấu khô, sạch được phun khử trùng trước khi đưa gà vào một ngày, độ dày của đệm lót tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết
Chuồng nuôi trước khi đem gà con vào quây úm phải đảm bảo các thông số kỹ thuật sau: Sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông Toàn bộ chuồng nuôi phải có rèm che có thể đóng mở được, có hệ thống đèn chiếu sáng và đèn sưởi, có hệ thống quạt để chống nóng
- Công tác chuẩn bị chuồng trại nuôi gà
Trước khi nhận gà vào nuôi, chuồng đã được để trống 7 - 10 ngày, chuồng được quét dọn sạch sẽ bên trong và bên ngoài, hệ thống cống rãnh thoát nước, nền chuồng, vách ngăn các tấm lưới ngăn cách giữa các lô Sau đó tiến hành phun thuốc sát trùng bằng dung dịch iodine10% với nồng độ 1:125
Bảng 3.1 Chuẩn bị điều kiện để nuôi gà
Nội dung công việc Kế hoạch Kết quả thực hiện Ghi chú
Vệ sinh chuồng và khu vực chăn nuôi
Quét chuồng rửa chuồng Phun thuốc sát trùng
Thực hiện đúng theo kế hoạch
Kiểm tra trấu Phun thuốc sát trùng lên chấu
Thực hiên đúng theo kế hoạch
Yêu cầu trấu phải khô
Vệ sinh dụng cụ chăn nuôi
Vệ sinh máng ăn, máng uống, khay nước, quây úm
Thực hiện theo đúng kế hoạch
Rửa sạch bằng nước rồi nhúng vào dung dịch khử trùng
Kiểm tra hệ thống điện nước, chuồng úm
Kiểm tra lại toàn bộ hệ thống điện, chuồng úm phục phụ cho sản xuất
Thực hiện kiểm tra hệ thống dây điện, bóng điện, quạt thông gió, đường dẫn nước của trại Chuẩn bị 3 lò úm than Úm gà phải treo ngang bụng, chiều cao 1 - 1,2m để chếch hướng 45 o để nhiệt tỏa đều
Kiểm tra thức ăn Kiểm tra chất lượng và số lượng thức ăn
Thưc hiện đúng theo kế hoạch
Thức ăn chất lượng tốt
Khâu chuẩn bị trước lúc đưa gà về 1 h
Bật đèn sưởi trước lúc gà về 1h Chuẩn bị nước uống cho gà (nước pha Gluco K -
Thực hiện theo đúng kế hoạch
Mục đích của việc vệ sinh chuồng trại, khu vực chăn nuôi và chuẩn bị điều kiện nuôi gà là để phòng ngừa dịch bệnh do vi trùng, siêu vi trùng và ký sinh trùng gây ra Tạo điều kiện tốt nhất để đón đàn gà con về nuôi, vậy nên khâu này cần được quan tâm hàng đầu, có như vậy mới đảm bảo được sức khỏe cho đàn gà vì mọi mầm mống bệnh tật đều được ngăn chặn từ ban đầu
- Giai đoạn úm gà con: trước khi nhập gà ta phải pha nước uống cho gà
Nước uống phải sạch và pha Gluco K - C, thắp bóng đèn chụp sưởi sao cho nhiệt độ trong chuồng ấm trước khi thả gà vào 1 tiếng Khi nhập gà về chúng em tiến hành cân khối lượng, ghi chép lại sau đó cho gà con vào ô úm và thả gà vào gần các máng đã đổ nước trước để gà tập uống, sau 3 giờ thì tiến hành cho ăn thức ăn hỗn hợp dạng mảnh giai đoạn cho gà từ 1 đến 30 ngày tuổi Giai đoạn này yếu tố nhiệt độ rất quan trọng, nhiệt độ trong ô úm đảm bảo
35 - 36 0 C, sau một tuần tuổi nhiệt độ chuồng nuôi giảm dần theo ngày tuổi và khi gà lớn nhiệt độ của chuồng đạt 23 - 27 0 C
