TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN NGỌC HOÀNG MY ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CÁC TỪ CHỈ NGHỀ CÁ TẠI ĐỊA PHƯƠNG PHÚ YÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH : NG
Trang 1
NGUYỄN NGỌC HOÀNG MY
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CÁC TỪ CHỈ NGHỀ CÁ TẠI ĐỊA PHƯƠNG PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NGỌC HOÀNG MY
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CÁC TỪ CHỈ NGHỀ CÁ TẠI ĐỊA PHƯƠNG PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH : NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ : 60.22.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS.HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH
TP HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 3Trước tiên, chúng tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ Huỳnh Thị Hồng Hạnh, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tiếp theo, chúng tôi xin gởi lời cảm ơn các quý thầy cô trong khoa Ngôn ngữ học và các cộng tác viên đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành đề tài này
Cuối cùng, chúng tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, và Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa đã luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất và động viên chúng tôi hoàn thành đề tài này
Do tính chất phức tạp của vấn đề mà khả năng của người nghiên cứu thì có hạn nên sẽ không thể tránh khỏi những sai sót nhất định Rất mong nhận được sự góp ý và bổ sung của quý thầy cô
và những người quan tâm đến đề tài, để luận văn có thể đạt được kết quả tốt hơn
Xin trân trọng cảm ơn
TP Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2010
NGUYỄN NGỌC HOÀNG MY
Trang 41 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn 6
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 6
6 Bố cục của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết cơ sở 10
1.1 Giới thiệu sơ lược về Phú Yên 10
1.1.1 Vị trí địa lí 10
1.1.2 Tiềm năng thủy sản 11
1.2 Vị trí nghề cá tại Phú Yên 11
1.2.1 Đối với xã hội 11
1.2.2 Đối với kinh tế 13
1.2.3 Đối với văn hóa 15
1.2.3.1 Lễ hội cầu ngư 16
1.2.3.2 Cổ tục thờ cúng thần linh biển cả 17
1.2.3.3 Điều kiện hợp tác và chia lợi tức 18
1.2.3.4 Những điều kiêng kị trong sinh hoạt của ngư phủ 19
1.3 Khái niệm từ nghề nghiệp 21
1.4 Phân biệt từ nghề nghiệp với các lớp từ khác 24
Trang 51.4.3 Từ nghề nghiệp với thuật ngữ 28
1.4.4 Từ nghề nghiệp với từ địa phương 29
Tiểu kết 31
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của lớp từ ngữ chỉ nghề cá ở Phú Yên 33
2.1 Khái niệm từ và kết quả khảo sát lớp từ ngữ chỉ nghề cá Phú Yên 33
2.1.1 Khái niệm từ 33
2.1.2 Yếu tố tạo từ 34
2.1.3 Phương thức tạo từ 35
2.1.4 Kết quả khảo sát lớp từ ngữ chỉ nghề cá ở Phú Yên 36
2.2 Đặc điểm cấu tạo của lớp từ chỉ nghề cá ở Phú Yên 38
2.2.1 Từ đơn 38
2.2.1.1 Từ đơn là danh từ 38
2.2.1.2 Từ đơn là động từ 40
2.2.2 Từ ghép 40
2.2.2.1 Từ ghép phân nghĩa 41
2.2.2.2 Từ ghép hợp nghĩa 43
2.2.2.3 Từ ghép biệt lập 44
2.2.3 Từ láy 44
2.3 Đặc điểm cấu tạo của cụm từ chỉ nghề cá ở Phú Yên 45
2.3.1 Cụm chính phụ 46
2.3.1.1 Cụm danh từ 46
2.3.1.2 Cụm động từ 46
Trang 6Chương 3 : Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ ngữ chỉ nghề cá ở Phú Yên 48
3.1 Một số khái niệm cơ bản 48
3.1.1 Khái niệm nghĩa của từ 48
3.1.2 Các thành phần nghĩa 48
3.1.2.1 Nghĩa biểu vật 48
3.1.2.2 Nghĩa biểu niệm 48
3.1.3 Trường nghĩa 49
3.2 Ngữ nghĩa của lớp từ ngữ chỉ nghề cá 49
3.2.1 Các trường nghĩa của từ ngữ chỉ nghề cá 52
3.2.1.1.Trường nghĩa của từ ngữ chỉ phương tiện đánh bắt 52
3.2.1.2.Trường nghĩa của từ ngữ chỉ phương thức và ngư cụ 54
3.2.1.3.Trường nghĩa của từ ngữ chỉ các công đoạn đánh bắt 62
3.2.1.4.Trường nghĩa của từ ngữ chỉ người lao động, chỉ chức vụ 66
3.2.1.5.Trường nghĩa của từ ngữ chỉ sản phẩm sau khi đánh bắt 69
3.2.2 Sự chuyển nghĩa của những từ ngữ chỉ nghề cá Phú Yên 74
3.2.2.1 Màu sắc địa phương trong cách định danh 74
3.2.2.2 Sự chuyển nghĩa so với ngữ nghĩa của từ ngữ toàn dân 77
Tiểu kết 80
PHẦN KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 93
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Từ xa xưa, đánh bắt thủy sản là một trong bốn nghề quan trọng (ngư, tiều, canh, mục) của người Việt Ngày nay, nghề đánh bắt thủy sản càng có vai trò đặc biệt quan trọng hơn nữa trong nền kinh tế quốc dân
Từ “Phú Yên” thường được hiểu là “Trù phú và Yên lành” Chính đặc điểm địa hình dân cư, kinh tế và xã hội của mảnh đất này đã hội tụ cả ba yếu
tố văn hóa núi, đồng bằng và biển Nghề làm biển cũng như các nghề truyền thống khác là nghề cha truyền con nối Người làng chài thường gọi bằng nghề
đi biển, cái tên đơn giản"đi nghề", đủ thấy trong tiềm thức của người dân đã xem đây như một cái nghiệp gắn liền với cuộc mưu sinh hàng ngày Trong đó, đặc biệt nghề biển đã mang lại cho Phú Yên sự no ấm, đổi thay từng ngày
Tìm hiểu từ nghề nghiệp là công việc khá lý thú trong nghiên cứu ngôn ngữ nhưng cho đến nay vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mức Cuộc sống hiện đại đã làm cho cộng đồng xã hội ngày càng phân hóa sâu sắc, phức tạp nên các làng nghề truyền thống có khả năng mai một dần Trong khi đó các giáo trình, chuyên luận về từ vựng học chỉ đề cập đến vấn đề từ nghề nghiệp trong một phạm vi hạn hẹp thuộc phương ngữ xã hội
Từ lâu chúng tôi đã có những quan tâm nhất định đến vốn từ nghề nghiệp truyền thống của quê hương mình, đặc biệt là từ nghề nghiệp của làng
cá Có thể đây cũng là một vấn đề phức tạp và cũng rất thú vị không chỉ đối với ngành ngôn ngữ học nói chung và từ nghề nghiệp nói riêng
Từ góc độ ngôn ngữ, qua lớp từ dùng trong nghề cá ở Phú Yên, phần nào chúng ta sẽ thấy được những nét đặc trưng văn hoá về nghề truyền thống của ngư dân vùng biển Cũng như các nghề nghiệp cổ xưa khác, nghề cá cũng
Trang 8có vốn từ của riêng mình Ngoài lớp từ nghề nghiệp chung được sử dụng ở nhiều địa phương, mỗi vùng lại có những từ ngữ riêng biệt, phản ánh cách nhìn hoặc từng công đoạn làm việc của làng nghề đó Tuy nhiên, từ ngữ nghề
cá không phải là một vấn đề dễ tiếp cận, để nắm bắt thực tế cần phải tổ chức điền dã nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung này
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “ Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa các từ chỉ nghề cá tại địa phương Phú Yên” để nghiên cứu nhằm tập hợp lớp từ ngữ được sử dụng trong làng nghề cá tại Phú Yên
2 Lịch sử nghiên cứu
Trong hầu hết các giáo trình về từ vựng học, khi phân loại từ theo phạm
vi sử dụng, hầu như các tác giả đều có đề cập đến từ nghề nghiệp
Trong cuốn “ Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” ( 1978), xuất phát từ bình diện phong cách chức năng, Nguyễn Văn Tu đã xếp từ nhà nghề (từ nghề nghiệp) cùng với văn nói, từ thân mật, từ lóng,… vào loại phong cách nói của tiếng Việt
Đỗ Hữu Châu trong cuốn“ Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”( 1981), có cho rằng từ ngữ nghề nghiệp là một sáng tạo về ngôn ngữ của đại đa số nhân dân lao động Nó không chỉ cần thiết cho mọi người khi cần diễn đạt một cách chính xác và ngắn gọn về những sản phẩm, những sự kiện, những hoạt động của xã hội
Còn Nguyễn Thiện Giáp khi viết cuốn “Từ vựng học tiếng Việt”( 1996)
đã dẫn ra một nhận định chung về từ nghề nghiệp, Ông cho rằng từ nghề nghiệp là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ: “ Từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một ngành nghề nào đó trong xã hội Những từ ngữ này
Trang 9thường được những người cùng trong ngành nghề đó biết và sử dụng Những
người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết những từ ngữ nghề
nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng” [ 53; 265].Trong cuốn
sách này tác giả cũng cũng đã dẫn ra một số ví dụ thuộc các ngành nghề như:
nghề nông, nghề dệt, nghề làm nón, nghề mộc…
Trong công trình “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” (1996)
Nguyễn Như Ý và các đồng sự đã nhận định từ nghề nghiệp là “các từ, ngữ
đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người thuộc cùng một ngành nghề hoặc
cùng một lĩnh vực nào đó” [ 80; 389]
Nguyễn Văn Khang trong cuốn “ Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề
cơ bản” ( 1999), đã xem xét từ nghề nghiệp với tư cách là một phương ngữ xã
hội Tác giả cho rằng từ nghề nghiệp là “ những từ có tính chuyên môn cao
mà chỉ có người làm nghề mới có thể hiểu được Thậm chí ở trình độ chuyên
môn sâu, rất nhiều thuật ngữ mà ngay cả những người làm trong nghề ở trình
độ bình thường cũng cảm thấy khó hiểu hoặc không thể hiểu được ( nếu không được giải thích ‘đến nơi đến chốn’)” [ 33;118]
Bài viết “ Từ nghề nghiệp và cách nhận diện chúng”( 2004) của Phạm
Tất Thắng có nhận định, từ nghề nghiệp được sử dụng phổ biến hay không là
phụ thuộc vào sự hiểu biết của xã hội về ngành nghề ấy Tuy vậy sự tồn tại
hay không tồn tại của lớp từ này lại phụ thuộc vào sự sống còn của chính bản
thân nghề nghiệp đó Mà xã hội luôn luôn phát triển, các ngành nghề cũng
biến đổi không ngừng, đặc biệt trong xã hội hiện đại, sự phát triển mạnh mẽ
của nền kinh tế theo xu hướng hiện đại hóa càng làm cho các ngành nghề thủ
công truyền thống có nguy cơ bị thu hẹp Vì vậy, tìm hiểu lớp từ ngữ nghề
nghiệp không chỉ có ý nghĩa về mặt ngôn ngữ học mà còn góp phần gìn giữ
Trang 10một trong những nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng dân tộc là các làng nghề truyền thống
Tác giả Trần Thị Ngọc Lang trong cuốn “Một số vấn đề phương ngữ xã hội”( 2005), có nhắc đến kết quả nghiên cứu của hai tác giả: Hà Thị Ánh và Ngô Trung Dũng Hai tác giả này đã thu thập lớp từ ngữ nghề nghiệp của bốn ngành nghề tại thành phố Hồ Chí Minh như ( ngành cầu đường, ngành may mặc – da giày, nghề mộc, và nghề kim hoàn), lập bảng chọn ra các từ ngữ nghề nghiệp cơ bản, từ đó miêu tả các đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa và quá trình hành chức của chúng
Các tác giả Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến (1997), Nguyễn Công Đức - Nguyễn Hữu Chương ( 1998)… cũng đã có quan niệm, những nhận định riêng về lớp từ ngữ nghề nghiệp đáng chú ý
Bài viết về “ Từ nghề nghiệp trong phương ngữ Nghệ Tĩnh” của Hoàng Trọng Canh (2003) bước đầu có đề cập đến nhóm từ chỉ nghề cá trong công trình nghiên cứu
Điểm qua tình hình nghiên cứu về từ nghề nghiệp, chúng tôi nhận thấy các tác giả đều có một quan niệm chung là lớp từ nghề nghiệp được sử dụng phổ biến trong một phạm vi ngành nghề nhất định
Trên cơ sở những tiền đề trên, có thể thấy, lớp từ ngữ nghề nghiệp của các ngành nghề ở nước ta trong những năm gần đây đã thu hút được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, đặc biệt là những người nghiên cứu phương ngữ xã hội và từ vựng học nhưng cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ khái quát về đặc điểm của chúng mà chưa đi sâu tìm hiểu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa cũng như quá trình hành chức của lớp từ này Thực tế việc nghiên cứu lớp từ này không chỉ có ý nghĩa về mặt ngôn ngữ học mà còn
Trang 11giúp tìm hiểu thêm những nét văn hóa độc đáo hiện còn được bảo lưu trong các làng nghề truyền thống của nước ta
Dựa trên những thành quả đã đạt được đó, đề tài chúng tôi thực hiện việc khảo sát và phân tích một cách có hệ thống về đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa lớp từ ngữ chỉ nghề cá tại Phú Yên Phần cuối của luận văn, chúng tôi
đã thu thập các từ ngữ chỉ nghề cá tại Phú Yên và đưa vào phụ lục
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu toàn bộ lớp từ ngữ chỉ nghề cá là công việc đòi hỏi công sức của nhiều người trong một thời gian dài Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở cấu tạo và ngữ nghĩa của lớp từ ngữ chỉ nghề đánh bắt trên biển tại Phú Yên Chúng tôi đã
thực hiện việc khảo sát ở những địa bàn trọng yếu như sau:
- Nghề lưới đăng ở hai thôn chài ( Dân Phước và Vạn Phước) ở thị xã Sông Cầu
- Nghề câu, nghề mành ở làng biển thuộc xã Hòa Hiệp Trung - huyện Đông Hòa
- Nghề giã, nghề đánh bắt cá ngừ đại dương ở làng biển Phú Câu phường 6, thành phố Tuy Hòa
Đặc điểm chung của các địa bàn mà chúng tôi tiến hành điều tra là hầu hết cư dân đều làm nghề đánh bắt thủy sản, sinh sống ở ven biển Đời sống kinh tế của những cư dân này chủ yếu dựa vào những nguồn lợi từ biển
Trang 124 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
4.1 Ý nghĩa lí luận
Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu lớp từ nghề cá tại Phú Yên trên cơ sở khảo sát đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa Qua đó nêu lên những nét đặc trưng văn hóa của làng cá Phú Yên, cung cấp những thông tin quan trọng
về đời sống, sinh hoạt của một bộ phận dân cư sinh sống bằng nghề cá ven biển miền Nam Trung bộ Luận văn là tài liệu tham khảo cho những ai muốn
đi sâu vào nghiên cứu văn hóa làng biển thông qua lớp từ ngữ nghề nghiệp
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại những đóng góp như sau:
- Góp phần sưu tập và khảo sát một cách hệ thống lớp từ ngữ chỉ nghề
cá của người Việt
- Làm rõ thêm đặc điểm của lớp từ ngữ chỉ nghề cá tại Phú Yên, từ đó góp phần cho việc nghiên cứu xa hơn nữa cho lớp từ ngữ chỉ nghề cá ở các vùng miền khác
- Mở ra khả năng vận dụng những kết quả nghiên cứu này để biên soạn
từ điển từ vựng chuyên ngành hải sản
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Do yêu cầu và nhiệm vụ khoa học của đề tài đặt ra, chúng tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 13- Phương pháp điều tra điền dã: Phương pháp này được sử dụng để ghi chép các ngữ liệu điền dã, lập hồ sơ điều tra về các từ ngữ có liên quan đến nghề cá ở Phú Yên
- Phương pháp thống kê: Sau khi thu thập tất cả những ngữ liệu liên quan đến nghề cá, chúng tôi tiến hành thống kê tổng hợp, lập bảng chọn ra các từ ngữ cơ bản, phân loại theo nhóm Kết quả thống kê sẽ góp phần vào việc đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của lớp từ này Đây cũng chính là căn cứ thực tiễn giúp cho các cứ liệu khoa học có tính xác thực, tính thuyết phục cao