Thường xuyên theo dõi đàn gà để điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp với sự phát triển của gà
Bảng 3.2 Nhiệt độ chuồng gà Ngày tuổi
Chế độ chiếu sáng là yếu tố quan trọng trong thời gian úm vì gà con đang ở trong điều kiện tối ưu nếu không đảm bảo nhiệt độ sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đần gà sau này
Bảng 3.3 Thời gian chiếu sáng cho gà
Bắt buộc dùng ánh sáng vàng để chiếu sáng
Bảng 3.4 Chương trình thức ăn
Số gà được cho ăn
29 - 75 SUN 212S 4806 Ở mỗi giai đoạn khác nhau nhu cầu đáp ứng dinh dưỡng của gà cũng khác nhau.Thành phần dinh dưỡng thức ăn của công ty Sun Tech thể hiện rõ ở bảng 3.5
Bảng 3.5 Thành phần giá trị dinh dưỡng
Thành phần Đơn vị tính
Năng lượng trao đổi (ME) Kcal/kg 2950 3100 3100
Xơ thô (CF) (max) % 5,0 5,0 5,0 Độ ẩm (Max) % 14,0 14,0 14,0
Thành phần giá trị dinh dưỡng của mỗi loại cám thích hợp với từng giai đoạn phát triển của gà.
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Kết quả thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà thịt tại cơ sở thực tập
Trong thời gian 6 tháng thực tập tại cơ sở em được phân công trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà nuôi thịt tại trại với số lượng là 5000 con Kết quả thực hiện công việc được thực hiện qua các nội dung sau
4.1.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thịt tại trại
Trong quá trình thực hiện quy trình, em luôn ghi chép cụ thể diễn biến hàng ngày của đàn gà do mình phụ trách Kết quả theo dõi về tỷ lệ nuôi sống của đàn gà trong quá trình thực hiện quy trình được thể hiện ở bảng 4.1:
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các giai đoạn
Số lượng gà đầu kỳ (con)
Số lượng gà cuối kỳ (con)
Tỷ lệ nuôi sống Giai đoạn tuổi
Tỷ lệ nuôi sống của gà lông màu nuôi tại trại từ giai đoạn 1 - 75 ngày tuổi đạt tỷ lệ cao 96,04%
Trong đó tỷ lệ nuôi sống thấp nhất là giai đoạn từ 1 - 14 ngày tuổi là 97,96% một số nguyên nhân chính là do phát sinh dịch bệnh xảy ra, tiếp đến từ 15 - 28 ngày tuổi là 98,55%, từ 29 - 56 ngày tuổi là 99,56% và cao nhất từ
57 - 75 ngày tuổi đạt tỷ lệ 99,92% Để đạt được kết quả trên là do chủ trại đã có nhiều năm kinh nghiệm trong chăn nuôi gà, kết hợp khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi cùng với sự đầu tư về máy móc thiết bị chăn nuôi hiện đại đã tạo điều kiện môi trường thuận lợi nhất cho sự phát triển của gà
4.1.2 Khả năng tiêu thụ thức ăn Để đánh giá được khả năng tiêu thụ thức ăn cho đàn gà em tiến hành theo dõi bắt đầu từ 1 ngày tuổi cho đến 75 ngày tuổi Kết quả được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Khả năng tiêu thụ thức ăn (tính chung trống, mái)
Lượng thức ăn tiêu tốn (kg)
Lượng thức ăn thu nhận trong tuần (g/con/tuần)