- Phương pháp miêu tả, phân tích ngữ nghĩa: Phương pháp này dùng để miêu tả các đặc điểm cấu trúc, phân tích ngữ nghĩa và quá trình hành chức của chúng Các từ ngữ chỉ nghề cá là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài
5.2 Nguồn ngữ liệu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi thu thập tư liệu từ các nguồn sau:
- Điều tra điền dã lớp từ ngữ chỉ nghề cá tại 3 địa điểm:
+ Làng biển tại xã Xuân Phước, Vạn Phước thuộc thị xã Sông Cầu + Làng biển tại xã Hòa Hiệp Trung thuộc huyện Đông Hòa
+ Bến cá Phường 6 tại thành phố Tuy Hòa
- Thu thập ngữ liệu trên các báo như: báo Nông - Lâm - Ngư nghiệp, tạp chí thủy sản Phú Yên, báo Phú Yên,…(từ tháng 01 năm 2005 đến tháng
12 năm 2009)
- Tra cứu trên mạng internet theo các website:
+ www.phuyen.org.vn
+ www.baophuyen.com.vn
Trang 14+ www.phuyen.info.vn
+ www.phuyen.net
- Các tài liệu ngôn ngữ học như “ Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” của
Đỗ Hữu Châu (1999), “Từ và nhận diện từ tiếng Việt” của Nguyễn Thiện
Giáp (1996), “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Văn Tu, (1976)
“ Một số vấn đề về phương ngữ xã hội” của Trần Thị Ngọc Lang ( 2005)
- Công trình nghiên cứu khoa học công nghệ thủy sản như “Kỹ thuật
khai thác cá bằng lưới vây của Thái Văn Ngạn (2001), “ Phân loại ngư cụ” của Ngô Đình Chùy ( 1994), và nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến
nghề cá được dịch từ bản tiếng Nga như “Cấu trúc và sử dụng các ngư cụ đánh cá công nghiệp”, bản dịch từ tiếng Nga của V.N Lu-ca-sốp (1972),
“Kỹ thuật nghề cá công nghiệp”, phần 2, bản dịch từ tiếng Nga của N Mirski (1983)
- Từ điển “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê (1994), “Từ điển chuyên
ngành thủy sản Anh - Việt & Việt - Anh” của Cung Kim Tiến ( 2004)
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu sơ lược về tỉnh Phú Yên, quan niệm của người dân vùng biển về nghề cá, khái niệm từ nghề nghiệp Chương này trình bày tổng thể những vấn đề lí thuyết có liên quan đến nghề cá tại Phú Yên và vấn
đề từ nghề nghiệp
Chương 2: Trình bày đặc điểm từ nghề nghiệp của nghề cá, cụ thể là các đặc điểm về cấu tạo của lớp từ ngữ chỉ nghề cá tại Phú Yên
Trang 15Chương 3: Trên cơ sở đặc điểm cấu tạo, luận văn tiến hành phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ ngữ chỉ nghề cá để thấy được các mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ
Phần cuối luận văn là danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục từ ngữ chỉ nghề cá
Trang 16là Hoa Anh và đây cũng chính là Phú Yên ngày nay
Phú Yên là một tỉnh ven biển Nam Trung bộ, có tọa độ địa lý từ 12°39’10’’ đến 13°45’20’’ vĩ độ Bắc và từ 108°39’45’’ đến 109° 29’20’’ độ kinh Đông Ba mặt của Phú Yên đều có núi, trong đó phía Bắc là đèo Cù Mông ( giáp tỉnh Bình Định), phía Nam là Đèo Cả ( giáp tỉnh Khánh Hòa), phía Tây là rìa của dãy Trường Sơn ( giáp tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk) núi non trùng điệp, phía Đông là biển cả Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương với những yếu tố địa lý tương đối đặc biệt Ở giữa có những đồng bằng nhỏ hẹp nằm dọc theo những con sông khá lớn như: sông Ba, sông Bàn Thạch, sông Kỳ Lộ
Phú Yên có diện tích tự nhiên là 5.223 km2, với dân số 861.000 người phần lớn là người Kinh và các dân tộc khác như: Êđê, Chăm, Bana, Hoa, Tày, Nùng, Dao Trong tổng số 30 tộc người sinh sống ở Phú Yên thì các tộc
Trang 17người Việt, Chăm, Êđê, Bana, Hoa là những cư dân sinh sống lâu đời nhất Đường bờ biển dài gần 200 km có nhiều đầm, vịnh và hệ thống sông, ngòi, kênh, rạch, hồ nước khá dày đặc là những thuận lợi rất lớn cho người dân Phú Yên trong cuộc sống, sinh hoạt, phát triển nghề trồng trọt, chăn nuôi và khai thác thuỷ hải sản
1.1.2 Tiềm năng thủy sản
Phú Yên có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển thuỷ sản thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, vùng khai thác có hiệu quả trên 6.900km², có hơn 2.000 ha diện tích bãi triều, khoảng 14.000 ha diện tích mặt nước đầm vịnh, cửa lạch, hơn 4.500 ha diện tích mặt nước ngọt tại các hồ thuỷ lợi, thuỷ điện, sông ngòi Tài nguyên thủy sản biển có khoảng 200 loài
cá, 38 loài tôm, 15 loài mực và các loài hải sản khác như: sò, điệp, cua, ghẹ…
1.2 Vị trí nghề cá tại Phú Yên
1.2.1 Đối với xã hội
Xưa kia, nghề đánh bắt của ngư dân vùng duyên hải tỉnh Phú Yên chưa được hình thành những làng nghề, chỉ là những công việc riêng lẻ của mỗi gia đình phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu của đời sống, sinh hoạt hằng ngày Ngư cụ ban đầu chỉ là những phương tiện thô sơ như "mò cua bắt cá" bằng tay, đánh giậm, thả lờ, đặt nơm, câu tay, rồi đến dùng lưới bắt cá như: lưới bén, quăng chài, kéo vó, thuyền chèo, thuyền nan, thuyền thúng…Ngư dân chỉ đánh bắt ven bờ không vượt quá tầm nhìn, chưa phải là một hoạt động sản xuất mang tính xã hội Khi xã hội càng phát triển, nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng lên, ngư cụ ngày càng được cải tiến, ngư dân bắt đầu mở rộng phạm
vi đánh bắt của mình bằng cách vươn dần ra biển
Trang 18Nghề khai thác thủy sản nước ta đã phát triển một cách đáng kể trong suốt thập kỉ qua nhờ triển khai thực hiện chỉ thị 20-CT/TW của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá VIII), Nghị quyết 05/TU của Tỉnh ủy Phú Yên về phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa; triển khai các chương trình: khai thác thuỷ sản xa bờ, phát triển nuôi trồng thuỷ sản, phát triển giống thuỷ sản, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản, chương trình biển Đông - hải đảo….Giám đốc Sở Thủy sản Võ Châu có nói: “ Nghề đánh bắt cá ngừ đại dương mới mở ra và phát triển rất nhanh, đã tác động tốt đến chuyển dịch cơ cấu thuyền nghề sang khai thác khơi; mang lại hiệu quả thiết thực cho ngư dân”( báo Nhân dân ngày 20 tháng 05 năm 2004)
Trong những năm qua, tỉnh xây dựng các hiệp hội cá ngừ đại dương tại địa phương, hình thành nên những làng nghề đánh bắt xa bờ, hỗ trợ ngư dân từng bước hiện đại hóa phương tiện đánh bắt, nâng cao trình độ khai thác, kỹ thuật và phương pháp bảo quản cá sau khi đánh bắt Ngành thuỷ sản Phú Yên
đã có nhiều cố gắng trong huy động nguồn lực, thu hút và phát huy tinh thần lao động cần cù và sáng tạo, khai thác và sử dụng tiềm năng mặt nước, nguồn lợi thuỷ sản để từng bước phát triển ngành
Hiện nay nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh, nhất là nghề nuôi tôm sú, tôm hùm xuất khẩu Toàn tỉnh có 2.300 ha ao nuôi tôm sú, có thể nuôi
01 hoặc 02 vụ / năm, sản lượng tôm sú nuôi năm 2003 đạt 3.000 tấn Nghề nuôi tôm hùm lồng mang lại hiệu quả cao nên kích thích ngư dân đầu tư phát triển mạnh Hiện nay toàn tỉnh có 15.000 lồng, trong đó có khoảng 11.000 lồng nuôi thương phẩm cho sản lượng thu hoạch 44 tấn /năm Ðể bảo đảm nuôi thủy sản bền vững tỉnh Phú Yên coi trọng phát triển các cơ sở sản xuất giống thủy sản, từ vài trại tôm sú giống đến nay đã tăng lên trên 170 trại (1.000 triệu POST/năm) Ngoài ra, còn có một số nghề nuôi giống thủy sản
Trang 19đặc sản khác cũng mang lại hiệu quả khá và nhiều triển vọng như: ghẹ, cá mú,
cá chình, ốc hương, tôm thẻ chân trắng…
Sản lượng hải sản khai thác trên biển tăng bình quân 3,82%/ năm Hiện nay toàn tỉnh có 3.680 chiếc tàu thuyền gắn máy với công suất khoảng 91.000 CV; sản lượng hải sản khai thác đạt 31.000 tấn Đặc biệt, toàn tỉnh 1.700 tàu gắn máy công suất từ 45 CV đến 350 CV khai thác vùng biển xa bờ với sản lượng 6.000 tấn /năm, trong đó cá ngừ đại dương đạt 3.500 tấn /năm
Hệ thống bến, cảng cá từng bước được đầu tư mới và nâng cấp: bến cá phường 6 được cải tạo, nâng cấp; bến cá Dân Phước, bến cá Gành Đỏ đã được đầu tư và đưa vào khai thác có hiệu quả; cảng cá Tiên Châu mới được xây dựng và đưa vào sử dụng năm 2006 Các công trình hạ tầng dịch vụ hậu cần: cấp dầu, cấp nước, nước đá, thu mua, sơ chế thuỷ sản tại các bến cá, hệ thống cơ khí đóng sửa tàu thuyền được quan tâm đầu tư đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nghề cá
Chính nhờ sự phát triển xã hội theo khuynh hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế: tăng tỉ trọng nuôi trồng thủy sản và khai thác đánh bắt xa bờ, trong 5 năm qua ( từ 2005-2009), kết cấu hạ tầng nghề khai thác xa bờ được đổi mới,
lực lượng lao động được thu hút vào nghề cá ngày càng nhiều, giải quyết công việc làm của hàng ngàn hộ gia đình, đời sống của ngư dân từng bước được cải thiện, no ấm
1.2.2 Đối với kinh tế
Phú Yên có tiềm năng kinh tế chủ yếu dựa vào biển Với chiều dài bờ biển gần 200 km, có các yếu tố tự nhiên thuận lợi để phát triển nghề cá về khai thác và nuôi trồng thủy sản Trong những năm qua, kinh tế thủy sản đã góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngư dân ven biển
Trang 20Thời kỳ 2005 - 2009, sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản của tỉnh tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao: giá trị sản xuất tăng bình quân 24,48%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 19,52%/năm Năm 2009, giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 521,22 tỷ đồng, GDP đạt 284,96 tỷ đồng, đóng góp khoảng 15% giá trị GDP của tỉnh
Chế biến thuỷ sản và dịch vụ hậu cần nghề cá đã có bước chuyển biến tích cực trong đầu tư phát triển, trong 2 năm trở lại đây có 12 doanh nghiệp vừa và nhỏ được đầu tư và đưa vào hoạt động với tổng mức đầu tư là 410 tỷ đồng, sản lượng thuỷ sản chế biến xuất khẩu năm 2009 đạt 1.599 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 7 triệu USD tăng 2,2 lần so với năm 2007
Những số liệu thống kê từ nguồn lợi kinh tế biển mang lại trong 5 năm gần đây, cho thấy tiềm năng phát triển kinh tế từ thủy hải sản của Phú Yên cực kì to lớn, nguồn thủy sản từ chỗ phục vụ cho nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa mua bán, trao đổi từng nơi này sang nơi khác Sản phẩm (cá cơm, cá mực, cá ngừ đại dương ) đánh bắt không chỉ để tiêu thụ trong phạm vi nội địa, mà còn chiếm lĩnh nhiều thị phần trên thị trường quốc tế như: châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và các nước châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, đặc biệt là các nước ASEAN
Chính bắt nguồn từ lợi ích kinh tế, cộng đồng ngư dân từng bước xây dựng nên những làng nghề chuyên sâu, việc đánh bắt trên biển mang tính chuyên nghiệp hơn, những sản phẩm làm ra ngày càng tinh xảo mang nét đặc trưng của ngư trường Việt Nam Phú Yên hướng ra biển để phát triển kinh tế theo một hướng đi chắc chắn và ổn định Sản xuất thủy sản bền vững, đã minh chứng cho nghề truyền thống sẽ không bị mai một Phú Yên đang có những bước đi phù hợp, chuẩn bị tốt trong quá trình hội nhập để khẳng định thương hiệu thủy sản Việt Nam trong tương lai
Trang 211.2.3 Đối với văn hóa
Phú Yên có bề dày lịch sử khá lâu đời, với nhiều dân tộc cùng sinh sống đã sáng tạo nên một nền văn hoá, nghệ thuật dân gian phong phú và sinh động Bên cạnh những nghệ thuật dân gian đặc sắc như: nghệ thuật tự sự (kể Khan), hát bội, dân ca bài chòi, hò khoan, hát ru, các điệu múa v.v…, các lễ hội truyền thống cũng được hình thành và phát triển thể hiện đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc miền núi và miền biển Phú Yên
Dưới góc nhìn văn hoá, con thuyền của ngư dân có đời sống riêng, có vai trò rất to lớn trong đời sống văn hoá vật chất và tinh thần Thuyền là người bạn thuỷ chung, nghĩa tình của ngư dân Trong văn học, hình ảnh con thuyền được thể hiện phong phú và sinh động ở tất cả các thể loại ca dao, dân
ca, tục ngữ, hò vè…
Các nghi lễ cúng thuyền tiềm ẩn tình cảm, ý thức, tâm linh và niềm tin của ngư dân Những lễ nghi này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong tục, tập quán, đời sống của ngư dân, thông qua những kiêng kị có tính chất ràng buộc
và trở thành chuẩn mực ứng xử của từng thành viên trong vạn chài Trong tín ngưỡng của ngư dân làng biển Phú Yên tồn tại niềm tin vạn vật hữu linh Ngư dân tin rằng sự hiện diện của các vị thần luôn mang đến sự may mắn, giúp cho các chủ thuyền đánh bắt được nhiều cá, giúp cho ghe thuyền không bị rủi
ro khi gặp gió to, bão lớn và mang lại hạnh phúc cho ngư dân Các lễ cúng trong năm như: lễ hội cầu ngư, tục thờ cúng thần linh biển cả, lễ cúng ngày khởi công ghe thuyền, lễ cúng ngày xỏ ghe, lễ cúng ngày giương thuyền được
tổ chức rất trọng thể Cúng thuyền có nhiều hình thức rất phong phú: cúng trước khi ra khơi đánh bắt; cúng trong lúc đang đánh bắt cá ngoài biển; cúng khi thuyền trở về bến an toàn, cúng khi những chuyến ra khơi trở về không được nhiều cá tôm (xả xui); cúng khi tàu thuyền thoát khỏi hiểm
Trang 22nguy…Ngoài ra, còn có những tập tục trong văn hóa ứng xử, cách xưng hô của các bạn chài, những điều kiêng kị trong sinh hoạt của ngư phủ,…cũng góp phần tạo nên những nét đặc sắc của văn hóa làng chài
1.2.3.1 Lễ hội cầu ngư
Trong cuộc sống của ngư phủ, việc thờ cúng Thần linh Biển cả một mặt phát sinh từ quan niệm nhân sinh giản dị và thực tế, mặt khác là do chịu ảnh hưởng của phong tục từ người Chàm từ bao đời nay đã ăn sâu vào tâm thức mộc mạc của người dân làng chài Lễ hội được tổ chức thường xuyên hàng năm tại những địa phương ven biển Phú Yên thuộc các huyện Sông Cầu, Tuy
An, xã Hòa Hiệp Trung - huyện Đông Hòa và thành phố Tuy Hòa Ngư dân ở vùng biển Hòa Hiệp tổ chức lễ hội cầu ngư (còn gọi là hát lăng) tại Lăng Ông
Lò 3, nơi phần lớn dân cư sống bằng nghề đánh bắt thủy hải sản Lễ hội thường được tổ chức vào ngày 12 tháng 3 Âm lịch, khi ngư dân chuẩn bị vào
vụ đánh bắt cá chính trong năm Mục đích của lễ hội cầu ngư là cúng tế các vị tiên hiền địa phương và thần Ông Nam Hải Đây chính là dịp để người dân làng biển bày tỏ lòng thành với Ông Nam Hải, cầu cho mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng, được mùa tôm cá, cá mực đầy thuyền