Lượng thức ăn thu nhận trong ngày (g/con/ngày)
Khả năng thu nhận thức ăn của gà tăng dần qua các giai đoạn, phù hợp với khối lượng gà tại từng thời điểm Ở giai đoạn thứ nhất từ 1 - 14 ngày tuổi khả năng thu nhận thức ăn của gà là 15,16 (g/con/ngày) tăng lên 78,67
(g/con/ngày) ở giai đoạn 57 - 75 ngày tuổi
Giai đoạn 1 lượng tiêu thụ thức ăn còn thấp là do gà con có khả năng nhận và hấp thụ thức ăn ít nên giai đoạn này cần chia làm nhiều bữa, cụ thể chia thành 5 bữa ăn/ ngày vào lúc 6h, 10h, 2h, 5h, 10h
Giai đoạn 2, gà tiêu thụ thức ăn tốt hơn, nên giảm lượng bữa ăn xuống 4 bữa, xuống 3 và cuối cùng là 2 bữa/ngày, trong giai đoạn này khả năng tăng trọng cũng như tiêu tốn thức ăn tăng nhanh, nên cần cung cấp đủ thức ăn cho gà trong thời kì này
Giai đoạn 4 gà tiêu thụ thức ăn tốt nhất, cho gà ăn đến đủ khối lượng cần đạt được rồi kìm hãm sự tăng trưởng của gà đến khi xuất bán Giai đoạn này rất quan trọng vì nó thể hiện giá thành của gà khi xuất bán
4.1.3 Sinh trưởng tích lũy của gà thịt qua các ngày tuổi
Khả năng sinh trưởng của gà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, thức ăn, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu và khả năng thích nghi với môi trường Em đã tiến hành theo dõi diễn biến khối lượng của gà theo từng giai đoạn tuổi, tiến hành cân gà từ khi bắt đầu nuôi gà cho đến 12 tuần tuổi và kết quả được thể hiện ở bảng 4.3
Bảng 4.3 Sinh trưởng tích lũy (g/con) Ngày tuổi (ngày)
Từ kết quả thu được cho thấy từ giai đoạn gà mới nở đến 75 ngày tuổi tuổi tính chung khối lượng cơ thể của gà đạt 1801g/con
Khối lượng gà qua các ngày tuổi 14, 28, 56, 75, lần lượt là 237,46; 572,65; 1171,19; 1801,87g/con
Việc khối lượng gà sinh trưởng ổn định qua các tuần tuổi cũng cho thấy tốc độ sinh trưởng tích lũy của gà tuân theo quy luật sinh trưởng của gia cầm Quy trình chăm sóc tốt, hạn chế được những tác động xấu nhất từ ngoại cảnh, giống đảm bảo tiêu chuẩn, thức ăn đảm bảo chất lượng và việc điều trị sớm đạt kết quả tốt đã giúp cho đàn gà sinh trưởng đều và khỏe mạnh
Bảng 4.4 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà có sự biến động tăng dần theo ngày tuổi cụ thể 1 - 14, 15 - 28, 29 - 56, 57 - 75 ngày tuổi có chỉ số tiêu tốn thức ăn lần lượt là 0,894; 1,122; 1,670; 1,873kg thể trọng và trung bình để gà đạt được trọng lượng 1,860kg thì tiêu tốn thức ăn là 5,559kg thức ăn, tức là gà ăn 3kg thức ăn thì đạt 1kg thể trọng
Từ số liệu trên cho thấy khi nuôi gà ri lai thương phẩm nên xuất bán sớm khi khối lượng, chất lượng được thị trường chấp nhận, càng xuất bán sớm sẽ càng đưa lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh cho đàn gà thịt tại cơ sở thực tập
4.2.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh
- Thường xuyên kiểm tra gà, phát hiện, đánh dấu những gà có biểu hiện khác thường để tiếp tục theo dõi và xử lý kịp thời
- Kiểm tra và sửa chữa lại máng ăn bị hỏng, thay rèm che, bóng điện hỏng
- Quét dọn kho để trấu, kho thức ăn, đóng vôi và vận chuyển thức ăn từ kho đến các trại
- Phun thuốc sát trùng, rắc vôi 1 lần/tuần trong chuồng nuôi và khu vực chăn nuôi, đường đi lại Quét mạng nhện 1 lần/tuần
- Quét dọn khu vực chuồng nuôi 2 lần/tuần thường được thực hiện vào sáng vào sáng và chiều khi đã cho gà ăn xong
Kết quả cụ thể được tổng hợp tại bảng 4.5
Bảng 4.5 Kết quả công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại
Nội dung công việc Lần/tuần
Quét dọn quanh khu vực 1 25 25 100
Rắc men sống khử mùi 1 25 25 100
Vệ sinh máng ăn, máng uống 10 300 300 100
Công việc vệ sinh sát trùng của trại được thực hiện theo yêu cầu của trại là phun sát trùng, quét mạng nhện 1 lần/tuần Rắc vôi, rắc men sống khử trùng
1 lần/tuần, quét dọn xung quanh khu vực chuồng nuôi Qua quá trình làm e đã nắm được quá trình vệ sinh sát trùng trong chăn nuôi như thế nào là hợp lý
4.2.2 Công tác phòng bệnh bằng thuốc
Trong chăn nuôi gà, khâu phòng bệnh là vô cùng quan trọng và cần thiết Để đảm bảo cho đàn gà luôn khỏe mạnh chúng em tiến hành phòng bệnh cho đàn gà bằng một số loại thuốc ở từng giai đoạn tuổi Kết quả thực hiện được trình bày ở bảng 4.6
Bảng 4.6 Kết quả công tác phòng bệnh bằng thuốc cho đàn gà thịt tại trại
Ngày tuổi Loại thuốc sử dụng
Liều lượng và Cách dùng
Số gà dùng thuốc (con)
Amox coli Điện giải Gluco- K- C Men tiêu hóa
1g/1 lít nước Cho uống 1g/10 lít nước Cho uống
1g/20 – 30kg thể trọng Cho uống
1g/20 – 30kg thể trọng Cho uống
Kết quả phòng bệnh bằng thuốc cho đàn gà của trại từ 1 đến 48 ngày tuổi luôn luôn được thực hiện và đúng quy trình, số gà được phòng bệnh đạt tỷ lệ 100% của trại
4.2.3 Công tác phòng bệnh bằng vaccine
Trại Anh Mạnh Hùng đã thực hiện lịch tiêm phòng cho gà đối với các bệnh
Newcatsle, Gumboro, Viêm thanh khí quản truyền nhiễm… Là những bệnh thường mắc và nguy hiểm đối với gà Nên em đã tiến hành tiêm các vaccine sau:
Bảng 4.7 Kết quả phòng bệnh cho gà bằng vaccine
Tên vaccine Bệnh được phòng Số lượng gà (con)
Kết quả an toàn (con)
3 Liva - Cox - Phòng cầu trùng 4982 4982 100
- Viêm phế quản truyền nhiễm
11 Pox - Ceo - Phòng bệnh đậu 4923 4923 100
- Viêm phế quản truyền nhiễm
Quá trình tiêm phòng các bệnh Newcastle và viêm phế quản truyền nhiễm, Gumboro đạt hiệu quả phòng bệnh cao với tỷ lệ 100%, đã tạo miễn dịch cho toàn đoàn gà
4.2.4 Tình hình mắc bệnh của đàn gà
Trong thời gian chăm sóc nuôi dưỡng, hàng ngày em đã theo dõi tình hình sức khỏe của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời Trong thời gian thực tập tại cơ sở, em đã gặp và trực tiếp điều trị một số bệnh như sau:
- Nguyên nhân: Do vi khuẩn Salmonella gallinarum gây ra Salmonella là vi khuẩn bắt màu gram âm Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi của gà
- Triệu chứng: Tại thời điểm gà 15 - 28 ngày tuổi, phát hiện đàn gà có con mào yếm nhợt nhạt, tiêu chảy thường xuyên, phân màu xanh lục Một số gà có bụng trướng to Qua chẩn đoán của bản thân và ý kiến kết luận của quản lý phụ trách, xác định gà bị mắc bệnh thương hàn và đã tiến hành điều trị toàn đàn bằng thuốc Ampicol
- Điều trị: Ampicol, liều 1g/2lít nước uống, liên tục 4 - 6 ngày
- Bệnh cầu trùng ở gà do kí sinh trùng chủng Eimeria gây ra Có tới gần
9 loại kí sinh trùng dạng này, tuy nhiên Eimeria Tenella, Eimeria Acervulina, Eimeria Maxima là 3 loại ký sinh nguy hiểm nhất, gây bệnh ở manh tràng, ruột non và không tràng, chúng phá vỡ mạch máu gây tình trạng xuất huyết nặng ở gà
- Triệu chứng: Bệnh thể hiện rõ hậu quả của quá trình phá huỷ niêm mạc đường tiêu hoá của cầu trùng Gà bị bệnh thường lờ đờ, chậm chạp, ăn kém hoặc bỏ ăn, lông xù, cánh xã, phân loãng lẫn máu tươi, khát nước, uống nhiều nước, dễ chết do mất nước và mất máu Đặc trưng nhất là phân lẫn máu tươi hoặc màu bã trầu
- Bệnh tích: Điển hình của bệnh là xuất huyết và hoại tử niêm mạc ruột (thành ruột có nhiều tụ điểm xuất huyết) Nếu do E tenella ký sinh, manh tràng sưng rất to, bên ngoài có màu nâu đen hoặc đen, cắt ra thấy xoang manh tràng chứa đầy cục máu hoặc trong chất chứa có lẫn cục máu màu nâu, niêm mạc manh tràng dày lên, hoại tử
- Điều trị: Diclacox 2.5%, liều 1ml/2 lít nước cho uống liên tục 4 - 6 ngày kết hợp vitamin K liều 1g/1lít nước
- Nguyên nhân: Do Mycoplasma gallisepticum gây ra
- Triệu chứng: Tại thời điểm gà 29 - 56 ngày tuổi, em đã kiểm tra và phát hiện những vấn đề không bình thường ở đàn gà như thở khò khè, chảy nước mũi, ăn ít, gà gầy ốm Qua chẩn đoán của bản thân và ý kiến kết luận của quản lý phụ trách, kết luận gà bị mắc bệnh CRD và đã tiến hành điều trị toàn đàn bằng thuốc Doxy 50% Với những gà bị bệnh nặng, em tách riêng và điều trị cá thể
- Điều trị: Doxy 50%, liều 1g/3lít nước, uống liên tục 4 - 5 ngày
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở đàn gà tại trại
Số gà theo dõi (con)
Số gà có triệu chứng bệnh (con)
Trong quá trình thực tập tại trại, đàn gia cầm thường mắc một số bệnh như: bệnh thương hàn gà có 570/5000 con theo dõi, tỷ lệ mắc là 11,40%; bệnh cầu trùng có 610/5000 con theo dõi, tỷ lệ mắc là 12,20%; bệnh CRD có 200/5000 con theo dõi, tỷ lệ mắc là 4,00% Qua theo dõi thấy gà mắc bệnh thường do thời tiết bất lợi như lạnh quá và mưa phùn quá lâu, do khâu vệ sinh sát trùng chuồng trại của trại vẫn còn yếu kém chưa đạt hiệu quả, một phần do chất lượng con giống chưa đảm bảo dẫn đến bệnh thương hàn ở gà Những con xuất hiện triệu trứng của bệnh tiến hành nhặt ra một ô riêng để chẩn đoán và điều trị Khi gà mắc bệnh, tiến hành điều trị và thực hiện các biên pháp hạn chế sự ảnh hưởng của thời tiết như lắp đèn sưởi khi thời tiết lạnh, che chắn chuồng khi mưa và gió… để hạn chế thấp nhất những thiệt hại trong chăn nuôi gà