Lễ hội bao giờ cũng gồm cả phần lễ và phần hội Phần lễ được thực hiện với nhiều nghi thức trang nghiêm theo các nghi thức truyền thống ở nơi điện thờ của làng, xã như: lễ dâng cúng vật phẩm, lễ đọc văn tế, những tiết mục múa thiêng, hò bá trạo, hát khứ lễ… Đây là một hoạt động văn hóa truyền thống của làng biển nên thu hút đông đảo người dân địa phương và những vùng lân cận Phần hội là tiệc chiêu đãi khách, trong đó hát lăng với phần trình diễn của các đoàn tuồng trong và ngoài tỉnh, là nội dung thu hút đông đảo người dân đến xem Bên cạnh đó, trong dịp này, nhiều hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí được tổ chức như: hát bội, rước ông, múa siêu, hò bá
Trang 23trạo và các trò chơi dân gian v.v…Lễ hội cầu ngư là dịp để mọi người gặp gỡ, chuyện trò, tham dự sinh hoạt văn hoá của địa phương Lễ hội thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, chẳng những người dân địa phương, người ở các vùng lân cận, mà còn cả những người ở khắp nơi trong nước cũng như bạn bè quốc tế gần xa đến tham dự
1.2.3.2 Cổ tục thờ cúng thần linh biển cả
Theo những ghi chép trong lịch sử, cá Ông được vua Gia Long sắc phong tước hiệu Nam Hải Cự tộc Ngọc lân Thượng đẳng Thần, gọi tắt là Ông Nam Hải Ngoài tước hiệu Nam Hải, cá Ông còn có nhiều tên gọi khác nhau
do ngư phủ địa phương tự đặt tên để phân biệt, tùy theo hình dáng hoặc ngư trường cá Ông xuất hiện như: ông Khơi ( ông lớn thường ở ngoài khơi), ông Lọng ( ông nhỏ ở gần bờ); ông Chuông, ông Thông, ông Máng, ông Kiềm, ông Sứa,v.v…
Để tỏ lòng tôn kính biết ơn, mỗi khi ông “ lị” ( chết ) tất cả ngư phủ địa phương lập tức họp nhau rước xác đem về làm lễ tống táng vô cùng trọng thể trong 3 ngày 3 đêm
Người ta chôn cá Ông tại bãi hoặc trong khuôn viên thờ ông Nam Hải Điều đặc biệt là xác cá Ông không hôi thối như các loại cá khác và không bao giờ bị các loại côn trùng như ruồi nhặng kí sinh Khi thịt đã rữa hết, người ta mang toàn bộ xương cốt giao cho các bô lão tự tay rửa thật sạch sẽ với rượu trắng, phơi khô và cho vào thùng niêm phong cẩn thận rồi để thờ trong Lăng ( có nơi gọi chỗ thờ là Dinh hoặc Vạn)
Bộ xương cá Ông được gọi là “ Ngọc Cốt” có màu vàng đục ửng hồng, cứng chắc, để thờ lâu năm vẫn không bị hư mục, hôi thối, nếu thả xuống nước thì không chìm
Trang 24Ngư dân tin tưởng Ngọc Cốt vẫn linh thiêng như lúc Ông còn sống Thỉnh thoảng trong ngày mùa mà không đánh được cá, họ làm lễ “ Rước Ngọc Cốt”, lấy rượu trắng rưới lên bộ xương cá Ông và hứng rượu đó đem về rưới lên giàn lưới để cầu xin được nhiều may mắn trong lần đánh bắt kế tiếp
Ngoài việc tôn thờ cá Ông, ngư dân làng chài còn kính nể Bà Tím ( là loại rùa biển); Cô Hồng ( là loại rắn biển); Rái cá
Bên cạnh những linh vật hữu hình kể trên, ngư phủ còn tôn thờ theo óc tưởng tượng và cũng là cổ lệ làng nghề Đó là các vị thần vô hình như: Ngũ
Vị Long Vương là rồng làm vua dưới biển; Hà Bá là tướng của Long Vương; Các Bác là người khuất mặt, v.v….Ở nhiều vùng ngư phủ lập miếu thờ chung các vị thần linh gọi là miếu Hội Đồng và trong các buổi lễ cúng tại miếu thờ hoặc tại ghe thuyền ngư dân đã đọc văn tế với đầy đủ danh hiệu và tưới vị của chư thần
1.2.3.3 Điều kiện hợp tác và chia lợi tức
Từ lâu, ngư phủ có những điều kiện hợp tác trong đánh bắt như sau:
- Thợ chính tức chủ nghề bỏ vốn sắm ghe, lưới, ngư cụ khai thác
- Chủ nghề và thợ, bạn chịu chung tất cả tổn phí trong suốt mùa cá như: chi phí dọn nghề, thức ăn khi đi biển, rượu, thuốc, cúng kính và một số chi tiêu khác
Đến khi mãn mùa cá, trừ tất cả tổn phí, lợi tức còn lại được chia cho chủ và thợ, bạn Ngày trước vì không sử dụng các công cụ đánh bắt hiện đại, lợi tức còn lại chia hai: chủ một nửa, thợ và bạn một nửa Hiện nay, thể thức chia lợi tức đã thay đổi do sự cải tiến nghề nghiệp Chủ nghề phải mua sắm thủy động cơ phục vụ việc đánh bắt; mua dầu nhớt, tu bổ sửa chữa máy, ghe,
Trang 25lưới nên chủ nghề được hưởng riêng 20% trên tổng số lợi tức, sau đó trừ tất cả chi phí chung số còn lại sẽ chia hai cho chủ và thợ, bạn
Phần lợi tức chung của thợ và bạn được chia theo sự thỏa thuận của mỗi nhóm, nhưng đều căn cứ trên tỷ lệ như sau:
Thợ phụ, người coi lái, thợ lặn chính: hưởng 1 phần rưỡi; thợ lặn phụ hưởng 1 phần và ¼; bạn lưới hoặc bạn câu thường hưởng 1 phần, còn nếu bạn lưới giỏi hưởng 1 phần và 10%
Sau mùa cá, nếu chủ nghề xét thấy thợ phụ có năng lực và làm việc chăm chỉ; tùy thuộc theo lợi tức thu hoạch trong mùa sẽ quyết định cho thợ phụ được hưởng thêm tiền thưởng, số tiền bằng ½ phần hoặc trọn phần của thợ phụ đã chia trong nhóm
1.2.3.4 Những điều kiêng kị trong sinh hoạt của ngư phủ
Trong lĩnh vực huyền bí, linh thiêng, ngoài việc tôn thờ thần linh biển
cả, ngư phủ luôn giữ những điều kiêng cữ, cấm kị và có tính bắt buộc với người đi biển để tránh những xui xẻo trong việc đi đánh bắt Chẳng hạn như:
- Khi ăn cá không bao giờ người đi biển lại lật con cá ngược lại, họ quan niệm con cá như là chiếc thuyền nếu lật con cá úp xuống thì cũng đồng nghĩa với sự lật thuyền, bị rủi ro, bị tai hoạ khi đánh cá ngoài khơi
- Khi bưng thúng đựng lưới hoặc dây câu, họ không bao giờ đi qua dưới dây cột võng, hoặc dưới một sợi dây phơi quần áo Thúng đựng lưới, dây câu, bất luận ở nhà hay trên thuyền phải để ở chỗ nào không ai bước ngang qua được
- Khi mới ra ngõ đi biển, họ tránh gặp người đầu tiên là phụ nữ - nhất là phụ nữ đang mang thai Ghe không chở những người bụng mang dạ chửa Họ
Trang 26quan niệm sinh nở cũng có thể gọi là bể bầu, mà bể bầu đồng nghĩa với đổ bể
và không bao giờ đi thăm một người phụ nữ trong thời gian ở cữ
- Tuyệt đối không cho người lạ lên thuyền, nhất là phụ nữ, vì sợ gặp trường hợp phụ nữ đang trong chu kì kinh nguyệt thì ghe thuyền bị mắc
“ phong long ”, xui xẻo
- Khi rời bến ra khơi, trong đoạn đường khoảng chừng một cây số, họ tránh sự va chạm với một ghe khác
- Không bao giờ để người lạ sờ mó đến hai con mắt vẽ trước mũi ghe,
vì sợ bị ếm đối
- Không gọi đích danh những vị thần linh trên biển cả
- Những ngày khởi công, xỏ ghe và hạ thuỷ tàu thuyền cũng phải coi rất
kĩ lưỡng, đó là những ngày thật tốt
Nếu xui xẻo, đánh không được cá vì phạm những điều kiêng kị trên, họ phải nhuộm lại lưới, hoặc làm phép xông lưới, dọn ghe thuyền và cúng để giải trừ vận không may
Ngư dân làng biển Phú Yên cho rằng kiêng cữ là cách để thực hiện điều tốt lành, gìn giữ sự trong sạch, tránh né những điều xấu xa, ô uế, không làm những điều gây xúc phạm đến thần linh Và những điều kiêng kị đó tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân, do vậy kiêng kị là điều cần thiết phải thực hiện
Tóm lại, nghề cá ở Phú Yên đã mang lại những nét đặc sắc riêng biệt cho nền văn hoá dân gian Từ những lễ hội, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nếp sống, đến các mối quan hệ xã hội, cộng đồng đều có sự hiện diện vai trò của con thuyền Những nét văn hoá dân gian truyền thống, phong phú và đa dạng đã được hình thành và bảo tồn, phát huy mãi đến ngày nay Chính nền
Trang 27tảng ấy đã giúp cho người dân nơi đầu sóng ngọn gió có một ý chí, một bản lĩnh kiên cường để xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc
1.3 Khái niệm từ nghề nghiệp ( professional word)
Như chúng ta đã biết, do đời sống xã hội ngày càng phân hóa phức tạp, nên hoạt động sản xuất ngày càng chuyên biệt hóa sâu sắc và sự phân công lao động càng diễn ra ở mức độ sâu và rộng hơn Trên cơ sở một ngôn ngữ hay phương ngữ, xuất hiện một giới hạn giao tiếp hẹp giữa người sản xuất trong một cộng đồng, một lĩnh vực nhỏ Từ đó, từ nghề nghiệp xuất hiện Từ vựng của một nghề nghiệp chuyên môn nào cũng đều xuất hiện và phát triển trên cơ sở những điều kiện ngôn ngữ, văn hóa, địa lí, nếp sống, cộng đồng nhất định, nên chúng có một đặc điểm chung: luôn gắn với một nghề nhất định, ở mỗi địa phương nhất định, trong một cộng đồng nhất định
Trong vốn từ tiếng Việt hiện nay, từ ngữ nghề nghiệp chiếm một vị trí khá khiêm tốn, vì số lượng không nhiều và là lớp từ được sử dụng hạn chế về mặt xã hội Có lẽ vì vậy mà cho đến nay, tuy đã có một số công trình ngôn ngữ học có đề cập đến, nhưng tình hình chung là mới dừng lại ở mức độ khái quát mà chưa đi sâu tìm hiểu lớp từ này Hơn nữa trong quan niệm của các tác giả về khái niệm từ nghề nghiệp từ trước tới nay vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, nhất là khi đưa ra tiêu chí để phân biệt từ nghề nghiệp với tiếng lóng, từ địa phương, ẩn ngữ và biệt ngữ
Trong công trình Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý và nhóm tác giả của ông quan niệm, từ nghề nghiệp là “ các từ, ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người thuộc cùng một ngành nghề hoặc cùng một lĩnh vực nào đó”[81; 389]
Trong cuốn từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, tác giả Đỗ Hữu Châu nhận định:“ Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị được sử dụng để phục vụ
Trang 28các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc ( nghề thuốc, nghề văn thư…) [ 8; 249-250]
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng từ ngữ nghề nghiệp thuộc lớp từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ:“ Từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một ngành nghề nào đó trong xã hội Những từ ngữ này thường được những người cùng trong ngành nghề đó biết và sử dụng Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết những từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng”[ 53; 265]
Xem từ ngữ nghề nghiệp với tư cách là một phương ngữ xã hội, tác giả Nguyễn Văn Khang cho rằng, từ ngữ nghề nghiệp là “ Những từ ngữ có tính chuyên môn cao mà chỉ có người làm nghề mới có thể hiểu được Thậm chí ở trình độ chuyên môn sâu, rất nhiều thuật ngữ mà ngay cả những người làm trong nghề ở trình độ bình thường cũng cảm thấy khó hiểu hoặc không thể hiểu được (nếu không giải thích “đến nơi đến chốn”)” [ 34; 118]
Như vậy, điểm chung trong quan niệm của các tác giả trên là đã khẳng định phạm vi hoạt động của lớp từ ngữ nghề nghiệp: lớp từ được sử dụng hạn chế về mặt xã hội ( chỉ hoạt động trong khu vực của những nhóm người thuộc cùng một ngành nghề cụ thể)
Từ nghề nghiệp cũng được coi là phương ngữ xã hội Bởi vì, con người
vì mưu sinh mà tìm nghề, chọn nghề, học nghề, làm nghề và lập nghiệp Xét
về mặt ngôn ngữ, nghề nghiệp là cơ sở để tạo ra những “ hệ thống từ nghề nghiệp riêng” và cùng với đó là sự hình thành một phong cách ngôn ngữ có dấu ấn nghề nghiệp gắn liền với quá trình chế tác, lao động…
Trang 29Từ nghề nghiệp có đặc tính cơ bản là ý nghĩa biểu vật trùng với sự vật hiện tượng thực có trong ngành nghề và ý nghĩa biểu niệm đồng nhất với các khái niệm về sự vật, hiện tượng đó Nó là những từ biểu thị đối tượng lao động, nguyên liệu, các hoạt động, công cụ, sản phẩm…trong quá trình sản xuất của một nghề thủ công nào đó trong xã hội Vì gắn liền với hoạt động sản xuất hoặc ngành nghề cụ thể, trực tiếp cho nên nó có tính cụ thể, gợi hình ảnh cao Do vậy, nó được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó
Tuy nhiên, không phải là hễ người ngoài nghề thì không biết được từ nghề nghiệp Người ta ( trong phạm vi rộng rãi toàn xã hội) vẫn có thể hiểu được chúng nhiều hay ít tùy theo mức độ quen biết của xã hội đối với nghề nghiệp đó
Bên cạnh những từ ngữ mang tính xã hội, tức là, số đông người có thể hiểu và sử dụng được ( như điện, cầu chì, công tắc, vi tính, tiếp thị, đục, bào, khoan…) là những từ ngữ có tính chuyên môn cao mà chỉ có người làm nghề mới có thể hiểu Thậm chí, ở trình độ chuyên môn sâu, có rất nhiều từ ngữ mà ngay cả những người làm trong nghề ở trình độ bình thường cũng cảm thấy khó hiểu hoặc không thể hiểu được Ví dụ: bù, bừa, bầu diệc, cháy muối, đổ giạt, khanh rấm, nền mộc, rải xịn, xộc, tàu muối, rùa đất, vút cát, v.v…(từ ngữ của nghề muối ở xã An Hòa tỉnh Nghệ An)
Từ nghề nghiệp, có thể được coi là một “hệ mã” ghi nhận thành quả tri thức và thành quả thực tế của con người trong một lĩnh vực nhất định Từ ngữ của một nghề thường bao gồm từ ngữ chỉ công cụ, chỉ hành vi thực hiện và chỉ sản phẩm làm ra Các phương thức cấu tạo từ ngữ của các nghề nghiệp, nói chung, không khác với phương thức vốn từ ngữ chung của một ngôn ngữ,
có khác chăng, chỉ là “ cái nội dung ngữ nghĩa” chúng truyền tải mà thôi
Trang 30Xét về mặt phong cách, yếu tố nghề nghiệp cũng góp phần làm nên đặc điểm ngôn ngữ của từng nhóm ngành nghề khác nhau Chúng ta thường nghe được những nhận xét đại loại như “ nói làu làu như nhà báo”, “ nói mộc mạc như người nông dân”, “ nói chém to kho mặn như công nhân”,“ nói vòng vo như mấy ông tổ chức”… Đó chính là cái gọi “ phương ngữ giai tầng”, sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ
Nói chung, sự hoạt động của các từ nghề nghiệp là không đồng đều; có những từ ngữ có phạm vi sử dụng hạn chế, nhưng cũng có không ít từ ngữ đã
đi vào vốn từ vựng chung Chúng được coi là một trong những nguồn cung cấp thêm từ ngữ để làm phong phú hơn cho vốn từ vựng toàn dân
Từ vựng nghề nghiệp chẳng những cần thiết cho sự giao tiếp trong từng ngành nghề mà còn cần thiết cho mọi người khi diễn đạt một cách chính xác, sinh động, ngắn gọn về những sản phẩm, những sự kiện, những hoạt động của nghề nghiệp Các nhà văn, nhà thơ nếu sử dụng thành thạo từ vựng nghề nghiệp thì sẽ làm tăng thêm tính cụ thể, tính hình tượng, tính cá thể hóa của các nhân vật trong tác phẩm
Có thể nói, từ vựng nghề nghiệp là công cụ của đại đa số nhân dân lao động Khi tiếng Việt chưa có hệ thống thuật ngữ khoa học, ở các làng nghề thủ công, ở những gánh tuồng chèo dân dã, những người lao động bình thường đã có những sáng tạo kì diệu các “ thuật ngữ khoa học cấp thấp”, tức
là từ nghề nghiệp
1.4 Phân biệt từ nghề nghiệp với các lớp từ khác
Việc nhận diện các từ nghề nghiệp trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn
do chúng có nhiều nét tương đồng về mặt phong cách và phạm vi sử dụng so với nhiều lớp từ vựng khác
Trang 31Theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học: tiếng lóng, biệt ngữ, ẩn ngữ, uyển ngữ là những ngôn ngữ xã hội Ngoài uyển ngữ là phép chuyển nghĩa được thực hiện bằng việc biểu thị một sự vật hoặc một hiện tượng nào
đó qua cách thể hiện kín đáo, gián tiếp, lịch sự, mềm mỏng Ví dụ: “không đẹp” thay cho “ xấu” hay “cô ấy nói năng không được nhã nhặn lắm” thay cho “cô ấy ăn nói hàm hồ quá”, còn các khái niệm khác ít nhiều khó phân biệt, tức chúng có sự tương tự, giống nhau tương đối rõ Điều quan trọng hơn
cả là chúng có phần chung: là ngôn ngữ của tầng lớp xã hội nhất định, ít nhiều mang tính bí mật, và ít nhiều mang tính tiêu cực
1.4.1 Từ nghề nghiệp với tiếng lóng
Tiếng lóng (slang, argot) là một hiện tượng ngôn ngữ đặc thù, cũng như các phương ngữ xã hội khác, tiếng lóng cũng bắt nguồn từ sự phân hóa sâu sắc giữa các nghề nghiệp và thành phần xã hội Tiếng lóng như một công cụ giao tiếp gọn nhẹ và như một hàng rào bảo vệ để ngăn ngừa tất cả những bí mật bị soi mói từ bên ngoài nội bộ
Một số nhà ngôn ngữ học như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Cù Đình
Tú, v.v…đã cho rằng: Tiếng lóng là khái niệm từ vựng chỉ những đơn vị từ ngữ khẩu ngữ, được nhiều thành phần xã hội khác nhau sáng tạo và sử dụng trong những giao tiếp không có tính chính thức xã hội và cần ngăn ngừa sự quan sát của người ngoài; chủ yếu nó được tạo thành từ những yếu tố sẵn có trong vốn từ toàn dân và vốn từ địa phương để gọi tên sự vật – hiện tượng khác với cách gọi chính thức hoặc theo những ý nghĩa được quy ước riêng
1.4.1.1 Điểm tương đồng
Tiếng lóng và từ nghề nghiệp có nhiều đặc điểm tương đồng Chúng là những từ ngữ gắn liền với người sử dụng và nhóm người sử dụng Từ nghề nghiệp và tiếng lóng chủ yếu dùng trong khẩu ngữ của những người cùng
Trang 32nghề nghiệp, một nhóm người riêng biệt chuyên dùng và khó hiểu đối với người khác
Ví dụ: tiếng lóng của giới học sinh, sinh viên như: cây gậy (điểm một ), con ngỗng ( điểm hai ), cúp cua ( trốn học ), chậm tiêu (chậm hiểu ), quay phim ( xem tài liệu trong lúc thi)…, tiếng lóng của giới buôn bán như: xịn ( đồ tốt ), chém đẹp ( bán giá cao), giá mềm ( rẻ), hét ( ra giá cao)…
Từ nghề nghiệp của nghề may mặc – da giày như: đê, máy cắt, ruột ổ, lưu khóa, lấy dấu, xẻ tà, ráp sườn,… ; từ nghề nghiệp của ngành cầu đường như: chống thấm, đổ bệ bố, bê tông, giàn giáo, nối dầm thép, nhịp dẫn,…; từ nghề nghiệp nghề muối như: băng ô, cháy muối, giẫy muối, hon muối, ruộng nại, kho bãi, ô phơi, tưới bay,v.v…
Ngoài ra, trong từ nghề nghiệp có tồn tại tiếng lóng và ngược lại
Ví dụ: từ nghề nghiệp của “nghề” ăn trộm như: chĩa, chôm, động, giết, hiệu, móc, hổ đẹp ( trốn thoát), tẩu , cớm ( công an), …; “nghề” mại dâm như:
áo mưa, bề, bị, đi làm, khách quen, ghẹ, sập bẫy,v.v…
Mặc dù các “ nghề ” kể trên không phải là “ nghề ” mà xã hội được chấp thuận nhưng có một số đối tượng xấu vẫn xem đó là một nghề mưu sinh của chính bản thân họ
1.4.1.2 Điểm khác biệt
Từ nghề nghiệp không phải giữ bí mật về nội dung, tồn tại lâu dài cùng với sự phát triển của các ngành nghề và các lĩnh vực sử dụng các từ ngữ chuyên môn đó Từ nghề nghiệp có thể trở thành từ toàn dân khi các khái niệm chuyên môn của một nghề nào đó được phổ biến rộng rãi trong xã hội Xét về mặt chức năng xã hội và mục đích giao tiếp, từ nghề nghiệp vẫn bảo
Trang 33đảm giao tiếp rộng rãi, sự khó hiểu là do tần suất xuất hiện của chúng tương đối thấp với người ngoài nghề và mục đích ở đây là định danh gọi tên
Trong khi đó, tiếng lóng với chức năng che giấu sự vật định danh, gọi tên bằng cách mã hóa các tín hiệu ngôn ngữ nhằm hạn chế phạm vi sử dụng Mặc khác, tiếng lóng được dùng để giữ bí mật một cách cố ý và không có từ đồng nghĩa với từ của ngôn ngữ toàn dân
Như vậy, từ nghề nghiệp và tiếng lóng có những điểm khác nhau rõ ràng có thể phân biệt được Tuy nhiên trong một số trường hợp ranh giới của chúng cũng không thật dứt khoát, lúc này muốn phân biệt được chúng phải nhờ đến những nhân tố ngoài ngôn ngữ như luật pháp, quan niệm xã hội Chẳng hạn: trong luật pháp không công nhận những công việc như: trộm cắp,
cờ bạc, mại dâm,v.v… là một nghề Vì vậy, những từ ngữ được dùng trong phạm vi các công việc này đều thuộc tiếng lóng chứ không phải là từ nghề nghiệp
1.4.2 Từ nghề nghiệp với biệt ngữ tôn giáo
Biệt ngữ tôn giáo là những từ ngữ sử dụng chuyên biệt trong phạm vi một tôn giáo nhất định
Ví dụ: từ ngữ trong Phật giáo như: tăng, ni, phật tử, pháp sư, chúng sinh, bố thí, báo ân, báo hiếu, giải oan, thuyết pháp…; từ ngữ trong Thiên Chúa giáo như:cứu thế, linh mục, cha, giám mục, con chiên, thánh kinh, thánh giá, nhà dòng, thầy dòng, xưng tội, tế lễ, …
1.4.2.1 Điểm tương đồng
Từ nghề nghiệp và biệt ngữ tôn giáo đều nhằm phục vụ cho các hoạt động trong một lĩnh vực công việc
Trang 341.4.2 2 Điểm khác biệt
Biệt ngữ tôn giáo chỉ sử dụng trong một nhóm người, ít nhiều mang tính bí mật, tùy thuộc vào niềm tin và tín ngưỡng riêng của mỗi người Như vậy, biệt ngữ tôn giáo có nhiều điểm khác biệt với từ nghề nghiệp, từ nghề nghiệp không mang tính bí mật nhưng phạm vi sử dụng chỉ hoạt động trong khu vực của nhóm người thuộc cùng ngành nghề cụ thể Còn về mặt ngôn ngữ, nghề nghiệp là cơ sở tạo ra hệ thống từ nghề nghiệp riêng và cùng với đó
là sự hình thành một phong cách ngôn ngữ có dấu ấn nghề nghiệp gắn liền với quá trình chế tác, lao động, v.v…
Điều này có thể thấy rằng, cách phân loại trên cũng không được rành mạch được giữa từ nghề nghiệp và từ ngữ khác bởi vì ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt Riêng với tiếng lóng và biệt ngữ tôn giáo là những hiện tượng xã hội đặc thù trong hiện tượng ngôn ngữ xã hội Chúng ít ổn định, bên cạnh đó chúng còn phụ thuộc rất lớn vào quan niệm xã hội và từng bối cảnh
xã hội cụ thể
1.4.3 Từ nghề nghiệp với thuật ngữ
Tác giả Nguyễn Văn Tu trong cuốn “ Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” (1976) đã định nghĩa:“Thuật ngữ là những từ và những cụm từ chỉ những khái niệm của một ngành khoa học, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó …” [73; 202]
Thuật ngữ rất gần với từ nghề nghiệp, nhưng có một vị trí cao hơn nhiều vì nó bao gồm những từ và cụm từ cố định dùng gọi tên chính xác những khái niệm và đối tượng thuộc các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật
Trang 351.4.3.1 Điểm tương đồng
Từ nghề nghiệp và thuật ngữ đều mang tính tích cực cao, phạm vi sử dụng hẹp chỉ trong một ngành nghề chuyên môn Chúng đều mang sắc thái trung hòa, không biểu cảm
1.4.4 Từ nghề nghiệp với từ địa phương
Những từ thuộc một phương ngữ nào đó của ngôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ địa phương đó, thì được gọi là từ địa phương
Từ nghề nghiệp và từ địa phương có những điểm tương đồng, đều là từ ngữ đặc thù riêng được sử dụng phụ thuộc vào từng khu vực địa lý, là những
từ ngữ không có tính toàn dân, được sử dụng rộng rãi trong khẩu ngữ do một nhóm xã hội quen dùng Ví dụ,
- Từ ngữ địa phương Bắc Bộ: thìa (muỗng), nhặt ( lượm), cốc ( ly), xấu
hổ ( mắc cỡ ), béo ( mập), hương ( nhang), môi ( vá), v.v…