4.2.5 Kết quả điều trị bệnh cho đàn gà tại cơ sở
Chúng em đã tiến hành điều trị cho gà mắc bệnh và kết quả được trình bày ở bảng 4.9
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn gà
Tên bệnh Thuốc điều trị
Số gà điều trị (con)
Thương hàn Ampicol Pha 1g/2 lít nước cho uống 4971 4890 98,37
Pha1ml/3 lít nước cho uống 4876 4830 99,06
Bệnh CRD Doxy 50% Pha 1g/3 lít nước cho uống liên tục 4821 4815 99,88
Trong quá trình trị bệnh cần sử dụng đúng loại kháng sinh để đạt hiệu quả điều trị cao nhất, tăng tỷ lệ sống cho vật nuôi cũng như tránh những ảnh hưởng của tồn dư thuốc kháng sinh ảnh hưởng đến người tiêu dùng nên trại sử dụng thuốc Ampicol điều trị bệnh Thương hàn với liều lượng 1g/2lít nước uống liên tục
4 - 6 ngày, số gà khỏi là 4890/4971 số gà điều trị, tỷ lệ khỏi là 98,37%
Dùng Diclacox 2,5% điều trị bệnh bệnh cầu trùng liều 1g/3 lít nước, uống liên tục 4 - 6 ngày, số gà khỏi là 4830/4876 con, tỷ lệ khỏi là 99,06%
Dùng Doxy 50% điều trị bệnh CRD liều 1g/3lít nước, uống liên tục
4 - 6 ngày số gà khỏi 4815/4821, tỷ lệ khỏi là 99,88%.
Công tác khác
Ngoài công tác chăm sóc trực tiếp nuôi dưỡng gà, em còn tham gia một số công tác khác như: Phát quang cỏ, vệ sinh xung quanh trại, vận chuyển, lắp đặt các thiết bị như quạt, bóng đèn, dàn mát … Ngoài ra em còn tham gia một số công việc như sau
- Hỗ trợ công ty SVT Thái Dương:
+ Hỗ trợ duy trì các đại lý cũ, phát triển đại lý mới
+Triển khai các chương trình đãi ngộ tới các đại lý trong khu vực +Hỗ trợ kê đơn hàng, báo đơn hàng của các đại lý về công ty
+ Hỗ trợ giao hàng cho các đại lý
- Hỗ trợ thị trường các đại lý thuốc thú y:
+ Đại lý thuốc thú y Mạnh Hùng
+ Đại lý thuốc thú y Hải Quế
+ Đại lý thuốc thú y Kiên Lệ
+ Hỗ trợ vào trại bán hàng
+ Hỗ trợ chẩn đoán, mổ khám gà, vịt
+ Hỗ trợ tiêm thuốc điều trị cho đàn gà, vịt bị bệnh
+ Hỗ trợ tổ chức hội thảo tập huấn kỹ thuật chăn nuôi
Tham gia vào các buổi họp định kì của công ty qua đó học hỏi được nhiều điều bổ ích trong ngành nghề, hiểu hơn về kinh doanh thuốc thú y, cách thức làm quen với các trang trại, cách trao đổi với đại lý, và cách kinh doanh đạt hiệu quả cao
Bảng 4.10 Những công tác khác
STT Công việc Định mức (lần)
Số lần đã thực hiện (lần)
1 Phát quang cỏ, vệ sinh chuồng trại 20 14 70
2 Hỗ trợ công ty kê đơn hàng từ đại lý 14 14 100
3 Hỗ trợ công ty giao hàng cho đại lý 5 5 100
4 Hỗ trợ đại lý làm hội thảo, kiểm tra gà, vịt bệnh 3 3 100
5 Hỗ trợ đại lý mổ khám vịt 2 2 100
6 Hỗ trợ đại lý bán hàng 32 32 100