Trang 36- Từ địa phương Bắc Trung Bộ: trốc ( đầu), con cấy ( con gái), khập tháng ( đầy tháng), lái ( lưới), ló ( lúa),v.v
- Từ địa phương Nam Trung Bộ: sõng ( thuyền), xỉ ( muỗng), cua ( rẽ),
vá ( thìa múc canh), đẩu ( ghế), v.v…
- Từ địa phương Nam Bộ: bự (lớn), bự chảng ( to lớn), bí đỏ ( bí ngô), củng ( váy), tàu hủ ( đậu phụ), mè ( vừng),v.v…
Các biến dạng địa phương của ngôn ngữ về mặt từ vựng hay ngữ âm, hiện đang tồn tại như một tất yếu Điều đó, một mặt nói lên rằng, ngôn ngữ thống nhất của dân tộc vẫn tồn tại và thể hiện trong tính đa dạng của nó; mặt khác, sự tồn tại các tiếng địa phương là kết quả của những diễn biến lịch sử xã hội rất khác nhau Chính vì thế, từ vựng địa phương được xem như nơi bảo tồn những chứng tích xa xưa của ngôn ngữ dân tộc
Mặt khác, trong vốn từ nghề nghiệp cũng chứa đựng một số từ ngữ thuộc phạm vi từ địa phương, tức là, từ một sự vật hay hiện tượng ở những địa phương khác nhau có thể sử dụng những từ khác nhau để định danh cho cùng một đối tượng Ví dụ,
Tên loài cá sống ở nước ngọt: Cá quả ( Bắc Bộ) - cá tràu ( Trung Bộ) -
cá lóc ( Nam Bộ); phương tiện đi lại trên sông, biển được định danh: thuyền (Bắc Bộ) - nốc ( Bắc Trung Bộ)- ghe ( Nam Trung Bộ)…
Trên cơ sở của những quan niệm nói trên, chúng tôi nhận thấy rằng: khái niệm từ nghề nghiệp còn chưa hoàn toàn thống nhất trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học, chưa có một khái niệm nào được coi là chính xác rõ ràng
để đủ sức khu biệt nó với từ địa phương, tiếng lóng Vì vậy, trong quá trình điều tra chúng tôi đã chọn cho mình một tiêu chí để khảo sát từ ngữ chỉ nghề cá: đó là những từ ngữ thuộc lớp từ chỉ những hoạt động, sự vật, tính chất, nguyên vật liệu, sản phẩm, v.v…đặc biệt chỉ giới hạn trong lĩnh vực nghề
Trang 37đánh cá biển truyền thống cần được thu thập và nghiên cứu Do vậy, những từ ngữ có liên quan đến chuyên môn khác, mang tính đại chúng sẽ không được đưa vào danh sách ngữ liệu Tiêu chí này được vận dụng triệt để nhằm khảo sát đến mức tối đa, không bỏ sót từ ngữ và tránh được sự nhầm lẫn Trong quá trình khảo sát, chúng tôi luôn kiểm tra sự mở rộng phạm vi dùng từ thông qua
sự kiểm chứng của các cộng tác viên nhằm chọn lọc những từ ngữ có nghĩa không trùng với ngôn ngữ toàn dân cũng như phương ngữ
Tiểu kết
Qua những tiền đề trên, chúng tôi nhận thấy từ nghề nghiệp là những đơn vị từ vựng có chức năng định danh những phương tiện, công cụ sản xuất, nguyên vật liệu, quy trình - công đoạn làm việc và những sản phẩm lao động của một nghề thủ công truyền thống Chúng mang sắc thái địa phương, có phạm vi sử dụng hạn chế trong khu vực chuyên môn, được những người làm trong nghề hiểu và sử dụng chủ yếu trong giao tiếp hội thoại
Chúng tôi đã trình bày từ nghề nghiệp trong sự phân biệt với các lớp từ vựng khác Điều này không chỉ giúp chúng ta có một cách nhìn tổng quan về các lớp từ ngữ mà còn giúp chúng ta tìm thấy được mối liên hệ giữa chúng Thật vậy, để nhận diện từ nghề nghiệp trong môi trường giao tiếp đa dạng của một cộng đồng ngôn ngữ, cần phải sử dụng những thủ pháp đặc biệt để tách chúng ra khỏi các lớp từ vựng như đã nói trên Cũng xuất phát từ quan điểm
đó, chúng tôi đã tiến hành khảo sát lớp từ ngữ chỉ nghề cá ở các làng chài ven biển tỉnh Phú Yên Đây là một trong những địa phương có địa hình vùng biển khá lí tưởng, để khai thác hết những nội dung của quá trình nghiên cứu lớp từ ngữ chỉ nghề cá một cách triệt để và toàn diện hơn
Tuy nhiên, xét về mặt chức năng xã hội và mục đích giao tiếp, từ nghề nghiệp vẫn bảo đảm tính giao tiếp rộng rãi, sự khó hiểu nếu có cũng chẳng
Trang 38qua là do tần suất xuất hiện của chúng tương đối thấp với người ngoài nghề
và mục đích ở đây vẫn là định danh đối tượng Thật vậy, từ nghề nghiệp khi hành chức thường mang sắc thái trung hòa, không bao chứa các màu sắc tu từ, quá trình hình thành từ nghề nghiệp cũng chính là con đường sơ khai làm nên thuật ngữ, bản thân chúng mang tính đơn trị về ngữ nghĩa, phản ánh rõ nét phong tục tập quán, bản sắc văn hóa của một cộng đồng người cùng tham gia hoạt động trong một lĩnh vực nghề nghiệp
Trang 39Từ là đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ F de Saussure đã nhận xét
rằng: “ Từ mặc dầu khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải
chấp nhận, một cái gì có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ” [ Dẫn theo 59; 84] Do “ có vị trí trung tâm” lại rất “khó định nghĩa” nên hiện
nay trong ngôn ngữ học có rất nhiều định nghĩa về từ Theo Bloomfield,
“ Từ là hình thái tự do nhỏ nhất” [ Dẫn theo 11; 166], còn V.M Zhimunkiy
cho rằng: “ Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ , độc lập về ý nghĩa và hình
thức”[ 59; 37]…Những định nghĩa này thường rất khái quát và chủ yếu xuất
phát từ các ngôn ngữ Ấn - Âu Về tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học cũng có
những định nghĩa rất khác nhau Chẳng hạn, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “
Từ và nhận diện từ tiếng Việt” đã định nghĩa “ Từ của tiếng Việt là một chỉnh
thể nhỏ nhất có nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết,
một “chữ ” viết liền” [ 54; 168] Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu,
Hoàng Trọng Phiến trong cuốn “ Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” cho rằng
“ Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh,
có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói đề
tạo câu” [ 18; 142] Để phù hợp với việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi
chọn định nghĩa từ tiếng Việt trong cuốn “ Các bình diện của từ và từ tiếng
Việt” của Đỗ Hữu Châu:“ Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố
Trang 40định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu”[ 9; 139] Việc khảo sát tiếng Việt thường đặt trên nhiều bình diện khác nhau như: cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng,v.v….Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát lớp từ ngữ chỉ nghề cá ở Phú Yên trên hai bình diện cấu tạo và ngữ nghĩa
- từ - âm tiết Với quan niệm từ đơn tiết như thế nên họ không đề cập đến vấn
đề yếu tố tạo từ tiếng Việt
- Khuynh hướng thứ hai cho rằng, từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng
âm tiết Các tác giả như Đỗ Hữu Châu, Đái Xuân Ninh,v.v…lại quan niệm từ tiếng Việt đa tiết và xác định yếu tố tạo từ tiếng Việt, đó chính là hình vị Trong cuốn “ Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”, Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa hình vị tiếng Việt “ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất - tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng
có nghĩa - được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt” [ 10; 23]
Theo chúng tôi, cho dù quan niệm của các nhà nghiên cứu như thế nào
về từ, về cấu tạo từ tiếng Việt nhưng các tác giả đều hướng đến một đích chung là khảo cứu thật cặn kẽ đơn vị cơ bản của tiếng Việt, từ đó vận dụng tiếng Việt ở trình độ tốt nhất, tùy theo mục đích nghiên cứu mà sử dụng quan